2021
Ngu dốt mới tin có Thiên Chúa?
Ngu dốt mới tin có Thiên Chúa?
Ở thời đại nầy mà còn có những người ngây ngô, kém hiểu biết phát biểu như sau:
-Điều gì mắt ta thấy mới có, không thấy không có !
-Chỉ những người ít học, ngu dốt, nghèo đói mới tin có Thiên Chúa !
-Thiên Chúa chỉ là sản phẩm của trí tưởng tượng, có thấy Thiên Chúa đâu mà có!.[1]
1.Thị lực lúc bình thường của mắt là 20/20, nghĩa là một vật thể ở cách xa mắt một khoảng cách 6m thì mắt vẫn có thể nhìn thấy rõ ràng[2]. Với khoảng cách đó, bạn có khả năng nhìn thấy hết mọi vật được không ? Trả lời đi. Viễn vọng kính tối tân nhất hiện nay có khả năng thấy được khoảng cách hơn 13 tỉ năm ánh sáng. Một năm ánh sáng tương đương với 9,5 nghìn tỷ km. Khoảng cách xa nhất của một hành tinh Nasa mới phát hiện cách xa trái đất nhất từ trước tới nay là 13.000 năm ánh sáng. Tiểu hành tinh nầy trong hệ mặt trời, còn vô số tiểu hành tinh trong cũng như ngoài hệ mặt trời mà khoa học chưa nhìn thấy[3]. Thế những gì con người chưa nhìn thấy, thì nó có hiện hữu trước không hay khi nào người con người nhìn thấy nó mới có? Vô số những chứng nghiệm thực tế trong đời sống chúng ta mà không cần trưng dẫn ra, cho thấy phát biểu: cái gì thấy mới có là một phát biểu quá kém! Chỉ nên có ở những người mù chữ mà thôi.
- Auguste Comte là một nhà triết học và xã hội học người Pháp[4], theo chủ nghĩa thực nghiệm. Theo ông thì cuối cùng, giai đoạn khoa học sẽ thắng thế và thay cho giai đoạn thần học cũng như siêu hình là giai đoạn phát sinh những sản phẩm tôn giáo. Khoa học sẽ loại bỏ những sản phẩm của óc tưởng tượng và của sự tha hoá. Con người dựa trên lý trí mà phê phán về mọi sự vật. Như thế, chỉ những gì thuộc phạm vi kinh nghiệm, thực nghiệm mới có thật. Do đó theo ông, con người có tôn giáo là con người sống trong giả tưởng, trong giai đoạn ấu trĩ của nhân loại, chưa biết gì về ánh sáng khoa học. Comte đã thất bại khi chủ trương như vậy, vì không phù hợp với thực tế, chính ông mới bị ảo tưởng về chủ trương của mình!
Theo thống kê năm 1992 của Giáo Hội Công giáo, năm đó số tín hữu là 950 triệu, chưa kể những giáo hội Kitô khác, trong đó: Châu Âu chiếm 80% dân số; Châu Mỹ chiếm 85% dân số; Châu Úc chiếm 80% dân số; Châu Á chiếm 7% dân số; Châu Phi chiếm 25% dân số.
Theo thống kê năm 2019, có 10 quốc gia đông tín hữu nhất thế giới: Brazil; Mexico; Philippines; Mỹ; Ý; Pháp; Colombia; Balan; Tây Ban Nha; Cộng Hoà Dân Chủ Congo.
Nhìn vào những thống kê nầy, ta có thể kết luận được theo lập luận của A.Comte là Châu Âu, Châu Mỹ, Châu Úc là những châu dốt nát, nghèo nàn hơn Châu Á, Châu Phi không?
Mười nước đông tín hữu nhất thế giới có phải là những nước kém trình độ nhất không?
3.Tôn giáo và khoa học không mâu thuẫn nhau, đối kháng nhau hoặc tôn giáo không ngăn cản sự phát triển của khoa học hoặc đà tiến bộ của con người; bởi vì tôn giáo không phải là đối tượng của khoa học, nghĩa là khoa học tự bản chất không có khả năng nói rằng có hay không có Thiên Chúa. Có biết bao nhiêu điều khoa học không thể quan sát, thực nghiệm được, nhưng vẫn có thực như: tư tưởng, ý chí, ký ức… huống chi là linh hồn, là Thiên Chúa. Nó cũng cho thấy rằng tôn giáo không chỉ là của những kẻ ngu dốt, nghèo đói, nhưng là của tất cả những ai thành tâm thiện chí và được ơn trên soi sáng. Những thống kê sau đây làm chứng:
*Nhà bác học A.Eynieu đã công bố bản thông kê của ông trong cuốn “La part des croyants dans les progrès de la science”[5]: Trong số 432 nhà bác học thuộc thế kỷ 19, có 34 người không có lập trường tôn giáo, còn lại 398 người phân chia như sau: 15 dửng dưng, 16 vô thần, 367 có tín ngưỡng, tức là 92%.
*Bác học Dennert ngừơi Đức cũng công bố bản điều tra của ông về tôn giáo của 300 nhà bác học lỗi lạc thuộc bốn thế kỷ vừa qua: 38 vị không rõ quan điểm, còn lại 262 vị thì 20 vị dửng dưng hay vô thần, 242 vị tin Thiên Chúa, tức là 92%.
*Trong một công trình độc lập tại Đại Học Chicago Mỹ mới công bố, 76% các bác sĩ nói họ tin vào Chúa, và 59% tin vào sự tồn tại của thế giới bên kia[6].
4.Phát biểu của một số nhà bác học nổi tiếng về Thiên Chúa[7]:
-Nhà bác học Louis Pasteur[8]: “Càng nghiên cứu khoa học, tôi càng tin vào Thượng Đế”; “Mỉa mai cho lòng dạ con người, nếu chết là hết hoặc chết là trở về với hư vô”.
-Bác học Isaac Newton[9]: “sở dĩ các thiên thể chuyển động nhịp nhàng được là nhờ cái hích đầu tiên của Thiên Chúa”; “Tôi thấy Thiên Chúa qua viễn vọng kính”.
-Abert Einstein[10], nhà vật lý học được coi là vĩ đại nhất của thế kỷ 20, đã phát biểu: “khoa học không có tôn giáo là mù loà…”; “Tôi chưa gặp điều gì trong khoa học của tôi mà lại đi ngược với tôn giáo”.
