2021
Tu sĩ và quê hương
Mỗi người chúng ta đều có một quê hương, nơi sinh ra và lớn lên. Khi trưởng thành, mỗi người chọn cho mình một nơi để sống và làm việc. Chắc chắn rằng quê hương ở trong ký ức mỗi người, nhưng vì cơm áo hay học tập mà chúng ta phải xa nhà, xa gia đình. Sau khi Sài Gòn gỡ bỏ lệnh giãn cách, mọi người ùn ùn kéo nhau về quê. Cũng có những người chỉ về khi có ba mẹ qua đời. Họ hy sinh tuổi thanh xuân của mình trong các Đan Viện kín. Đó là những người đã đáp trả lời mời gọi của Chúa sống đời dâng hiến hay những tu sĩ đang dấn thân truyền giáo ở khắp nơi trên thế giới theo lời mời gọi của Chúa Giêsu: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng” (Mc 16, 9-18).
Trong cuộc sống xa quê, môi trường khác văn hóa, khi gặp khó khăn các tu sĩ cũng cần sự an ủi, đỡ nâng. Một trong những nguồn an ủi lớn lao của họ là sự gắn kết với quê hương và gia đình. Quê hương là một phần máu thịt của mỗi người. Dù dấn thân phục vụ ở một đất nước xa xôi, các tu sĩ vẫn luôn mang trong mình hơi thở của quê hương. Ai nói mình đã hoàn toàn từ bỏ quê hương thì e rằng họ đang dối lòng. Thời buổi công nghệ 4.0 phát triển giúp con người kết nối với nhau dễ dàng hơn trước. Nếu như các nhà truyền giáo thời xưa muốn gửi thư về gia đình phải mất mấy tháng đường biển thì bây giờ người tu sĩ với chiếc smartphone có thể trò chuyện hàng giờ với người thân trong gia đình hay bạn bè gần xa. Ngay cả các công việc mang tính mục vụ như tư vấn, đồng hành thiêng liêng vẫn có thể được thực hiện dễ dàng qua mạng. Người tu sĩ trở nên gần gũi hơn với người khác khi họ đưa lên mạng những hình ảnh sinh hoạt hàng ngày hay những dòng tâm sự nhỏ to bày tỏ nỗi niềm.
Tuy nhiên, cái gì cũng có hai mặt của nó. Nếu như công nghệ là phương tiện giúp người tu sĩ kết nối với người khác thì nó cũng có nguy cơ làm người tu sĩ bớt nhiệt tình dấn thân cho lý tưởng đời tu. Khi tôi hỏi một bà cố có con đang tu ở nước ngoài “Bà cố có nhớ con mình không?”, bà trả lời: “Ối dào, có gì đâu mà nhớ, ngày nào cũng thấy nó chường mặt trên Facebook đó thôi!” Tôi không nghĩ đó không phải là lời nói bâng quơ, bởi vì đằng sau câu nói đó là cả một nỗi niềm về đời tu của con mình. Tâm lý con người vốn rất rõ ràng, mỗi khi quan tâm một điều gì đó quá nhiều thì những điều khác trở nên ít quan trọng hơn. Không có tu sĩ nào tu trên “cõi phây” cả. Dù người tu sĩ chia sẻ tất tần tật những việc họ làm, những điều họ nghĩ về đời tu trên facebook thì mạng xã hội vẫn không thay thế được tu viện hay đời sống cộng đoàn.
Khi xưa các thừa sai “chân bước đi đầu không ngoảnh lại” thì ngày nay nhiều tu sĩ sống ở xa quê vẫn một lòng hướng về “quê hương.” Phải chăng đó là một dấu hiệu cho thấy họ vẫn chưa thực sự từ bỏ mọi sự để bước theo Chúa? Xin thưa, theo Chúa không có nghĩa là cắt đứt liên lạc với gia đình hay xóa bỏ tình liên đới với quê hương đất nước. Người môn đệ của Chúa được mời gọi dấn thân trọn vẹn trong sứ mạng được giao ở vùng đất mới. Người ta gọi đó là việc hội nhập văn hóa hay sống mầu nhiệm nhập thể. Vì lòng yêu mến dành cho các linh hồn, người tu sĩ hăng say phục vụ bất cứ người nào ở bất cứ nơi đâu, không nhất thiết phải là đồng bào dân tộc mình. Thực ra, căn cốt của đời tu ở đâu cũng giống nhau: sống tinh thần cầu nguyện và dấn thân phục vụ tha nhân. Nếu không có được điều căn cốt đó thì những mối tương quan trên mạng xã hội sẽ trở thành cám dỗ khiến tu sĩ xao nhãng đời tu.
Tôi thật sự khâm phục các tu sĩ đã quảng đại đáp lại lời mời gọi lên đường loan báo Tin Mừng ở những nơi người ta chưa biết Chúa hoặc đã biết Chúa nhưng bỏ bê đời sống đức tin. Họ là khí cụ loan báo Tin Mừng của Chúa. Họ phải chịu thiệt thòi không nhỏ về mặt tình cảm khi phải sống xa quê hương gia đình. Về mặt con người, họ không thể tránh được những phút giây yếu lòng, cô đơn, nản chí. Họ thực sự cần đến những lời động viên an ủi từ gia đình, bè bạn. Tuy nhiên, chính họ cũng phải tỉnh táo phân biệt giữa những nguồn an ủi lành mạnh và những cạm bẫy đến từ mạng xã hội. Họ cần đến những người bạn chân thành, ở trong dòng hay ngoài dòng, để trút bầu tâm sự. Họ cũng cần những tu sĩ lớn tuổi có nhiều kinh nghiệm làm vai trò linh hướng, giúp họ vượt qua khó khăn. Họ nên tìm niềm vui trong công việc phục vụ của mình, dù đó là những hy sinh thầm lặng ít ai biết đến. Quan trọng nhất là họ phải khát khao mong chờ tìm được hạnh phúc trong tương quan thân mật với Thiên Chúa qua đời sống cầu nguyện cá nhân.
Sứ mạng phục vụ của Giáo hội không phân biệt màu da, sắc tộc. Đã chọn lựa đời tu là sẵn sàng chấp nhận đi bất cứ nơi đâu và làm bất cứ việc gì để danh Chúa được tôn vinh. Chắc chắn trong lòng mỗi tu sĩ xa quê dù đang học tập hay làm việc thì họ vẫn luôn đậm tình quê hương đất nước. Tuy nhiên, càng yêu mến quê hương thì khí chất của người Việt nơi người tu sĩ càng cần phải thể hiện rõ ràng hơn: giữ lòng đạo sắc son, sống đời tu gương mẫu, bình an và triển nở trong sứ mạng được giao. Sống xa quê chính, Tu sĩ là những con người đang tiếp nối trang sử hào hùng của các thánh tử đạo Việt Nam, trung kiên làm chứng đức tin không chỉ trên quê hương mà còn trên khắp cả thế giới.
2021
Thường huấn về căn tính linh mục
“THƯỜNG HUẤN VỀ CĂN TÍNH LINH MỤC” –
MỘT ĐIỂM NHẤN QUAN TRỌNG TRONG CÔNG CUỘC ĐÀO TẠO LINH MỤC TRƯỚC THỰC TRẠNG LẠM DỤNG TÍNH DỤC
Tác giả: Lm. Giuse Đỗ Mạnh Thịnh
Đại Chủng Viện Thánh Giuse Xuân Lộc, tháng 10 năm 2021
WHĐ (25.10.2021) – Trong vài năm qua, truyền thông xã hội tại nhiều quốc gia đồng loạt “phơi bày” thực trạng giáo sĩ lạm dụng tính dục. Thêm vào đó, kết quả điều tra tại nhiều nơi về những vụ lạm dụng tính dục trẻ em xảy ra trong nhiều thập niên trước đã được trưng ra cách công khai. Ngày 5-10-2021 vừa qua, báo chí thế giới lại bùng lên liên quan đến một kết quả điều tra được thực hiện trong hai năm qua tại Pháp theo đó, “trong khoảng thời gian 70 năm [từ năm 1950 – 2020], có tổng cộng khoảng 216.000 (với sai số 50 ngàn) người ở Pháp là nạn nhân vị thành niên bị lạm dụng tính dục trong Giáo hội Pháp, bởi khoảng từ 2.900 đến 3.200 linh mục và tu sĩ”[1]. Những tin tức như vậy dễ thu hút sự chú ý, tạo ra một làn sóng phẫn nộ từ nhiều người trong và ngoài Giáo Hội. Đối với Nhiệm Thể Giáo Hội, những thông tin đó trở nên như một cơn “địa chấn” mạnh mẽ gây khủng hoảng niềm tin, tổn thương tinh thần cho nhiều người, và cũng là “cớ vấp phạm” cho những người vốn thiếu thiện cảm với Giáo Hội. Điều này dẫn đến hậu quả tiêu cực đó là, một đàng người ta nghi ngờ Giáo Hội, mất niềm tin vào sự lãnh đạo của các mục tử; đàng khác, tại nhiều giáo hội địa phương, các linh mục phải sống trong sự nghi kỵ, bị giám sát hoặc tự hạn chế hoạt động mục vụ đến mức gây nên mặc cảm bị xa tránh hoặc sợ hãi, dẫn đến thái độ sống khép kín.
Khi nghe thông tin về một “scandal” lạm dụng tính dục xảy ra ở đâu đó, có thể người ta có nhiều phản ứng khác nhau. Ví dụ, có người ngay lập tức cho rằng truyền thông ngày nay dễ bị lèo lái theo những mưu đồ cá nhân hay chính trị đảng phái; cũng có người nghĩ rằng đó là sản phẩm của thái độ chống đối Giáo Hội được thực hiện bởi một nhóm nào đó; hoặc những người khác coi những sự việc lạm dụng tính dục là chuyện chỉ xảy ra ở Phương Tây xa xôi, nơi “thừa bứa” tự do, không liên quan lắm đến “tôi”. Đàng khác, có người nghi ngờ tính nghiêm túc và chân thật của những bản điều tra đó; hoặc biện minh rằng có phải chỉ giáo sĩ lạm dụng tính dục đâu, các đối tượng khác lạm dụng tính dục nhiều hơn, ví dụ phụ huynh, giáo viên, huấn luyện viên thể thao!
Khi xem xét về phương diện đào tạo linh mục, có không ít tác giả nỗ lực phân tích, nghiên cứu để tìm ra nguyên nhân được cho là có nhiều khả năng đã dẫn đến thực trạng lạm dụng tính dục, ví dụ như nghiên cứu của George Weigel[2], Gerald D. Coleman[3]. Những nghiên cứu này mang lại rất nhiều thông tin, cũng như những phân tích chuyên môn, giải pháp hữu ích cho công cuộc đào tạo linh mục.
Bài viết này không lạm bàn những tranh luận trên, cũng như không có ý đọc lại những “giả thuyết” về nguyên nhân của lạm dụng tính dục mà nhiều tác giả đã trình bày; đúng hơn, nó muốn gợi lên một cách tiếp cận vấn đề lạm dụng tính dục trong mối liên hệ đến lĩnh vực đào tạo linh mục. Một cách cụ thể, mỗi chủng sinh, linh mục có thể tự vấn: làm thế nào để chính mình có thể bảo vệ bản thân trong sứ vụ và bảo vệ các “chi thể” khác trong nhiệm thể Giáo Hội? Nói cách khác, “lỗ hổng” nào trong quá trình đào tạo có thể dẫn linh mục đến những thực hành đáng buồn đó?
Bằng cách tiếp cận như thế, bài viết nhấn mạnh đến một yếu tố nền tảng trong công cuộc đào tạo và trong đời sống cũng như sứ vụ linh mục. Yếu tố đó chính là “thường huấn về căn tính linh mục”. Trong thực tế, đây là yếu tố nòng cốt không thể thiếu, xong nó cũng dễ dàng, một cách vô tình hay hữu ý, bị xem nhẹ hoặc không thể duy trì trong một giai đoạn nào đó của đời sống linh mục.
“Thường huấn về căn tính linh mục” giúp cho người môn đệ có thể giữ “lửa” trong ơn gọi và trong khi thực thi sứ vụ. Căn tính linh mục được thể hiện một cách cụ thể và sống động trong hai chiều kích chính yếu: (1) “cảm thức yêu mến Giáo Hội”, (2) trở nên “đồng hình đồng dạng với Chúa Ki-tô.”[4] Chính hai chiều kích này gợi đến một nhu cầu, một đòi hỏi và như một thách đố triền miên cho tiến trình đào tạo, đó là: (3) “tự giáo dục” trường kỳ hay “thường huấn”.[5] Chúng ta đi sâu vào từng lĩnh vực.
