2021
Làm sao để được lớn lên trong Đức Tin?
Làm sao để được lớn lên trong Đức Tin?
Đức tin (faith) ,một trong ba nhân đức đối thần, là một quà tặng vô giá mà Thiên Chúa đã ban cho những ai mà Người muốn mặc khải mình cho .
Nghĩa là nếu Thiên Chúa không tự tỏ mình ra cho ai, thì không ai có thể tìm biết và tin có Người là Đấng Tạo Hóa, là Cha nhân lành đã tạo dựng và cứu chuộc con người nhờ Chúa Cứu Thế Giêsu.
Chúa Giêsu đã ca ngợi Chúa Cha thay cho chúng ta, những người được đức tin như sau:
“ Lậy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu kín không cho các bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn. Vâng, đó là điều đẹp lòng Cha.” ( Lc 10:21)
Về phần mình, Chúa Giêsu cũng mặc khải Chúa Cha cho chúng ta như Người nói tiếp sau đây:
“ Cha tôi đã giao phó mọi sự cho tôi. Và không ai biết người Con là ai, trừ Chúa Cha, cũng như không ai biết Chúa Cha là ai trừ người Con và kẻ người Con muốn mặc khải cho. ( cf.Lc.10: 22; Mt 11:
Quả đúng như lời Chúa Giêsu nói trên đây, trong thế giới xưa và nay, có biết bao người thông thái, có khả năng giải thích sự cấu tạo và hình thành của trái đất. đã lên được mặt trăng và đang chuẩn bị thám hiểm Sao hỏa, Sao Kim…nhưng kiến thức khoa học của họ không giúp họ khám phá được Thiên Chúa để tin có Ngài là Đấng Tạo hóa toàn năng, thượng trí.
Chỉ có chúng ta, những kể bé mọn về kiến thức, tài năng và khôn ngoan, nhưng lại được diễm phúc hơn những bậc thông thái kia vì được nhận biết Thiên Chúa và tin có Ngài là Cha nhân lành đã thương mặc khải cho chúng ta được biết Ngài nhờ quà tặng đức tin vô giá.
Hạt giống đức tin này đã được gieo vào tâm hồn chúng ta khi chúng ta được rửa tội, để được tái sinh trong sự sống mới, trở nên tạo vật mới, sau khi con người cũ đã chết vì tội của Nguyên Tổ.
Nhưng hạt giống đức tin này không thể tự nó lớn lên và sinh hoa kết trái mà không có sự cộng tác tích cực của con người vào việc nuôi dưỡng để giúp cho hạt giống đó được triển nở phong phú trong đời sống thiêng liêng của mỗi người tín hữu chúng ta.
Thật vậy, kinh nguyện phổ biến cho thấy rằng các trẻ em được rửa tội khi còn bé, sẽ lớn lên trong đức tin hay sẽ mất đức tin ấy nếu không có sự nâng đỡ tích cực của cha mẹ và thân nhân sống gần các em..Nói rõ hơn, nếu cha mẹ hay người đỡ đầu không dạy dỗ cho con em biết về Chúa trước hết ở trong gia đình, và sau đó cho các em đi học giáo lý để lãnh nhận các bí tích hòa giải và Thánh Thể, thì các em sẽ không thể tự mình biết gì về Chúa và tình yêu của Chúa dành cho con người. Chính những kiến thức sơ khởi về niềm tin có Thiên Chúa nơi trẻ em và người tân tòng sẽ dần dần tăng trưởng để thành niềm tin vững chắc khi các em lớn lên và được tiếp tục bồi dưỡng thêm nhờ thực hành những việc đạo đức như cầu nguyện, tham dự Thánh Lễ, được nghe lời Chúa và nhất là được rước Minh Thánh Chúa Kitô để nhờ đó thêm yêu mến Chúa và vững chắc tin có Chúa là Cha nhân từ, luôn yêu thương và tha thứ cho con người.
Đối với người lớn (tân tòng),thì sự cộng tác cá nhân còn cần thết hơn nữa. Khi có ý định muốn gia nhập Đạo Công Giáo qua phép rửa tội,( trừ những người muốn vào Đạo vì mưu đồ riêng tư) người tân tòng đã cảm nghiệm phần nào lời mời gọi thầm kín của Chúa nên đã dấn thân tìm hiểu để đáp lại lời mời gọi thiêng liêng đó bằng cách sẵn lòng học hỏi giáo lý để được rửa tội ,thêm sức và rước Thánh Thể lần đầu
Nhưng bước đầu của đời sống đức tin của họ phải được tiếp tục tiến bước xa hơn nữa để đi đến mức trưởng thành vững chắc với nỗ lực cá nhân và nâng đỡ của cộng đoàn đức tin, của những người đã hướng dẫn họ trong bước đầu.Nói rõ hơn,sau khi được rửa tội để gia nhập Giáo Hội , người tân tòng phải có quyết tâm sống đức tin trong Giáo Hội, là Mẹ có sứ mệnh hướng dẫn con cái bước đi theo Chúa Kitô và sống theo đường lối của Người hầu được ơn cứu độ để sống hạnh phúc muôn đời với Thiên Chúa trên Nước trời mai sau.