-Giáo sư James Simpson[11], người phát minh ra phương pháp gây mê: “Phát minh quan trọng nhất của đời tôi là tìm được Chúa Cứu Thế Giêsu”.
-Bác học Michel Eugène Chevreul[12]: “Tôi không thấy Thiên Chua, vì Người thiêng liêng, nhưngtôi thấy công trình tạo dựng của Người”[13].
-Diderot[14]: “Chỉ cần con mắt và cái cánh của con bướm, cũng đủ diệt tan mọi lý lẽ của kẻ vô thần”.
-Nhà thiên văn Johannes Kepler[15]: “Thiên Chúa thật vĩ đại. Quyền năng Người vĩ đại và sự khôn ngoan thì vô hạn…”.
-Nicolaus Copernicus[16]: “Ai có thể sống cận kề với một trật tự hoàn bị nhất và trí năng siêu vượt của Thiên Chúa mà không cảm thấy dâng trào những cảm hứng cao quý?”.
-Alexandro Volta[17]: “Tôi tạ ơn Thiên Chúa đã ban cho tôi đức tin nầy, nhờ đó mà tôi có một ý hướng vững chắc để sống và chết”.
-André-Marie Ampère[18]: “Thiên Chúa vĩ đại biết bao và khoa học của chúng ta chỉ là chuyện vặt vãnh”.
*Người Việt Nam cũng tin có Trời, như là Đấng làm chủ mưa nắng:
Lạy Trời mưa xuống, Lấy nước tôi uống
Lấy ruộng tôi cày, Cho đầy bát cơm
Lấy rơm đun bếp…
***
Không kể hết được những chứng nhân về Thiên Chúa trong giới bác học, nhưng thiết nghĩ chừng đó cũng đủ để kết luận được rồi. Ấy thế mà trên đời nầy lại có những kẻ học hành chẳng bao nhiêu, sống chưa từng trải, mà lại dám hiên ngang công khai đưa ra những phát biểu kém cỏi, chứng tỏ sự ngu dốt của mình, giống như một anh nông dân chưa thạo cày bừa mà lại lên lớp cho một kỹ sư cơ khí về việc sửa chữa máy móc. Thật là nực cười!
(Vinh An, mùa dịch 21)
Lm.Anphong Nguyễn Công Vinh
*Xin chia sẻ cho người khác
[1] X. Lm.Anphong Nguyễn Công Vinh, Tìm Về Sự Thật, số 2, NXB Tôn Giáo, Hà Nội 2006.
[2] https//www.vinmec.com < tin-tuc
[3] https://khoahọc.tv>phat-hien-hanh
[4] 1978-1857
[5] Số những người có đức tin góp phần trong tiến bộ khoa học.
[6] Vnexpress.net/ theo LiveScience.
[7] Nguontinhyeu.com
[8] 1882-1895, nhà sinh học, vi sinh vật học, nhà hoá học
[9] Người phát minh ra định luật hấp dẫn vũ trụ.
[10] 1879-1955.
[11] 1811-1870.
[12] 1786-1889, nhà hoá học.
[13] 1786-1889.
[14] 1713-1784,nhà văn nổi tiếng và nhà triết học.
[15] 1571-1630, môt trong những nhà thiên văn vĩ đại nhất.
[16] 1473-1543, nhà thiên văn học và là người xướng xuất thuyết nhật tâm.
[17] 1745-1827, người khám phá ra các ý niệm cơ bản về điện.
[18] 1775-1836, nhà vật lý phát mình ra điện từ trường.
2021
Tâm sự với người đã khuất…
Tâm sự với người đã khuất…
Sau khi chiếc quan tài của bạn lạnh lùng được hạ sâu xuống lòng đất xong, mọi người ra về mà lòng không khỏi bùi ngùi, xót xa và thương tiếc. Bởi đó là cuộc chia tay vĩnh viễn, để không bao giờ có thể nhìn thấy bạn nữa!…
Chúng tôi không thể hiểu được tại sao ngày hôm trước mới gặp nhau nhưng rồi ngày hôm sau bạn đã âm thầm lặng lẽ ra đi. Hình ảnh đau xót nhất có lẽ là khi chúng tôi phải chứng kiến cảnh tượng bạn nằm đó mà nghìn trùng xa cách…
Xưa nay mọi người vẫn thường tự hỏi “Không lẽ kiếp người lại bi đát đến thế sao?”. Vâng, sự ra đi của bạn hiển nhiên là một quy luật bất di bất dịch của kiếp nhân sinh. “Sinh, bệnh, lão, tử”.
Nhưng hôm nay chính sự ra đi của bạn đã phục sinh tâm trạng và ý nghĩ của chúng tôi – những người đang còn “lang thang cõi trần” – về số phận của mình.
Bạn ra đi nhưng bạn vẫn còn đó. Chúng tôi tin như thế. Bạn nhắm mắt xuôi tay nhưng đó không phải là sự khép lại của cuộc sống, mà chính là sự chấm dứt của hữu hạn để mở ra vô hạn. Cái chết được nhìn nhận như một bản lề của cuộc sống. Sự im lặng của bạn chính là sự thăng hoa đã đạt đến tột đỉnh. Bạn đã về nhà Cha, ở chốn cao hơn, xa hơn…
Chúng tôi chạnh lòng nghĩ đến một nghịch lý này, đó là trong khi chúng tôi đang than khóc, tiếc nuối cho bạn thì bạn lại đang thương xót cho chúng tôi. “Sinh ký tử quy”, bạn đã đến được chỗ phải đến, đã kết thúc cuộc hành trình “Một cõi đi về”. Ngày hôm nay, sở dĩ bạn im lặng là vì cuộc sống và con người của bạn đã biến đổi. Bạn đã vượt qua không gian và thời gian để đi vào thực tại mênh mông diệu vợi của vĩnh cửu, của vô tận.
Bạn đang cao hơn, xa hơn…là chúng tôi tưởng!