- Cảm thức yêu mến Giáo Hội, Mẹ và Hiền Thê của Đức Kitô
Thực sự, không phải đợi đến những năm gần đây, khi mà truyền thông phơi bày ra ánh sáng nhiều vụ việc lạm dụng tính dục, thì Giáo Hội mới quan tâm, mới cảm thấy lo âu và nỗ lực tìm phương “giải quyết”. Đúng hơn, đọc lại lịch sử Giáo Hội, chúng ta sẽ thấy rằng vấn đề lạm dụng tính dục, một cách nào đó, đã tồn tại trong hàng ngũ những môn đệ của Đức Kitô như một “vết nhăn nheo” không đáng có trên khuôn mặt Giáo Hội. Từ thời các thánh giáo phụ, ví dụ thánh Ba-si-li-ô Cả[6], thánh Gio-an Kim Khẩu[7], thánh Au-gút-ti-nô[8] đến thánh Phê-rô Đa-mi-an-nô[9]…, vấn đề lạm dụng tính dục của hàng ngũ tu sĩ và giáo sĩ cách riêng luôn làm dấy lên những lo âu, trăn trở cho các mục tử thánh thiện này. Tùy hoàn cảnh và thời đại, các ngài luôn mạnh mẽ lên tiếng chống lại những thực hành tính dục sai trái đó, đàng khác không ngừng dạy dỗ, trong tư cách cá nhân hay tập thể, bằng lời giáo huấn, những chỉ dẫn và cả những hình thức “kỷ luật” mạnh mẽ.
Cũng vậy, trong những năm qua, Giáo Hội đã có những hành động cụ thể để đương đầu với vấn đề này. Ví dụ, ngày 4/6/2016, Đức Thánh Cha Phanxicô đã ban hành sắc lệnh Như Người Mẹ Yêu Thương. Đây là những hướng dẫn cụ thể liên quan đến vấn đề giáo sĩ lạm dụng tính dục. Thêm vào đó, Đức Thánh Cha đã thành lập một Uỷ ban Giáo hoàng về Bảo vệ Trẻ vị thành niên. Uỷ ban này có trách nhiệm nghiên cứu các biện pháp bảo vệ, đề phòng và giải quyết các trường hợp lạm dụng tính dục trên phạm vi Giáo Hội hoàn vũ… Dựa vào những định hướng đó, nhiều Hội đồng Giám mục đã đề ra những hành động cụ thể để giúp các nạn nhân, các linh mục, đồng thời ngăn ngừa “sự lây lan” của thực trạng lạm dụng tính dục.
Nhắc lại những điều đó, chúng ta không có ý biện minh cho vấn đề lạm dụng tính dục như một thứ bệnh “mãn tính” (không thể chữa khỏi). Trái lại, qua đó chúng ta một đàng xác tín rằng Giáo Hội không bao giờ im tiếng, thỏa hiệp, hoặc làm ngơ trước sự lộng hành của điều dữ gây nên bởi chính các chi thể của mình; đàng khác, quan trọng hơn, khi nhắc lại những lo âu, quan tâm và nỗ lực đương đầu với thực trạng lạm dụng tính dục của hàng giáo sĩ, chúng ta được mời gọi làm sống lại “cảm thức yêu mến Giáo Hội”, Hiền Thê của Đức Ki-tô và là Mẹ của chúng ta.
Thiết tưởng chúng ta không cần nhắc lại những vụ án lạm dụng tính dục đã xảy ra tại nhiều nơi trên thế giới được truyền thông đề cập trong những năm qua. Điều cần thiết hơn đó là: chúng ta cần có trăn trở, ý thức rằng lạm dụng tính dục đang là một trong những quan tâm hàng đầu của Giáo Hội, nó là một thách đố lớn lao cho Giáo Hội trong vai trò là “Mẹ và Thầy”, nó đang gây nên nghi kỵ, chia rẽ, và làm cho nhiều “chi thể” trong Nhiệm Thể Giáo Hội phải đau đớn. Nói cách khác, đối mặt với thực trạng lạm dụng tính dục, trước hết, chúng ta được mời gọi củng cố lại cảm thức yêu mến Giáo Hội nơi mỗi người bằng một thái độ đồng cảm, ưu tư, lo lắng và hành động trong sự hiệp nhất của toàn Nhiệm Thể Giáo Hội.
Thực sự, cảm thức yêu mến Giáo Hội không phải là một hạn từ trừu tượng được nghe nói đến hay đọc thấy ở đâu đó. Nhưng, đó là một tâm thức thường hằng, được diễn tả qua một lối sống cụ thể gồm hai yếu tố chính yếu: vâng phục và hiệp thông.
Sự vâng phục và hiệp thông có thể được diễn giải theo ngôn từ của thánh Phao-lô: Nhìn Giáo Hội như một thân thể có Đức Ki-tô là Đầu, chúng ta thấy mình như một chi thể cần phải gắn kết với Đầu trong sự vâng phục vì đó là “sự sống còn” của chúng ta. Nhìn Giáo Hội như một thân thể gồm nhiều chi thể, chúng ta thầy mình có trách nhiệm với chính mình trong tư cách là một chi thể, đồng thời có trách nhiệm liên đới với các chi thể khác để làm nên sự sống hài hòa cho toàn thân thể (x. 1 Cr 12,12–26). Như vậy, chủng sinh, linh mục cần xác tín rằng, mình thuộc về một Nhiệm Thể, và mình chỉ có sự sống trong sự tương quan mật thiết với Đầu và các chi thể khác. Đó đích thực là cách thể hiện cụ thể một cảm thức yêu mến Giáo Hội!
Chỉ khi nào chúng ta thực lòng yêu mến Giáo Hội bằng những thực hành cụ thể như vậy, chúng ta mới cảm nhận sâu xa tính nghiêm trọng của nạn lạm dụng tính dục, nó đã gieo đau khổ lâu dài cho nhiều tâm hồn, những chi thể yếu đau của Giáo Hội mà lẽ ra phải được bảo vệ và chăm sóc, cũng như gây nên những “vết thương” đau đớn cho Nhiệm Thể Giáo Hội có Đức Ki-tô là Đầu. Cảm thức yêu mến Giáo Hội – “vâng phục và hiệp thông” – sẽ thúc đẩy chúng ta nỗ lực tìm kiếm sự hoán cải, chữa lành, chăm sóc và bảo vệ các chi thể khác, nhất là những chi thể “đau yếu”.
Như vậy, trước thực trạng lạm dụng tính dục, thiết tưởng mỗi chủng sinh, linh mục, bị đặt trước một “đòi hỏi” quan trọng trong tiến trình đào tạo về đời sống và sứ vụ linh mục, đó là: người môn đệ biết tự huấn luyện và hoán cải thường xuyên về cảm thức yêu mến giáo hội, thể hiện một cách sống động qua tâm tình cũng như thái độ “vâng phục và hiệp thông”. Chúng ta nghe lại lời của Bộ Giáo Sĩ như một nhắc nhở và định hướng quan trọng mang tính tiên tri trong bối cảnh mà chúng ta đang phải đối diện: “Bản chất và sứ vụ của linh mục phải được hiểu trong lòng Giáo Hội, là Dân Chúa, là Thân Thể Chúa Ki-tô và là Đền Thờ của Chúa Thánh Thần. Chính là để phục vụ Giáo Hội mà linh mục tận hiến cuộc đời mình.”[10]
Thực sự, thường khi trái tim một linh mục không còn chung nhịp đập với Giáo Hội, không còn cảm thức yêu mến Giáo Hội – đoạn tuyệt với tinh thần vâng phục và hiệp thông – hoạt động mục vụ và cả các cử hành thánh thiêng của linh mục sẽ mất “hồn sống”. Ân sủng và sự đỡ nâng siêu nhiên sẽ dần mất theo.
- Trở nên đồng hình đồng dạng với Chúa Ki-tô
Đối với vấn đề lạm dục tính dục, chúng ta có thể lựa chọn nhiều cách tiếp cận khác nhau. Tuy nhiên, có một điều không thể chối cãi, đó là: chính thực trạng lạm dụng tính dục như đang “chất vấn” trực tiếp mỗi người, chủng sinh, linh mục, trước công cuộc đào tạo chính mình như là một môn đệ của Đức Ki-tô: “bạn trở nên mẫu linh mục nào?”
Thực sự, theo Bộ Giáo Sĩ, đào tạo linh mục không phải như việc trưng ra cho thấy “lớp sơn” bề ngoài về đức hạnh, sự lịch thiệp hoặc khả năng tuân thủ những nguyên tắc trừu tượng cũng như kỷ luật bề ngoài đối với một con người. Nhưng, đó là việc đào tạo một con người để được biến đổi nên giống Chúa Giê-su. Nghĩa là, “biết nội tâm hóa tinh thần Tin Mừng, nhờ vào tương quan bằng hữu và cá vị với Chúa Ki-tô, đến độ chia sẻ những tình cảm và thái độ của Người.”[11] Nói một cách vắn gọn, đào tạo linh mục là tiến trình biến đổi một con người, cả con tim và trí óc, trở nên “đồng hình đồng dạng trong hữu thể với Chúa Ki-tô, là Thủ Lãnh, Mục Tử, Tôi Tớ và Phu Quân”[12] hoặc, nói theo thánh Phao-lô, trở nên như “người của Thiên Chúa” (x. 1 Tm 6,11).[13]
Trong tinh thần đó, một đàng theo Đức Thánh Cha Bê-nê-đic-tô XVI, được hiến thánh để “đứng trước tôn nhan và phụng sự Chúa”, linh mục được biến đổi tận căn. Điều này đòi hỏi linh mục hiến mình, gắn bó “trọn vẹn” với Thiên Chúa, và tác vụ thánh. Như một hệ quả, linh mục phải đoạn tuyệt với những mối ràng buộc luyến ái khác, để có thể “hiến lễ” con người mình một cách hoàn toàn và tự do cho việc phục vụ Thiên Chúa và tha nhân. Bên cạnh đó, cũng như các tư tế thuộc dòng Lê-vi, các tư tế Tân Ước cũng có thể nói về “mối bận tâm” và “gia tài” duy nhất của mình chính là Thiên Chúa: “Lạy Chúa, Chúa là phần sản nghiệp con được hưởng, là chén phúc lộc dành cho con; số mạng con, chính Ngài nắm giữ. Phần tuyệt hảo may mắn đã về con, vâng, gia nghiệp ấy làm con thỏa mãn” (Tv 16,5–6).[14]
Đàng khác, như Đức Thánh Cha Phan-xi-cô ngỏ lời với các bạn trẻ trong ngày Đại hội Giới trẻ ở Bra-sil (28/7/2013): “Các bạn hãy để cho cuộc sống của mình được đồng nhất với cuộc sống của Chúa Giê-su, để có cảm xúc, suy nghĩ, hành động như Chúa Giê-su.” Thực ra, đó chính là lời mời gọi phổ quát đầy thách thức cho những ai muốn trở nên môn đệ của Đức Ki-tô, một thách thức “có trái tim mục tử” theo gương người Mục Tử Nhân Lành, đấng luôn biết chạnh lòng thương những người nhỏ bé, yếu đuối, và sẵn sàng hiến mình vì tha nhân. Như vậy, hơn ai hết, chủng sinh, linh mục, phải nhận lấy như của riêng mình về một lời mời gọi, một lòng khát khao trở nên “đồng hình đồng dạng với Chúa Ki-tô” – Thượng Tế, Mục Tử Nhân Lành và Người Tôi Tớ[15].
Sống và duy trì “cảm thức yêu mến giáo Hội”, và lòng khát khao trở nên “đồng hình đồng dạng với Chúa Ki-tô”, là những yếu tố quan trọng thuộc về căn tính linh mục. Đây không phải là điều mà người ta có thể thủ đắc ngay sau một khóa học; cũng không phải là một thành quả có thể đo đếm bằng các tiêu chuẩn vật chất; cũng không phải là một thành quả người ta đạt được một lần và nó tồn tại mãi. Thực sự, “căn tính linh mục” là một giá trị mà từng ngày chủng sinh, linh mục, phải nỗ lực khám phá, thăng tiến và bảo vệ. Như vậy, sống căn tính linh mục gợi đến một đòi hỏi cấp thiết khác, đó là: “tự giáo dục” thường xuyên hay “thường huấn”.
