Aenean nec eros. Vestibulum ante ipsum primis in faucibus orci luctus et ultrices posuere cubilia curae. Suspendisse sollicitudin velit sed leo.

Chuyên mục
  • Bài giảng
  • Các loại khác
  • Chia sẻ
  • Chưa phân loại
  • GH Hoàn Vũ
  • GH Việt Nam
  • Giáo dục
  • Hạnh các Thánh
  • HĐGM Việt Nam
  • Kinh Thánh
  • Phim giáo dục
  • Phụng vụ
  • Sách
  • Suy niệm Chúa nhật
  • Suy niệm hàng ngày
  • Tài liệu giáo dục
  • Tài liệu phụng vụ
  • Thần học
  • Thánh ca
  • Thánh lễ
  • Thánh lễ trực tuyến
  • Thư chung
  • Thư viện
  • Tin tức
  • Triết học
  • Tư liệu
  • UBGD Công giáo
  • uncategorized
  • Video
From Gallery
Stay Connected
UyBanGiaoDucHDGM.net
  • Trang chủ
  • Thư chung
    • HĐGM Việt Nam
    • UBGD Công giáo
  • Tin tức
    • GH Việt Nam
    • GH Hoàn Vũ
  • Phụng vụ
    • Thánh lễ
    • Thánh lễ trực tuyến
    • Suy niệm hàng ngày
    • Suy niệm Chúa nhật
    • Tài liệu phụng vụ
  • Giáo dục
    • Chia sẻ
    • Tài liệu giáo dục
  • Thư viện
    • Sách
      • Kinh Thánh
      • Triết học
      • Thần học
      • Các loại khác
    • Video
      • Bài giảng
      • Thánh ca
      • Phim giáo dục
      • Hạnh các Thánh
      • Tư liệu
  • Liên hệ
Give Online

Danh mục: Giáo dục

Home / Giáo dục
23Tháng Tám
2021

Cách chiến thắng đam mê tật xấu

23/08/2021
Anmai
Chia sẻ, Giáo dục
0

Cuốn sách: Maestro di San Bartolo, Abbi a cuore il Signore, Introduzione di Daniele Libanori, San Paolo, 2020. (*)
Chuyển ngữ từ tiếng Ý: Tứ Quyết SJ

Nếu muốn chiến thắng đam mê tật xấu, không đơn giản chỉ là việc bạn coi thường chúng, cũng không phải chỉ là việc bạn có ước muốn chân thành hướng về các nhân đức. Thay vào đó, việc cần thiết để đánh bại các đam mê tật xấu, là đánh bại tất cả những gì nuôi dưỡng đam mê tật xấu ấy. Bởi vì, những đam mê tật xấu đã ăn sâu và tồn tại trong chúng ta, ngay cả khi chúng ta đã tập luyện rất nhiều, ngay cả khi chúng ta đã có thể hạn chế những tác dụng xấu của chúng. Vì thực tế, chẳng bao lâu, chỉ cần một chút này chút kia, những tật xấu ấy đã sớm trở lại, chiếm ưu thế, và chiến thắng, mặc cho những thành quả mà chúng ta đã từng đạt được. Cũng giống như trên cánh đồng mùa hè, khi một cơn bão bất ngờ ập đến, làm mất trắng hoa màu.

Khi một người đang tiến tới trên đường thiêng liêng, với các nhân đức, với việc gìn giữ cẩn thận các giác quan ngay lành, thì các đam mê tật xấu rất khó có thể mãnh liệt đến độ khuất phục được người ấy. Ngược lại, giả sử, nếu vị ấy trở lại thăm vùng đầm lầy mà chính mình đã bỏ đi. Khi trở lại như thế, vị ấy rất dễ bị chìm vào vũng bùn lầy của quá khứ. Thực tế, lần này bị lún sâu vào đầm lầy, không hề thua kém gì lần trong quá khứ, bởi lẽ sức nặng của người ấy vẫn thế, và bùn lầy vẫn là bùn lầy chứ không phải mặt đất vững chắc.

Nơi nào có nước, nơi ấy cây cối bén rễ. Tôi còn nhớ, một người nông dân nọ muốn diệt trừ một loại cây xấu mọc trên bờ ruộng của mình. Anh ta đưa rìu lên và chặt cây tận gốc, nhưng khi mùa tới, cây ấy lại nảy mầm và mọc lên mạnh mẽ, và lớn thành bụi trong thời gian ngắn. Sau đó, người ấy lại chất rơm để đốt, nhưng vẫn không đạt được mục đích của mình. Bởi vì, từ đống tro tàn, mầm lại mọc lên, và cây tiếp tục phát triển. Người nông dân cố gắng hết sức, và tìm tất cả gốc rễ của cây, để có thể diệt trừ tất cả; nhưng anh nhận ra rằng, điều ấy là không thể. Bởi lẽ, anh nhìn thấy rễ cây đã ăn sâu vào lòng đất, đến độ anh không thể loại bỏ tất cả các rễ cây; do đó không thể loại bỏ cây bằng cách diệt rễ. Cuối cùng, anh quan sát mặt đất và nhận thấy rằng, cái cây xấu ấy có thể sống được là do có dòng nước dẫn đến. Anh quyết định đào một con mương, để dẫn dòng nước ra ngoài. Khi hết nước, khô hạn hoàn toàn, cây xấu ấy tự chết và bị loại bỏ. Sau đó, chính chỗ ấy, người nông dân trồng một cây tốt cho hoa trái, và anh điều chỉnh lại con mương để dẫn dòng nước nuôi dưỡng.

Cũng vậy, để loại bỏ các đam mê tật xấu, chúng ta cần loại bỏ những gì nuôi dưỡng chúng. Những tật xấu đam mê hèn hạ, thường gắn liền với giác quan và miệng lưỡi. Do đó, cần tập luyện làm chủ và gìn giữ các giác quan cũng như miệng lưỡi…

_______

(*): Trong tuần tĩnh tâm mùa chay (từ chiều chúa nhật 21/2/2021 đến trưa thứ sáu 26/2/2021), Đức Thánh Cha Phanxicô mời gọi Giáo triều Roma và các tín hữu tìm về cùng Thiên Chúa, kín múc nghị lực để đương đầu với những thách đố mới. Vì đại dịch Covid, các vị không tĩnh tâm chung như mọi năm, nhưng mỗi vị tĩnh tâm riêng tại nơi thích hợp. Đức Thánh Cha gửi tặng mỗi vị cuốn sách thiêng liêng giúp suy niệm với tựa đề “Abbi a cuore il Signore” (Hãy có Chúa trong lòng). Sách dày 320 trang gồm các thủ bản cũ do một đan sĩ thuộc Đan viện thánh Bartolo biên soạn hồi thế kỷ 17, trên từng tờ rời, dường như để hướng dẫn các môn đệ.

Read More
23Tháng Tám
2021

Cái nghèo theo tâm thức của Đức Thánh Cha Phanxicô

23/08/2021
Anmai
Giáo dục, Tài liệu giáo dục
0

Lm. Gioan Phan Văn Định

Mục lục

I. DẪN NHẬP

II. TƯƠNG QUAN GIỮA ĐTC VỚI NGƯỜI NGHÈO

III. NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG

       1. Ai là người nghèo?

       2. Nền tảng suy tư

IV. CHỌN LỰA VÀ THĂNG TIẾN NGƯỜI NGHÈO

       1. Thăng tiến xã hội

       2. Công bằng xã hội và nhân quyền

       3. Bảo vệ môi trường sống cho người nghèo

V. KẾT LUẬN

I. DẪN NHẬP

“Nghèo” là chủ đề quen thuộc đã được nhiều vị Giáo hoàng nhắc đến, nhưng cách riêng, với Đức Thánh Cha (ĐTC) Phanxicô, nghèo không chỉ là chủ đề thần học nhưng còn là lối sống của cá nhân ngài. Lối sống nghèo khó của ĐTC Phanxicô đã được giới truyền thông, người Công giáo, và cả những người ngoài Công giáo, cảm phục và khen ngợi. Trong chuyến tông du đến Philippines năm 2012, ĐTC đã khiến giới trí thức Công giáo ngỡ ngàng khi ngài xác tín vai trò bất khả phân ly giữa người nghèo với sứ điệp của Đức Kitô: “Nếu chúng ta loại người nghèo ra khỏi Tin Mừng, chúng ta không thể hiểu được toàn bộ sứ điệp của Đức Kitô.” Ngoài ra, nơi Tông huấn Evangelii Gaudium, dựa trên nền tảng Kitô học, ĐTC còn mời gọi các tín hữu tham gia vào đời sống xã hội, kinh tế và chính trị để phục hồi cho người nghèo những gì vốn thuộc về họ.[1] Đây quả là nét độc đáo của ĐTC, nhưng điều này cũng mở ra một vài thắc mắc cần được xác định rõ: Người nghèo có liên hệ thế nào với Đức Kitô và sứ điệp Tin Mừng? ĐTC có hướng Giáo hội đến hoạt động từ thiện xã hội như một tổ chức NGO,[2] hoặc khuyến khích Giáo hội tham gia vào hoạt động kinh tế và chính trị không?

Dựa trên lối sống của ĐTC, Tông huấn Evangelii Gaudium (EG) và Thông điệp Fratelli Tutti (FT), bài viết này sẽ trình bày quan niệm của ĐTC về cái nghèo và góp phần làm sáng tỏ những thắc mắc trên đây với ba nội dung chính: (1) Tương quan giữa ĐTC với người nghèo; (2) Nền tảng suy tư của ĐTC; (3) Ưu tiên chọn lựa và thăng tiến người nghèo. Mong rằng những khảo luận về lối sống và suy tư của ĐTC sẽ hữu ích cho người Kitô hữu trong sứ mạng loan báo Tin Mừng cho người nghèo.

II. TƯƠNG QUAN GIỮA ĐTC VỚI NGƯỜI NGHÈO

Với ĐTC Phanxicô, lối sống gần gũi người nghèo đã cắm rễ sâu nơi cuộc sống hằng ngày và tâm thức mục vụ từ khi ngài còn là giám mục và hồng y thuộc Tổng giáo phận Buenos Aires, nước Argentina. Ngài thường sử dụng phương tiện giao thông công cộng (xe buýt, xe điện…) thay vì xe ôtô, taxi hoặc xe sang vì ngài muốn có cơ hội gặp gỡ tha nhân, biết và chia sẻ với những khó khăn của họ. Suốt thời gian khủng hoảng kinh tế tại Argentina vào những năm 1990, ngài chọn sống trong một nhà trọ đơn sơ thay vì sống tại tòa tổng giám mục.