Trong hành trình đức tin này, người tín hữu Chúa Kitô- mới cũng như cũ- sẽ phải đương đầu với nhiều thử thách, khó khăn và nhất là đau khổ từ thể xác đến tâm hồn khiến cho niềm tin vào Thiên Chúa nhiều lần bị chao đảo khi đối diện với những khó khăn và thử thách đó.Và chỉ khi thắng vượt được những thử thách đó để trung kiên với Chúa trong tin yêu thì đức tin mới thực sự lớn lên cùng với lòng yêu mến Chúa sâu đậm.
Thật vậy, lãnh nhận đức tin qua phép rửa tội có thể được tạm ví như lãnh được bằng lái xe để được phép lái xe .Tuy nhiên, nếu không tôn trọng mọi qui luật về lưu thông trên đường phố, về tốc độ giới hạn ( speed limits) thì trước hết sẽ bị phạt vạ và giá bảo hiểm sẽ tăng theo. Nếu tiếp tục lái ẩu, bất tuân luật giao thông thì sẽ bị tạm treo bằng lái . Sau thời gian tạm treo, được lái trở lại. Nhưng nếu vẫn tiếp tục lái ẩu thì biện pháp cuối cùng sẽ là bị rút bằng lái vĩnh viễn khiến không còn được phép lái xe nữa..Ai sống ở Mỹ đều biết rõ điều này. .
Cũng tương tự như vậy,về một khía cạnh, người tân tòng –và ngay cả người đã theo Đạo từ bé, nếu sau khi gia nhập Đạo rồi mà không thật tâm thực hành những cam kết khi được rửa tội là mến Chúa trên hết mọi sự và cương quyết từ bỏ ma quỷ tức tội lỗi thì phép rửa sẽ trở nên hoàn toàn vô ích cùng với hy vọng được cứu rỗi nhờ công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô.
Nói rõ hơn, phép rửa không biến đổi tức khắc con người thành hoàn hảo ngay và nhất là giúp con người tránh được mọi tai ương như bệnh tật, nghèo đói và mọi thứ đau khổ bao lâu còn sống trên trần thế và trong thân xác có ngày phải chết này..Trái lại, phép rửa chỉ là bược đầu để tiến dần đến mức hoàn hào trong đức tin, đức cậy và đức mến. Trong tiến trình thiêng liêng đó, con người cần có ơn Chúa nâng đỡ và thiện chí cộng tác của cá nhân muốn được đổi mới, được trở nên hoàn hảo về mặt thiêng liêng.
Mặc dù ơn Chúa là cần thiết nhất, nhưng nếu không có sự cộng tác tích cực của mỗi cá nhân với ơn thánh để ngày một trở nên giống Chúa trong mọi chiều kích của Chân Thiện Mỹ thì Chúa không thể cứu ai được, vì con người còn có tự do để chọn lựa sống theo Chúa hay theo trần gian, đang ngày một lún xâu vào “văn hóa của sự chết”.
Đó là lý do tại sao Chúa Giêsu đã dạy các môn đệ xưa phải sống liên kết mật thiết với Người như cành nho gắn liền với thân cây để có đủ nhựa sống : “ ..vì Không có Thầy anh em chẳng làm gì được gì” ( Ga 15: 5)
Không có Thầy nghĩa là không có ơn Chúa giúp sức thì ta không thể lớn lên trong đức tin, không có ơn bền đỗ để chịu đựng những đau khồ, và thử thách, không có sức để chống lại mọi quyến rũ của tiền bạc, vật chất, hư danh trần thế, vui thú vô luân vô đạo và nhất là đứng vững trước những cám dỗ của ma quỉ , “ thù địch của anh em, như sư tử gầm thét rao quanh tìm mồi cắc xé.. Anh em hãy đứng vững trong đức tin mà chống cự vì biết rằng toàn thể anh em trên trần gian này đều trải qua cùng một loại thống khổ như thế.” ( 1 Pr 5:8-)
Do đó, để lớn lên trong đức tin và nhất là bền vững trong niềm tin yêu Thiên Chúa để luôn luôn sống theo đường lối của Người, chúng ta cần thiết phải năng chạy đến cùng Chúa trong tâm tình tha thiết cầu nguyện và siêng năng lãnh nhận các bí tích hòa giải và Thánh Thể là những phương tiện hữu hiệu nhất để đem chúng ta lại gần Chúa và thêm yêu mến Chúa ngày một hơn để có thể nói được như Thánh Phaolô là “ tôi sống nhưng không còn phải là tôi mà là Đức Kitô sống trong tôi. Hiện nay tôi sống trong xác phàm là sống trong niềm tin vào Con Thiên Chúa, Đấng đã yêu mến tôi và hiến mạng vì tôi.”( Gl 2 :20)
Nói khác đi, nếu không siêng năng chạy đến với Chúa và tha thiết xin Người ban ơn nâng đỡ qua các bí tích hòa giải và Thánh Thể, thì với bản tính mỏng dòn, yếu đuối của con người, chúng ta sẽ dễ chán nản trong đời sống thiêng liêng, dễ nghiêng chiều về đường tội lỗi.Từ đó, đức tin cũng sẽ bị suy yếu dần đến chỗ không còn tin tưởng gì vào Thiên Chúa vô hình nữa.