- Tự giáo dục thường xuyên hay thường huấn
Theo tác giả Amadeo Cencini, ngoài tác nhân thần linh, tiến trình đào tạo một linh mục gồm hai nhịp – huấn luyện và giáo dục. Xét về phương diện người thụ huấn, “huấn luyện” mang ý nghĩa thụ động, ví dụ sự dạy bảo, chỉ dẫn, truyền thụ kiến thức, kỷ luật giờ giấc và quy luật cho những thực hành tâm linh, tri thức, mục vụ và nhân bản. Theo đó, người thụ huấn là người “được hay bị” đón nhận sự đào tạo, uốn nắn (formation) từ một cơ chế hay từ những nhà đào tạo. Trong khi “giáo dục” (education) thiên về hành vi và ý thức chủ động, nghĩa là người thụ huấn tìm hiểu để nhận ra con người thật của mình, khám phá mình về phương diện tâm sinh lý, và những ý hướng ẩn sâu trong mỗi hành vi và trong ơn gọi của mình, qua đó thăng tiến những ưu điểm hay hoán cải các khiếm khuyết liên quan đến hiện sinh và ơn gọi mình. Yếu tố giáo dục chủ động này là rất quan trọng trong suốt hành trình ơn gọi của một linh mục[16]. Đó cũng là điều mà Bộ Giáo Sĩ định nghĩa như là một phần quan trọng của việc “thường huấn” (ongoing formation): “[…] Đừng quên rằng chính [chủng sinh,] linh mục là người đầu tiên và là người chính yếu phải chịu trách nhiệm về sự thường huấn mình.”[17]
Việc huấn luyện (thụ động) tại chủng viện là quan trọng và cần thiết, nhưng nhất thiết không thể thiếu việc “tự giáo dục” trường kỳ hay “thường huấn” (giáo dục chủ động). “Thường huấn”, bắt đầu nơi chủng viện, và được tiếp tục sau chủng viện, trải dài suốt hành trình đời linh mục, là rất quan trọng và không thể thiếu. Điều này có nghĩa là: “Thường huấn diễn tả rằng người được gọi vào chức linh mục không bao giờ được thôi trải nghiệm mình là người môn đệ.”[18] Nói cách khác, chương trình đào tạo không thể nào hoàn thành nếu thiếu việc “thường huấn” của mỗi chủng sinh, linh mục, hoặc nếu chấm dứt việc đó ở một giai đoạn nhất định trong hành trình ơn gọi.
Trong thực tế, một đàng, theo A. Cencini, “[n]nhiều khi chúng ta làm ầm lên, gieo lộn xộn bằng cách bắt đầu trực tiếp việc huấn luyện (formation)”: chúng ta dạy dỗ, huấn luyện, truyền thụ kiến thức triết học, thần học, nhân văn và tâm linh qua những giờ lớp hoặc những thời khóa biểu dày đặc, mà lại bỏ qua hoặc xem nhẹ tư duy “tự giáo dục” trường kỳ hay “thường huấn”. Tác giả nhận định, như thế việc huấn luyện liệu có ích gì nếu ta không bắt đầu trước hết bằng việc gây nên nơi ứng sinh một tâm thức “tự giáo dục” trường kỳ.[19] Điều này làm cho chúng ta liên tưởng đến một bức tường được trát vữa một cách vội vã, sau đó quét vôi; càng quét, lớp vôi càng dày thêm và nhờ đó cũng xoá đi được những sần sùi thô lỗ của bức tường, nhưng khi lớp vôi càng dày thì cũng là lúc nó dễ dàng bị bong tróc khỏi bức tường.[20] Thực tế, theo nhiều nghiên cứu ở các nước phương tây, những trường hợp lạm dụng tính dục xảy ra tại nhiều nơi phần lớn do chính người chủng sinh, linh mục không ý thức tầm quan trọng của việc “tự giáo dục” hoặc chấm dứt việc “tự giáo dục” chính mình sau khi trở thành linh mục[21]. Vì vậy, có thể nói rằng, cuộc “khủng hoảng lạm dụng tính dục” thực chất là “khủng hoảng căn tính linh mục”[22].
Thực sự, muốn khởi sự và duy trì tâm thức “thường huấn”, chúng ta cần tìm kiếm và xác tín vào một động lực. Theo Bộ Giáo Sĩ, “Đức ái mục tử là linh hồn và là mô thể của việc thường huấn linh mục.” Như vậy, trở nên “đồng hình đồng dạng với Chúa Ki-tô” vừa là lý tưởng và cũng là động lực trong đời sống và sứ vụ của linh mục. Đó chính là “ngọn lửa” nhờ đó, linh mục có thể chiếu sáng và sưởi ấm sứ vụ. Do đó, Bộ Giáo Sĩ nhắn nhủ: các linh mục “phải thường xuyên nuôi dưỡng ‘ngọn lửa’ mang lại ánh sáng và nhiệt huyết để thi hành thừa tác vụ.”[23]
Tóm lại, trước thực trạng lạm dụng tính dục, mỗi chủng sinh, linh mục, dường như bị chất vấn “tìm ra một chân giá trị” có tính xuyên suốt trong tiến trình đào tạo ơn gọi của mình. Giá trị nền tảng đó chính là: “hành trình trường kỳ khám phá, duy trì và thăng tiến căn tính linh mục”, được gọi là “thường huấn về căn tính linh mục”. Chính công việc này (thường huấn) “nâng đỡ linh mục để luôn trung thành với thừa tác vụ linh mục theo một hành trình hoán cải liên tục, ngõ hầu làm sống lại ơn ban đã lãnh nhận vào lúc [được] truyền chức.”[24] Hy vọng rằng: việc tìm lại, sống và thăng tiến căn tính linh mục trong một tâm thức thường huấn sẽ giúp cho mỗi chủng sinh, linh mục hôm nay có thể đương đầu trước những “sóng gió” của thời đại, cách riêng trước thực trạng lạm dụng tính dục.
[1] Hồng Thủy – Vatican News, Đức Thánh Cha cầu nguyện cho các nạn nhân của nạn lạm dụng tính dục trong Giáo hội Pháp, tại https://www.vaticannews.va/vi/pope/news/2021-10/dtc-phanxico-cau-nguyen-nan-nhan-lam-dung-tinh-duc-giao-hoi-phap.html
[2] Xem G. WEIGEL, The Courage To Be Catholic, Crisis, Reform, and the Future of the Church, Basics Books, USA 2002.
[3] Xem G. D. COLEMAN, Catholic Priesthood, Formation and Human Development, Ligouri, Missouri 2006.
[4] Xem BỘ GIÁO SĨ, Đào Tạo Linh Mục: Hồng Ân Ơn Gọi Linh Mục (Ratio Fundamentalis Institutionis Sacerdotalis 2016 [= Ratio 2016]), s. 30–40.
[5] Ibid., s. 80–88.
[6] Xem T. P. Halton et al. (eds.), The Fathers of the Church: Medieval Continuation, vol. II, Catholic University of America Press, Washington, D.C. 1990, 29.
[7] Xem St. JOHN CHRYSOSTOM, Homilies on Titus V (P. Schaff {ed.}, A Select Library of Nicene and Post-Nicene Fathers of the Christian Church, vol. XIII, WM. B. Eerdmans Publishing Company, Michigan 1979, 535–540).
[8] Xem J. J. O’DONNELL, Augustine Confessions II: Commentary on Books 1–7, Clarendon Press, Oxford 1992, 189–191
[9] Xem St. PETER DAMIAN, Book of Gomorrah: An Eleven-Century Treatise against clerical Homosexual Practices, Wilfrid Laurier University Press, Canada 1982.
[10] BỘ GIÁO SĨ, Đào Tạo Linh Mục: Hồng Ân Ơn Gọi Linh Mục (Ratio Fundamentalis Institutionis Sacerdotalis 2016 [= Ratio 2016]), s. 30.
[11] Ibid., s. 41.
[12] Ibid., s. 35.
[13] Xem ĐGM. GIO-AN ĐỖ VĂN NGÂN, “Hỡi người của Thiên Chúa (1 Tm 6,11)”, Lời Chủ Chăn cho giáo phận Xuân Lộc, trong trang web http://giaophanxuanloc.net/loi-chu-chan/loi-chu-chan-thang-102021–hoi-nguoi-cua-thien-chua-1tm-6-11-17844.html.
[14] Xem BENEDICT XVI – ROBERT CARDINAL SARAH, From the Depths of Our Hearts, Ignatius Press, San Francisco 2020, 48–57.
[15] Xem Ratio 2016, s. 35–40.
[16] A. CENCINI, Giáo Dục, Huấn Luyện và Đồng Hành: Một Sư Phạm Giúp Một Người Thể Hiện Ơn Gọi Mình, NXB. Đồng Nai, Đồng Nai 11–46.
[17] Ratio 2016, s. 82.
[18] Xem Ibid., s. 80–88.
[19] A. CENCINI, Giáo Dục, Huấn Luyện và Đồng Hành…, 15.
[20] Xem Ratio 2016, s. 41.
[21] Xem G. D. COLEMAN, Catholic Priesthood…, 149–164.
[22] Xem G. WEIGEL, The Courage To Be Catholic…, 93–95.
[23] Ratio 2016, s. 80.
[24] Ibid., s. 81.
2021
Đồng hành với tuổi vị thành niên
Trong nhiều dịp gặp gỡ cha mẹ hay Giáo lý viên tại các buổi học chuyên đề hay thảo luận, cũng có khi trao đổi trong các giờ tham vấn, tôi lắng nghe được những ưu tư, trăn trở và cả buồn bã, đôi khi thất vọng bế tắc trong việc đồng hành đức tin với các em tuổi vị thành niên. Nhiều cha mẹ từ yêu thương quay sang trút hết những cơn tức giận lên con mình. Nhiều anh chị Giáo lý viên cảm thấy chán nản trong các giờ lớp giáo lý. Bên cạnh đó, một số em tuổi vị thành niên đang khủng hoảng vì sự thay đổi bản thân lại thêm hoảng loạn vì hành vi và cách đối xử của cha mẹ; anh chị Giáo lý viên với mình trở nên gắt gỏng, lạnh lẽo, và coi thường. Đâu là nguyên nhân của vấn đề và cách thức nào để có thể đồng hành với các em cho hiệu quả?
Trong bài viết này, tôi muốn trình bày hai điểm giúp người đồng hành đạt hiệu quả.
– Hiểu một số điểm tâm lý căn bản của giai đoạn phát triển tuổi vị thành niên.
– Những bước đồng hành cho tuổi vị thành niên.
- Hiểu biết một số điểm tâm lý căn bản của giai đoạn phát triển tuổi vị thành niên
Theo tâm lý học phát triển[1], tuổi vị thành niên là thời kỳ chuyển tiếp cả về phương diện sinh lý, tâm lý và xã hội của một con người. Giai đoạn này rất quan trọng vì có nhiệm vụ làm nền tảng cơ bản cho những bước phát triển nhân cách, căn tính và tình cảm người trưởng thành sau này.
Một số thay đổi về tâm sinh lý của tuổi vị thành niên trong giai đoạn này:
– Sự biến đổi nhanh về thể lý và tâm sinh lý. Đây là giai đoạn cuối cùng cho sự hoàn thiện các bộ phận của cơ thể. Điểm đặc biệt của bước chuyển đổi từ trạng thái thiếu niên sang ‘người lớn’ là hiện tượng sinh lý sinh dục: nam xảy ra hiện tượng mộng tinh hay còn gọi là giấc mơ ướt; và nữ xảy ra hiện tượng kinh nguyệt. Yếu tố thay đổi này dễ gây ra khủng hoảng tâm lý nếu các em không nhận được sự hướng dẫn, giải thích cho biết đó là điều bình thường và cần thiết của sự phát triển của mỗi người.
– Các em quan tâm nhiều đến sự thay đổi của cơ thể, hay nghĩ về hình ảnh cơ thể, dễ băn khoăn, buồn rầu về những nhược điểm của cơ thể. Các em nữ để ý hơn đến hình dáng, trang điểm và ăn mặc.
– Cái tôi của cá nhân được xác định và cần được công nhận. Nghĩa là khả năng biết mình là ai và mình sẽ hội nhập vào môi trường đời sống gia đình, bạn bè và xã hội như thế nào? Các em bắt đầu thể hiện bản thân bằng việc tạo ra những hành vi và lối ứng xử riêng của mình hoặc pha trộn từ những gì các em học được. Tuy nhiên, các em cũng dễ rơi vào nhầm lẫn về vai trò của mình: vừa muốn làm người lớn lại vừa thấy mình như trẻ con.
– Các em tuổi vị thành niên muốn được người lớn tôn trọng, muốn được đối xử công bằng, muốn khám phá cái mới nhưng vẫn phụ thuộc nhiều vào gia đình.
– Các em bắt đầu quan tâm đến bạn bè, muốn tách rời khỏi sự quản lý và kiểm soát của cha mẹ. Nhu cầu tình bạn của các em trở thành cấp thiết và quan trọng nhất, đặc biệt là nhu cầu về bạn khác giới. Tuy nhiên, giai đoạn này các em cũng dễ nhầm lẫn giữa tình bạn và tình yêu. Các em cũng bắt đầu muốn khám phá năng lực về tình dục nhưng thiếu khả năng làm chủ cảm xúc tính dục.[2]
– Tuổi này có xu hướng hay căng thẳng, hay thay đổi tình cảm, muốn được thỏa mãn nhu cầu ngay, dễ có những hành động bất chấp hậu quả.
– Các em cố gắng phấn đấu và khám phá xem mình là ai. Các em có khuynh hướng trung thành với những giá trị nhân cách mà các em có ấn tượng. Nếu không phát triển bình thường, các em dễ rơi vào khó khăn, lúng túng, rối loạn hành vi, tâm lý và mất phương hướng.