Vào tháng 3 năm 2013, nhiều người trên thế giới đã khen ngợi và cảm phục về hình ảnh đẹp từ lối sống nghèo khó của vị Tân Giáo hoàng. Gương sống của ngài như một thông điệp về dung mạo mới mẻ của Giáo hội dành cho người nghèo. Từ khi lên ngôi Giáo hoàng, ĐTC chọn sống tại nhà trọ Santa Marta, nơi ở dành cho khách vãng lai, thay vì sống tại dinh thự dành cho Giáo hoàng.[3] Xuất phát từ lời nhắc nhở của một vị hồng y đã nghỉ hưu, Đức hồng y Claudio Hummes: “Đừng quên người nghèo”, Đức Thánh Cha đã chọn tên gọi Phanxicô làm tước hiệu cho triều đại giáo hoàng của mình. Tước hiệu Phanxicô là dấu chỉ cho thấy ĐTC muốn noi gương sống khó nghèo của thánh Phanxicô Assisi, hướng lòng về người nghèo trong triều đại giáo hoàng của ngài. Xét về nguyên nhân chọn tước hiệu, tác giả Olga Caro cho rằng có lẽ sự thôi thúc của Chúa Thánh Thần trong mật viện về mục vụ cho người nghèo đã trở nên mạnh mẽ nơi ĐTC, và có lẽ đường hướng mục vụ này vốn đã là mối bận tâm then chốt từ lâu trong đời sống của ngài.[4]

Cũng trong tháng 3/2013, người Công giáo hết sức ngạc nhiên khi nghe tin lần đầu tiên ĐTC phá vỡ truyền thống rửa chân vào ngày lễ thứ Năm Tuần Thánh. Thay vì rửa chân cho 12 giáo sĩ như những vị tiền nhiệm thường làm, ĐTC đã rửa chân cho 12 tù nhân trẻ trong chuyến viếng thăm nhà tù Casal Del Marmo, nước Ý. Trong số 12 người được rửa chân có 2 người phụ nữ trẻ, một trong hai người này là người Hồi giáo.[5] Việc làm này cho thấy ĐTC thể hiện sự gần gũi người nghèo, không phân biệt nam nữ hoặc tôn giáo.

Như thế, kể cả khi sống ở Argentina, nơi có nhiều người nghèo, trong vai trò giám mục và hồng y, hay ở Rôma trong cương vị giáo hoàng, ĐTC vẫn thường gần gũi với người nghèo. Nơi ngài, cái nghèo không còn là những nguyên tắc thần học trừu tượng hay viễn tượng mục vụ trên bàn giấy, nhưng là lối sống thực tế của một vị Giáo hoàng. Lối sống này đã tác động lên cách triển khai suy tư của ĐTC về chủ đề người nghèo nơi các giáo huấn chính thức của Giáo hội, cách riêng là Tông huấn Evangelii Gaudium và Thông điệp Fratelli Tutti.

III. NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG

1. Ai là người nghèo?

Dù đã nhiều lần nhắc đến người nghèo trong bài giảng và văn kiện chính thức nhưng ĐTC vẫn chưa trực tiếp đưa ra định nghĩa về người nghèo.[6] Tuy nhiên, qua nghiên cứu, Đức Hồng y Pedrioli nhận xét: Trong tâm thức của ĐTC, người nghèo là những người nghèo về điều kiện vật chất. Nghèo vật chất không chỉ gồm những người đói khát và bị bóc lột, nhưng còn là những người thiếu điều kiện bình thường về chăm sóc sức khỏe, y tế, nhà ở, giáo dục, thu nhập và những quyền căn bản. [7] Đức Hồng y Pedrioli lưu ý đến khía cạnh thể lý và xã hội khi đưa ra định nghĩa về người nghèo theo tâm thức của ĐTC Phanxicô.

Thế nhưng, nơi Tông huấn EG, khi thảo luận về chủ đề người nghèo trong xã hội, ĐTC còn đề cập đến những hình thức nghèo và bị tổn thương mới. Phụ nữ nghèo và thai thi là những người không có được quyền tự vệ chính đáng, bị loại trừ, bị đối xử tệ bạc và bạo lực.[8] Đối tượng người nghèo nơi ĐTC không chỉ là nghèo điều kiện vật chất nhưng còn là những người nghiện ngập, tị nạn, bị loại trừ và cô lập.[9] Nơi Thông điệp FT, ĐTC còn đề cập đến tình trạng những người già và người tàn tật không được chăm sóc, bị bỏ rơi và bị xem như virus corona.[10] Nơi Tông huấn Querida Amazonia, ĐTC nhận thấy người dân bản địa (người dân tộc thiểu số) của vùng Amazon bị đẩy ra khỏi thành phố là hình thức nô lệ mới từ chính sách bài ngoại, nạn khai thác tình dục và buôn người.[11]Nói chung, người nghèo là nạn nhân của những bất công và tệ nạn xã hội,[12] của sự ích kỷ cá nhân và ý thức hệ chính trị.[13] Từ những hiểu biết về người nghèo tại Argentina, linh mục Luciani lưu ý thêm: Người nghèo là những người không có khả năng phát triển thực sự vì điều kiện sống của họ xuất thân từ nghèo đói và bị loại trừ khốc liệt. Thậm chí họ còn bị loại ra khỏi những kế hoạch và chương trình phát triển toàn cầu trong xã hội hiện đại.[14]

Vì thế, việc tìm hiểu chủ đề nghèo theo quan niệm của ĐTC Phanxicô không chỉ dừng lại nơi đối tượng nghèo đói, nhưng còn nơi những người bị loại trừ, bị bỏ rơi và cô lập bởi những người xung quanh, bởi kế hoạch phát triển xã hội và thể chế chính trị. ĐTC không chỉ quan tâm đến người nghèo về điều kiện vật chất mà còn về điều kiện xã hội, kinh tế và chính trị. Đây vốn là những điều kiện căn bản và cần thiết cho việc phát triển con người toàn diện.

2. Nền tảng suy tư

  1. Ưu tiên chọn lựa người nghèo

Theo tác giả Stan Chu Llo, nơi Tông huấn EG, một trong những khẩu hiệu đáng nhớ nhất diễn tả khao khát của ĐTC cho Giáo hội đương thời là “Giáo hội nghèo và cho người nghèo”.[15] Tư tưởng này không trực tiếp bắt nguồn từ ĐTC Phanxicô mà được thôi thúc từ những vị Giáo hoàng tiền nhiệm. Theo cha Rafael Luciani,[16] ĐTC Gioan XXIII là vị Giáo hoàng đầu tiên khởi xướng ý tưởng Giáo hội hiện diện cho người nghèo vào năm 1962: “Theo căn tính và ước muốn, Giáo hội hiện diện cho tất cả mọi người, cách riêng là cho người nghèo”[17] ( Tiếp sau đó, lời mời gọi ‘“Giáo hội nghèo và cho người nghèo” được đưa vào Công đồng Vaticanô II, được phát triển bởi các thần học gia Gustavo Gutiérrez, Ignacio Ellacuría và Jon Sobrino,[18] và được Liên Hội đồng Giám mục Châu Mỹ La Tinh tiếp nhận năm 1968.[19]

Gần đây, Đức Bênêđictô XVI còn nói thêm Thiên Chúa đã trở nên nghèo cho người nghèo và làm cho cái nghèo của chúng ta trở nên giàu có.[20] Từ đường hướng mục vụ của Giáo hội và nền tảng thần học của vị tiền nhiệm này, ĐTC Phanxicô đã từng bước suy tư thêm về chọn lựa ưu tiên cho người nghèo và thăng tiến người nghèo toàn diện. Có thể nói, dù ĐTC Phanxicô được sinh ra và lớn lên tại Argentina, châu Mỹ La Tinh, nơi có nhiều người nghèo, nhưng lời mời gọi Giáo hội “chọn lựa người nghèo” của Ngài không nằm ngoài hướng đi chung của Giáo hội toàn cầu đã được những vị tiền nhiệm khởi xướng.

Theo cách giải thích của tác giả George Sauch, thật nguy hiểm khi hiểu chọn lựa người nghèo (the option for the poor) như một điều ưu tiên nhưng có thể chọn lựa hay từ chối (an optional preference for the poor), mà cần phải hiểu đây là lời mời gọi hãy ưu tiên chọn lựa người nghèo (preferential option for the poor).[21] Tuy nhiên, dù phục vụ người nghèo và những người bị bỏ rơi, giúp đỡ vật chất và bảo vệ quyền lợi xã hội cho họ là điều cần thiết nhưng giúp họ sống mật thiết với Chúa – Đấng thăng tiến và ban phẩm giá cho họ – lại là điều cần thiết hơn.[22] Sứ mạng cốt yếu của Giáo hội không phải là phát triển xã hội nhưng hướng con người đến ơn cứu độ của Thiên Chúa qua trung gian của Giáo hội lữ hành. Vì thế, ĐTC xác định “chọn lựa người nghèo” phải được đặt nền tảng trên chiều kích thần học,[23] cách riêng chiều kích Kitô học và Giáo hội học.

  1. Chiều kích Kitô học

“Chọn lựa người nghèo” được đặt nền tảng trên sự liên kết giữa Mầu nhiệm Nhập thể và giáo huấn của Đức Kitô. Nơi Đức Kitô, Thiên Chúa đã mặc lấy hình ảnh một người nghèo thực sự. Người đã sống trọn cuộc đời trong điều kiện sống của một người nghèo. Nơi người nghèo, chúng ta nhận ra dung mạo và thân thể của Đức Kitô, Đấng đã mặc lấy cái nghèo mà làm cho chúng ta trở nên giàu có (2Cr 8,9).[24] Từ đó, ĐTC nhận thấy sự hiện diện của Đức Kitô nơi người nghèo vì ngài tin rằng “người nghèo là thân thể Đức Kitô”.[25] Đức Kitô đã trở nên nghèo khó để luôn gần gũi người nghèo và những ai bị lãng quên.[26] Không chỉ người nghèo, Lời Chúa cũng thôi thúc người Kitô hữu nhận ra Đức Kitô nơi mỗi anh em bị bỏ rơi và bị loại trừ.[27]

Nơi Thông điệp FT, từ hành vi phớt lờ người bị hại của hai thầy tư tế trong dụ ngôn người Samaria nhân hậu, ĐTC nhận thấy niềm tin và tôn thờ Thiên Chúa là điều kiện cần nhưng chưa đủ để chắc chắn rằng chúng ta đang làm hài lòng Thiên Chúa. Trong việc thực hành việc đức tin, chúng ta chỉ thực sự mở lòng ra với Chúa khi chúng ta mở lòng ra với anh em.[28] Qua hình ảnh người Samaria nhân hậu, Chúa Giêsu ngụ ý diễn tả sự quan tâm của Chúa đến những người nghèo và bị loại trừ. Người nghèo có chỗ đứng đặc biệt nơi trái tim của Chúa. [29]

Người nghèo có vai trò đặc biệt trong đời sống Giáo hội. Ơn cứu chuộc của Thiên Chúa đã đi vào thế gian và được mạc khải qua sự hiện diện của người nghèo: “Toàn thể lịch sử cứu chuộc được đánh dấu bởi sự hiện diện của người nghèo.”[30] Tin Mừng cứu độ đã bắt đầu và gắn chặt với đời sống của người nghèo. Thật vậy, qua lời thưa “xin vâng” của Đức Maria, một phụ nữ nghèo, Đức Kitô đã nhập thể và được sinh ra trong một gia đình nghèo.[31] Và cũng chính nơi đó, quà tặng cứu độ của Thiên Chúa đã trở nên hữu hình trong lịch sử nhân loại. Suốt dòng lịch sử, người nghèo chia sẻ cảm thức đức tin của dân Chúa. Qua sự khó nghèo của mình, họ nhận biết đau khổ của Đức Kitô.[32] ĐTC khẳng định “người nghèo dạy chúng ta nhiều điều; chúng ta cần để chính mình được loan báo Tin Mừng nhờ người nghèo.”[33] Quả thật, đời sống đức tin của người Kitô hữu được tăng trưởng nhờ vai trò của người nghèo.