Chính vì bạn cao hơn, xa hơn, kỳ diệu hơn nên chúng ta không thể “nói với nhau” bằng những cách thông thường. Nhưng bạn vẫn có “tín hiệu” đấy chứ? Trong im lặng thẳm sâu của lòng mình, chúng tôi đã nghe được “tín hiệu” của bạn. Bạn không còn sử dụng những hoạt động bình thường như nói, nghe, suy nghĩ, cười, khóc…nữa mà duy nhất giữa chúng ta hiện hữu một sự “giao cảm” đặc biệt. Đó cũng là một sự thông hiệp kỳ diệu, gần gũi và sâu xa vô cùng.
Trong sự thông hiệp này, điều cần thiết và quan trọng là chúng tôi không “nói” gì mà trái lại cần “nghe” bạn nhiều hơn. Lý do chính là vì bạn đã quá hiểu cuộc sống này rồi. Phần chúng tôi, chúng tôi hoàn toàn chưa có một chút kinh nghiệm nào về cuộc-sống-sau–cái-chết cả!
Bởi vậy, bắt được “tín hiệu” của bạn để “nghe” bạn “nói”, quả thực, là một điều hấp dẫn và thú vị vô cùng. Vì bạn là một Kitô hữu đích thực nên chúng tôi tin rằng bạn đang hiện hữu và hiện diện như Đức Kitô, bởi vì bạn đã ở trong Ngài, đã thuộc về Ngài. Mà Đức Kitô thì hằng sống. Vậy bạn cũng đang sống, đang hoạt động với Ngài, nhờ Ngài và trong Ngài.
Thông điệp của bạn không gì khác hơn là sứ điệp của Đấng Phục Sinh và của Thiên Chúa.
Bạn sẽ nhắc bảo chúng tôi rằng: “Về Thiên Chúa chỉ có một điều cần và đủ để nói, đó là YÊU THƯƠNG”. Bí mật của Thiên Chúa mà bạn muốn thông chia cho chúng tôi cũng là lời mạc khải của thánh Gio-an: “Thiên Chúa là Tình Yêu”(1Ga 4, 16).
Thật là đơn giản nhưng chắc chắn bạn đang hạnh phúc tràn đầy với “thực tại đơn giản” ấy. Hiện tại, chúng tôi chỉ có thể chạm vào sự thật đơn giản ấy bằng lòng tin yêu và hy vọng, còn bạn, bạn đã “sở hữu” được rồi. Thiên Chúa như thế nào, bạn đã “xem thấy” như vậy.
Đôi lúc, vì còn trong thân xác, nên chúng tôi không hiểu rằng sở dĩ bạn “im lặng”, có khi đến lạnh lùng, chỉ vì bạn đã ở trong cõi vĩnh hằng của Thiên Chúa. Bạn vô hạn còn chúng tôi hữu hạn. Bạn tuyệt đối còn chúng tôi tương đối. Bạn bất tử còn chúng tôi đang hành trình vượt qua.
Hiện tại, khoảng cách giữa bạn và chúng tôi, xa mà gần, gần mà xa. Nhưng có một điều chắc chắn là bạn đang hút chúng tôi về với bạn. Bởi vì bạn muốn chúng tôi cùng chia sẻ hạnh phúc vĩnh cửu với bạn. “Phúc cho những ai đã chết, mà chết trong Chúa” (Kh 14,13) ./.
Aug. Trần Cao Khải
2021
Bổn phận của người còn sống
Bổn phận của người còn sống
Hàng năm, giáo hội dành riêng tháng 11 để cầu nguyện cho các đẳng Linh hồn, là những người đã qua đời trong ân nghĩa của Thiên Chúa, nhưng hiện nay vẫn đang phải chịu giam giữ nơi luyện ngục, vì những thiếu xót mà họ làm chưa tốt khi còn sống nơi trần gian.
Bây giờ, người đã qua đời không còn tự mình lập công được nữa nên chỉ trông mong vào lời cầu nguyện của những người còn sống. Vì thế, cầu nguyện cho các linh hồn không chỉ là một việc làm bác ái mà còn là một bổn phận của chúng ta, những người còn đang sống nơi trần thế này, như thánh Gioan Vianey nhắc nhở “Mọi tín hữu phải cầu nguyện thật nhiều cho các linh hồn nơi luyện ngục, để các linh hồn mau về hưởng hạnh phúc trên nước Thiên đàng”.
Ý thức được bổn phận của người còn sống đối những người đã khuất, nên các cha xứ đã mời gọi người giáo dân, ngoài việc trang trí phần mộ cho người thân nơi đất thánh, còn kêu gọi họ tham dự thánh lễ hàng ngày trong tháng 11 để cấu nguyện cho người thân đã qua đời. Cầu nguyện cho các linh hồn trong Luyện hình cũng là dịp để chúng ta nhớ đến thân phận của mình. Mai sau, khi đến lượt chúng ta nhắm mắt lìa đời, chúng ta cũng sẽ vào Luyện Hình để chịu sự thanh luyện của Thiên Chúa. Do vậy mỗi khi cầu nguyện cho các linh hồn, chúng ta được mời gọi sống tốt và sống thánh thiện hơn trong cuộc sống hiện tại của người Kitô hữu, hầu sau này khi chết, chúng ta cũng sẽ được hưởng hạnh phúc Thiên Đàng với Chúa..
Không chỉ kêu gọi giáo dân cầu nguyện cho các linh hồn, các cha xứ còn khuyến khích và tập cho thế hệ trẻ trong giáo xứ có lòng thảo kính đối với những người đã qua đời, làm những việc hy sinh để cầu nguyện cho các ngài. Khi thánh lễ được tổ chức tại đất thánh, giới trẻ được phân công làm công tác chuẩn bị cho thánh lễ như dọn nghĩa trang, bàn thờ, phụng vụ thánh lễ, âm thanh, ánh sáng… là để nhắc nhở họ có bổn phận hy sinh làm công việc này vì các linh hồn. Sự hy sinh kết hợp với thánh lễ và lời cầu nguyện thì chắc chắn linh hồn những người thân của chúng ta sẽ sớm được hưởng nhan thánh Chúa.