Những đặc điểm căn bản nêu trên của tuổi vị thành niên cho thấy các em rất cần sự đồng hành để đối diện và vượt qua giai đoạn khủng hoảng cho quá trình trưởng thành. Sự quan tâm của gia đình, nhà trường và toàn xã hội là hết sức cần thiết để các em vượt qua khủng hoảng, hoàn thành nhân cách, và vững tin bước vào đời.
- Những bước chân đồng hành đức tin cho tuổi vị thành niên.
2.1. Bốn “đừng” mong người đồng hành áp dụng triệt để nhằm tránh tổn thương và lòng tự trọng của các em.
– Đừng bao giờ sửa dạy các em trước mặt người khác khi bản thân đang tức giận. Lúc đó, chúng ta không thực hiện nhiệm vụ dạy và dỗ các em nhưng là đang đổ cơn tức giận lên các em. Nếu làm điều này sẽ để lại một hậu quả tai hại cho tâm hồn các em.
– Đừng bao giờ áp đặt suy nghĩ của mình lên các em (người lớn nói, các em phải nghe). Như đã nói ở trên, các em tuổi vị thành niên đã hình thành lòng tự trọng rất cao. Các em mong chờ người lớn lắng nghe các em chứ không mong đợi người lớn chỉ dùng quyền để áp đặt và khống chế. Hơn nữa, suy nghĩ của người lớn không phải lúc nào cũng đúng.
– Đừng bao giờ mất bình tĩnh khi các em có những thái độ và hành vi trái với ý muốn. Các em bị cảm xúc chi phối nên đôi lúc tỏ ra bốc đồng, đặc biệt với điều trái ý các em và với những người không cùng sở thích với các em. Thái độ tốt nhất của người đồng hành trong hoàn cảnh này là lắng nghe và nhẫn nại.
– Đừng bao giờ dạy các em điều mà chúng ta không hề làm. Các em tuổi vị thành niên rất nhạy cảm với gương sáng. Các em không thích nghe nhiều, nhất là nghe những lời lên lớp, khuyên răn không hợp với tâm lý các em. Đặc biệt, tránh nói đến những điều mà các em biết rõ chúng ta chẳng bao giờ thực hành, vì như thế các em sẽ coi thường những gì chúng ta nói và cả khinh thường cách sống của chúng ta thêm thôi.
2.2. Những bước cần thiết để đồng hành có hiệu quả.
Tôi xin gợi lên một số điểm cản bản cả về đời sống nhân bản lẫn hành trình giáo dục đức tin để giúp các bậc cha mẹ, thầy cô giáo và anh chị em GLV có thể đồng hành với các em tuổi vị thành niên.
– Dành thời gian cho các em và học để hiểu về các em bằng ngôn ngữ các em. Đây là điều quan trọng cho những ai đồng hành đời sống và đức tin với các em tuổi vị thành niên. Dẫu chúng ta hiểu những đặc điểm tâm lý chung, nhưng mỗi em lại có những điểm đặc biệt, không giống ai. Nếu ở trên, chúng ta biết nói với chính mình ‘đừng áp đặt suy nghĩ của mình lên các em’ thì thật quan trọng để hiểu tính tình, sở thích, dự tính, khả năng… và môi trường sống của các em. Trong những buổi tham vấn tâm lý, tôi nghe rất nhiều các em phàn nàn: cha mẹ hoặc người lớn chẳng hiểu các em và cũng chẳng chịu lắng nghe các em. Đó là lý do các em không muốn nói chuyện. Các em cho rằng có nói cũng chẳng thèm nghe và người lớn chỉ đưa ra những lời khuyên sáo rỗng.
– Nhận ra điểm tốt và dùng điểm tốt để khuyến khích, động viên các em. Đây là điểm tâm lý chung và rất cần để giúp các em tuổi vị thành niên vượt qua khủng hoảng. Các em mong được thông cảm hơn bỏ rơi; các em cần được động viên hơn là mắng nhiếc… Cha mẹ Việt Nam rất tiết kiệm lời khen mà lại hào phóng chê bai. Khi con cái hay các em mình có điều gì sai lầm, chúng ta cứ lấy điều đó mà nói đi nói lại làm tổn thương thêm các em mà thôi. Hãy cố gắng học biết những điểm tốt của các em và khen các em cũng như khích lệ các em mạnh mẽ tự tin hơn.
– Sử dụng ‘lời cám ơn’ và cả ‘lời xin lỗi’ với các em. Đây không chỉ là thái độ tôn trọng các em mà còn là mẫu gương sáng dạy các em thực hành. Người đồng hành cần tập cho mình một thói quen nói lời “cám ơn” và “xin lỗi” với các em bằng sự khiêm tốn thật của mình.
– Trao nhiệm vụ và quyền lợi cho các em trong gia đình hay đoàn thể với sự tin tưởng. Huấn luyện cho các em tính tự lập và biết chịu trách nhiệm về việc mình đã làm. Đừng coi các em là trẻ con nữa. Các em đang tập làm ‘người lớn’. Hãy cho các em cơ hội thực hành làm người lớn. Người đồng hành cần đi bên cạnh để động viên, đi phía trước đôi khi để nắm tay các em kéo lên; và có lúc đi phía sau để đẩy các em tới.
– Khuyến khích các em chia sẻ những khó khăn đang gặp, đặc biệt, tình cảm với người khác phái/cùng phái đang lẫn lộn trong tâm trí các em. Muốn đạt được điểm này, người đồng hành cần tạo được sự tin tưởng, thân thiện, không kết án để các em có thể mạnh dạn chia sẻ.
– Trở thành người bạn của các em. Người đồng hành trước tiên phải là người bạn của các em, mà phải là người bạn thân và tin tưởng. Khi các em coi cha mẹ/ thầy cô/ hay anh chị GLV là người bạn thân, các em mới cởi mở tâm hồn và bộc bạch cuộc sống, chia sẻ cảm xúc và ước mơ thầm kín của các em.
– Biết những gì đang nói với các em. Nếu người đồng hành muốn chia sẻ điều gì với các em, họ cần biết nội dung và mục đích của việc chia sẻ này. Đừng nói theo cảm tính và thích gì nói đó. Điều này sẽ phản tác dụng đồng hành và càng làm các em coi người đồng hành như ‘kẻ thù’.
2.3. Cha mẹ – Người đồng hành đức tin cho các em tuổi vị thành niên.
Tôi muốn góp một vài điểm nhấn cho các bậc cha mẹ trong việc đồng hành đức tin cho con cái giai đoạn tuổi vị thành niên. Ngoài những bước đồng hành chung trên, cha mẹ-nhà giáo dục đức tin cho con cái từ những năm đầu đến hôm nay cần thêm một số điểm sau:
– Xây dựng ‘nhà thờ tại gia’. Chúng ta vẫn được nhắc nhở rằng gia đình là mái trường giáo dục đức tin đầu tiên[3]. Đặc biệt, thời gian dịch bệnh vẫn còn nguy cơ cao, các nhà thờ chưa thể mở lại các sinh hoạt đức tin, các lớp giáo lý thì cha mẹ cần xây dựng gia đình thành nơi đời sống đức tin được nuôi dưỡng và thực hành là một phần cần thiết và quan trọng. Một số việc cần thực hành:
– Cầu nguyện chung trong bữa ăn. Đây là một việc làm đơn giản nhưng hiệu quả cao và lâu dài. Một lời nguyện ngắn trước và sau bữa ăn tạo một thói quen cầu nguyện. Cha mẹ hãy làm và hướng dẫn các con làm cách ý thức.
– Duy trì giờ kinh gia đình: Dù cuộc sống bận rộn và nhiều nhu cầu, cha mẹ đừng bao giờ bỏ qua nhu cầu thiêng liêng – cùng nhau trước bàn thờ Chúa để cầu nguyện. Hãy chọn những lời kinh, lời cầu nguyện phù hợp với hoàn cảnh gia đình, với tâm lý tuổi các con.
– Kể cho nhau nghe câu chuyện Giêsu. Nhiều cha mẹ dành thời gian cho con cái vì hiểu tầm quan trọng của việc gần gũi con cái. Cũng vậy, càng dành nhiều thời gian kể cho con cái nghe câu chuyện Giêsu, tâm hồn các em càng được nuôi dưỡng của Chúa Giêsu. Trên các kênh YouTube có rất nhiều câu chuyện ngắn về Chúa Giêsu. Cha mẹ hãy dành thời gian trong ngày mở và cùng con cái lắng nghe. Sau khi nghe, cha mẹ hãy khéo léo hỏi con kể lại những gì các em đã nghe. Hãy tạo thói quen chia sẻ câu chuyện Giêsu thay vì các câu chuyện nhảm nhí và gây hại cho đức tin của con.
– Mở các bài nhạc thánh ca ngày cuối tuần: Đây cũng là cách thức mưa dầm thấm đất. Ngày trong tuần, con cái phải học online nên không tiện mở nhạc. Ngày cuối tuần, cha mẹ thảo luận với con để cùng nhau đồng ý mở nhạc thánh ca cho cả nhà nghe. Cha mẹ hãy chọn các bài thánh ca phù hợp với đời sống đức tin của con để tâm hồn chúng cảm nhận được những lời bài hát.
Ngoài ra, cha mẹ cần cho mình thêm những điểm sau:
Đừng bao giờ bỏ cầu nguyện. Có những ngày con cái tỏ thái độ chống đối và không muốn cầu nguyện chung trong gia đình. Đừng cố ép buộc các em. Cha mẹ hãy bình tĩnh vì có thể các em mệt, tâm trạng rối bời. Chỉ cần cho các em biết, “cha mẹ sẽ cầu nguyện cho con” và cho các em thấy gương sáng và sự trung thành cầu nguyện.
Đủ mạnh mẽ thừa nhận cha mẹ cũng là người tội lỗi. Mang thân phận con người, cha mẹ cũng có những yếu đuối riêng, đôi lúc làm sai. Cha mẹ cũng cần sự cảm thông và nâng đỡ của con cái khi thừa nhận sự mỏng giòn của mình. Đó cũng là bài học giúp con biết khiêm tốn chấp nhận bản thân và yêu thương cha mẹ.
Đừng hoảng loạn khi con không muốn đến nhà thờ. Các em tuổi vị thành niên bắt đầu thể hiện bản thân và muốn có những cách riêng của mình ngay trong đời sống đức tin. Khi các em tỏ thái độ này, cha mẹ cần bình tĩnh tìm xem điều gì đang xảy ra với các em? Ai đang ảnh hưởng đến suy nghĩ và chọn lựa các em? Hoặc các em cảm thấy việc đến nhà thờ trước đây quá xáo rỗng và nhàm chán… Cần tìm hiểu những hành vi hiện tại của các em và bình tĩnh xử lý tình huống.
Đừng ngại tìm kiếm sự giúp đỡ của người ngoài khi gặp khó khăn. Tâm lý tốt khoe xấu che đôi lúc vẫn làm cho cha mẹ lúng túng khi đối diện với khủng hoảng của con. Phần vì không muốn cho người khác biết nên cứ cố che giấu. Cha mẹ cần thừa nhận giới hạn của chính mình mà tìm kiếm sự giúp đỡ của người khác (một linh mục, một chuyên viên tham vấn, một người đã kinh nghiệm…). Đó cũng là cách thức Chúa đang đồng hành và ban ơn trợ giúp cho cha mẹ.
Cuối cùng, đối thoại và lắng nghe con chia sẻ về suy nghĩ và cảm nhận đời sống. Như đã nói ở trên, các em tuổi vị thành niên mong được người lớn hiểu, tôn trọng và cảm thông. Cha mẹ cần dành thời gian để nói chuyện với con, nhất là lắng nghe con chia sẻ về đời sống, cảm nhận, đức tin… Nếu con không xin thì đừng đưa ra lời khuyên. Cũng đừng bao giờ xét đoán nếu chia sẻ của con có điều tiêu cực. Hãy lắng nghe với tâm hồn thấu cảm. Hãy tỏ cho con biết là cha mẹ cảm thông và cầu nguyện nhiều cho con. Tốt nhất, cha mẹ nên kết thúc cuộc trò chuyện bằng cách mời con tự phát một lời cầu nguyện ngắn.