Vì Đức Kitô đứng về phía người nghèo và Tin Mừng cứu độ gắn chặt với đời sống người nghèo nên những hiểu biết về sứ điệp của Đức Kitô cũng gắn liền với đời sống của người nghèo. Dựa trên nền tảng Kitô học này, ĐTC đã mạnh dạn tuyên bố xác tín của ngài tại Philippines: “Nếu tách người nghèo ra khỏi Tin Mừng, chúng ta không thể hiểu được toàn thể sứ điệp của Đức Kitô.” Do đó, tất cả những ai được đong đầy niềm vui của Tin Mừng cũng phải gần gũi với người nghèo trong cùng một cách thức như Thiên Chúa đã thực hiện.

  1. Chiều kích Giáo hội học

Nơi Thông điệp FT, ĐTC triển khai sự liên đới của mọi người trong xã hội qua dụ ngôn của Chúa Giêsu về người Samaria nhân hậu. Sự quan tâm chăm sóc của người Samaria với người bị hại cho thấy mỗi cá nhân đều bị ràng buộc thâm sâu với các cá nhân khác.

Cuộc sống không đơn thuần là những khoảng thời gian đang trôi qua, nhưng là những khoảnh khắc con người tương tác với nhau.[34]

Dụ ngôn này đề xuất việc tái xây dựng một thế giới đã bị tổn thương. Tình thương trong cộng đoàn có thể được tái xây dựng bởi những người tự đồng hóa bản thân với những người bị tổn thương và bị loại trừ.[35] ĐTC nói chúng ta không thể dửng dưng trước đau khổ, không thể để bất cứ ai lâm vào hoàn cảnh bị loại trừ. Trái lại, chúng ta nên cảm thấy phẫn nộ, bị thách thức để thoát khỏi khuynh hướng tìm sự thoải mái cho mình mà tiếp xúc với đau khổ của con người.[36] Quyết định tiếp nhận hay loại trừ những người bị thương đang nằm bên vệ đường không chỉ được đặt ra trong tương quan cá nhân, nhưng còn trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội và tôn giáo.[37]

ĐTC nhận thấy tình thương là sợi chỉ đỏ nối kết con người lại với nhau. Tình thương chân thành không phân biệt xuất thân của nhau. Tình thương sẽ phá vỡ xiềng xích đang chia cắt và loại trừ con người. Tình thương xây dựng những chiếc cầu nối con người lại với nhau trong cùng một đại gia đình nhân loại, nơi mọi người đều cảm thấy như ở nhà.[38] Sự hiệp nhất được mở rộng từ phạm vi gia đình đến cộng đoàn, quốc gia và thế giới vì “chúng ta được mời gọi hiệp nhất trong cùng một gia đình” hơn là tổng cộng những thành viên riêng lẻ.”[39]

Thế nên, Giáo hội không loại trừ người nghèo nhưng đối xử bằng sự quan tâm xuất phát từ tình thương.[40] Với tình thương chân thành, Giáo hội có trách nhiệm phục vụ người nghèo vượt lên trên dáng vẻ bên ngoài của họ. Chọn lựa người nghèo không chỉ là giúp đỡ hay cổ võ chung chung, nhưng còn là gặp gỡ cá nhân người nghèo trong những nhu cầu thiết thực, nơi văn hóa và đời sống đức tin của họ.[41] Giáo hội muốn bảo đảm chắc chắn rằng nơi mỗi cộng đoàn, người nghèo đều cảm thấy như ở nhà.

Trong Tông huấn EG, ĐTC xem chọn lựa người nghèo như hình thức ưu tiên của hoạt động bác ái Kitô giáo mà toàn thể truyền thống Giáo hội đang làm chứng.[42] Với sự liên đới của mọi người trong cùng một đại gia đình nhân loại, Giáo hội cần mang văn hóa gặp gỡ đến với người nghèo và những người đau khổ trên thế giới. Văn hóa gặp gỡ phải là điểm khởi đầu cho sứ mạng của Giáo hội. Được thúc đẩy bởi ân sủng, chứng nhân Tin Mừng phải phát triển khả năng mang ánh sáng của Thiên Chúa đến cho anh chị em, cách riêng là cho người nghèo, những người thiếu sức mạnh, ánh sáng và niềm an ủi phát xuất từ tương quan huynh đệ với Đức Kitô.[43] Thái độ này nên lan tỏa đến tất cả các khía cạnh trong Giáo hội như cơ cấu, thể chế, sứ vụ, đời sống bí tích, niềm tin và thực hành Kitô giáo.[44]

Cùng với văn hóa gặp gỡ, gần gũi cũng là thái độ Giáo hội nên biểu lộ với dân Chúa.[45] Khi khuyến khích gần gũi người nghèo và tha nhân, ĐTC mong muốn Giáo hội ra đi, phá tan các bức tường ngăn cách giữa Giáo hội với người nghèo.[46] Mỗi cộng đoàn loan báo Tin Mừng cần hội nhập vào lời nói và việc làm của người dân trong cuộc sống thường ngày. Điều đó góp phần nối liền ngăn cách, gắn chặt với đời sống và đụng chạm đến nỗi đau thể xác của Đức Kitô nơi tha nhân. Nhờ đó, chứng nhân Tin Mừng có thể cảm nhận được “mùi chiên”.[47]

Giáo hội không chỉ quan tâm đến người nghèo nhưng còn nhận ra sự nghèo khó, lắng nghe tiếng kêu khóc, cảm nếm và xúc động trước đau khổ của họ.[48] Giáo hội và các nhà lãnh đạo Giáo hội phải đặt nền tảng đời sống trên thực tại đau đớn của những người yếu đuối. Vượt trên cả tương quan xã hội trần thế, người Kitô hữu cần phục vụ người nghèo với sự thúc bách của Tin Mừng như tình thương huynh đệ, phục vụ trong khiêm tốn và quảng đại, công lý và lòng thương xót.[49]

Trách nhiệm này chỉ có thể thực hiện được khi Giáo hội Công giáo là một Giáo hội nghèo. Giáo hội sẽ không bao giờ có thể nhận thấy được sự nghèo đói trên thế giới nếu Giáo hội không sống căn tính của một Giáo hội nghèo.[50] Theo nhận định của Rafael Luciani về tư duy của ĐTC, thực thi căn tính Giáo hội nghèo là điều kiện cần thiết đầu tiên để Giáo hội nghèo và cho người nghèo. Thiếu điều kiện này, Giáo hội sẽ không thể là dấu chỉ và bí tích mang lại khả năng biến đổi tâm hồn.[51] Khi trở nên nghèo và cho người nghèo, Giáo hội không còn quan sát những cảnh đời bất công từ xa, nhưng từ sự gặp gỡ thân tình và gần gũi người nghèo.

IV. CHỌN LỰA VÀ THĂNG TIẾN NGƯỜI NGHÈO

1. Thăng tiến xã hội

Với ĐTC Phanxicô, ơn cứu chuộc có chiều kích xã hội. Đức Kitô không cứu chuộc từng cá nhân riêng lẻ nhưng cứu những con người có tương quan xã hội.[52] Nơi Thánh Ý Thiên Chúa, chúng ta không nên nghĩ về khái niệm như “họ” hay “chúng nó”, nhưng là khái niệm “chúng ta”.[53] Thiên Chúa ngự trị trong thế giới, trong và qua chúng ta, nên đời sống xã hội sẽ là môi trường huynh đệ, công bằng, bình an và nhân phẩm cộng đồng. Đời sống Kitô hữu cần có sự ảnh hưởng nào đó lên đời sống xã hội.[54] Nơi công tác phục vụ người nghèo và loan báo Tin Mừng, chọn lựa người nghèo không có nghĩa là chọn phục vụ một vài cá nhân riêng lẻ nhưng phục vụ cho những tương quan xã hội giữa con người với nhau. Việc cổ võ chân lý Kitô giáo không đóng khung trong lĩnh vực giáo lý và đời sống Giáo hội nhưng luôn bao hàm khát vọng biến đổi thế giới, xây dựng một thế giới tốt đẹp hơn về xã hội và chính trị.[55] Như khí cụ của Chúa, mỗi cá nhân và cộng đoàn cần nỗ lực giải phóng và thăng tiến đời sống xã hội của người nghèo.[56]

Hoạt động cần thiết đầu tiên thể hiện Giáo hội ưu tiên cho người nghèo là thực thi lòng bác ái Kitô giáo. Thiếu lòng bác ái, người Kitô hữu chỉ thực hành nhân đức cách hời hợt bên ngoài bề ngoài và chưa chu toàn những điều răn Chúa muốn.[57] Nhưng bác ái thôi vẫn chưa đủ. ĐTC kêu gọi các tín hữu sống tình liên đới, không đơn thuần chỉ là thực thi một vài hoạt động bác ái nhưng là giúp phát triển người nghèo toàn diện. Tình liên đới nảy sinh từ lương tâm chân thật sẽ nhận ra rằng sự sống của mọi người ưu tiên hơn nhu cầu cá nhân của một ít người.[58] Thể hiện tình liên đới không có nghĩa là bố thí nhưng là tôn trọng người nghèo như những chủ thể có vai trò dẫn dắt xã hội[59] và phục hồi nơi người nghèo những gì vốn thuộc về họ.[60] Để thực hiện đúng tinh thần bác ái Kitô giáo, ĐTC mời gọi các tín hữu đổi mới tư duy, ưu tiên cho sự sống con người và đời sống cộng đồng.[61]

Các dự án an sinh xã hội là cần thiết nhưng đó chẳng qua chỉ là giải pháp tạm thời. ĐTC nhận thấy nền kinh tế thị trường và phân phối thu nhập mới là nguyên nhân chính yếu đang kìm hãm cái nghèo. Nếu muốn giải phóng và thăng tiến người nghèo, cùng đưa họ hội nhập hoàn toàn vào đời sống xã hội thì phải thay đổi những cơ cấu tạo nên cái nghèo trong xã hội. Nỗ lực thay đổi cần tác động lên cả chiều kích cấu trúc (thay đổi về kinh tế xã hội) và tái cấu trúc (thay đổi tư duy trong toàn bộ đời sống Kitô hữu).[62] Sự biến đổi này cần tác động lên mối tương quan giữa các vùng trung tâm và ngoại biên, giữa Giáo hội Rôma với Giáo hội địa phương, giữa Giáo hội và toàn xã hội.[63]

Hệ lụy tác động lâu dài lên nguyên nhân nhân sâu xa của cái nghèo là nền thương mại hoàn toàn tự trị và hành vi đầu cơ tích trữ tài chính. Trước đây, người ta vẫn nghĩ rằng tự do thương mại là đã đủ cho sự an toàn xã hội. Thế nhưng, bài học kinh nghiệm từ đại dịch Covid-19 khiến họ tái khám phá mối quan tâm đến cộng đồng nhân loại, đến mọi người chứ không chỉ lợi ích của một ít người.[64] ĐTC khuyến khích tác động vào những cơ cấu tạo nên bất công, được cắm rễ nơi các tệ nạn xã hội.[65] Không chỉ lắng nghe tiếng khóc than của người nghèo, Giáo hội cần phải lắng nghe tiếng khóc than của những bất công và tìm cách đáp ứng, xóa bỏ những cơ cấu gây ra tình trạng nghèo đói, cùng giúp thăng tiến sự phát triển toàn diện cho người nghèo.[66]