Ngoài ra, Cha xứ còn tập cho các em thiếu nhi có lòng hiếu thảo với những người đã qua đời, như hướng dẫn các em xưng tội, tham dự thánh lễ, rước lễ mỗi ngày và làm việc ân xá để cầu nguyện cho các linh hồn, đồng thời khuyến khích các em trong tháng cầu hồn biết siêng đọc kinh mân côi và viếng đất thánh sau thánh lễ hoặc sau lớp học giáo lý để cầu nguyện cho các linh hồn người đã khuất được cứu thoát khỏi luyện ngục.
Ở gia đình, cha mẹ cũng có bổn phận nhắc nhở con cái phải có lòng thảo kính với Ông bà tổ tiên, ngoài việc đọc kinh, viếng nghĩa trang, dâng thánh lề cầu nguyện cho linh hồn người thân, còn khuyên họ luôn nhớ xin lễ cầu nguyện cho các linh hồn có thể hàng tuần, hàng tháng hay một năm mấy lần tùy theo khả năng. Khi chúng ta cho ai điều gì đó là lúc chúng ta cũng được nhận lại, vì mọi thứ sẽ không mất đi. Cũng vậy, khi chúng ta cầu nguyện cho các đẳng linh hồn,thì các ngài nơi luyện ngục luôn nhớ tới những người nơi trần thế và hằng cầu bầu trước mặt Chúa cho chúng ta.
Thực vậy, khi cầu nguyện cho các đằng linh hồn không những giúp các ngài mau hưởng hạnh phúc Thiên Đàng mà chúng ta còn được thêm ơn ích nữa. Đó là chúng ta sẽ có tương quan gần gũi với Thiên Chúa, cảm nhận được tình thương của Chúa, để từ đó chúng ta biết sống yêu thương, biết quan tâm nghĩ đến người khác, biết sống quảng đại tha thứ và không ích kỷ. Đặc biệt chúng ta sẽ cảm nhận những gì chúng ta đang làm nơi trần thế này sẽ được Chúa chúc phúc để sinh ich cho người còn sống cũng như người đã qua đời.
Sr. Nguyễn, op
2021
Mục vụ giới trẻ theo hướng dẫn của Đức Thánh Cha Phanxicô
“Giới trẻ ngày nay”. Đó là những lời vừa tích cực, vừa tiêu cực người lớn dùng để đối chiếu giới trẻ hôm nay với họ thời còn trẻ. Nhiều người rất thích, rất kỳ vọng nơi giới trẻ. Nhưng không ít người vẫn nhìn giới trẻ bằng những thành kiến, cho rằng giới trẻ ngày nay không còn biết vâng lời, lao động, tôn giáo, luân lý là gì nữa[1].
Đức Thánh Cha Phanxicô gọi những người tuổi từ 16 đến 29 là người trẻ[2]. Đây là cả một thế giới vừa phong phú, vừa khác biệt. Thái độ của họ rất đa dạng trước đức tin, trước Hội Thánh và nhất là trước những vấn đề luân lý. Bản thân của mỗi người trong họ rất phức tạp, sáng khác, chiều khác, vừa lên tiếng chống đối hôn nhân thì đùng một cái lại thành anh si tình[3].
Người ta vẫn coi giới trẻ là tương lai của thế giới, nhưng Đức thánh cha Phanxicô lại coi họ là hiện tại của thế giới vì họ đang làm phong phú thế giới ấy[4]. Ngài còn khẳng định, không có giới trẻ mà chỉ có những người trẻ với những thực tại riêng của họ[5].
I. NHỮNG NGƯỜI TRẺ HÔM NAY
Người trẻ hôm nay rất đa dạng. Có những người, vì đức tin, đã phải đấu tranh giữ vững địa vị của mình, phải chịu nhiều bắt bớ, kể cả cái chết[6]. Một số bạn trẻ lại thấy người lớn không chuyển giao cho họ những giá trị căn bản về sự sống và gặp nhiều khó khăn trong việc truyền bá đức tin trong các quốc gia không tôn trọng tự do ngôn luận[7].
Có những người đang sống trong các vùng chiến tranh, đang có kinh nghiệm về bạo động dưới mọi hình thức: bắt cóc, tra tấn, tội phạm có tổ chức, buôn người, nô lệ, khai thác tình dục, bạo hành tình dục. Những người khác vì áp lực hay không còn chọn lựa nào khác phải sống bằng cách tham gia các băng nhóm tội phạm có vũ trang, buôn bán ma túy, khủng bố. Những tội phạm này cùng với đủ mọi thứ nghiện ngập đã khiến họ rơi vào vòng lao lý[8].
Những người khác do vướng vào các ý thức hệ, bị lạm dụng, khai thác trở thành bia đỡ đạn hay thành các lực lượng biểu tình tàn phá, khủng bố, chế nhạo, căm thù người khác, thành mục tiêu của các thế lực kinh tế, chính trị có tính hủy diệt[9].
Những người còn lại phải gánh chịu sự kỳ thị, bị loại trừ vì lý do chủng tộc và tôn giáo. Nhiều thiếu niên có thai, phá thai, những em khác lại nghiện ngập ma túy, bài bạc, các thứ dâm ô[10].
Một số bạn trẻ cảm thấy đau đớn vì thất bại, sai lầm, và mặc cảm tội lỗi trong quá khứ. Họ cảm thấy sự kỳ thị, bất công và không được yêu thương, chăm sóc[11].
Tuy nhiên, ta cũng thấy được những khía cạnh tích cực nơi người trẻ, đó là một khát vọng Thiên Chúa, tuy còn mờ nhạt và không phải là Thiên Chúa của mặc khải. Một số khác tha thiết với tình huynh đệ, khao khát phát huy tài năng. Những người khác lại có một sự bén nhạy đặc biệt về nghệ thuật hay khát mong sự hài hòa với thiên nhiên, và nhu cầu truyền thông. Nơi những người khác ta lại thấy sự khắc khoải muốn sống khác. Trong tất cả những thứ ấy, ta có thể tìm được những khởi điểm, các tài nguyên nội tâm mở ra cho sự khôn ngoan và khích lệ[12].