Kinh nghiệm phổ quát cũng cho thấy là khi người ta quyết tâm theo đuổi một mục tiêu nào, thí dụ một vận động viên thể thao muốn doạt danh hiệu vô địch về môn thể thao mình ham chuộng thì phải không ngừng tập luyện và tuân giữ mọi kỷ luật của môn thể thao đó.. Nếu không sẽ không thể giữ được phong độ và đạt được thành tich cao .
Cũng vậy, người tin hữu không siêng năng cầu nguyện, suy niệm lời Chúa trong Kinh Thánh và năng lãnh nhận những bí tích ban ơn thánh hóa và cứu độ như Hòa giải và Thánh Thể, cũng như không quyết tâm qui hướng đời mình về Chúa Kitô là tâm điểm thì đời sống thiêng liêng sẽ ngày một khô héo và đi dần đến chỗ nguội lạnh hẳn. Từ đó đức tin ban đầu cũng nhạt phai luôn theo thời gian. Đó là tất cả ý nghĩa của lời Chúa Giêsu đã nói trong dụ ngôn Mười Nén Bạc như sau: : “ Tôi nói cho các anh hay : phàm ai đã có, thì sẽ được cho thêm; còn ai không có thì ngay cả cái nó đang có cũng sẽ bị lấy đi.” ( Lc 19 :26)
Có sẽ được cho thêm có nghĩa là nếu năng chạy đến với Chúa trong cầu nguyện, thì càng thêm yêu mến Chúa, dễ xa tránh tội lỗi và đức tin sẽ lớn mạnh hơn. Ngược lại, nếu không tha thiết cầu nguyện tức là nói chuyện thân mật với Chúa trong tình Cha con, cũng như không quyết tâm sống đức tin bằng hành động cụ thể như xa tránh tội lỗi, làm việc bác ái, thương người và đặc biệt siêng năng việc đạo đức như tham dự Thánh lễ để nghe lời Chúa và nhất là luôn rước Mình Thánh Chúa để được bổ sức thiêng liêng, thì tâm hồn và niềm tin của con người sẽ ví như cây non không được tưới nước thì sẽ chết dần chứ không thể lớn lên được.
Như vậy, ai có đức tin vào một Thiên Chúa cực tốt cực lành, là Cha toàn năng đầy lòng thương xót mà lại chạy theo những quyến rũ của trần thế để gian tham , trộm cắp,bóc lột, oán thù , dâm đãng, giết người v.v thì đức tin đó sẽ là đức tin chết và hoàn toàn vô ích cho hy vọng được cứu rỗi để hưởng vinh phúc đời đời với Chúa trên Nước Trời.
Tóm lại, có được đức tin chỉ là khởi đầu cho một tiến trinh tăng trưởng trong tin yêu một Thiên Chúa là Cha nhân từ, tin công nghiệp của Chúa Kitô và tin có sự sống đời đời..
Nhưng xin nói lại một lần nữa là Thiên Chúa Không ép buộc ai phải tin và yêu mến Người.Chúa chỉ mời gọi và tùy con người đáp trả. Ai có thiện chí muốn nghe tiếng Chúa để sống theo đường lối của Chúa, thì Người sẽ ban ơn nâng đỡ để giúp đi sâu vào thân tình Cha-con với Người và được sống hạnh phúc, bình an với Chúa ngay trong cuộc sống ở đời này trước khi được vui hưởng hạnh phúc vĩnh cửu với Người mai sau trên Nước Trời…
Ai không đáp lời mời gọi của Chúa để sống theo ý riêng của mình và theo thế gian thì có đức tin cũng như không và mang tên Kitô hữu cũng chỉ là hữu danh vô thực mà thôi.