Đồng hành với con cái/các em tuổi vị thành niên thật cần thiết và quan trọng để giúp các em đủ sức vượt qua giai đoạn khủng hoảng hướng đến tuổi trưởng thành. Đây là một nhiệm vụ thiêng liêng và cao quý bởi người đồng hành góp phần làm thành toàn đời sống các em, góp công vào chương trình của Thiên Chúa là giáo dục con người theo đúng mục đích và kế hoạch của Chúa; và góp tâm hồn chia sẻ sứ mạng của Đức Kitô, “Ta đến cho họ được sống và sống dồi dào” (Ga 10, 10). Tuy nhiên, đây cũng là giai đoạn khó khăn của các bậc cha mẹ, thầy cô giáo và anh chị Giáo lý viên trong các lớp giáo lý. Người đồng hành dễ thất bại, buồn bã và mất kiên nhẫn vì thái độ thờ ơ, thiếu cộng tác và đôi khi tỏ ra chống đối của các em. Người đồng hành trong những tình huống như thế hãy bình tâm và đừng mất niềm hy vọng. Giây phút ấy, hãy dành khoảng thời gian và không gian thinh lặng để đọc đi đọc lại định nghĩa về “Tình yêu-đức mến” của thánh Phaolô trong thư thứ nhất Côrintô như sau, “Đức mến thì nhẫn nhục, hiền hậu, không ghen tương, không vênh vang, không tự đắc, không làm điều bất chính, không tìm tư lợi, không nóng giận, không nuôi hận thù, không mừng khi thấy sự gian ác, nhưng vui khi thấy điều chân thật. Đức mến tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả. Đức mến không bao giờ mất được” (1Cr 13, 4-8).
Tài liệu tham khảo
– Philomena Agudo (2010). I chose you, Ta đã chọn con, Nguyễn Ngọc Kính chuyển ngữ, NXB Phương Đông.
– Breig James (1992). Finding God in your house, Chicago, Illinois.
– Sprinthall & Collins (1995). Adolescent psychology: A developmental view, McGraw-Hill, New York.
– Michel Quoist (2000). Xây dựng con người nhân bản, Nguyễn Thị Chung dịch, NXB Tôn Giáo.
Nguồn: giaophanxuanloc.net
[1] x. Sprinthall & Collins (1995). Adolescent psychology: A developmental view, McGraw-Hill, New York.
[2] Philomena Agudo, I chose you, Ta đã chọn con, Nguyễn Ngọc Kính chuyển ngữ, NXB Phương Đông, 2010
[3] GLHTCG số 2682
2021
Công cuộc truyền giáo của hai Giám mục tiên khởi tại Giáo hội Việt Nam
CÔNG CUỘC TRUYỀN GIÁO
CỦA HAI GIÁM MỤC TIÊN KHỞI TẠI GIÁO HỘI VIỆT NAM
+ Giuse Đỗ Mạnh Hùng
Giám mục Gp. Phan Thiết
DẪN NHẬP
“Phần các Giám mục, các ngài được Chúa Thánh Thần cắt cử để kế vị các Tông đồ làm mục tử chăn dắt các linh hồn, đồng thời, hợp nhất với Đức Giáo hoàng và dưới quyền ngài, các Giám mục được ủy thác sứ mạng duy trì luôn mãi công trình của Chúa Kitô, vị Mục tử vĩnh cửu” (Sắc lệnh Giám mục, Christus Dominus số 2 – 28/10/1965)
1. Công Cuộc Truyền Giáo Tại Việt Nam Dưới Chế Độ Bảo Trợ Bồ Đào Nha
Công cuộc truyền giáo ở Việt Nam thời kỳ đầu được thực hiện chủ yếu bởi Dòng Tên dưới quyền bảo trợ của người Bồ Đào Nha. Các nhà truyền giáo đã gặt hái được những thành công đáng kể: số tín hữu gia tăng với tinh thần sống đạo sốt sắng, Hội Thầy giảng được thành lập, khai mở nền văn chương Công giáo trên đất Việt, v.v…. Tuy nhiên, những cuộc bách hại Đạo và việc trục xuất các thừa sai ngoại quốc, cùng với những cản trở từ phía Chế độ Bảo trợ luôn là những thách đố lớn cho công việc truyền giáo tại đây.
Theo thỉnh nguyện của cha Đắc Lộ được đệ trình lên Toà thánh sau khi bị trục xuất khỏi Việt Nam năm 1645, ngài nhấn mạnh hai đề xuất chính:
– Do tình trạng thiếu linh mục để chăm sóc các tín hữu, nâng đỡ họ trong những cuộc bách hại, xin Toà thánh sớm gởi các Giám mục qua để thành lập hàng Giáo phẩm địa phương, đào tạo và phong chức các linh mục bản xứ;
– Ban đầu, ngài dự định xin Đức Thánh cha bổ nhiệm các Giám mục Chính tòa, nhưng khi hiểu được kế hoạch của Tòa thánh trong chương trình gửi các Giám mục Đại diện Tông tòa, để tránh rắc rối với Chế độ Bảo trợ, cha Đắc lộ đệ trình một bản ‘ghi nhớ’ xin gửi Giám mục in partibus (trong phần đất dân ngoại) và không cần cho Vua Bồ Đào Nha biết[1].
2. Đường Hướng Của Toà Thánh
Dù phải công nhận rằng Chế độ Bảo trợ có những đóng góp nhất định cho công cuộc truyền giáo chung, nhưng Toà thánh ngày càng nhận ra những bất cập, lạm dụng, thậm chí trở thành những khó khăn và nguy hại, nhất là khi các vua chúa đặt quyền lợi chính trị và kinh tế lên hàng đầu.
Để thoát ra khỏi tình trạng trên, Toà thánh muốn trực tiếp đảm trách và điều hành công cuộc truyền giáo qua việc thiết lập Thánh bộ Truyền bá Đức Tin vào năm 1622. Từ đây, đường hướng truyền giáo ở các nơi đều phải tuân theo sự hướng dẫn của Thánh Bộ, cụ thể qua Huấn Thị năm 1659 trao cho hai Giám mục đầu tiên được gửi đến Đàng Ngoài, Đàng Trong và Trung Hoa[2].
Riêng đối với công cuộc truyền giáo tại Việt Nam, ngày 13.05.1658, Thánh Bộ Truyền bá Đức Tin đề nghị bổ nhiệm hai cha François Pallu và Pierre Lambert làm giám mục và được Đức Thánh cha Alexandre VII phê chuẩn ngày 08.06.1658. Một năm sau, ngày 09.09.1659, ngài ký Sắc chỉ Super Cathedram thiết lập hai Địa phận Tông toà: trao cho Đức cha François Pallu cai quản Đàng Ngoài, năm tỉnh của Trung Hoa: Vân Nam, Quý Châu, Hồ Quảng (nay là Hồ Nam, Hồ Bắc), Quảng Tây, Tứ Xuyên, và nước Lào; tiếp đến trao cho Đức cha Pierre Lambert cai quản Đàng Trong và một số vùng của Trung Hoa: Chiết Giang, Phúc Kiến, Quảng Đông, Giang Tây và đảo Hải Nam[3].
Thánh Bộ còn gửi cho hai tân Giám mục bản Huấn Thị khá chi tiết với những điểm đáng chú ý ở phần III như:
+ Thiết lập Hàng Giáo sĩ bản địa qua việc phong chức linh mục cho người địa phương;
+ Cẩn trọng trong việc phong chức giám mục; không tự tiện làm nhưng phải thỉnh ý và chờ sự chấp thuận của Thánh Bộ Truyền Bá Đức Tin;
+ Mở trường học, dạy tiếng La tinh và Giáo lý để từ đó có thể tìm ra các ơn gọi linh mục;
+ Hội nhập văn hoá;
+ Không can dự vào chính trị;
+ Giữ liên hệ chặt chẽ với Toà Thánh[4].
Tòa thánh cũng bổ nhiệm Cha Cotolendi làm Đại diện Tông Tòa Giáo phận Nam Kinh (Trung Hoa). Ngài được tấn phong Giám mục ngày 07.11.1660, hiệu tòa Métellopolis và lên đường truyền giáo ngày 03.9.1661 nhưng không may đã từ trần tại Ấn Độ ngày 26.08.1662[5]. Vì thế, chỉ còn hai vị Đại diện Tông Tòa đảm trách công cuộc truyền giáo vùng Viễn Đông.
3. Hai Giám Mục Tiên Khởi Tại Việt Nam
Đức Cha Pierre Lambert de la Motte sinh ngày 28.01.1624 tại Lisieux vùng Normandie nước Pháp, trong một gia đình thuộc giai cấp thượng lưu, giàu sang. Lớn lên, ngài học ngành luật và hành nghề luật sư, sớm trở thành thẩm phán, khi mới 22 tuổi, với phép miễn tuổi của Vua Louis XIV. Được thúc đẩy bởi ơn gọi linh mục, ngài theo chương trình thần học và được thụ phong linh mục ngày 27.12.1655. Đức cha Pierre Lambert được bổ nhiệm làm Giám mục và thụ phong ngày 11.06.1660 tại Paris với hiệu toà Bérithe. Ngài đã dâng cúng tài sản mình để lo cho chương trình truyền giáo Viễn Đông được tiến hành nhanh chóng[6].
Ngày 27.11.1660, Đức Cha Pierre Lambert và hai linh mục thừa sai rời Pháp lên đường sang Việt Nam, không theo hành trình đường biển dành cho các thừa sai được Vua gửi đi, nhưng theo lộ trình mà Thánh bộ Truyền Bá Đức Tin đề nghị: “Hành trình đất liền xuyên qua xứ Syria và vùng Mésopotamia sẽ an toàn cho chư huynh hơn nhiều so với đường biển Đại Tây Dương và mũi Hảo Vọng”[7]. Sau chuyến đi đầy gian nan vất vả, phái đoàn đã tới Ayutthaya ngày 22.08.1662. Ngài chưa thể đến Đàng Trong được vì lúc đó đang có cuộc bách hại dữ dội.
Đức Cha François Pallu chào đời năm 1626[8] tại thành phố Tours, nước Pháp, trong gia đình quý tộc và vị vọng. Ngài được rửa tội ngày 31.08.1626. Sau khi học xong chương trình ở chủng viện, ngài thụ phong Linh mục vào tháng 09.1650 và tiếp tục học để lấy bằng tiến sĩ dân luật và giáo luật. Đức cha François Pallu được thụ phong Giám mục ngày 17.11.1658 tại Rôma với hiệu toà Héliopolis.
Đức cha Pallu là thành viên Nhóm Bạn Hiền và Hiệp hội Thánh Thể, là những tổ chức góp phần vận động Toà thánh gởi các Giám mục sang Việt Nam và Trung Hoa cũng như hỗ trợ cho việc hình thành Chủng viện Thừa sai Paris[9].
Ngày 02.01.1662, Đức cha Pallu rời Pháp đi Việt Nam với bảy linh mục và hai giáo dân bằng con đường bộ. Sau hai năm, ngày 27/01/1664 phái đoàn của ngài đã tới được kinh đô Ayutthaya, nhưng chỉ còn hai linh mục và một giáo dân[10].
Hai tâm hồn – một chí hướng:
Khi còn là linh mục, Đức cha François Pallu và Pierre Lambert gặp nhau và trở thành đôi bạn thân trong kế hoạch truyền giáo tại Rôma vào năm 1657. Các ngài đã cùng soạn ra một chương trình để thỉnh xin Thánh Bộ Truyền Bá Đức Tin cho lập một chủng viện chuyên lo việc truyền giáo Đông Nam Á[11]. Đó là bước khởi đầu của chủng viện Hội Thừa Sai Paris.
Sau khi được Toà Thánh bổ nhiệm trong chức Giám mục và lãnh trách nhiệm trên hai Địa phận của Việt Nam, với tâm hồn đạo đức và đầy nhiệt huyết của vị tông đồ truyền giáo, hai Đức cha François Pallu và Pierre Lambert luôn cộng tác tích cực với nhau trên hành trình truyền giáo với tinh thần liên đới trách nhiệm. Các ngài đã sống và chết cho sứ vụ được trao phó là xây dựng Giáo hội Việt Nam trong tình say mến Đức Kitô Chịu-Đóng-Đinh.
Phần I. HAI MẪU GƯƠNG QUẢ CẢM TRONG SỨ VỤ GIÁM MỤC
I. ĐỨC CHA LAMBERT
1. Các Cuộc Kinh Lý
Trên hành trình sang Việt Nam, hai Đức cha Pierre Lambert và François Pallu không thể đến địa sở của mình được vì đang có cuộc bách hại lớn. Các ngài phải dừng chân ở Ayutthaya, Thái Lan và điều hành công việc quản trị từ xa. Riêng Đức cha Lambert, ngài đã thực hiện được ba cuộc kinh lý mục vụ sang Việt Nam nhằm củng cố và phát triển hai Giáo phận Đàng Trong và Đàng Ngoài.
- Kinh Lý Đàng Ngoài (1669 – 1670)
Miền truyền giáo Đàng Ngoài thuộc trách nhiệm của Đức cha François Pallu. Nhưng vì nhiều lý do, ngài đã không thể đến Đàng Ngoài được. Từ ngày 30.08.1669 đến ngày 14.03.1670, Đức cha Lambert thay mặt Đức cha Pallu kinh lý mục vụ miền truyền giáo Đàng Ngoài. Trong chuyến đi này, bên cạnh việc thăm viếng và rửa tội cho giáo dân, Đức cha đã thực hiện được 4 việc quan trọng[12]:
+ Phong chức linh mục cho bảy thầy giảng Đàng Ngoài (1670) trên chiếc thuyền được coi như nhà thờ Chánh Toà tiên khởi của Giáo hội Việt Nam;
1) Thầy Martinô Mật (68 tuổi)
2) Thầy Giacôbê Chiêu (46 tuổi)
3) Thầy Simon Kiên (60 tuổi)
4) Thầy Antôn Quế (56 tuổi)
5) Thầy Philipphê Nhân (52 tuổi)
6) Thầy Lêô Trụ (46 tuổi)
7) Thầy Vitô Trị (30 tuổi)[13]
+ Tổ Chức Công đồng Phố Hiến (14.02.1670);
+ Thành lập Hiệp hội Tín hữu Mến Thánh Giá.