II. MÔI TRƯỜNG CỦA CÁC NGƯỜI TRẺ HÔM NAY
Thượng Hội đồng Giám mục đưa ra ba khía cạnh quan trọng nhất của xã hội hôm nay[13]:
1. Môi trường kỹ thuật số
Chúng ta đang sống trong một nền văn hóa kỹ thuật số cao, một nền văn hóa tác động sâu đậm trên ý thức về thời gian và không gian, về việc biết mình, biết người khác và thế giới chung quanh, về khả năng truyền thông, học hỏi và mối tương quan với tha nhân và thế giới. Khi tiếp cận thực tại, hình ảnh được ưa chuộng hơn việc lắng nghe đã khiến con người ngày nay khó phát huy được cảm thức phê phán[14].
Các phương tiện truyền thông hôm nay đem lại cho con người nhiều cơ hội đối thoại, gặp gỡ, trao đổi, giúp tiếp cận được các thông tin độc lập, tạo được những diễn đàn gặp gỡ người trẻ[15]. Thế nhưng môi trường kỹ thuật số cũng là môi trường của cô đơn, thao túng, bóc lột và bạo động, đó là chưa kể các trang đen, truyền bá dâm ô và nạn người khai thác người vì mục đích tình dục, đẩy người ta tới nguy cơ nghiện ngập, cô lập mất dần cảm thức về thực tại cụ thể, chặn đứng những mối tương quan liên vị[16].
Thế giới kỹ thuật số này cũng tạo ra các lợi nhuận khổng lồ về kinh tế, khiến người ta có thể điều khiển lương tâm con người và tiến trình dân chủ, Vì đánh mất sự thật, thế giới này quảng bá các thông tin giả và bóp méo sự thật để kiếm lời[17]. Thế giới ảo này cũng tạo nên “cuộc di dân kỹ thuật số”, kéo theo việc thoát ly gia đình và loại bỏ các giá trị tôn giáo và văn hóa[18].
2. Di dân
Di dân là một hiện tượng thuộc cơ chế chứ không phải là một hiện tượng nhất thời. Di dân có nhiều lý do, có thể do sự hấp dẫn của xã hội phương Tây[19], có thể vì muốn thoát khỏi chiến tranh, bạo động và những cuộc bắt bớ về văn hóa và tôn giáo. Di dân làm ta nhớ mình chỉ là người xa lạ, người lưu đày nơi dương thế (Hr 11, 13). Những người di dân có thể làm phong phú nền văn hóa và kinh tế tại những nơi đón nhận họ, nhưng cũng có thể thành nạn nhân khốn khổ của xã hội ấy[20]). Để tránh tình trạng bị lạm dụng, Đức thánh cha Phanxicô khuyến dụ các bạn trẻ, không nên để người ta sử dụng mình chống lại những người trẻ mới tới đất nước mình, coi họ là một mối đe dọa và không bình đẳng về phẩm giá với những người khác[21].
3. Các hình thức lạm dụng
Có nhiều thứ lạm dụng như lạm dụng quyền bính, lạm dụng lương tâm, lạm dụng tình dục và tài chính. Chủ nghĩa giáo sĩ là một cám dỗ thường xuyên đối với những linh mục nào coi thừa tác vụ của mình là việc thực thi quyền bính chứ không phải là một sự phục vụ tự do và quảng đại[22]. Nhưng có lẽ lạm dụng tình dục trẻ vị thành niên là quái đản nhất, đáng phải chịu cơn thịnh nộ của Thiên Chúa, của Hội thánh và con người[23].
Người trẻ hôm nay đang sống trong một xã hội như thế, Hội thánh phải đến với họ và cho họ những gì để sự hiện diện và hoạt động của họ thật sự làm phong phú Hội thánh và xã hội về mọi mặt, nhất là mặt tâm linh.
III. MỤC VỤ GIỚI TRẺ
Đức thánh cha, trong Tông huấn Christus Vivit, nhấn mạnh:
Mục vụ giới trẻ, như vẫn được thực hiện cách truyền thống, đã và vẫn đang chịu tác động lớn bởi những thay đổi về văn hóa và xã hội, nên cả cộng đoàn phải tham gia vào việc tin mừng hóa giới trẻ[24].
1. Người trẻ là tác nhân chính của mục vụ giới trẻ
Người trẻ chính là tác nhân chính của mục vụ giới trẻ, nên cần giúp họ sử dụng nhận thức, hiểu biết, sự chân thành và ngôn ngữ của mình để diễn tả những vấn đề và quan tâm của những người trẻ khác[25].
Cần có những kiểu cách và chiến lược mới, chương trình cần uyển chuyển, mời họ đến với các sự kiện không chỉ để học mà còn để trao đổi, ăn mừng, ca hát, nghe các chuyện thật và kinh nghiệm về việc cùng gặp gỡ vị Thiên Chúa đang sống[26]
Cần để tâm tới mọi phương pháp, ngôn ngữ có thể đưa người trẻ tới với Đức Kitô và Hội thánh, tận dụng mọi sự có thể đem lại kết quả tốt đẹp để truyền bá niềm vui Tin mừng[27].
Cần đồng hành và tạo điều kiện cho người trẻ được đồng trách nhiệm, nghĩa là đón nhận với lòng biết ơn những đóng góp của người trẻ, cả giáo dân lẫn người thánh hiến[28].
Thượng Hội đồng yêu cầu dẹp bỏ những phương pháp nào không đem lại kết quả, không thể đối thoại với nền văn hóa của người trẻ hôm nay[29].
2. Tiến trình hành động chính
Sau khi đưa ra những đề nghị trên, Tông huấn đề cập tới hai tiến trình hành động chính: quá trình tiếp cận tức cách hấp dẫn những người trẻ mới đến với một kinh nghiệm nào đó về Chúa và phát triển, giúp những người đã có kinh nghiệm về Chúa trưởng thành trong kinh nghiệm ấy.
3. Ta sẽ chỉ dừng lại với tiến trình thứ hai: phát triển
Tông huấn nhìn nhận, tại một số nơi, Hội thánh đã giúp người trẻ có được một kinh nghiệm sâu sắc về Thiên Chúa, có được cuộc gặp gỡ Đức Kitô đánh động lòng họ. Nhưng sau đó là hàng loạt các buổi gặp gỡ nói về những vấn đề tín lý và luân lý, những sự xấu trong thế giới hôm nay, về Hội thánh, học thuyết xã hội của Hội thánh, khiết tịnh, hôn nhân, kế hoạch hóa gia dinh…, khiến nhiều người trẻ chán ngán, không còn tha thiết với việc gặp gỡ Đức Kitô và đánh mất niềm vui của việc đi theo Ngài, họ trở thành thất vọng hoặc tiêu cực. Vi thế, Tông huấn kêu gọi trước hết cần thức tỉnh và củng cố những kinh nghiệm lớn đang nuôi dưỡng đời sống Kitô hữu[30]. Đó là phát triển kinh nghiệm nền tảng của việc gặp gỡ Thiên Chúa nhờ sự chết và phục sinh của Đức Kitô và lớn lên trong tình huynh đệ, đời sống cộng đoàn và phục vụ[31].