LM Phanxicô Xavie Ngô Tôn Huấn
2021
Ý nghĩa bức họa Các Thánh Tử Đạo Việt Nam
Ý nghĩa bức họa Các Thánh Tử Đạo Việt Nam
Đây là bức tranh được trưng bày trong đại lễ suy tôn Các Thánh Tử Đạo Việt Nam, ngày 19-06-1988 tại quảng trường thánh Phêrô tại Roma, do họa sĩ Gordon Faggetter trình bày.
Bức tranh lấy cảm hứng từ câu 9 trong đoạn 7 của sách Khải Huyền : “Tôi đã thấy một đoàn người đông đảo không tài nào đếm nổi, thuộc mọi nước mọi dân, mọi chi tộc, mọi nước và mọi ngôn ngữ. Họ đứng rước ngài Con Chiên, mình mặc áo trắng, tay cầm nhành lá thiên tuế”. Theo Thánh Gioan, đám người đông đảo tượng trưng cho muôn vàn vị Tử Ðạo trong lịch sử Giáo Hội hoàn vũ đã bỏ mình vì trung kiên với Thiên Chúa, và hiện nay đang vinh hiển trong cõi hoan lạc trường sinh. Còn trong Giáo Hội VN, 117 Thánh Tử Ðạo tượng trưng cho trên dưới 130,000 bạn đồng hành đã anh dũng hy sinh mạng sống trong suốt 261 năm bách hại: từ sắc chỉ cấm đạo đầu tiên năm 1625, cho tới hết thời Văn Thân (1886).
Đứng hàng thứ nhất chính giữa hình là sáu vị đứng đầu danh sách 117 Thánh Tử Đạo Việt Nam, được XƯỚNG DANH trong nghi thức SUY TÔN đó là : Linh mục Anrê Dũng Lạc, Thanh niên chủng sinh Tôma Thiện và Cụ Trùm gia trưởng Emmmanuel Lê Văn Phụng, đại diện chính thức cho 96 vị thánh Việt Nam, thuộc ba miền Bắc Trung Nam.
Hai giám mục Dòng Đaminh Hermosilla Liêm và Valentino Vinh, đại diện cho 11 thừa sai Tây Ban Nha Dòng Đaminh (6 giám mục – 5 linh mục) và 27 vị khác quốc tịch Việt Nam thuộc gia đình Đaminh, (11 linh mục, 6 thày giảng, 3 linh mục và 7 giáo dân dòng Ba Đaminh)
Linh mục Théophane Vénard Ven, (áo chùng đen, cổ có ba gạch trắng) đại diện cho 10 thừa sai Pháp thuộc Hội Thừa Sai Paris. (gồm 2 giám mục, 8 linh mục). Cũng ở hàng đầu từ trái qua phải là : Linh mục Phaolô Lê Bảo Tịnh, Hai vị Dòng Đaminh tử đạo tiên khởi trong danh sách 117 là cha Vinhsơn Phạm Hiếu Liêm là cha Castaneda Gia (quỳ phía trước).
Quỳ phía bên phải : Quan Thái bộc Micae Hồ Đình Hy.
Sau lưng là ba vị gia đình cụ Án Đaminh Phạm Trọng Khảm, với con trai Luca Phạm Trọng Thìn và người em Giuse Phạm Trọng Tả.
Riêng thánh nữ Annê Lê Thị Thành cũng đứng ngay gần giữa bức tranh, đại diện duy nhất của nữ giới Giáo hội Việt Nam. Thánh nữ đã 60 tuổi, nhưng họa sĩ đã xin phép được vẽ trẻ hơn một chút tính theo tuổi của Nước trời.
Họa sĩ Gordon Faggetter còn chủ tâm vẽ rải rác trong bức họa đủ tám mũ Giám mục, thêm 24 Linh mục triều mặc lễ phục trắng đeo dây stola đỏ, và 7 Thánh Binh trong y phục quân nhân.Dưới chân bức họa là một số dụng cụ gia hình trong các cuộc tử đạo : gông cùm, xiềng xích, dây thừng thắt cổ, roi đòn, kìm kẹp và thanh đao xử trảm.
Cụm hoa sen chỉ ý nghĩa trong sáng của cuộc đời 117 vị thánh, theo biểu tượng văn hóa Việt Nam, Sen tượng trưng người quân tử : “Trong đầm gì đẹp bằng sen… gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”.