Thế nhưng, khi đặt người nghèo nơi vị trí trung tâm của những suy tư về xã hội và sứ vụ loan báo Tin Mừng của Giáo hội, như khí cụ của Chúa, tình liên đới và thăng tiến cho người nghèo còn phải giúp họ triển nở mối tương quan với Chúa. [67] Theo ĐTC, vì người nghèo là thân thể trần thế của Đức Kitô, nên thể hiện tình liên đới với người nghèo sẽ đưa người Kitô hữu đến gần Chúa hơn. Sống thiếu tình liên đới với người nghèo sẽ tác động xấu đến mối tương quan giữa người Kitô hữu với Thiên Chúa.[68] Từ đó, Luciani nhận xét: Những người đi vào tương quan hiệp thông với Chúa thì cũng đi vào tương quan hiệp thông với con người.[69] Mặt khác, tham gia vào đời sống xã hội với người nghèo là cách thức nền tảng để nhận thấy, đào sâu đức tin và phân định ơn gọi.[70] Bằng cách liên kết đức tin với hành động cho một thế giới tốt đẹp hơn, ĐTC đã khai triển chọn lựa người nghèo trên nền tảng thần học và sự hiệp thông với Chúa. Thiếu loan báo Tin Mừng, mọi cơ cấu của Giáo hội sẽ biến thành tổ chức phi chính phủ.[71] Theo tác giả Joseph Kuppens, lối suy tư này giúp ĐTC tránh được mối nguy hiểm đồng nhất Giáo hội với các tổ chức NGO.[72]

2. Công bằng xã hội và nhân quyền

Trong Tông huấn EG, ĐTC trích dẫn lại câu chuyện giải phóng dân Israel ra khỏi Ai Cập. Khi nghe thấy tiếng kêu than của đoàn dân đang chịu thống khổ bên Ai Cập, Thiên Chúa đã tác động lên lịch sử nhân loại, giải phóng và đưa dân thoát khỏi tình trạng nô lệ. Bằng cách thuyết phục ông Môsê dấn thân vào hành trình giải phóng lâu dài, Thiên Chúa đã mạc khải đường hướng của Ngài và quyết định đem dân từ cảnh nô lệ khốn cùng đến cuộc sống mới.[73] Tiếng kêu than của người nghèo và những người bị đối xử bất công ngày nay cũng tương tự như tiếng kêu khóc của dân Chúa trên đất Ai Cập.[74] Do hậu quả của nền kinh tế loại trừ và bất công xã hội, thế giới đang phải đương đầu với thực trạng nô lệ mới, khiến con người lâm vào tình trạng không lối thoát.

Nền kinh tế loại trừ và bất công xã hội là hậu quả của cơ chế cạnh tranh thương mại, đấu tranh sinh tồn và khao khát tiền của.[75] Người nghèo cảm thấy mình bị đẩy ra bên lề xã hội khi họ đang đói mà thực phẩm bị quăng bỏ. Người ta quan tâm đến điểm dao động của thị trường chứng khoán hơn là số người đói nghèo trong xã hội.[76] Khi con người đặt sự thống trị của đồng tiền lên trên nhân phẩm và xã hội, họ hướng đến nền kinh tế vô cảm, thương mại tự trị và đầu cơ tài chính. Khao khát kiếm tiền đã tạo nên một ý thức hệ mới (ý thức hệ của đồng tiền). Khủng hoảng tài chính khiến người ta chối bỏ ưu tiên dành cho nhân quyền.[77] Đặt mình vào cuộc chiến này, ĐTC kêu gọi người giàu hãy giúp đỡ người nghèo: “Nhân danh Đức Kitô, tôi xin nhắc lại rằng người giàu phải trợ giúp, tôn trọng và thăng tiến người nghèo.”[78] Ưu tư về những thách thức phát sinh từ đồng tiền, ĐTC cảnh báo: “Đồng tiền phải phục vụ, không được thống trị.”[79]

Nơi một góc nhìn khác, ĐTC đề cao vai trò của việc kinh doanh: “Kinh doanh là một ơn gọi và là một ơn gọi cao quý.”[80] Kinh doanh tạo nên sự phồn thịnh và cải thiện thế giới chúng ta đang sống.[81] Trong kế hoạch của Chúa, mỗi cá nhân được mời gọi thúc đẩy phát triển chính mình. Thế nhưng, như quà tặng của Chúa, khả năng kinh doanh nên được vận dụng để phát triển tha nhân và xóa bỏ nghèo đói.[82] Theo nhận định của ĐTC, quyền tích trữ cá nhân chỉ được xem là quyền tự nhiên thứ yếu, được rút ra từ mục đích phổ quát của hàng hóa. Nguyên lý sử dụng hàng hóa cho lợi ích của dân chúng mới là quyền tự nhiên chính yếu của con người. [83] Thế nên, các doanh nhân nên để mình bị chất vấn bởi ý nghĩa lớn lao về sự sống, phục vụ công ích và gia tăng hàng hóa cho thế giới hơn là chỉ lo cho lợi ích cá nhân. Sẽ không có giải pháp nào được tìm thấy nếu chưa loại trừ nền kinh tế hoàn toàn tự trị, nạn đầu cơ tài chính và tấn công vào cơ cấu gây ra bất bình đẳng xã hội.[84]

ĐTC triển khai hành vi bác ái cả trong tương quan vi mô (bạn bè, các thành viên trong gia đình hay nhóm nhỏ) lẫn tương quan vĩ mô (tương quan xã hội, kinh tế và chính trị).[85] Nền kinh tế cần phải mang lại lợi ích cho từng cá nhân, cho quốc gia và toàn thế giới như là căn nhà chung của nhân loại. Nhiệm vụ này được thực hiện không chỉ nhờ những nhà lãnh đạo, cơ quan tài chính, nhưng còn nhờ các chính trị gia, những người được mong đợi cải thiện điều kiện sống xã hội như: lương thực, việc làm, giáo dục và chăm sóc sức khỏe phù hợp với nhân phẩm con người. Tuy nhiên, đây không phải là những điều tự con người có thể làm được. ĐTC khẩn xin Thiên Chúa mang lại tâm thức chính trị và kinh tế mới, giúp đập tan các bức tường chia cắt giữa nền kinh tế và công ích xã hội.[86]

3. Bảo vệ môi trường sống cho người nghèo

ĐTC còn mở rộng chủ đề nghèo đến tương quan mật thiết giữa người nghèo với sự mỏng giòn của hành tinh chúng ta đang sống. Đây là tương quan bất khả phân chia giữa mối bận tâm về tự nhiên, công bằng cho người nghèo, trách nhiệm xã hội và bình an nội tâm.[87] Theo nhận thức của ĐTC, thế giới hiện hữu cho mọi người và tất cả mọi người được sinh ra đều có quyền bình đẳng như nhau. Thiên Chúa ban thế giới cho toàn thể nhân loại, không dành riêng cho bất kỳ ai. Ngài lưu ý “chúng ta đừng bao giờ quên rằng hành tinh này thuộc về mọi người và dành cho con người.”[88]

Lặp lại lời nhắc nhở của ĐTC Bênêđictô XVI: “Môi trường Amazon bị hủy diệt và phẩm giá con người của các dân tộc sống ở đó bị đe dọa”,[89] ĐTC cho rằng một người nghèo thiếu những điều kiện cần thiết để sống cho nhân phẩm là do người khác đang ngăn trở họ. Không san sẻ nguồn sống tự nhiên cho người nghèo đồng nghĩa với việc cướp đi sự sống và quăng họ ra bên lề.[90] Vì phần đông dân số thế giới là người nghèo, nên hậu quả để lại từ hành vi quăng họ ra bên lề xã hội là vô cùng lớn.[91] Chúng ta phải có trách nhiệm theo đuổi công lý cho người nghèo và người yếu đuối.[92]

Vì những khó khăn do biến đổi khí hậu, nhiều người nghèo đã mất khả năng tự tìm kế sinh nhai và buộc phải di cư sang vùng đất khác.[93] Tại châu Phi, nhiều người nghèo đang thiếu nước sạch. ĐTC nhận thấy nhu cầu có nước sạch là quyền cơ bản của con người: “Có được nguồn nước sạch là quyền căn bản và phổ quát của con người vì đó là điều kiện sinh tồn thiết yếu.”[94] Những khủng hoảng môi trường đang diễn ra do chất thải công nghiệp gây nguy hại cho trái đất và sự sống của người nghèo: “Chính trái đất, đang oằn mình và bị tàn phá, lại ở trong số những người nghèo bị bỏ rơi và lạm dụng nhất của chúng ta.”[95] Là một cộng đoàn trong thế giới – ngôi nhà chung của chúng ta – Giáo hội có trách nhiệm bảo đảm mỗi người nghèo đều sống đúng với nhân phẩm và có đầy đủ cơ hội phát triển toàn diện.[96] Đáng buồn thay, thế giới nợ người nghèo sự trợ giúp kiện toàn nhân quyền và nhân phẩm, nhưng người ta lại không chú tâm đến trọng trách này.[97] Với các thành viên trong Giáo hội, ĐTC mời gọi các Kitô hữu tôn trọng mối liên hệ mật thiết giữa Thiên Chúa, người thân cận và công trình sáng tạo, cùng vun đắp cho mối tương quan này. Khi tương quan này bị phá vỡ thì hậu quả để lại sẽ là tội lỗi và những nguy hại cho sự sống con người.[98]

V. KẾT LUẬN

Dựa trên nền tảng Kitô học – Đức Kitô trở nên người nghèo và gần gũi với người nghèo – ĐTC mong muốn Giáo hội hiện tại là Giáo hội nghèo và cho người nghèo. Về sứ vụ của Giáo hội, ĐTC không đóng khung Giáo hội vào những không gian riêng tư nhưng mở ra với cuộc sống xã hội trong việc phục vụ người nghèo, những người bị loại trừ và bị ngược đãi. Các Kitô hữu nên ra khỏi nơi thờ tự, đến vùng ngoại biên, mang niềm vui Tin Mừng đến với người nghèo và toàn thể thế giới.[99] Chứng nhân loan báo Tin Mừng không nên đóng khung hoạt động mục vụ trong việc từ thiện, bác ái, nhưng sống tình liên đới, mở ra với các hoạt động xã hội, kinh tế và chính trị nhằm xây dựng một xã hội, một hành tinh tốt đẹp hơn cho sự phát triển toàn diện của người nghèo. Về chiến lược kinh tế và xã hội, ĐTC mời gọi chúng ta xóa bỏ nền thương mại tự trị, nạn đầu cơ tài chính, những cơ cấu gây ra nghèo đói và bất công, cùng nối lại sự chia cắt giữa lợi ích kinh tế cá nhân và công ích xã hội.[100]

Mặc dù mời gọi Giáo hội dấn thân vào tương quan xã hội, kinh tế và chính trị nhưng ĐTC không tham gia và cũng không mời gọi các thừa tác viên có chức thánh tham gia vào các đảng phái chính trị: “Thừa tác viên có chức thánh không được tham gia vào các đảng phái chính trị”[101] Những điều ĐTC mời gọi không chỉ là những suy tư mang tính lý thuyết, nhưng là lối sống của chính ngài, thể hiện qua sự yêu thương, gần gũi và chăm lo cho người nghèo nơi đời sống hàng ngày, trong vai trò giám mục và hồng y tại tổng Giáo phận Buenos Aires và cả trong cương vị Giám mục thành Rôma./.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Nguồn chính yếu:

– Francis. Evangelii Gaudium: On the Proclamation of the Gospel in the Today’s World. www.vatican.va/evangelii-gaudium.html.