4. Việc gặp gỡ Thiên Chúa
Việc gặp gỡ Thiên Chúa nhờ sự chết và phục sinh của Chúa Giêsu quan trọng đến độ Tông huấn quả quyết: “mọi nền đào tạo Kitô giáo đều phải bao hàm việc đi sâu hơn vào trong Kerygma”[32] và phải làm cho chúng nhập thể vào đời ta cách trọn vẹn hơn. Vì thế mục vụ giới trẻ phải bao hàm những cơ hội canh tân và đào sâu kinh nghiệm đích thân về tình yêu Thiên Chúa và về Đức Kitô đang sống[33].
Muốn thế, cần tạo cho người trẻ tinh thần cầu nguyện, chiêm ngắm và sống mầu nhiệm vượt qua của Đức Kitô.
5. Cầu nguyện
Không cầu nguyện thì không thể làm gì cho Thiên Chúa, cho Hội thánh, cho con người và cho chính mình. Các thánh luôn có tinh thần cầu nguyện và nhu cầu hiệp thông với Thiên Chúa, luôn khát mong Thiên Chúa, luôn quên mình để ca tụng và chiêm ngắm Chúa[34]. Nên:
– Cần giúp người trẻ biết khát vọng Thiên Chúa và diễn tả khát vọng ấy ra trong đời sống hằng ngày: ăn, uống, trò chuyện với người khác, hay làm bất cứ việc gì, giúp họ luôn đến với Thiên Chúa và hết lòng gắn bó với Ngài.[35]
– Giúp họ thiết lập sự thân tình với Chúa Giêsu, vì Ngài không bao giờ bỏ họ, tuy có lúc im lặng. Khi họ cần Ngài, Ngài liền có mặt (Gr 29, 14), họ đi bất cứ đâu, Ngài cũng vẫn đồng hành (Jos 1, 9). Ngài không bao giờ hủy bỏ giao ước nhưng luôn xin họ “ở lại trong Ngài” (Ga 15, 4). Và dẫu họ lầm đường lạc lối, Ngài vẫn cứ thủy chung (2 Tim 2, 13)[36]
– Giúp họ cầu nguyện luôn, vì cầu nguyện làm cho họ có thể chia sẻ với Chúa mọi khía cạnh của cuộc sống, có thể tin tưởng nghỉ ngơi trong vòng tay Ngài, có thể tham dự vào sự sống và tình yêu của Ngài. Khi cầu nguyện, họ làm tất cả mọi sự cho Ngài[37].
– Vì cầu nguyện “là giao tiếp thân mật và thường xuyên chuyện trò một mình với Đấng ta biết là luôn yêu thương ta”[38], nên cần giúp giới trẻ thường xuyên nói chuyện với Thiên Chúa như với người yêu mình về mọi sự xảy ra cho đời mình[39], giúp họ mở lòng ra cho sự gặp gỡ diện đối diện với Thiên Chúa, hầu có thể nghe được tiếng thì thầm của Chúa trong thinh lặng[40].
– Trong sự thinh lặng ấy và dưới ánh sáng của Thần Khí, giúp họ nhận ra Chúa đang mời gọi họ đi trên những con đường thánh thiện nào. Nếu không, các quyết định của họ có thể chỉ là vẻ lòe loẹt bên ngoài. Điều thiết yếu là dành thời gian ở với Chúa, lắng nghe lời Ngài, và luôn học với Ngài[41].
– Vì cầu nguyện xin ơn là cách diễn tả một tâm hồn phó thác cho Thiên Chúa, nên cần giúp người trẻ biết trân trọng việc cầu nguyện này, tâm hồn họ sẽ yên tĩnh và kiên trì trong hy vọng.
– Chuyển cầu có một giá trị đặc biệt, diễn tả mối tương quan huynh đệ của ta với tha nhân, nên cần giúp người trẻ biết cầu nguyện cho người khác, nhất là những người đau khổ, để họ xứng đáng với lời ca tụng: “Đây là người yêu thương anh em mình và cầu nguyện nhiều cho dân chúng” (2 Mcb 15, 14)[42].
– Vì “Lời Chúa là ngọn đèn soi cho con bước, là ánh sáng chỉ đường con đi” (x. Tv 119, 105), nên cần giúp người trẻ đọc lời Chúa trong tinh thần cầu nguyện (Tv 119, 103) để Lời ấy biến đổi cuộc đời họ và giúp họ làm cho việc tôn sùng lời Chúa thành trọng tâm và căn tính của đời mình[43].
– Khi họ đón nhận Chúa Giêsu nhờ việc Hiệp lễ, cần giúp họ để Ngài thực hiện cách trọn vẹn hơn công trình biến đổi đời sống họ[44].
6. Kết hợp với Chúa Giêsu trong cuộc khổ nạn và phục sinh của Ngài
– Giúp họ chiêm ngắm dung nhan Chúa Giêsu, chết và phục sinh, vì việc chiêm ngắm ấy luôn phục hồi loài người, cả khi họ đang bị các rắc rối trong cuộc đời này tàn phá[45]. Khi nhìn vào dung nhan Đức Kitô, họ sẽ cảm thấy mình được chữa lành và biến đổi, sẽ thấy mình đang đi vào trong cõi lòng của Chúa, vào trong các thương tích của Ngài, vì đó là nơi ở của lòng thương xót của Thiên Chúa[46].