Phía sau bức tranh là giang sơn gấm vóc của đất Việt, tượng trưng bằng một số KIẾN TRÚC :
– Chùa Một Cột (Bắc), chùa Thiên Mụ (Trung) và chợ Bến Thành (Nam)
– Và 5 ngôi thánh đường :
Chính tòa Sài Gòn: nơi còn bảo toàn hài cốt một số các vị Tử Ðạo miền Nam;
La Vang (Huế): chỗ Ðức Mẹ đã hiện ra an ủi đoàn con bị truy nã vì tin theo Chúa Giêsu Kitô (1789);
Phát Diệm: ngôi thánh đường duy nhất theo kiến trúc Á Ðông, và là nơi vị linh mục chánh xứ Trần Lục xưa kia đã một thời bị bách hại (1858),và bị đầy trên Lạng Sơn (1859-1860);
Bùi Chu: giáo phận đã đóng góp con số tử đạo nhiều nhất (26 vị trong số 117), vì thế mà vẫn là nơi sản xuất dân số Công Giáo đông nhất trong 26 giáo phận Việt Nam;
Chính tòa Hà Nội: một trong hai giáo phận đầu tiên tại Bắc Việt (1679), là xuất xứ của nhiều vị Tử Ðạo (16 vị, trong đó có Cha Thánh Anrê Dũng Lạc).
– Mở rộng đến tận chân trời là biển khơi và cánh đồng lúa, chính là môi trường truyền giáo của các con cháu các vị Anh Hùng. Họ được kêu mời thêm tin tưởng vững bước tiến vào tương lai. Vì từ trên cao, Đức Kitô với một tay mở rộng đón đợi và một tay đang chúc lành, như muốn lập lại lời Ngài xưa : “Trong thế gian anh em sẽ còn phải gian nan khốn khó, nhưng can đảm lên, Thày đã thắng thế gian”
Trích “Uống nước nhớ nguồn” của LM-PX- Đào trung Hiệu
2021
Marie de Hennezel: Sống với điều vô hình là trải nghiệm chung của mọi người
Marie de Hennezel: Sống với điều vô hình là trải nghiệm chung của mọi người
Những giấc mơ, những trùng hợp, những trực giác nội tâm, mối quan hệ với người đã khuất của chúng ta… Trong quyển sách mới nhất của bà Marie de Hennezel, nhà tâm lý trị liệu, bà khám phá tất cả những nhận thức vốn có ở con người, chứng minh cho mối liên hệ liên tục của chúng ta với điều vô hình.

Chúng tôi gặp bà trong căn hộ dưới các mái nhà Paris để nói về điều vô hình. Ngôi nhà yên bình ấm áp là nơi sinh sống của tất cả những hiện diện này, đánh dấu cuộc hành trình cá nhân của nhà tâm lý học và trị liệu tâm lý Marie de Hennezel. Một thiên thần bằng gỗ mạ vàng với nụ cười bí ẩn ở giữa nhà, đó là từ mẹ của bà.
Dọc các bức tường, giữa hai góc nhìn bầu trời là các biểu tượng, các chân dung; một phi công trẻ, một người chú làm việc với Đại Tướng De Gaulle; các bức tranh của ông nội, bức khắc của bà nội yêu quý mà bà thường xin được che chở. Dưới các hình ảnh tốt lành được đề cập trong quyển sách mới nhất của bà, Sống với điều vô hình (Vivre avec l’invisible, Robert Laffont / Versilio), một bản tường thuật những kinh nghiệm thu thập được trong hơn mười năm, qua quá trình gặp gỡ và đồng hành.
“Sống với điều vô hình” như tựa đề quyển sách của bà có là chuyện tự nhiên đối với con người không?” Chúng ta tất cả đều có khả năng này trong người mình không?
Bà Marie de Hennezel: Đây không phải chỉ là một khả năng, đây là thực tế. Tôi đã phát hiện ra nó! Nhiều người sống với điều vô hình, nhưng họ không nói vì họ sợ bị hiểu lầm và bị gán cho là không hợp lý. Đó là một chủ đề cấm kỵ. Chỉ khi tôi bắt đầu chia sẻ kinh nghiệm bản thân, tôi mới nhận những lời chứng từ nhiều nguồn khác nhau. Trải nghiệm này là phổ biến, nhưng trong xã hội duy lý Descartes của chúng ta, mọi người đều trải nghiệm điều này một cách bí mật.
Làm thế nào để sự hiện diện vô hình này tự thể hiện?
Mỗi người đều đặt những thực tế rất khác nhau đằng sau từ này. Những giấc mơ, những biểu hiện của vô thức là một phần của nó. Một số là những điềm báo trước, là âm vang của một cuộc họp hoặc một sự kiện sẽ xảy ra trong thực tế.
Đôi khi đây là những trùng hợp đơn giản: bạn mơ hoặc nghĩ về một người nào đó mà bạn không gặp từ lâu, người đó gọi cho bạn trong cùng một ngày. Gần đây tôi trải nghiệm một ví dụ về sự trùng hợp này giữa những suy nghĩ và thực tế của chúng ta.