– Francis, Fratelli Tutti: On Fraternity and Social Friendship. www.vatican.va/fratelli-tutti.html.

– Francis. Gaudete et Exultate: On the Call to Holiness in Today’s World. www.vatican.va/gaudete-et-exsultate.html.

– Francis. Laudato Si’: On Care for Our Common Home. www.vatican.va/laudato-si.html

– Francis, Querida Amazonia. www.vatican.va/querida-amazonia.html .

Nguồn thứ yếu:

– Caro, Olga C.V. “The Social Dimension of Evangelization: An Incontrovertible Commitment.” In Evangelii Gaudium: Voices of the Universal Church, edited by Klaus Krẳmer and Klaus Vellguth, 189-198. Philippines: Claretian Communications Foundation, 2015.

– Gispert-Sauch, George. “The Social Dimension of Evangelization: A Reflection from India.” In Evangelii Gaudium: Voices of the Universal Church, edited by Klaus Krẳmer and Klaus Vellguth, 163-174. Philippines: Claretian Communications Foundation, 2015.

– Ilo, Stan. Poverty and Economic Justice in Pope Francis. Accessed January, 2019. www.researchgate.net/Poverty_and_Economic_Justice_in_Pope_Francis

– Johnson, Siluvaipillai. “Encountering the Word-Event: The Realization of God’s Nearness and Newness in the Fragile World.” In Evangelii Gaudium: Voices of the Universal Church, edited by Klaus Krẳmer and Klaus Vellguth, 137-148. Philippines: Claretian Communications Foundation, 2015.

– Krẳmer, Klaus. “The Social Dimension of Evangelization: The Kingdom of God as the Horizon of Social and Communal Activity.” In Evangelii Gaudium: Voices of the Universal Church, edited by Klaus Krẳmer and Klaus Vellguth, 199-210. Philippines: Claretian Communications Foundation, 2015.

– Kuppens, Jos. “On the Social Dimension of Evangelization.” In Evangelii Gaudium: Voices of the Universal Church, edited by Klaus Krẳmer and Klaus Vellguth, 175-188. Philippines: Claretian Communications Foundation, 2015.

– Luciani, Rafael. Pope Francis and the Theology of the People. Trans. Phillip Berryman. Maryknoll, New York: Orbis Books, 2017.

– Pedrioli, Carlo A. Pope Francis, Poverty, and the Third Persona. Accessed May 31, 2019. https://papers.ssrn.com/sol3/papers.cfm?abstract_id=3385076

Trích Bản tin Hiệp Thông / HĐGM VN, Số 124 (Tháng 5 & 6 năm 2021)

WHĐ (22.8.2021)

[1] Francis, Evangelii Gaudium: On the Proclamation of the Gospel in the Today’s World, 189. Trích dẫn về Tông huấn Evangelii Gaudium được lấy từ bản văn tiếng Anh của Tòa Thánh tại trang web http://www.vatican.va/content/francesco/en.

[2] ‘NGO’ là từ viết tắt của cụm từ ‘non-governmential organization, tên gọi chung cho các tổ chức phi chính phủ.

[3] Carlo A. Pedrioli, Pope Francis, Poverty and the Third Persona, 372, accessed May 31, 2019, https://papers.ssrn.com/sol3/papers.cfm?abstract_id=3385076.

[4] Olga Consuelo Vélez Caro, “The Social Dimension of Evangelization: An Incontrovertible Commitment,” in Evangelii Gaudium: Voices of the Universal Church, edited by Klaus Krămer and Klaus Vellguth (Philippines: Claretian Communications Foundation, 2015), 194.

[5] Carlo A. Pedrioli, Pope Francis, Poverty and the Third Persona, 372.

[6] Ibid., 383.

[7] Ibid., 383.

[8] Francis, Evangelii Gaudium , 212.

[9] Ibid., 210.

[10] Francis, Fratelli Tutti: On Fraternity and Social Friendship, 19. Trích dẫn về Thông điệp Fratelli Tutti được lấy từ bản văn tiếng Anh của Tòa Thánh tại trang web http://www.vatican.va/content/francesco/en.

[11] Francis, Querida Amazonia, 10. Trích dẫn về Tông huấn Querida Amazonia được lấy từ bản văn tiếng Anh của Tòa Thánh tại trang web http://www.vatican.va/content/francesco/en

[12] Francis, Evangelii Gaudium, 202.

[13] Ibid., 208.

[14] Rafael Luciani, Pope Francis and the Theology of the People, 40.

[15] Stan Chu Llo, Poverty and Economic Justice in Pope Francis, 44, accessed December 19, 2018, https://doi.org/10.1177/2396939318810698.

[16] Cha Rafael Luciani là một trong ba linh mục khởi xướng phong trào Thần học về con người (Theology of the People) tại Argentina.

[17] Rafael Luciani, Pope Francis and the Theology of the People, 65.

[18] Ibid., 65.

[19] Ibid., 65.

[20] Francis, Evangelii Gaudium, 198.

[21] George Gispert-Sauch, “The Social Dimension of Evangelization: A Reflection from India,” in Evangelii Gaudium: Voices of the Universal Church, edited by Klaus Kramer and Klaus Vellguth (Philippines: Claretian Communications Foundation, 2015), 169.

[22] Francis, Querida Amazonia, 63.

[23] Francis, Evangelii Gaudium, 186;198.

[24] Rafael Luciani, Pope Francis and the Theology of the People, 69.

[25] Francis, Address to representatives of Civil Society, Asuncion, Paraguay, in July 11, 2015. See Rafael Luciani, Pope Francis and the Theology of the People, 65.

[26] Francis, Evangelii Gaudium, 186.

[27] Francis, Fratelli Tutti, 85.

[28] Ibid., 74.

[29] Francis, Evangelii Gaudium, 197.

[30] Ibid., 197.

[31] Ibid., 197.

[32] Ibid., 198.

[33] Francis, Evangelii Gaudium, 198.

[34] Francis, Fratelli Tutti, 66.

[35] Ibid., 67.

[36] Ibid., 68.

[37] Ibid., 69.

[38] Ibid., 62.

[39] Ibid., 78.

[40] Ibid., 199.

[41] Francis, Evangelii Gaudium, 24.

[42] Francis, Evangelii Gaudium, 198.

[43] Francis, Evangelii Gaudium, 49.

[44] Stan Chu Llo, Poverty and Economic Justice in Pope Francis, 43.

[45] Francis, Fratelli Tutti, 30.

[46] Francis, Evangelii Gaudium, 24. Also see Francis, Fratelli Tutti, 276.

[47] Francis, Evangelii Gaudium, 24.

[48] Ibid., 191.

[49] Ibid., 194.

[50] Stan Chu Llo, Poverty and Economic Justice in Pope Francis, 43.

[51] Rafael Luciani, Pope Francis and the Theology of the People, 67.

[52] Francis, Evangelii Gaudium, 178.

[53] Francis, Fratelli Tutti, 35.

[54] Francis, Evangelii Gaudium, 180.

[55] Francis, Evangelii Gaudium, 180.

[56] Trong Tông huấn Evangelii Gaudium số 187, ĐTC viết: “Mỗi Kitô hữu và cộng đoàn đều được mời gọi để trở thành khí cụ của Thiên Chúa trong việc giải phóng và thăng tiến người nghèo, ngõ hầu họ có thể gia nhập cách trọn vẹn vào xã hội”.

[57] Francis, Fratelli Tutti, 91.

[58] Ibid., 116.

[59] Francis, Querida Amazonia, 27.

[60] Francis, Evangelii Gaudium, 198.

[61] Ibid., 188.

[62] Rafael Luciani, Pope Francis and the Theology of the People, 70.

[63] Ibid., 70-71.

[64] Francis, Fratelli Tutti, 33.

[65] Jos Kuppens, “On the Social Dimension of Evangelization,” in Evangelii Gaudium: Voices of the Universal Church, edited by Klaus Kramer and Klaus Vellguth (Philippines: Claretian Communications Foundation, 2015), 181. And see Francis, Evangelii Gaudium 202.

[66] Francis, Evangelii Gaudium, 188.

[67] Francis, Evangelii Gaudium, 187.

[68] Ibid., 187.

[69] Rafael Luciani, Pope Francis and the Theology of the People, 76.

[70] Francis, Christus Vivit – to Young People and the Entire People of God, 170.

[71] Francis, Querida Amazonia, 64.

[72] Jos Kuppens, “On the Social Dimension of Evangelization,” 179.

[73] Siluvaipillai Johnson, “Encountering the Word-Event: The Realization of God’s Nearness and Newness in the Fragile World,” in Evangelii Gaudium: Voices of the Universal Church, edited by Klaus Kramer and Klaus Vellguth (Philippines: Claretian Communications Foundation, 2015), 144.

[74] Francis, Querida Amazonia, 52.

[75] Francis, Evangelii Gaudium, 53.

[76] Ibid., 53.

[77] Francis, Evangelii Gaudium, 53.

[78] Ibid., 58.

[79] Ibid., 58.

[80] Francis, Evangelii Gaudium, 203.

[81] Francis, Fratelli Tutti, 123.

[82] Ibid., 123.

[83] Ibid., 123.

[84] Francis, Evangelii Gaudium, 202.

[85] Ibid., 205.

[86] Ibid., 205.

[87] Francis, Laudato Si’, 16.

[88] Francis, Evangelii Gaudium, 189.

[89] Francis, Querida Amazonia, 12.

[90] Francis, Fratelli Tutti, 120.

[91] Francis, Laudato Si’, 49.

[92] Francis, Gaudete et Exsultate : On the Call to Holiness in Today’s World, 79. Trích dẫn về Tông huấn Gaudete et Exsultate được lấy từ bản văn tiếng Anh của Tòa Thánh tại trang web http://www.vatican.va/content/francesco/en.

[93] Carlo Pedrioli, Pope Francis, Poverty, and the Third Persona, 387.

[94] Francis, Laudato Sí, 30.

[95] Ibid., 30.

[96] Francis, Fratelli Tutti, 118.

[97] Francis, Laudato Si’, 30.

[98] Ibid., 30.

[99] Francis, Fratelli Tutti, 276.

[100] Francis, Fratelli Tutti, 276.

[101] Ibid., 276.

Read More
23Tháng Tám
2021

Nghiệp quả từ góc nhìn của đức tin Công giáo

23/08/2021
Anmai
Giáo dục, Tài liệu giáo dục
0

NGHIỆP QUẢ TỪ GÓC NHÌN CỦA ĐỨC TIN CÔNG GIÁO

Giuse Cao Gia An, S.J.

Câu hỏi:

Xin lỗi vì con theo Đạo Phật nên không biết nghiệp quả được hiểu như thế nào trong đạo Công Giáo. Làm sao để bớt nghiệp quả theo lối nhìn của Công Giáo?