– Nhất là giúp họ kết hợp bản thân mình với sự chết và phục sinh của Chúa[47] qua việc mang lấy tâm tư của Chúa Giêsu khi Ngài chết trên thập giá. Khi chết trên thập giá, Chúa Giêsu đã bình thản để cho Cha có toàn quyền trên mạng sống, danh dự và sự nghiệp của Ngài vì tin rằng Cha chỉ muốn điều tốt lành cho Ngài. Kitô hữu cũng phải thế. Khi chấp nhận chết trên thập giá, Chúa Giêsu đã trút đổ mình cho tới cùng, nên Cha đã làm đầy Ngài bằng chính Cha, đến độ nghe Danh thánh Ngài, mọi gối phải quỳ xuống bái lạy và mọi miệng lưỡi phải tuyên xưng, Đức Giêsu Kitô là Chúa (Pl 2, 11). Kitô hữu cũng phải thế. Trên thập giá, Chúa Giêsu đã cầm lấy mọi sự Ngài lãnh nhận, đặt vào trong tay Cha thế nào, thì Kitô hữu cũng được mời gọi sống y như thế.
Sống trọn vẹn mầu nhiệm sự chết này của Chúa Giêsu, họ sẽ chói chang vinh quang phục sinh của Ngài. Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận[48] đã đích thân kết hợp với cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu khi đón nhận kiếp tù tội mà không được xét xử, tức không có tội, cách phi thường, nên đã chinh phục được nhiều người về cho Chúa[49].
Giúp họ không ngừng chết và trỗi dậy cách mới mẻ với Đức Kitô, làm phát sinh trong cuộc sống họ các khía cạnh khác nhau của cuộc sống trần thế của Ngài, để cho các khía cạnh ấy nhập thể vào trong các chọn lựa và thái độ của họ[50]. Ai kết hợp với Chúa Giêsu thì cũng sẽ yêu thương, phục vụ và tha thứ như Ngài.
7. Lớn lên trong tình huynh đệ, đời sống cộng đoàn và phục vụ
Các giám mục New Zealand đã dạy ta cách chí lý rằng ta có thể yêu thương bằng tình yêu vô điều kiện của Thiên Chúa, vì Chúa phục sinh vẫn luôn chia sẻ cuộc sống đầy quyền năng của Ngài với cuộc đời mỏng giòn của ta. Tình yêu ấy vô điều kiện và luôn trung thành. Khi ta cố yêu như Đức Kitô đã yêu thương ta, chính là lúc Đức Kitô đang chia sẻ với ta sự sống phục sinh của Ngài[51], vì “Đức Kitô làm cho ta có thể sống trong Ngài tất cả những gì Ngài đã sống, và Ngài đang sống tất cả những cái ấy trong ta”[52].
8. Xây dựng tình huynh đệ và môi trường huynh đệ
Chính vì thế mà Đức thánh cha Phanxicô nhấn mạnh rằng mục vụ giới trẻ phải tận dụng các phương thế và tài nguyên, để giúp họ lớn lên trong tình huynh đệ, sống với nhau như anh chị em, giúp đỡ lẫn nhau, xây dựng cộng đoàn, phục vụ và gần gũi người nghèo. Ngài còn nhấn mạnh, nếu tình huynh đệ là “điều răn mới” (Ga 13, 34), và là cách tốt nhất để diễn tả lòng yêu mến ta dành cho Thiên Chúa, thì đây chắc chắn phải là ưu tiên số một trong chương trình mục vụ giới trẻ.
Vì con người nói chung và giới trẻ nói riêng đang cảm thấy bị mồ côi, bị mất gốc, nên cần tạo nên một môi trường cởi mở và yêu thương, hấp dẫn và đầy tình huynh đệ nơi người ta có thể sống có mục đích[53]. Như thế cũng là tạo nên một gia đình, nơi người ta cảm thấy được gắn kết với nhau không chỉ bằng các mối dây thực tiễn và thực dụng mà gắn kết với nhau theo cách có tính người hơn, bớt hờ hững lạnh lùng hơn, làm việc chung với nhau, không loại trừ ai, nhẫn nại, tha thứ cho nhau và bắt đầu lại mỗi ngày[54].
Tạo nên một gia đình như thế rất quan trọng vì khi ta sống tách biệt với tha nhân, ta khó có thể chống lại nhục dục, cạm bẫy, cám dỗ của ma quỷ và tính ích kỷ của thế gian này[55].
9. Xây dựng cộng đoàn
Việc lớn lên trong sự thánh thiện là một cuộc hành trình, sát cánh cùng tha nhân trong cộng đoàn. Sống và làm việc với người khác chắc chắn là một con đường phát triển thiêng liêng. Vì khi sống với những người khác ta sẽ được nắn đúc và tôi luyện[56].
Mỗi cộng đoàn đều được mời gọi tạo nên một “không gian được Thiên Chúa soi sáng để có thể kinh nghiệm được sự hiện diện kín ẩn của Chúa phục sinh”[57]. Chia sẻ Lời Chúa và cử hành Thánh Thể với nhau bao giờ cũng nuôi dưỡng tình huynh đệ và làm cho ta thành một cộng đoàn thừa sai thánh thiện[58].
Cuộc sống chung, bất kể trong gia đình, giáo xứ, cộng đoàn tu hay bất cứ cộng đoàn nào khác, bao giờ cũng được hình thành bởi những chuyện nho nhỏ hằng ngày. Điều này rất đúng với cộng đoàn thánh duy nhất do Chúa Giêsu, Đức Maria và Thánh Giuse tạo nên, một cộng đoàn phản ánh cách mẫu mực vẻ tuyệt mỹ của sự hiệp thông Ba Ngôi. Điều đó cũng đúng với cuộc sống mà Chúa Giêsu chia sẻ với các môn đệ và với những người bình thường[59].
Cộng đoàn nào ấp ủ các chi tiết nhỏ của tình yêu[60], các thành viên quan tâm, chăm sóc nhau và tạo được môi trường cởi mở và tin mừng hóa, bao giờ cũng là nơi Chúa phục sinh hiện diện, thánh hóa cộng đoàn ấy theo kế hoạch của Chúa Cha[61]. Trái với chủ nghĩa cá nhân của những người theo chủ nghĩa tiêu thụ, con đường tiến tới sự thánh thiện duy nhất của ta là làm cho ta đồng hóa hơn nữa với lời cầu nguyện của Chúa Giêsu : “để mọi người nên một, như Cha ở trong con và con ở trong Cha” (Ga 17, 21)[62].