+ Thành lập Dòng Nữ Mến Thánh Giá tại Đàng Ngoài.
- Kinh lý Đàng Trong Lần Thứ nhất (1671 – 1672)
Ngày 20.07.1671, Đức cha Lambert thực hiện chuyến kinh lý Đàng Trong cùng với hai thừa sai Pháp là Guillaume Mahot va Claude Guiart và hai linh mục người Đàng Trong là Giuse Trang và Luca Bền. Sau hơn một tháng vượt biển đầy gian nan do bão tố và hải tặc, thuyền của Đức cha đã cập bến Nha Trang ngày 31.08.1671 (sợ bị lộ diện, ngài vẫn ở trong thuyền, tối hôm sau, tín hữu kín đáo đưa ngài đến Lâm Tuyền, một xóm chài nhỏ; sau đó ra An Chỉ, Quảng Ngãi). Ở đây, Đức cha Lambert đã thực hiện những công cuộc quan trọng[14]:
+ Thăm viếng các giáo điểm, ban các Bí tích và gặp gỡ các chức sắc và giáo dân;
+ Thành lập Dòng Nữ Mến Thánh Giá tại Đàng Trong (tại xứ An Chỉ, Quảng Ngãi);
+ Tổ chức Công đồng Hội An (năm 1672).
- Kinh lý Đàng Trong Lần Thứ Hai (1675 – 1676)
Ngày 23.07.1675 (ba năm sau), Đức cha Lambert và hai linh mục thừa sai trở lại Đàng Trong lần thứ hai. Các công việc của Đức cha trong chuyến kinh lý này gồm có[15]:
+ Dành nhiều thời gian tiếp đón các linh mục, giáo dân đến với ngài, giải quyết các vấn đề mục vụ và ban các Bí tích cho đoàn chiên;
+ Nhận lời khấn của các nữ tu Mến Thánh Giá đầu tiên tại Đàng Trong;
+ Phong chức linh mục cho thầy Louis Đoan tại Quảng Ngãi;
+ Giải quyết những mâu thuẫn giữa các vị thừa sai thuộc Chế Độ Bảo Trợ với các vị Đại diện Tông Toà;
+ Gởi sứ điệp kêu gọi các Giáo đoàn hiệp nhất với nhau và phục quyền vị chủ chăn hợp pháp.
2. Tổ Chức Các Công Đồng Địa Phương
- Công Đồng Ayutthaya
Trong thời gian hai Đức cha François Pallu và Pierre Lambert ở Thái Lan, các ngài đã tổ chức Công đồng Ayutthaya[16], khai mạc ngày 29.02.1664 với tám thành viên, gồm hai Giám mục, năm linh mục và một giáo dân.
Công đồng đã thảo luận và quyết định ba việc quan trọng, đó là:
+ Soạn thảo “Huấn Thị Gởi Các Thừa Sai”, còn gọi là Huấn Thị Ayutthaya hoặc Monita
+ Xây dựng chủng viện chung cho cả vùng Viễn Đông;
+ Lập Hội Tông Đồ gồm các thừa sai và giáo dân.
- Công Đồng Phố Hiến
Trong chuyến kinh lý Đàng Ngoài, ngày 14.02.1670, Đức cha Lambert triệu tập Công đồng Phố Hiến[17] gồm chính ngài, ba linh mục thừa sai và chín linh mục Việt Nam. Nghị quyết gồm 34 điều với những điểm chính:
+ Ấn định vùng trách nhiệm cho mỗi linh mục bản quốc;
+ Xác định nhiệm vụ của các thầy giảng;
+ Lập quỹ chung để trang trải các nhu cầu mục vụ và lo cho người nghèo;
+ Khuyến khích các linh mục bản xứ nuôi dạy các thiếu niên đạo đức để gởi vào chủng viện;
+ Kêu gọi các linh mục quản xứ quan tâm đặc biệt đến các nữ tu Mến Thánh Giá;
+ Khuyến khích giáo dân tập suy gẫm chung và riêng; đồng thời giới thiệu những người thích hợp vào Hiệp hội Mến Thánh Giá Tại Thế.
+ Quyết định nhận Thánh Giuse làm bổn mạng Giáo hội Đàng Ngoài.
- Công Đồng Hội An
Trong chuyến kinh lý Đàng Trong, ngày 19.01.1672, tại Hội An[18], Đức cha Lambert khai mạc Công đồng với sự hiện diện của ba vị thừa sai Châu Âu, hai linh mục bản xứ và một số thầy giảng. Công đồng thông qua một nghị quyết gồm mười điều với những vấn đề chính như:
+ Công bố các sắc dụ của Toà Thánh về quyền bính các Đại diện Tông Toà mà mọi thành phần Dân Chúa phải tùng phục;
+ Xác định nhiệm vụ của các thầy giảng và ban Quý chức trong giáo xứ;
+ Nhắc lại một vài quy tắc về đời sống hôn nhân;
+ Kêu gọi tín hữu can đảm tuyên xưng đức tin ra bên ngoài (điều này xây dựng niềm tin mạnh mẽ để lãnh phúc tử đạo sau này).
3. Xây Dựng Chủng Viện và Đào Tạo Linh Mục Bản Xứ
- Xây Dựng Chủng Viện Ayutthaya
Việc đào tạo và thiết lập Hàng Giáo sĩ bản xứ là một trong những sứ mạng quan trọng mà Toà thánh mong đợi hai vị Giám mục thực hiện ở miền truyền giáo Viễn Đông.
Công đồng Ayutthaya (1664) đã quyết định thành lập một chủng viện chung cho cả vùng Viễn Đông nhằm đào tạo các ứng sinh linh mục tương lai do các nước trong khu vực này gởi về.
Năm 1665, Đức cha Lambert đã tiến hành xây dựng một chủng viện tại Ayutthaya và bắt đầu chương trình đào tạo linh mục ngay khi hoàn tất[19]. Đây là nơi đào tạo nhiều linh mục Việt Nam sau này.
- Thiết Lập Hàng Giáo Sĩ Địa Phương
Chỉ vài năm sau khi xây dựng chủng viện tại Ayutthaya, Đức cha Lambert đã phong chức linh mục cho các chủng sinh đầu tiên vào năm 1668, trong đó có cha Giuse Trang từ Đàng Trong qua (Cha Giuse Trang là linh mục người Việt đầu tiên). Sau đó vào tháng Sáu cùng năm, Đức cha truyền chức linh mục cho hai thầy giảng người Đàng Ngoài là Bênêđictô Hiền và Gioan Huệ. Đầu năm 1669, sau một lần tìm cách sang Đàng Trong không thành, Đức cha Lambert truyền chức linh mục cho thầy Luca Bền, người Đàng Trong.
Vì không thể đến được Việt Nam, Đức cha Lambert luôn nhắc nhở các cha Tổng Đại diện, các vị thừa sai Tông toà phải quan tâm đến việc quy tụ và huấn luyện các thầy giảng, dạy tiếng Latinh, và chuẩn bị cho họ chịu chức linh mục. Các ngài thường chọn những thầy giảng xuất sắc và gởi sang Thái Lan cho Đức cha Lambert phong chức linh mục.
Nhân chuyến viếng thăm Đàng Ngoài, tháng 01.1670, Đức cha Lambert phong chức linh mục cho bảy thầy giảng trên chiếc thuyền được coi như nhà thờ Chánh Tòa.
Cũng vào dịp đi kinh lý Đàng Trong lần thứ hai, ngài cũng phong chức cho thầy Louis Đoan tại Quảng Ngãi vào ngày 21.03.1676. Cha Louis Đoan được xem là tác giả cuốn Sấm Truyền Ca, viết bằng chữ Nôm năm 1670, với bút hiệu là Lữ Y Đoan.
Với việc phong chức linh mục cho các thầy giảng, Đức cha Lambert đã khai sinh ra hàng giáo sĩ Việt Nam, mở đầu cho bao thế hệ linh mục tiếp nối. Các linh mục là những trụ cột vững chắc của Giáo hội Việt Nam, là chỗ dựa tinh thần cho các tín hữu trong những thời điểm khó khăn nhất[20].
4. Thành Lập Dòng Mến Thánh Giá
- Hiệp Hội Nam Nữ Tín Hữu Mến Thánh Giá Đức Giêsu Kitô Chúa Chúng Ta
Sớm nhận ra vai trò chứng tá của người giáo dân trong việc loan báo Tin Mừng, Đức cha Lambert đã lập ra “Hiệp hội Nam Nữ Tín hữu Mến Thánh Giá Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta” tại Ayutthaya, Thái Lan vào năm 1668, và tại Đàng Ngoài, Việt Nam vào năm 1669-1670. Mục đích của Hiệp hội là “để thôi thúc các tín hữu khắp nơi hướng tới tình yêu thực tiễn đối với Thánh giá Con Thiên Chúa” trong đời sống đạo đức của họ[21].
- Dòng Nữ Mến Thánh Giá tại Đàng Ngoài
Khi đến Đàng Ngoài, Đức cha Lambert được cha Deydier giới thiệu hai nhóm thiếu nữ và một số bà góa muốn sống chung với nhau, có thể tập hợp gần 30 người[22]. Họ đã được cha Deydier dạy dỗ hướng dẫn từ lâu trên đường nhân đức. Sau khi tìm hiểu kỹ lưỡng, Đức cha quyết định thành lập Dòng Mến Thánh Giá, qua việc đích thân nhận lời khấn của hai nữ tu tiên khởi Anê và Paula tại Phố Hiến ngày 19.02.1670, và trao cho hai chị Bản Luật do ngài soạn thảo sẵn. Đó là ngày khai sinh Dòng Nữ Mến Thánh Giá Việt Nam[23].
- Dòng Nữ Mến Thánh Giá tại Đàng Trong
Tại An Chỉ – Quảng Ngãi, vào tháng 12.1671, Đức cha Lambert chính thức thành lập Dòng Nữ Mến Thánh Giá với mười chị tiên khởi (trong đó có em gái của cha Giuse Trang được đặt làm Bề trên đầu tiên; lúc ấy chị khoảng 30 tuổi). Ngài trao cho chị em một Bản Luật giống như ở Đàng Ngoài. Vì tình hình khó khăn, Đức cha cho phép các chị mặc thường phục như các phụ nữ địa phương[24].
Trong chuyến kinh lý lần hai, Đức cha đã tới thăm các chị em Mến Thánh Giá ở Quảng Ngãi và nhận lời khấn của bốn nữ tu tại Bàu Tây (Quảng Ngãi) vào ngày 13.12.1675 và một nữ tu thuộc nhà An Chỉ, ngày 18.12.1675[25].
- Dòng Nữ Mến Thánh Giá tại Thái Lan
Năm 1672, tại Ayutthaya, Thái Lan, Đức cha Lambert lập một Dòng Mến Thánh Giá với 4 hay 5 nữ tu đầu tiên là Việt kiều gốc Đàng Trong[26].
II. ĐỨC CHA FRANÇOIS PALLU
Cũng giống như Đức cha Lambert, Đức cha François Pallu không thể đến được Địa phận Đàng Ngoài vì cuộc bách hại đạo dữ dội. Thiên Chúa nhân lành đã muốn cho ngài thi hành sứ vụ theo một cách riêng. Đức cha Pallu còn phải thực hiện những chuyến đi về giữa Âu – Á trong nhiều năm để xin sự chuẩn nhận của Toà Thánh cho các hoạt động khởi đầu của Giáo hội Việt Nam cũng như vận động thêm nhiều nguồn tài trợ cho công cuộc truyền giáo Viễn Đông.
1. Hành Trình Á – Âu Lần Thứ Nhất (1665 – 1673)[27]
Sau khi kết thúc Công đồng Ayutthaya, hai Đức cha thấy rằng những quyết định này cần phải được sự chuẩn nhận sớm của Toà thánh. Thay vì trao đổi qua thư từ chiếm nhiều thời gian, các kế hoạch sẽ được xúc tiến nhanh hơn nếu một trong hai vị trở lại Rôma để trình bày trực tiếp lên Toà thánh; đồng thời cũng cho Toà Thánh hiểu được rõ nét những khó khăn mà các vị Đại diện Tông Toà đang gặp phải. Đức cha Pallu đã tự nguyện quay trở lại Châu Âu vì cảm thấy sức khoẻ tốt hơn.