Trả lời:

Đây là một câu hỏi chạm đến một khác biệt cốt lõi giữa hai tôn giáo lớn. Cần có những nghiên cứu đủ sâu và đủ rộng thì mới có thể trả lời thoả đáng những câu hỏi loại này. Trong khuôn khổ của bài viết ngắn ở đây, chúng ta thử tiếp cận câu hỏi này theo ba bước như sau. Thứ nhất, nên có một hiểu biết sơ lược về thuyết nghiệp quả của nhà Phật, nhận ra cái hay và những giá trị của thuyết ấy. Thứ hai, cần nhìn rộng hơn để thấy nghiệp quả là một thuyết phổ biến, hiện diện hầu như trong khắp mọi nền văn hoá và tôn giáo từ cổ đại cho đến hiện đại. Thứ ba, nhìn xem nội dung của lý thuyết nghiệp quả được hiểu như thế nào trong đạo Công Giáo.

Thuyết nghiệp quả theo nhà Phật

Chữ “nghiệp” (Karma) là một trong những thuật ngữ quan trọng trong giáo lý nhà Phật. Chữ ấy có thể được hiểu là một hành động có chủ ý trong tư tưởng, lời nói hay việc làm. Khi bạn làm một điều gì đó với đầy đủ chủ ý, bạn gieo một hạt nhân cho đời mình. Hạt nhân ấy chắc chắn sẽ thành cây và sinh quả. Gieo nhân loại nào, bạn sẽ gặt quả loại ấy. Nếu bạn gieo thiện nhân, bạn sẽ gặt thiện quả. Ngược lại, nếu bạn gieo ác nhân hay ác nghiệp, bạn sẽ gặt lại quả báo.

Theo giáo lý nhà Phật, nghiệp quả được hiểu như là một quy luật phổ quát. Không chỉ có tác dụng trong đời người, Luật ấy bao trùm vũ trụ vạn vật. Không chỉ giới hạn trong một đời người, Luật ấy có thể kéo dài từ đời này sang đời khác. Theo thuyết nghiệp quả, có những khổ đau của đời này được giải thích như là quả của những nghiệp ác đã được gieo từ kiếp trước. Cũng vậy, những nghiệp ác mà một người làm ở đời này, có thể người ấy sẽ còn phải trả trong cả kiếp sau.

Như thế, thuyết nghiệp quả dạy rằng cuộc sống của một người sướng hay khổ, vui hay buồn, thành công hay thất bại, thật ra đều phụ thuộc vào chính người ấy. Bạn được cứu rỗi hay trở nên hư mất đều phụ thuộc vào chính bạn, vào chính điều bạn đã làm và nghiệp bạn đã gieo. Sự cứu độ theo thuyết này thật ra là một sự “tự độ”. Mặt khác, thuyết nghiệp quả giả định rằng có một sự công bằng nhất định trong lối vận hành của vũ trụ vạn vật. Thuyết ấy cũng hàm chứa những bài học luân lý quý giá trong việc dạy dỗ con người: người ta phải biết tu thân tích đức và sống tốt để gặp điều thiện lương; ngược lại, người nào sống bất lương và bất chính, chắc chắn đến một lúc nào đó sẽ phải trả giá.

Thuyết nghiệp quả trong các nền văn hoá khác nhau

Không chỉ có trong nhà Phật, thuyết nghiệp quả còn hiện diện trong rất nhiều nền văn hoá và tôn giáo khác nhau. Trong những nền văn minh cổ đại của nhân loại như Ai-cập, Su-mer, A-cát, Ba-by-lon, Do-thái, Trung Hoa… luôn có một niềm tin vào nghiệp quả dựa trên nguyên tắc công bằng, cả ở cấp độ cá nhân lẫn cấp độ xã hội. Gieo nhân nào thì gặt quả đó. Gieo gió ắt gặp bão. Kẻ ác phải bị trừng trị và kẻ lành phải được tưởng thưởng. Một hôn quân vô đạo gieo nhiều nghiệp xấu, trước sau gì cũng phải gặt quả ác và làm cho vương quốc của mình sụp đổ. Một xã hội bất công và thối nát, tất sẽ đến hồi diệt vong. Một kẻ ác, có làm cách gì đi nữa cũng không thoát khỏi Luật trời. “Thiên võng khôi khôi, sơ nhi bất lậu”. Lưới trời lồng lộng, thưa nhưng khó lọt.

Trong kho tàng văn hoá Việt Nam, thuyết nghiệp quả được cưu mang trong rất nhiều câu chuyện cổ tích. Cô Tấm hiền lành tốt bụng một đời nên cuối cùng được hạnh phúc. Hai mẹ con nhà Cám gian ác nên kết cục bị trừng phạt đích đáng. Thạch Sanh thiện lương và nghĩa hiệp nên cuối cùng được tưởng thưởng. Lý Thông gian manh xảo quyệt nên kết cục phải bị trời phạt, v.v…

Tóm lại, có thể nói rằng thuyết nghiệp quả dựa vào xác tín căn bản rằng trong đời này không có gì tự sinh ra cũng không có gì tự mất đi. Có một Luật nhân quả chi phối toàn bộ vũ trụ vạn vật và mọi thứ trong cuộc đời. Nhờ có Luật ấy, mọi thứ vận hành theo đúng với lẽ công bằng.

Đạo Công Giáo nhìn về thuyết nghiệp quả

Não trạng bình dân của một người Công Giáo ít nhiều tin vào thuyết nghiệp quả. Chẳng hạn, người ta thường tóm lược Giáo Lý Công Giáo trong lời dạy: làm lành lánh dữ. Làm lành để được hưởng phúc Thiên Đàng, lánh dữ để khỏi phải sa hoả ngục đời đời. Có rất nhiều câu Kinh Thánh dạy dỗ điều này: “Hãy làm điều thiện, và bạn sẽ được sống” (Tv 37,3). Những nhà lập pháp đầu tiên của dân Ít-ra-en khi dạy dân về Luật của Thiên Chúa cũng dựa vào khuôn mẫu vận hành theo kiểu nhân quả: ”Nếu anh em nghe tiếng Đức Chúa là Thiên Chúa của anh em mà đem ra thực hành tất cả những mệnh lệnh của người […] thì Đức Chúa sẽ cho anh em vượt mọi dân tộc trên mặt đất và mọi phúc lành sẽ đến với anh em […]” (Đnl 28,1-14); “Nhưng nếu anh em không nghe tiếng Đức Chúa [….], anh em sẽ bị nguyền rủa” (Đnl 28, 15-68). Thánh Phao-lô thì dạy rằng: “Ai gieo giống nào, thì sẽ gặt giống đó” (Gal 6,7), v.v.

Tuy nhiên, cần lưu ý rằng giữa niềm tin Công Giáo và niềm thuyết nghiệp quả có những khác biệt rất tận căn.

Thứ nhất, thuyết nghiệp quả theo nhà Phật là một Luật vận hành tuyệt đối. Không điều gì có thể thoát ra ngoài Luật ấy. Theo thuyết nghiệp quả của nhà Phật, không nhất thiết phải tin có một Đấng Tuyệt Đối nào. Trong khi đó, với niềm tin Công Giáo, điều tuyệt đối không phải là một Luật, nhưng là một Đấng làm chủ mọi Luật. Niềm tin Công Giáo không chỉ dạy người ta làm lành lánh dữ vì giá trị tuyệt đối của Luật nhân quả, nhưng là để xây dựng một tương quan cá nhân thiết thân và bền chặt giữa mình với Đấng Tuyệt Đối là Thiên Chúa của mình.

Mặt khác, niềm tin Công Giáo dạy rằng con người chỉ có một cuộc đời làm người để sống. Một người sống cuộc đời duy nhất của mình thế nào sẽ quyết định vận mệnh đời đời của người ấy. Nhưng sự quyết định này không nhất thiết hoàn toàn tuân theo Luật nghiệp quả. Trong hành trình cuộc đời của của mỗi con người, Thiên Chúa có một phương pháp sư phạm để dạy con người lớn lên. Sự lớn lên ấy có khi phải ngang qua những vấp ngã và thất bại, ngang qua những lỗi lầm và sai trái. Nhưng niềm tin Công Giáo dạy rằng nếu Thiên Chúa đối xử với con người theo luật nghiệp quả, khó một ai có thể đứng vững và được cứu thoát. “Ôi lại Chúa, nếu như Ngài chấp tội, nào có ai đứng vững được chăng?” (Tv 130,3). Không một con người nào thật sự có khả năng tự cứu mình, bởi có những yếu đuối bất khả vượt qua của thân phận con người. Thánh Phaolô, một vị tông đồ lừng danh về sự mạnh mẽ đã từng phải thốt lên: “Tôi không hiểu mình nữa, điều tốt tôi muốn thì tôi không làm. Điều xấu tôi không muốn tôi lại cứ làm” (Rm 7,15). Như thế, tự nền tảng, niềm tin Công Giáo dạy rằng mỗi người không phải và không thể là đấng cứu độ của riêng mình. Ai cũng cần một Đấng giải thoát, cần một trợ lực từ bên ngoài. Để được cứu, ai cũng cần đến sự đỡ nâng, cần tình yêu và lòng thương xót của Thiên Chúa. Điều này khác biệt hoàn toàn với quan niệm “tự độ” của nhà Phật.

Hơn nữa, trong khi thuyết nghiệp quả của nhà Phật đề cao tuyệt đối trách nhiệm cá nhân và quan niệm rằng một người được cứu hay bị hư mất hoàn toàn phụ thuộc vào chính người ấy, đức tin Công Giáo dạy về sự liên đới và giá trị của chiều kích cộng đoàn đối với ơn cứu độ của từng cá nhân. Sự liên đới trong niềm tin là một giá trị đẹp của người Công Giáo. Đấy là lý do tại sao trong Giáo Hội Công Giáo thường có những buổi cầu nguyện cho những người đã qua đời, cầu nguyện cho những người đang gặp khó khăn hoạn nạn. Những lời cầu nguyện mà một người Công Giáo dâng lên Thiên Chúa thường không chỉ là cho riêng mình, nhưng cho rất nhiều người khác. Niềm tin nền tảng của việc thực hành ấy là thế này: người Công Giáo tin rằng Thiên Chúa có thể cứu rỗi một người nhờ vào lời khẩn nguyện của những người khác. Một người có thể được nâng đỡ và được cứu rỗi nhờ vào lời khẩn nguyện của cả cộng đoàn.

Quan trọng hơn hết đối với một người Công Giáo là những giáo huấn và gương sống cuộc đời của Đức Giê-su. Xuyên suốt các trang Tin Mừng, có thể thấy Đức Giê-su không cho rằng vận mệnh của một con người tuyệt đối bị khuôn định bởi Luật nhân quả. Ngài không dạy rằng một người đã gieo nhân nào thì đương nhiên sẽ nhận quả ấy. Đối tượng quan trọng mà Đức Giê-su chọn trong suốt cuộc đời rao giảng của mình là những người tội lỗi. Ấy là những người đã gieo nhân xấu trong đời mình. Ngài không rao giảng rằng họ sẽ phải nhận quả xấu. Ngài mời họ hoán cải, thay đổi đời sống để được cứu. Với Đức Giê-su, bất cứ một tội nhân nào cũng có một tương lai phía trước nếu họ biết từ bỏ đường tội lỗi, thay đổi cuộc đời để sống tốt và để làm người tốt. Có nhiều câu chuyện và dụ ngôn có thể minh hoạ rất tốt điều này.