10. Biến người trẻ thành tông đồ
Ngoài việc xây dựng cộng đoàn, mục vụ giới trẻ cũng cần cung cấp cho người trẻ những nơi họ có thể biến thành của mình, nơi họ có thể tự do lui tới, thấy mình được đón tiếp và gặp gỡ những bạn trẻ khác lúc vui, lúc buồn, nơi họ có thể chia sẻ âm nhạc, chơi trò chơi, chơi thể thao nhưng cũng có thể suy tư, cầu nguyện. Tại những nơi ấy có thể cho nhiều mà không tốn kém bao nhiêu[63].
Kinh nghiệm nhóm cũng là những tài nguyên quan trọng để chia sẻ đức tin và giúp nhau làm chứng, người trẻ hướng dẫn người trẻ và làm việc tông đồ nơi những người trẻ khác[64]. Làm thế không tách họ ra khỏi các cộng đoàn và tổ chức hay phong trào của giáo xứ mà làm cho họ hội nhập cách tốt hơn vào trong các cộng đoàn cởi mở, sống đức tin, hân hoan làm cho Đức Kitô tỏa sáng, vui tươi, tự do, huynh đệ và dấn thân, Đó là những cộng đoàn người trẻ cảm thấy có thể vun xới các mối tương quan quý giá[65].
Như thế, điều quan trọng là giúp người trẻ thành tác nhân chính của mục vụ giới trẻ, để chính họ đến với những người trẻ khác, đưa những người ấy về với Chúa Giêsu và Hội thánh. Muốn thế, cần giúp người trẻ một kinh nghiệm đích thân sâu sắc về tình yêu Thiên Chúa và cảm nhận được ơn cứu chuộc của một Đức Kitô đang sống bằng cách kết hợp với cuộc khổ nạn và phục sinh của Ngài, chuyên cần cầu nguyện, suy gẫm Lời Chúa, kết hợp mật thiết với Chúa Giêsu Thánh Thể. Khi đã kinh nghiệm được tình yêu Thiên Chúa cách cụ thể, chính họ sẽ xây dựng một cộng đoàn huynh đệ, sẽ tạo sân chơi cho các bạn trẻ khác, để những người này cũng sẽ kinh nghiệm được tình yêu ấy của Thiên Chúa và xây dựng một cộng đoàn thấm đẫm tình Chúa, tình người.
Hy vọng, bài viết này, dựa vào các Tông huấn của Đức thánh cha Phanxicô đem lại một cái nhìn mới và một đường lối mới cho mục vụ giới trẻ hôm nay.
Trích Bản tin Hiệp Thông / HĐGM VN, Số 124 (Tháng 5 & 6 năm 2021)
[1] Rey – Mermet, Một Lối Nhìn Mới về Luân lý, tr. 11
[2] Christus Vivit, 58.
[3] Rey – Mermet, Một Lối Nhìn Mới về Luân lý, tr. 11
[4]Christus Vivit, 64.
[5] Christus Vivit, 71.
[6] Christus Vivit, 72
[7] Christus Vivit, 80.
[8] Christus Vivit, 72.
[9] Christus Vivit, 73.
[10] Christus Vivit,74
[11] Christus Vivit, 83
[12] Christus Vivit, 84.
[13] Christus Vivit, 85
[14] Christus Vivit, 86.
[15] Christus Vivit, 87.
[16] Christus Vivit, 88
[17] Christus Vivit, 89
[18] Christus Vivit, 90.
[19] Christus Vivit, 92
[20] christus Vivit, 93
[21] Christus Vivit, 94
[22] Christus Vivit, 98.
[23] Christus Vivit, 96.
[24] Christus Vivit, 202
[25] Christus Vivit, 203
[26] Christus Vivit, 204
[27] Christus Vivit, 205
[28] Christus Vivit, 206
[29] Christus Vivit, 208.
[30] Christus Vivit, 212
[31] Christus Vivit, 213
[32] No, 165, AAS 105 (2013), 1089.
[33] Ibid., 214
[34] Gaudete et Exsultate, 147.
[35] ID., Counsels to a Religious on How to Attain Perfection, 9.
[36] Christus Vivit, 154.
[37] Christus Vivit 155.
[38] Tự thuật 8, 5.
[39] JOHN PAUL II, Apostolic Letter Orientale Lumen (2 May 1995), 16: AAS 87 (1995), 762.
[40] Gaudete et Exultate, 149.
[41] Gaudete et Exultate, 150
[42] Gaudete et Exsultate, 154.
[43] HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC ẤN ĐỘ, Tuyên bố chung quyết của Hội nghị lần thứ 21, 18.2. 2009, 3.2.
[44] Gaudete et Exsultate, 156; xem Christus Vivit, 224.
[45] Gaudete et Exsultate, 151
[46] Cf. BERNARD OF CLAIRVAUX, Sermones in Canticum Canticorum, 61, 3-5: PL 183:1071-1073.
[47] Gaudete et Exsultate, 20
[48] Năm chiếc Bánh và hai con cá, Pauline Books and Media, 2003, pp. 9,
[49] Gaudete et Exsultate, 18
[50] Spiritual Exercises, 102-312.
[51] Gaudete et Exsultate, 18.
[52] Ibid., 521. Gaudete et Exsultate, 20
[53] Christus Vivit, 216.
[54] Christus Vivit, 217
[55] Gaudete et Exsultate, 140
[56] Precautions, 15.
[57] JOHN PAUL II, Tông huấn Vita Consecrata (25 March 1996), 42: AAS 88 (1996), 416.
[58] Gaudete et Exsultate, 142
[59] Gaudete et Exsultate
[60] Tôi nghĩ cách đặc biệt về ba từ khóa “làm ơn”, “cám ơn” và “xin lỗi”. “Những từ ngữ chính xác, được nói và thời điểm chính xác, bao giờ cũng bảo vệ và nuôi dưỡng tình yêu”: Tông huấn Hậu thượng Hội đồng,Exhortation Amoris Laetitia (19 March 2016), 133: AAS 108 (2016), 363.
[61] Gaudete et Exsultate, 145
[62] Gaudete et Exsultate 146.
[63] Christus Vivit, 218
[64] Christus Vivit, 219.
[65] Christus Vivit, 220.