Để viết quyển sách tiếp theo của tôi, một quyển từ điển về tình yêu cho sự cô độc, tôi đã phát hiện ra ở Đảo Yeu (Île d’Yeu), nơi tôi sống một phần đời, có những căn lều biệt lập trước mặt biển. Những ngày gần đây, khi kết thúc một buổi hội thảo, một người tham dự đến nói chuyện với tôi, ông nói về mối liên kết của tôi với Đảo Yeu và cho tôi xem một bức ảnh căn lều ngư dân ông có ở đó. Ông đề nghị tôi đến đó ở để viết lách! Đây là một ví dụ về mối liên hệ vô hình này giữa một ý nghĩ có trong đầu và một yếu tố thực tế có thể thực hiện ước muốn của mình.
Bà nói đến một tiếng nói nội tâm nhỏ nhoi thì thầm trong lòng để hướng dẫn. Khoa phân tâm học nói gì về những dạng trực giác này?
Chúng ta biết trước điều trong lòng, nhưng chúng ta không nhận thức được tất cả những gì chúng ta biết. Sự hiểu biết nội tâm này thỉnh thoảng thể hiện dưới dạng trực giác. Đó là tiếng nói nho nhỏ chúng ta nghe trong tận sâu thẳm trong lòng: ví dụ điều gì đó nói với tôi, tôi nên đi dự cuộc họp này hoặc tôi không nên đi chuyến du lịch kia.
Là người theo thuyết của tâm lý gia Jung, tôi hiểu, tất cả chúng ta đều có vô thức cá nhân, vô thức gia đình và cả vô thức tập thể. Ký ức và kiến thức về sự tiến hóa và số phận của chúng ta dần dần được chiếu sáng qua cuộc sống, qua giấc mơ, qua những trùng hợp, những sự kiện. Đây là điều mà Jung gọi là “quá trình cá nhân hóa”, một “thiên chức” phải được trải nghiệm và hoàn thành thông qua sự tồn tại của chúng ta. Nếu Freud nhìn thấy trong vô thức biểu hiện của người bị kìm nén, thì Jung nói rộng hơn, trong tâm hệ có một phần của tâm hồn và một phần của điều vô hình.
Bà có nhận thấy trẻ con có mối liên kết tự phát này với điều vô hình, như một “kiến thức từ bên trong” không?
Đây là một diễn tả tuyệt vời của bạn tôi, bà Sevim Riedinger, nhà trị liệu theo tâm lý gia Jung, bà trị liệu cho các trẻ em thuộc mọi tầng lớp xã hội, trong đó có nhiều trẻ em thuộc các gia đình theo thuyết bất khả tri và vô thần. Bà nhận thấy trẻ con “biết”, chúng nhận thức được những điều mà người lớn không còn cảm nhận, nhưng đối với chúng, những điều này lại là tự nhiên: chẳng hạn chúng ‘sáng chế’ ra các bạn đồng hành chúng tưởng tượng để nói chuyện.
Chỉ đến khi 7-8 tuổi, tuổi của “lý trí” thì chúng sẽ tách ra khỏi “kiến thức nội tâm” này và đi vào lãnh vực lý trí hơn. Chẳng hạn đứa trẻ sẽ nhận khía cạnh dứt khoát của cái chết. Khi chúng trên 8 tuổi, nếu chúng chỉ ở trong “kiến thức nội tâm” thì tình trạng này có thể làm cho quan hệ của chúng với thực tế bị xáo trộn.
Theo bà, khi cuối đời, người lớn tuổi có thể tìm lại khả năng liên quan đến nội tâm này không?
Khi chúng ta lớn tuổi, con người nội tâm, con người chiêm ngắm sẽ chiếm nhiều chỗ hơn trong cuộc đời. Từ đó, chúng ta nhận thức được nhiều thứ hơn là khi chúng ta sống trong năng động, khi lý trí thống trị. Chúng ta có một nhận thức tốt hơn, một khả năng để cảm thấy vượt ra ngoài chính mình, gọi là khả năng tâm thể, một khả năng cảm nhận tinh tế, những người sống chiêm niệm càng tinh tế thì khả năng này càng mạnh, và được gọi là hapsis.
Một bệnh nhân nằm trên giường bệnh sẽ nhạy cảm với cách một người nào đó khi họ bước chân vào phòng, tương tự với trạng thái nội tâm của nữ y tá. Trong vũ trụ thu hẹp này, họ có khả năng tiếp thu nhạy bén hơn khi họ còn hoạt động và khỏe mạnh. Họ có khả năng nhân bản để kéo dài trong không gian. Đó cũng là điều các nhà trị liệu xương trải nghiệm (ostéopathe). Đầu của bạn ở trong bàn tay của họ, họ dùng kỹ thuật cảm nhận tinh tế hapsis của mình để cảm nhận sự rối loạn chức năng trong một bộ phận khác trên cơ thể của bạn.