Người ta bắt quả tang một người phạm tội ngoại tình (Ga 8,1-11). Chị đã gieo một nghiệp xấu trong đời mình là hành vi ngoại tình. Theo đúng lẽ đúng luật, chị phải gặt quả xấu là bị ném đá cho đến chết. Đức Giê-su không đi theo con đường đó. Nếu cứ phạm tội thì phải bị trừng phạt, liệu có một ai thoát khỏi án phạt không? Chuyện kể rằng khi Đức Giê-su đặt lại câu hỏi cho những kẻ chất vấn: “ai trong các ông không phạm tội, thì hãy ném đá người này trước đi” (Ga 8,7), những người kết án chị phụ nữ lần lượt bỏ đi, từ người lớn tuổi nhất. Câu chuyện Tin Mừng ấy dạy rằng ai cũng từng phạm tội. Ai cũng là kẻ có tội. Ai cũng từng ít nhiều gieo nhân xấu trong đời mình. Nếu cứ máy móc áp dụng theo luật nhân quả, liệu có ai là người sống sót được chăng? Liệu có ai đáng được cứu được chăng? Liệu có ai tự cứu mình được chăng? Càng thật lòng nhìn lại chính mình và thân phận làm người của mình, người ta càng có cơ hội nhận ra rằng mình cần đến lòng thương xót. Ai cũng cần đến sự tha thứ để có thể làm lại cuộc đời.

Đức Giê-su nhiều lần kể chuyện về lòng thương xót của Thiên Chúa. Thiên Chúa trong lời dạy của Đức Giê-su luôn là một người cha có trái tim nhân từ. Với người cha ấy, có khi chính đứa con hư hỏng và gieo nhiều ác nghiệp nhất lại là đứa con được quan tâm và lo lắng nhiều nhất. Có khi Thiên Chúa sẵn sàng đầu tư nhiều tâm huyết và kiên nhẫn nhất cho những con người bị coi là bất xứng nhất. Một thí dụ điển hình là dụ ngôn về đứa con hoang đàng (Lc 15,11-35). Đứa con ấy bỏ nhà cha của mình, thu gom hết của cải, ăn chơi phung phí cho đến khi tán gia bại sản thì mới quay trở về. Anh là người đã gieo nhân xấu. Lẽ ra quả mà anh gặt phải là bị kết án, bị ruồng bỏ, bị khinh miệt xa lánh. Nhưng không. Người Cha đón nhận anh bằng rất nhiều yêu thương và ưu đãi. Không phải vì anh ta xứng đáng. Chỉ đơn giản vì tình yêu của người Cha dành cho con mình luôn là như vậy. Anh có ra hư hỏng thế nào đi nữa, có gieo quả xấu thế nào đi nữa, cũng chẳng thể làm mai một tình yêu vô bờ mà người Cha dành cho anh. Tình yêu ấy vượt trên lẽ công bằng, vượt ra ngoài vòng khuôn định nhân quả. Tình yêu ấy không màng đến chuyện xứng đáng hay không xứng đáng. Chỉ đơn giản anh là người được yêu. Vì được yêu nên anh được tha thứ. Thiên Chúa không dùng luật nhân quả để phân loại và phán xử con người. Ngài dùng sự thương xót và tha thứ để cảm hoá lòng người, để mở ra một con đường mới cho con người có thể làm lại cuộc đời.

Như thế, niềm tin Công Giáo xác tín rằng trong tương quan giữa con người với Thiên Chúa, có những khung tiêu chuẩn khác quan trọng hơn và lý tưởng hơn là khung tiêu chuẩn công bằng theo kiểu nghiệp quả. Ấy là giá trị của tình yêu, của lòng thương xót và của sự tha thứ. Tình yêu của Thiên Chúa dành cho con người không dựa trên bất cứ một quy luật nhân quả nào. Tình yêu của Thiên Chúa không phải là cái quả mà con người gặt được nhờ đã gieo nhân tốt. Thiên Chúa yêu thương con người không phải vì con người xứng đáng, không phải vì con người giỏi giang và đẹp đẽ, không phải như một cách để thưởng công cho con người. Chính tình yêu làm cho con người hoán cải để trở nên tốt hơn mỗi ngày, chứ không phải nhờ con người đã tốt nên con người mới được Thiên Chúa yêu thương. Trong tương quan tình yêu giữa Thiên Chúa và con người, chính Thiên Chúa là người đi bước trước, bất kể sự bất toàn bất xứng của con người. Cả khi con người bất trung và lầm lỗi, tình yêu mà Thiên Chúa đặt vào con người vẫn là không hề thay đổi. Đây là khác biệt tận căn giữa thuyết nghiệp quả và niềm tin vào tình yêu Thiên Chúa.

Như thế, làm sao để giảm bớt “nghiệp quả”?

Khi nói về tình yêu nhưng không và vô điều kiện của Thiên Chúa, luôn có nguy cơ người ta sẽ lý luận kiểu này: được Chúa yêu như vậy, con người muốn làm trời làm đất gì thì làm, còn phải sợ gì nữa! Người chọn “làm trời làm đất” khi nhận ra mình được yêu thật ra là người không có trái tim. Người đó không biết trân trọng tình yêu được đặt vào đời mình. Người đó trước sau gì cũng tự mình làm mất tình yêu mà mình đang được hưởng nếm, và tự đánh mất chính mình. Vậy nên vẫn có trường hợp có những người được Thiên Chúa yêu thương vô cùng, nhưng cuối cùng vẫn ra hư mất. Người ấy phải gánh quả ác từ những cái nhân xấu mà mình đã gieo, nếu giải thích theo lối hiểu nhà Phật. Đơn giản, bởi vì người ấy tự do nhưng lại không muốn dùng tự do của mình để chọn con đường tốt mà chính Thiên Chúa đã mở ra cho mình.

Nhận ra tình yêu Thiên Chúa và cộng tác với tình yêu ấy là cách tốt nhất để “giảm bớt nghiệp quả”. Chính tình yêu Thiên Chúa luôn có khả năng gột sạch những “nghiệp” xấu mà con người đã gieo trong đời mình và mở ra cho con người con đường sống mới. Bước đi trong hành trình đức tin mỗi ngày, người Công Giáo học cách nhận ra mình là người được yêu. Học cách sống xứng đáng với tình yêu đặt vào đời mình, để cho tình yêu ấy trở thành đảm bảo và thành nguồn động lực giúp mình trở nên tốt hơn mỗi ngày.

Tóm lại, người Công Giáo đặt niềm tin tuyệt đối vào tình yêu của Thiên Chúa. Tình yêu ấy vượt lên trên mọi khuôn định của thuyết nghiệp quả.

Đọc thêm:

Bài 16: Tương thân tương ái

Bài 15: Áo giáp chống nạn

Bài 14: Đức tin kiến tạo hòa bình và công bằng xã hội

Bài 13: Vấn đề truyền giáo

Bài 12: Thờ kính ông bà tổ tiên

Bài 11: Truyền giáo cho người trẻ ngoại đạo

Bài 10: Bền đỗ trong ơn gọi gia đình

Bài 09: Vấn đề “theo đạo rồi mới cho cưới”

Bài 08: Gieo suy nghĩ tốt

Bài 07: Nhanh từ từ thôi

Bài 06: Hiện tượng bóng ma

Bài 05: Vượt qua khủng hoảng!

Bài 04: Vấn đề rước Mình Máu Thánh Chúa

Bài 03: Đừng cám dỗ nhau nhé!

Bài 02: Sao lại kỳ thị người tu xuất?

Bài 01: Nhận định ơn gọi cho cuộc đời

(Trích Giải Đáp Thắc Mắc cho người trẻ Công giáo, Tập 1, Nxb Tôn Giáo, 2020)

Read More
20Tháng Tám
2021

ĐTC Phanxicô: Lề Luật là người giám hộ đưa chúng ta đến với Chúa Giêsu

20/08/2021
Anmai
Chia sẻ, Giáo dục
0

ĐTC Phanxicô: Lề Luật là người giám hộ đưa chúng ta đến với Chúa Giêsu

 

Trong buổi tiếp kiến chung sáng thứ Tư 18/8/2021 Đức Thánh Cha tiếp tục loạt bài giáo lý về thư thánh Phao-lô gửi tín hữu Galát, với đề tài “Vai trò giám hộ của Lề Luật”. Đức Thánh Cha nói rằng Lề Luật là người giám hộ đưa chúng ta đến với Chúa Giêsu. Chúng ta nên tự hỏi xem chúng ta có còn đang sống “dưới sự giam cầm của Lề Luật” hay chúng ta đã hiểu rằng, khi trở thành con cái của Thiên Chúa, chúng ta được kêu gọi để sống trong tình yêu thương.

Đức Thánh Cha nhắc lại giáo huấn của thánh Phao-lô, đó là đức tin vào Chúa Giê-su Ki-tô mang lại sự tự do thiêng liêng giúp giải phóng các tín hữu khỏi những ràng buộc của Luật Mô-sê. Đối với thánh nhân, Lề Luật có chức năng “giám hộ”. Như một món quà nhân từ của Thiên Chúa, Lề Luật đòi hỏi tuân giữ các điều răn của Người, đồng thời chỉ ra thực trạng tội lỗi và nhu cầu cần được cứu độ của chúng ta. Khi Chúa Ki-tô đến và cùng với ơn cứu độ của Người, Lề Luật được kiện toàn trong sứ điệp Tin Mừng về sự sống mới và sự tự do trong Chúa Thánh Thần.

Đức Thánh Cha nhấn mạnh rằng giáo huấn của Thánh Phao-lô về giá trị của Lề Luật “đáng được xem xét cẩn thận”. Ngài nói rằng chúng ta nên tự hỏi xem chúng ta có còn đang sống “dưới sự giam cầm của Lề Luật” hay chúng ta đã hiểu rằng, khi trở thành con cái của Thiên Chúa, chúng ta được kêu gọi để sống trong tình yêu thương. Ngài mời gọi tuân giữ Lề Luật như là một sự trợ giúp cho cuộc gặp gỡ với Chúa Giê-su Ki-tô.

Buổi tiếp kiến bắt đầu với đoạn thư thánh Phao-lô gửi tín hữu Galát (3,23-25): Trước khi đức tin đến, chúng ta bị Lề Luật giam giữ, cho tới khi đức tin được mặc khải. Như thế, Lề Luật đã thành người quản giáo dẫn chúng ta tới Đức Ki-tô, để chúng ta được nên công chính nhờ đức tin. Nhưng khi đức tin đến, thì chúng ta không còn ở dưới quyền giám hộ nữa.

Bài giáo lý của Đức Thánh Cha

Vai trò giám hộ của Lề Luật

Anh chị em thân mến, chào anh chị em!