Đức cha Pallu trao quyền điều hành Đàng Ngoài cho Đức cha Lambert, ngày 17.01.1665, ngài lên đường về lại Châu Âu và đến Rôma, ngày 20.4.1667.
Tại Rôma, những đệ trình của Đức cha Pallu được Thánh Bộ cứu xét cẩn thận. Năm 1669, Toà thánh đưa ra quyết định:
+ Chấp thuận, đánh giá rất cao, tài trợ kinh phí in ngay tại Roma[28] bản “Huấn Thị Gởi Các Thừa Sai”;
+ Tán thành việc lập chủng viện chung cho cả vùng truyền giáo Viễn Đông;
+ Đặt Xiêm La dưới quyền cai quản của các Giám mục Pháp. Các ngài có thể tiếp nhận và huấn luyện các linh mục cho vùng Viễn Đông;
+ Không đồng ý việc duy trì Hội Tông Đồ.
Ngày 13.09.1669, Toà Thánh ban hành sắc lệnh Speculatores, chỉ thị cho mọi thừa sai khi tới các địa sở của các vị Đại diện Tông Toà phải trình bày bài sai riêng của mình và vâng phục các ngài; nếu không, sẽ bị vạ tuyệt thông.
Trong chuyến đi này, Đức cha Pallu nỗ lực tìm kiếm thêm nhân sự cũng như nguồn tài trợ cho công cuộc truyền giáo.
Ngày 03.02.1670, Đức cha Pallu trở lại Châu Á, với sáu linh mục và bốn giáo dân. Tại Surate – Ấn Độ, sau khi nhận được tin tức, bản ký sự về chuyến đi Đàng Ngoài của Đức cha Lambert (1669-1670), Đức cha Pallu quyết định gửi Cha Charles Sevin quay về Pháp và Rôma, đệ trình hồ sơ xin Toà Thánh phê chuẩn các quyết định của Công đồng Phố Hiến và Tu hội nữ Mến Thánh Giá. Ngày 27.5.1673, Đức cha Pallu tới Ayutthaya.
Trong Đoản sắc Apostolatus Officium (được ban hành ngày 23.12.1673), Đức Giáo hoàng đã xác nhận Công đồng Phố Hiến.
2. Hành Trình Á – Âu Lần Thứ Hai (1674 – 1681)[29]
Ngày 21.08.1674, Đức cha Pallu từ biệt Đức cha Lambert tại Ayutthaya để lên đường sang Đàng Ngoài. Nhưng tàu của ngài bị bão đánh dạt cảng Cavite, Philippines. Đức cha và thuỷ thủ đoàn bị chính quyền Tây Ban Nha bắt giữ và giải về kinh đô Manila với tội danh “đi truyền giáo mà không có phép của triều đình Tây Ban Nha”.
Ngày 04.04.1675, chính quyền Manila đưa Đức cha Pallu về Madrid, Tây Ban Nha để xét xử, và ngài được tuyên bố trắng án. Rời Madrid, Đức cha Pallu sang Pháp rồi từ đó đi Rôma.
Thời gian ở Rôma, Đức cha Pallu luôn bận rộn với việc làm các bản tường trình, thỉnh nguyện để trình lên Toà thánh, cách riêng về hai vấn đề của Giáo hội Việt Nam: sự chống đối của Chế Độ Bảo Trợ truyền giáo Bồ Đào Nha; thứ hai là thái độ không vâng phục Toà Thánh nơi các cha thừa sai Dòng Tên người Bồ Đào Nha.
Ba năm ở Rôma, Đức cha Pallu thỉnh nguyện được hai mươi hai sắc lệnh của Toà thánh; Ngài cũng trình bày lên Toà thánh về Dòng nữ và Hiệp hội Tín hữu Mến Thánh Giá do Đức cha Lambert thành lập. Ngày 02.01.1679, Đức Giáo hoàng Innôxentê XI đã ban Tông thư Cum Sicut công nhận các tổ chức Mến Thánh Giá.
Nhờ hoạt động của Đức cha Pallu tại Rôma, ngày 25.11.1679, Toà thánh đã bổ nhiệm cha Deydier[30] và cha Bourges[31] làm Giám mục và Đại diện Tông toà xứ Đàng Ngoài. Ngài cũng được Toà Thánh chấp thuận cho từ chức Đại diện Tông toà Đàng Ngoài, và được bổ nhiệm làm Đại diện Tông toà xứ Phúc Kiến với quyền giám quản một số tỉnh ở Trung Hoa.
Ngày 25.03.1681, Đức cha Pallu rời Pháp đi Thái Lan và đến nơi ngày 04.7.1682. Ngài ở lại Ayutthaya một năm rồi lại tiếp tục đến Giáo phận Phúc Kiến, địa sở mới của ngài vào ngày 14.01.1684.
III. HAI CÁI CHẾT LÀNH THÁNH
1. Đức Cha Lambert
Trở lại Thái Lan vào giữa tháng 05.1676, sức khoẻ của Đức cha Lambert kém dần. Chứng bệnh đường ruột và sạn thận hành hạ khiến Đức cha đau đớn nhiều.
Vào những ngày cuối đời, Đức cha muốn dành thời gian yên tĩnh để cầu nguyện và kết hợp mật thiết với Chúa Kitô Chịu-Đóng-Đinh.
Khoảng 4 giờ sáng ngày 15.06.1679, Đức cha Pierre Lambert de la Motte đã an nghỉ lành thánh trong Chúa tại Ayutthaya (55 tuổi)[32].
2. Đức Cha François Pallu
Lúc 03 giờ 30 sáng Chúa nhật ngày 29.10.1684, Đức cha François Pallu nhẹ nhàng trút hơi thở cuối cùng tại Giáo phận Phúc Kiến, Trung Hoa với tuổi đời 58[33].
IV. TÓM LẠI
Trong công cuộc truyền giáo và xây dựng Giáo hội Việt Nam, những hoạt động của Đức cha Pierre Lambert và Đức cha François Pallu là một sự kết hợp hài hoà, không thể tách rời nhau. Nếu như Đức cha Lambert chuyên về hoạt động để xây dựng và củng cố Giáo hội về mặt thể chế, phẩm trật, đời sống, thì Đức cha Pallu đảm nhận vai trò kết nối giữa Toà Thánh với Việt Nam. Nhờ ngài, các hoạt động của Đức cha Lambert được Toà Thánh chuẩn nhận và hướng dẫn hành động. Nhờ vậy, dù trải qua nhiều thời kỳ chia cắt, Giáo hội Việt Nam vẫn hiệp nhất và thống nhất.
Hương thơm nhân đức của hai vị Giám mục Tiên Khởi được toả ra từ : (1) đời sống thánh thiện của các ngài; (2) hoa trái thánh thiện mà các ngài để lại[34].
- Đời sống thánh thiệncủa các ngài được thể hiện qua quyết tâm chu toàn Thánh Ý Chúa qua bổn phận được trao phó là xây dựng Giáo hội Việt Nam trong hoàn cảnh hết sức khó khăn, phức tạp, trong sự đan xen giữa tôn giáo, chính trị và kinh tế. Đồng thời, tìm mọi cách củng cố, động viên các thừa sai và cộng đoàn Kitô giáo giữ vững niềm tin, kiên trung trong mọi thử thách và bách hại. Hai ngài đã sống và chết cho sứ mạng truyền giáo và xây dựng 2 Giáo phận Tông tòa đầu tiên tại Việt Nam.
Điều này đã được thực hiện qua một đường hướng truyền giáo hết sức rõ ràng và cụ thể với 3 điểm nhấn:
+ Nền tảng của việc truyền giáo và xây dựng Giáo hội là “Chúa Giêsu Kitô chịu đóng đinh”;
+ Luôn hiệp thông với Tòa Thánh và tuân theo những hướng dẫn của Tòa Thánh;
+ Mời gọi và nối kết mọi thành phần Dân Chúa để xây dựng Giáo hội, xây dựng Giáo phận: linh mục (thành lập Chủng viện), nữ tu (lập Dòng Mến Thánh Giá), giáo dân (lập Hiệp hội Tín hữu Mến Thánh Giá);
- Hoa trái thánh thiệncủa các ngài để lại chính là Giáo hội Việt Nam:
+ Với hơn 100.000 tử đạo gắn bó với Thập giá Chúa Giêsu;
+ 27 giáo phận với các chủng viện đào tạo linh mục;
+ 30 Hội Dòng Mến Thánh Giá;
+ Các Hiệp Hội Tín hữu Mến Thánh Giá.
Như vậy, khi “được ủy thác sứ mạng duy trì luôn mãi công trình của Chúa Kitô, vị Mục tử vĩnh cửu” (Christus Dominus 2), Đức cha Pallu và Đức cha Lambert đã cộng tác tích cực với nhau để “xây dựng Thân Thể Chúa Kitô” (Ep 4,12) là Giáo Hội” (Christus Dominus 1) tại Việt Nam.
PHẦN II. HƯỚNG TỚI VIỆC PHONG THÁNH CHO HAI VỊ GIÁM MỤC TIÊN KHỞI TẠI VIỆT NAM
Việc xin phong Chân phước và phong Thánh cho hai vị Đại diện Tông toà đầu tiên của Việt Nam, Đức Cha François Pallu và Đức Cha Pierre Lambert de la Motte, là thao thức mong mỏi chung của Hội đồng Giám mục và đặc biệt của các Nữ tu Dòng Mến Thánh Giá. Thao thức này đang được thực hiện qua việc nỗ lực tìm kiếm, sưu tầm, viết lại các chứng từ sống động liên quan đến Đức cha Pierre Lambert de la Motte và Đức cha François Pallu để hoàn tất bộ hồ sơ xin phong thánh.
Các chứng từ về các ngài bao gồm:
I. “Chứng Từ Lịch Sử Trên Văn Bản”: do Nhóm chuyên viên phụ trách
- Thủ bản của Đức cha Lambert và của Đức cha Pallu
- Các linh mục thừa sai đương thời với hai Giám mục viết về các ngài.
- Các sử gia đương thời, các sử gia uy tín hay những luận án tiến sĩ, thạc sĩ… về các ngài.
II. “Chứng Từ Lịch Sử Sống Động”
Đức cha Lambert và Đức cha Pallu đã xây dựng Giáo hội Việt Nam trên những nền tảng chung, cả về thể chế tổ chức và về tinh thần lẫn phương thức sống đạo. Hai Đức cha đã hết mình sống và chết cho sứ mạng loan báo Tin Mừng và xây dựng Giáo hội tại Việt Nam. Sự hy sinh của hai ngài đã và đang sinh hoa kết trái là một Giáo hội ngày càng trưởng thành đi lên trong dòng máu anh hùng của các chứng nhân đức tin. Có rất nhiều dấu tích của các ngài trong đời sống của Giáo hội Việt Nam suốt 350 năm qua.
1. Chứng Nhân Tử Đạo
Lịch sử Giáo hội Việt Nam ghi nhận hàng trăm ngàn Kitô hữu được phúc tử đạo, trong đó có 117 vị được nâng lên bậc hiển thánh và 1 chân phước Anrê Phú Yên. Một số Giáo phận hiện nay vẫn đang tiếp tục làm hồ sơ xin phong thánh cho các vị tử đạo trong Giáo phận của mình.
2. Một Giáo Hội Trên Đà Trưởng Thành
Trải qua 350 năm, từ 2 Giáo phận Tông tòa đầu tiên, giờ đây Giáo hội Việt Nam đang trên đà phát triển, gồm :
+ 3 Giáo tỉnh với 27 Giáo phận: Trên 120 Giám mục được tấn phong, trong đó có 6 vị nhận tước Hồng y;
+ Hơn 4.000 Linh mục;
+ 11 Đại Chủng viện với 2.803 chủng sinh trong niên khóa 2021-2022.
+ Khoảng 310 Dòng tu với tổng số tu sĩ gần 35.000;
+ Trên 4.500 Giáo xứ với khoảng hơn 7 triệu Giáo dân;
3. Gia Đình Mến Thánh Giá
+ 24 Hội dòng Mến Thánh Giá trong nước và 6 Hội dòng Mến Thánh Giá ở nước ngoài;
+ Khoảng 10.000 nữ tu và gần 1.000 tập sinh, với sự liên kết “đặc biệt” giữa Hội dòng Mến Thánh Giá và mỗi Giáo phận. Hầu hết các Giáo phận đều có lập Dòng Mến Thánh Giá. Và rất nhiều giáo xứ có cộng đoàn Nữ tu Mến Thánh Giá hiện diện và phục vụ trong giáo xứ.
+ Trên 15.000 hội viên Tín Hữu Mến Thánh Giá. Hiệp hội này luôn là cánh tay nối dài của Dòng Nữ Mến Thánh Giá trong cuộc sống để làm dậy men Phúc Âm ngay trong lòng giáo xứ của họ.