Cuối cùng, chính phần kéo dài vô hình này mà những người dễ bị tổn thương hoặc khuyết tật mới có thể sống. Tôi kết thúc quyển sách bằng lời tri ân đến những người người mù… những người cuối cùng lại là những người thấy.
Xin bà cho chúng tôi biết mối liên kết vô hình này giữa người sống và người chết. Quyển sách của bà nhấn mạnh nhiều đến “những làn sóng vô hình” này. Đó là ai?
Tôi mượn thành ngữ này của bà Sophie Davant. “Nhóm những điều vô hình” của tôi là tất cả những che chở mà chúng ta có thể cầu xin trong một vài giai đoạn khó khăn của cuộc sống. Một vị thánh, một người ông kính yêu, một thiên thần hộ mệnh… Thiên thần là ẩn dụ cho sự bảo vệ vô hình mà tất cả chúng ta cần, thiên thần là một phần của văn hóa tôn giáo nhưng cũng ảnh hưởng đến những người không có tôn giáo.
Ai mà chưa từng xin những sinh linh vô hình bảo vệ mình? Ông giám đốc nhà xuất bản của tôi, một người rất lý trí, đặc biệt ông không tin đạo, ông có bức hình bà ngoại để trên góc bàn làm việc. Ông nói chuyện với bà và xin bà giúp đỡ.
Trong nhà của tôi, tất cả những “người vô hình” của tôi đều ở đó, bằng cách này hay cách khác. Cộng đồng các tổ tiên, những người thân đã khuất, nhưng cũng là những người mà tôi đi theo cho đến cuối cuộc đời và những người đã trấn an tôi: “Marie, khi tôi ở phía bên kia, tôi sẽ giúp bạn!”.
Họ đặc biệt giúp tôi khi tôi nói về chủ đề cuối đời trong các cuộc hội thảo. Tôi xin họ đặt vào môi miệng tôi những lời thích hợp để tôi chia sẻ tốt nhất trải nghiệm này và làm cho thính giả nhận thức được tầm quan trọng của việc đồng hành với người sắp qua đời.
Về sự hiện diện của những người đã khuất, tôi nhận được rất nhiều chứng từ. Mối quan hệ này độc lập với các nền văn hóa và niềm tin tôn giáo. Sự hiệp thông của các thánh trong kitô giáo là sự không phân tách giữa thế giới của người sống và người chết.
Bà nhận được lòng tin tưởng vào điều vô hình từ giáo dục của bà, từ trải nghiệm hàng ngày, nhưng bà không tìm cách để chứng minh điều này?
Trong quyển sách này, tôi không khẳng định, tôi không cố gắng chứng minh bất cứ điều gì. Tôi chỉ ghi nhận nhiều người trong chúng ta sống mối quan hệ này. Như nhà thơ người Đức Rilke viết, “chúng ta bị đóng khung bởi điều vô hình.” Và điều bí ẩn này, như cố tổng thống Pháp François Mitterrand đã nói với tôi, “chúng ta sẽ không bao giờ chứng minh được điều này, chúng ta sống với nó.”
Bà đã nói chuyện với cố tổng thống Mitterrand “về điều vô hình” và bà đã tiếp tục nói chuyện trong nhiều năm cho đến khi ông qua đời. Bà cũng đã nói những chuyện này trong một quyển sách khác Tin vào sức mạnh của tinh thần (Croire aux forces de l’esprit, nxb. Pocket). Ở khía cạnh nào cố tổng thống đã quan tâm đặc biệt đến vấn đề này?
Cố tổng thống Mitterand rất nhạy cảm với năng lượng của thiên nhiên, cây cối, của đá, năng lượng vũ trụ và những bí ẩn xuyên qua thế giới. Đó cũng là những nơi linh thiêng, cho dù đó là tảng đá của Solutré mà ông leo hàng năm hay nơi đại kết như Taizé. Chúng tôi có cùng điểm chung tâm linh này, mặc dù chúng tôi chưa bao giờ cùng nhau đến đó.
Chính ở Taizé, sau giai đoạn bác bỏ chủ nghĩa giáo điều của công giáo mà tôi được nuôi dạy, tôi đã trở về với cầu nguyện. Đây là kinh nghiệm thuộc thứ trật cảm giác cơ thể, nhận thức này tôi có được khi đi vào tận thâm sâu tâm hồn và kết nối tôi với điều vô hình. Tôi nhớ tôi đã khóc và Sư huynh Roger đã nói với tôi: “Bà đã sống trải nghiệm tuôn trào tinh thần.” Cảm xúc của chúng ta không chỉ là tình cảm mà còn là tinh thần.
Chúng ta đang nói về những người bảo vệ, hướng dẫn, đồng hành, nhưng có thể có nguy cơ mở lối cho điều vô hình không?