Thánh Phao-lô, người đã say mê Chúa Giê-su Ki-tô và đã hiểu rõ ơn cứu độ là gì, đã dạy chúng ta rằng “những người sinh ra do lời Thiên Chúa hứa” (Gl 4, 28), nghĩa là tất cả chúng ta, đã được nên công chính nhờ Chúa Giê-su Ki-tô, không còn bị ràng buộc bởi Lề Luật, nhưng được mời gọi theo lối sống dấn thân trong sự tự do của Tin Mừng. Tuy nhiên, Lề Luật vẫn tồn tại. Nhưng nó tồn tại theo một cách khác: cùng Lề Luật đó, Mười Điều răn, nhưng theo cách khác, bởi vì chính nó không thể làm cho nên công chính khi Chúa Giê-su đã đến. Vì vậy, trong bài giáo lý hôm nay, tôi muốn giải thích điều này. Và chúng ta tự hỏi: theo Thư gửi tín hữu Galát, vai trò của Lề Luật là gì? Trong đoạn thư chúng ta đã nghe, thánh Phao-lô nói rằng Lề Luật giống như một người giám hộ. Đó là một hình ảnh đẹp, đáng được hiểu theo đúng nghĩa của nó.

Thời kỳ của Lề Luật và thời kỳ của đức tin vào Chúa Ki-tô

Thánh Tông đồ dường như đề nghị các Kitô hữu phân chia lịch sử cứu độ, và cả lịch sử cá nhân của ngài, thành hai giai đoạn. Đó là hai thời kỳ: trước khi trở thành người tin vào Chúa Giê-su Ki-tô và sau khi tiếp nhận đức tin. Ở trung tâm của lịch sử là sự chết và sống lại của Chúa Giê-su, điều mà thánh Phao-lô đã rao giảng nhằm khơi dậy niềm tin vào Con Thiên Chúa, nguồn ơn cứu độ, và trong Chúa Giê-su Ki-tô chúng ta được nên công chính. Chúng ta được nên công chính nhờ ơn huệ nhưng không của đức tin vào Chúa Giê-su Ki-tô. Vì vậy, bắt đầu từ đức tin vào Chúa Kitô, có một thời điểm “trước” và “sau” so với chính Lề Luật, bởi vì có Lề Luật, có Mười Điều răn, nhưng có một thái độ sống trước và sau khi Chúa Giê-su đến. Lịch sử trước đó được xác định bởi việc “bị Lề Luật giam giữ”. Và ai đi theo con đường của Lề Luật thì được cứu độ, được công chính; lịch sử sau đó – sau khi Chúa Giê-su đến – sẽ được sống bằng cách bước theo Chúa Thánh Thần (x. Gl 5, 25). Đây là lần đầu tiên thánh Phao-lô sử dụng cách diễn đạt này: “bị Lề Luật giam giữ”. Nó ám chỉ một sự nô dịch tiêu cực, điển hình của các nô lệ: “bị giam cầm”. Thánh Tông đồ nêu rõ điều đó bằng cách nói rằng khi một người “bị Lề Luật giam giữ” thì giống như bị “theo dõi” và “bị nhốt”, một kiểu giam giữ nhắm ngăn chặn. Thánh Phao-lô nói rằng thời kỳ này đã kéo dài một thời gian dài – từ Mô-sê cho đến khi Chúa Giê-su đến – và còn kéo dài bao lâu người ta còn sống trong tội lỗi.

Lề Luật là người giám hộ

Tương quan giữa Lề Luật và tội lỗi sẽ được thánh Tông đồ giải thích một cách có hệ thống hơn trong Thư gửi tín hữu Roma, được viết vài năm sau thư gửi tín hữu Galát. Tóm lại, Lề Luật giúp hiểu vi phạm Lề Luật là gì và giúp chúng ta nhận thức được tội lỗi của mình: “Bạn đã làm điều này, do đó Lề Luật – Mười Điều Răn – nói điều này: bạn phạm tội”. Hay đúng hơn, như kinh nghiệm chung đã dạy, luật lệ nhắm đẩy đến sự vi phạm. Thánh Phao-lô viết trong Thư gửi tín hữu Roma, ngài viết: “Vì trước đây, khi chúng ta còn bị tính xác thịt chi phối, thì các đam mê tội lỗi dùng Lề Luật mà hoạt động nơi các chi thể chúng ta, để chúng ta sinh hoa kết quả đưa tới cái chết. Nhưng nay, chúng ta không còn bị Lề Luật ràng buộc nữa, vì chúng ta đã chết đối với cái vẫn giam hãm chúng ta” (Rm 7, 5-6). Tại sao? Bởi vì ơn công chính hoá của Chúa Giê-su đã đến. Thánh Phao-lô diễn tả nhãn quan của ngài về Lề Luật: “Tử thần có độc là vì tội lỗi, mà tội lỗi có mạnh cũng tại có Lề Luật” (1Cr 15, 56).

Trong bối cảnh này, việc tham chiếu đến vai trò giám hộ của luật lệ đạt được ý nghĩa đầy đủ. Lề Luật là người giám hộ đưa bạn đến với Chúa Giê-su. Trong hệ thống học thuật thời cổ đại, nhà sư phạm không có chức năng như ngày nay, nghĩa là vai trò hỗ trợ việc giáo dục của một bé trai hay một bé gái. Trái lại, vào thời đó, họ là một nô lệ có nhiệm vụ đi cùng con của chủ nhân đến học với thầy giáo và sau đó đưa con của chủ về lại nhà. Bằng cách này, họ bảo vệ người được mình giám hộ khỏi nguy hiểm và trông chừng để đảm bảo đứa trẻ không cư xử xấu. Chức năng của người giám hộ thiên về kỷ luật. Khi cậu bé trở thành người lớn, người giám hộ ngừng nhiệm vụ của mình.

Lề Luật là một sự trợ giúp cho cuộc gặp gỡ với Chúa Giê-su Ki-tô.

Nói đến Lề Luật bằng những thuật ngữ này giúp thánh Phao-lô làm sáng tỏ vai trò của Lề Luật trong lịch sử của Israel. Torah, nghĩa là Lề Luật, là một hành động cao cả của Thiên Chúa đối với dân của Người. Sau việc chọn ông Áp-ra-ham, hành động vĩ đại khác của Thiên Chúa chính là ban Lề Luật: đưa ra con đường để tiến bước. Chắc chắn nó có những chức năng để giới hạn, nhưng đồng thời nó cũng đã bảo vệ dân Chúa, đã giáo dục họ, kỷ luật họ và hỗ trợ họ khi họ còn yếu đuối, trên hết là bảo vệ họ khỏi theo các thần của dân ngoại; có nhiều thái độ ngoại giáo trong thời đó. Kinh Torah nói: “Chỉ có một Thiên Chúa và Người đã dẫn đường cho chúng ta”. Một hành động nhân từ của Thiên Chúa. Và đây là lý do tại sao thánh Tông đồ tiếp tục mô tả giai đoạn của tuổi vị thành niên: “Bao lâu người thừa kế còn là thiếu niên thì không khác gì một nô lệ, mặc dù là chủ mọi tài sản. Nó phải ở dưới quyền những người giám hộ và quản lý, cho đến khi mãn hạn người cha đã định. Chúng ta cũng vậy, khi còn là thiếu niên, chúng ta phải làm nô lệ những yếu tố của vũ trụ” (Gl 4, 1-3).

Tóm lại, thánh Tông đồ xác tín rằng chức năng của Lề Luật chắc chắn là tích cực – như người giám hộ để tiến bước – nhưng là chức năng giới hạn về thời gian. Nó không thể kéo dài thời hạn của nó vượt mức, bởi vì nó liên quan đến sự trưởng thành của các cá nhân và sự lựa chọn tự do của họ. Một khi chúng ta đã có đức tin, Lề Luật sẽ hết giá trị giám hộ của nó và phải nhường chỗ cho một thẩm quyền khác. Điều đó có nghĩa là gì? Có phải khi Lề Luật kết thúc, chúng ta có thể nói: “Chúng ta tin vào Chúa Giê-su Ki-tô và chúng ta làm điều mình muốn? Không! Các Điều Răn có đó, nhưng chúng không làm cho chúng ta trở nên công chính. Đấng làm cho chúng ta trở nên công chính là Chúa Giê-su Ki-tô. Các Điều Răn phải được tuân giữ, nhưng chúng không ban cho chúng ta sự công chính; cuộc gặp gỡ với Chúa Giê-su Ki-tô cho chúng ta được ơn công chính cách nhưng không. Ơn ích của đức tin là đón nhận Chúa Giê-su. Chúng ta phải tuân giữ các Điều Răn nhưng như là một sự trợ giúp cho cuộc gặp gỡ với Chúa Giê-su Ki-tô.

Giáo huấn này về giá trị của Lề Luật rất quan trọng, và đáng được xem xét cẩn thận, để chúng ta không hiểu lầm và thực hiện các bước sai lầm. Thật là tốt cho chúng ta nếu tự hỏi mình xem chúng ta có còn sống trong thời kỳ mà chúng ta cần đến Lề Luật hay không, hay ngược lại chúng ta hoàn toàn ý thức được mình đã nhận được ân sủng trở thành con cái của Thiên Chúa để được sống trong tình yêu thương. Tôi đang sống như thế nào? Có phải trong nỗi sợ hãi rằng nếu tôi không làm điều này, tôi sẽ xuống hoả ngục? Hay tôi cũng đang sống với niềm hy vọng, với niềm vui sướng về ơn cứu độ được ban cách nhưng không trong Chúa Giê-su Ki-tô? Và điều thứ hai nữa: tôi có coi thường các Điều Răn không? Không. Tôi tuân giữ chúng, nhưng không phải như những điều tuyệt đối, bởi vì tôi biết rằng chính Chúa Giê-su Ki-tô làm cho tôi được công chính.

Hồng Thủy

Read More

Điều hướng bài viết

  • Previous page
  • Page 1
  • …
  • Page 80
  • Page 81
  • Page 82
  • …
  • Page 152
  • Next page
Bài viết mới nhất
THƯ GỬI SINH VIÊN, HỌC SINH CÔNG GIÁO NHÂN DỊP MỪNG XUÂN BÍNH NGỌ
11/02/2026
THƯ GỬI SINH VIÊN, HỌC SINH CÔNG GIÁO NHÂN DỊP MỪNG LỄ CHÚA GIÁNG SINH 2025
20/12/2025
THƯ GỬI ANH CHỊ EM GIÁO CHỨC CÔNG GIÁO NHÂN NGÀY NHÀ GIÁO VIỆT NAM 20.11.2025  
17/11/2025
Video nổi bật
https://www.youtube.com/watch?v=Td144YDsaGo
Sự kiện sắp tới

There are no upcoming events at this time.

Ủy ban Giáo dục Công giáo – Trực thuộc Hội Đồng Giám Mục Việt Nam.

Liên hệ

72/12 Trần Quốc Toản, Phường 8, Quận 3, TP.HCM Get Directions

Phone: +84 931 436 131

Email: [email protected]

Ban chuyên môn
  • Ban Tài liệu và Truyền thông
  • Ban Giáo chức
  • Ban Kỹ năng và Giá trị sống
  • Ban Khuyến học
  • Ban Học viện Thần học
  • Ban Hội Học sinh – Sinh viên
Chuyên mục
  • Tin tức
  • Thư chung
  • Giáo dục
  • Phụng vụ
  • Thư viện
Bản quyền © 2020 thuộc về Ủy Ban Giáo Dục HĐGM VN. Design by JT.