Quy tụ mọi thành phần dân Chúa trong Đại gia đình Mến Thánh Giá, Đức cha Lambert ước muốn xây dựng một Giáo hội truyền giáo xuyên qua Linh đạo Thánh Giá, nhấn mạnh chiều kích truyền giáo của tình yêu Thánh Giá[35]. Đó là một Giáo hội canh tân vì mục đích Phúc Âm hóa, “đến nỗi thiên hạ nói về họ như xưa dân ngoại đã nói về Israel : Dân Thiên Chúa chính là đây”[36].
Một hình ảnh sống động về “hoa trái thánh thiện” của Đức cha Lambert de la Motte là chứng từ của các nữ tu Mến Thánh Giá khấn trọn hằng năm: quyết định “khấn trọn” là 1 hành vi thánh thiện. Đây là quyết định “dâng hiến trọn cuộc đời mình cho Thiên Chúa để phục vụ chương trình cứu độ của Ngài”. Mỗi năm có trên 200 nữ tu khấn trọn, thuộc 30 Hội Dòng Mến Thánh Giá. Những nữ tu này đã được tác động bởi “linh đạo Mến Thánh Giá” của Đức cha Lambert. Ngoài ra, còn có chứng từ của các nữ tu đã sống lâu năm trong dòng Mến Thánh Giá: đặc biệt dịp kỷ niệm 25,50,60 năm khấn dòng với những chứng từ sống động được khơi nguồn từ Linh đạo Mến Thánh Giá. Điều này cho thấy linh đạo Mến Thánh Giá do Đức cha Lambert khởi xướng vẫn đang sống động trong lòng GHVN.
III. Phúc Lành Của Thiên Chúa qua các phép lạ
Một điều phải có trong hồ sơ phong thánh đó là các phép lạ như là dấu chỉ phúc lành đến từ thiên Chúa. Ước mong rằng sẽ có những người nhận được “phép lạ” qua sự chuyển cầu của 2 Giám mục tiên khởi François Pallu và Pierre Lambert de la Motte.
KẾT LUẬN
Ghi khắc công ơn của Đức cha Pierre Lambert de la Motte và Đức cha François Pallu, Giáo hội Việt Nam luôn ao ước sớm thấy các ngài được vinh hiển trong hàng ngũ các thánh. Đây là công việc chung của cả Giáo hội Việt Nam. Công việc này rất cần sự đóng góp của nhiều thành phần: (1) Các chuyên viên; (2) Mọi thành phần Dân Chúa : các Giám mục, các Linh mục, các Đại Chủng viện, các Hội Dòng Mến Thánh Giá và anh chị em Giáo dân, nhất là các Hiệp Hội Mến Thánh Giá Tại Thế.
Ước mong rằng vào năm 2034, kỷ niệm 375 năm Giáo hội Việt Nam được chính thức hình thành với sự bổ nhiệm hai Giám mục tiên khởi François Pallu và Lambert de la Motte[37], chúng ta sẽ dâng lời tạ ơn Thiên Chúa cách đặc biệt vì hồng ân đức tin mà Thiên Chúa đã ban tặng. Niềm vui này sẽ được tròn đầy hơn nếu hai vị Giám mục đầu tiên được tôn vinh qua cuộc đời “thánh thiện, hy sinh trọn vẹn” để chu toàn nhiệm vụ Loan báo Tin Mừng và xây dựng Giáo hội Việt Nam trên niềm tin son sắt vào Đức Giêsu Kitô Chịu-Đóng-Đinh, hầu mang ơn cứu độ cho nhân loại.
Nguyện xin Thiên Chúa nhân lành, qua lời chuyển cầu của Đức cha Pierre Lambert de la Motte và Đức cha François Pallu, chúc lành cho công việc tốt đẹp này sớm được hoàn thành.
Tài liệu tham khảo:
- P. LAMBERT DE LA MOTTE,Abrégé de Relation, AMEP, T. 121, T. 677 ; Journal 12/1675, AMEP, T. 877.
- Thánh Bộ Truyền Bá Đức Tin,Huấn thị 1659 dành cho các vị Đại diện Tông tòa đi đến các Vương quốc Trung Hoa tại Đàng Ngoài và Đàng Trong.
- Hội Đồng Giám Mục Việt Nam,Tiểu Sử Đức cha François Pallu & Đức cha Pierre Lambert de la Motte, NXB Tôn Giáo, 2020.
- Nhóm Nghiên Cứu Linh Đạo Mến Thánh Giá,Lịch Sử Dòng Mến Thánh Giá, 2018.
- Đào Quang Toản,Đức Cha Pallu và Dòng Mến Thánh Giá, 2010.
- DEYDIER François, Thư gửi Đức cha Pallu, ngày 01.11.1667, AMEP, T. 677.
- Đỗ Quang Chính, SJ.,Hai Giám mục đầu tiên tại Việt Nam, 2005.
- FAUCONNET-BUZELIN Françoise,Người Cha bị lãng quên của công cuộc truyền giáo hiện đại, Pierre Lambert de la Motte, Đại diện Tông tòa tiên khởi Đàng Trong, Nxb. Phương Đông, 2015.
- LAUNAY Adrien,Histoire générale de la Société des Missions Étrangères de Paris, t. I, Les Indes Savantes, 2003.
- Marie Fiat Trần Thị Tuyết Mai,Sứ mạng liên tục của Chúa Giêsu, theo quan điểm của Đức cha Lambert de la Motte (1624-1679) và công cuộc canh tân việc Phúc Âm hóa tại Châu Á, 2018.
- Marie Fiat,Về với cội nguồn Giáo hội Việt Nam, 2009.
- MOUSSAY Gérard et APPAVOU Brigitte ,Répertoire des membres de la Société des Missions Étrangères (1659-2004), ordre alphabétique suivi de l’ordre chronologique, Paris, AMEP, 2004.
- VACHET Bénigne,Chuyện Đức Cha Lambert, chuyển ngữ: Cao Kỳ Hương, 2005.
[1] Đỗ Quang Chính, SJ., Hai Giám mục đầu tiên tại Việt Nam, Tp. HCM, 2005, tr. 55-56, 59-60.
[2] Thánh Bộ Truyền Bá Đức Tin, Instructio vicariorum apostolicorum ad regna sinarum Tonchini et Cocincinae proficiscentium 1659 (Huấn thị 1659 dành cho các vị Đại diện Tông tòa đi đến các Vương quốc Trung Hoa tại Đàng Ngoài và Đàng Trong).
[3] Adrien Launay, Histoire générale de la Société des Missions Étrangères de Paris, t. I, Paris, Les Indes Savantes, 2003, tr. 41-43.
[4] Thánh Bộ Truyền Bá Đức Tin, Huấn thị 1659, III: Tại nơi truyền giáo.
[5] Gérard Moussay et Brigitte Appavou, Répertoire des membres de la Société des Missions Étrangères (1659-2004), ordre alphabétique suivi de l’ordre chronologique, Paris, AMEP, 2004, tr. 50 (Trong lược sử của hai Cha đi cùng với Đức cha Cotolendi là Louis Chevreuil và Antoine Hainques, chúng ta cũng thấy ghi cùng một ngày, họ rời Paris ngày 06.01.1661, nhưng xuống tàu ở Marseille, vĩnh viễn rời nước Pháp, ngày 03.09.1661).
[6] Nhóm Nghiên cứu Linh đạo Mến Thánh Giá (NNCLĐMTG), Lịch sử Dòng Mến Thánh Giá, 2018, tr. 60.64.75.93.
[7] Thánh Bộ Truyền Bá Đức Tin, Huấn thị 1659, II, 1: Lộ trình
[8] Gérard Moussay et Brigitte Appavou, Répertoire des membres de la Société des Missions Étrangères, tr. 52.
[9] Hội đồng Giám mục Việt Nam (HĐGMVN), Tiểu sử Đức cha François Pallu và Đức cha Pierre Lambert de la Motte, Nxb. Tôn giáo, 2020, tr. 10.12.14.22.
[10] Françoise fauconnet-buzelin, Người Cha bị lãng quên của công cuộc truyền giáo hiện đại, Pierre Lambert de la Motte, Đại diện Tông tòa tiên khởi Đàng Trong, Nxb. Phương Đông, 2015, tr. 347.
[11] Đào Quang Toản, Đức cha Pallu và Dòng Mến Thánh Giá, 2010, tr. 78.
[12] HĐGMVN, Tiểu sử Đức cha François Pallu và Đức cha Pierre Lambert de la Motte, tr. 87-88.
[13] Pierre Lambert de la Motte, Abrégé de Relation (Giản yếu ký sự), AMEP, T. 677, tr. 204.
[14] HĐGMVN, Tiểu sử Đức cha François Pallu và Đức cha Pierre Lambert de la Motte, tr. 89-90.
[15] NNCLĐMTG, Lịch sử Dòng Mến Thánh Giá, tr. 150-156.
[16] Nt., tr. 113-118.
[17] Nt., tr. 139-141.
[18] Nt., tr. 145-148.
[19] Nt., tr. 115-116.
[20] Nt., tr. 116.133-134.136.138.155.
[21] Nt., tr. 119.
[22] François Deydier, Thư gửi Đức cha Pallu, ngày 01.11.1667 (AMEP, T. 677, tr. 27).
[23] NNCLĐMTG, Lịch sử Dòng Mến Thánh Giá, tr. 170-173.
[24] Nt., tr. 185.
[25] P. Lambert de la Motte, Journal (Nhật ký) tháng 12/1675, AMEP, T. 877, tr. 574.
[26] NNCLĐMTG, Lịch sử Dòng Mến Thánh Giá, tr. 187.
[27] HĐGMVN, Tiểu sử Đức cha François Pallu và Đức cha Pierre Lambert de la Motte, tr. 34-39.
[28] Bénigne Vachet, Chuyện Đức cha Lambert, Cao Kỳ Hương chuyển dịch, Đào Quang Toản giới thiệu, 2013, tr. 38.
[29] HĐGMVN, Tiểu sử Đức cha François Pallu và Đức cha Pierre Lambert de la Motte, tr. 39-46.
[30] Cha François Deydier sinh ngày 28/9/1634 tại Toulouse, Pháp; chịu chức linh mục ngày 23/4/1657. Cùng với Đức cha Lambert và Cha Bourges, ngài rời quê hương đi truyền giáo vào ngày 27/11/1660. Sau bốn năm ở Xiêm La, ngài được Đức cha Lambert gởi sang Đàng Ngoài vào năm 1666, và được tấn phong Giám mục trong căn nhà bếp của mình ở Phố Hiến vào đêm ngày 21/12/1682. Với tư cách Giám mục hiệu tòa Ascalon và Tổng Đại diện Đàng Ngoài, ngài dấn thân phục vụ Tin Mừng 27 năm và an nghỉ trong Chúa vào ngày 01/07/1693 tại Phố Hiến. Ngài là người lập Chủng viện Việt Nam đầu tiên cũng như góp phần xây dựng Hàng Giáo Sĩ và Dòng Mến Thánh Giá tại Việt Nam.
[31] Cha Jacques de Bourges sinh năm 1634 tại Pháp. Sau khi chịu chức linh mục ngài lên đường truyền giáo với Đức cha Lambert và Cha Deydier năm 1660. Sau đó, ngài được gởi sang Đàng Ngoài năm 1669 và được bổ nhiệm làm Giám mục Đại diện Tông Tòa Tây Đàng Ngoài năm 1679, nhưng bị trục xuất khỏi Việt Nam năm 1713 và qua đời tại Thái Lan năm 1714, thọ 83 tuổi.
[32] HĐGMVN, Tiểu sử Đức cha François Pallu và Đức cha Pierre Lambert de la Motte, tr. 96-99.
[33] Nt., 48-49.
[34] Phần này dựa trên những ý kiến của các Giám mục trong cuộc họp Thường Niên của HĐGMVN vào tháng 4.2021 tại Nha Trang, do tác giả ghi lại.
[35] Marie Fiat Trần Thị Tuyết Mai, Sứ mạng liên tục của Chúa Giêsu, theo quan điểm của Đức cha Lambert de la Motte (1624-1679) và công cuộc canh tân việc Phúc Âm hóa tại Châu Á, 2018, tr. 22. 454.
[36] P. Lambert de la Motte, Abrégé de Relation (Giản yếu ký sự), AMEP, T. 121, tr. 759.
[37] Theo Cha Maurice Vidal và Cha Laurent Villemin, hai chuyên viên Giáo hội học thuộc Viện Đại học Công Giáo Paris : Giáo hội Việt Nam được chính thức hình thành vào ngày 09/09/1659 với sự bổ nhiệm hai Giám mục đầu tiên François Pallu và Lambert de la Motte. Về phương diện thần học và Giáo luật, ngay khi hội đủ ba yếu tố : Tin Mừng, Thánh Thể và Giám mục, lúc đó một Giáo hội địa phương được thành hình (Lumen Gentium 26 ; Giáo luật, điều 368-369. 371, § 1), (Marie Fiat, Về với cội nguồn Giáo hội Việt Nam, 2009, tr. 9-18).