Thực sự có một mối nguy hiểm trong việc tìm kiếm điều vô hình. Để bản thân mình được hướng dẫn, nhờ một người thân đã khuất che chở mình, được! Nhưng tìm sức mạnh của lực huyền bí thì không! Có một phần ý chí phải rèn luyện để không mở cánh cửa ra cho nỗi sợ hãi của bạn.
Với những người nghĩ mình là nạn nhân của số phận, những người mong manh nhất mà tôi đã gặp trong những năm tháng hành nghề ở bệnh viện, chúng tôi có thể dạy cho họ sự cần thiết phải xây một lớp bọc bảo vệ tinh thần, bằng cách nhờ đến sự hiện diện một hình ảnh vô hình nhân từ như một thiên thần chẳng hạn.
Trong một buổi họp y tế ở thành phố Montpellier, bác sĩ của Đức Đạt Lai Lạt Ma đã truyền cho chúng tôi phương pháp tu tập phật giáo này: hình dung cơ thể mình tràn đầy ánh sáng và mở rộng sự trong sáng này xung quanh mình như một lớp bọc bảo vệ. Những nghi thức nhỏ này không loại trừ sự bảo vệ hợp lý, nhưng làm cho chúng ta tự tin hơn. Chúng ta biết cảm xúc đã đóng vai trò quan trọng như thế nào trên sức khoẻ tinh thần của chúng ta.
Chúng ta nên nghĩ gì về những nhà ngoại cảm và những người có thiên nhãn?
Tất cả chúng ta đều có một hạt nhân gọi là “loạn tâm thần” trong tâm hồn, một không gian và một kiến thức mà chúng ta bị ngắt kết nối với thực tế, các nhà phân tâm học trường phái anglo-saxon đều nói về điều này. Khi lớn lên, chúng ta tách ra khỏi nó, tạo một rào cản giữa không gian này và chúng ta. Nếu không có nó, chúng ta sẽ không thể thích ứng với thực tế cuộc sống.
Nhưng có một số người tách ra khỏi nó một phần, và thông qua một vài “mảng” vẫn còn mở, sẽ cho thấy một trực giác sâu sắc hơn nhiều so với những người khác. Chúng tôi rất muốn đi gặp họ… Lời khuyên của tôi là hãy tin tưởng vào bản thân nhiều hơn, lắng nghe tiếng nói bên trong của chính mình.
Chúng ta không cần nhà ngoại cảm để giao tiếp với người đã khuất, để kết nối với người thân yêu mà chúng ta đã có liên hệ suốt đời. Chúng ta chỉ cần nói chuyện với họ. Chúng ta nhận được câu trả lời qua giấc mơ, qua cảm xúc nội tâm. Chúng ta phải có nhiều tự do nội tâm để lắng nghe họ.
Về cơ bản, quyển sách của tôi viết về mối liên kết, dù đó là địa điểm, là người thân yêu hay tâm linh, những liên kết này là một phần hạnh phúc của chúng ta. Tình yêu được gieo vào lòng con người và tình yêu này không bao giờ ngừng đi tìm lại niềm vui qua việc giao tiếp với người khác. Sống với bí ẩn này làm cho chúng ta hạnh phúc và tất cả mọi người đều có thể chia sẻ kinh nghiệm này.
Sống với điều vô hình (Vivre avec l’invisible, nxb. Robert Laffont / Versilio)
Bà Marie de Hennezel tiếp tục viết quyển nhật ký với điều vô hình mà bà đã viết trong gần hai mươi năm, bà thu thập các chứng từ của bạn bè, các bệnh nhân của bà, các mối quan hệ nghề nghiệp nhưng cũng rút từ các nguồn văn học và phân tâm học. Một tường thuật hấp dẫn về những trải nghiệm mà không tìm cách chứng minh bất cứ điều gì, chỉ nói lên sự phong phú nội tâm của con người.
Marta An Nguyễn dịch
2021
8 Lời lẽ khôn ngoan từ Thánh Lêô Cả
8 Lời lẽ khôn ngoan từ Thánh Lêô Cả
Dù đã hơn 1.600 năm sau triều đại Giáo hoàng của mình, nhưng lời khuyên từ Thánh Lêô Cả vẫn là những gì chúng ta cần phải lắng nghe.
Thánh Lêô Cả là một vị Giáo hoàng đầy nghị lực, người đã phải đương đầu với những tàn dư của đa thần giáo và chiến đấu chống lại các lạc giáo. Bằng những lời lẽ khôn ngoan và tinh tế, lời khuyên của ngài đã tác động đến tất cả mọi người, kể cả những người có đức tin cũng như không có đức tin. Ngay cả ngày nay, những lời lẽ đó vẫn thích hợp và gây được tiếng vang đối với chúng ta.
Thánh Giáo Hoàng Lêô I, người đầu tiên nhận danh hiệu “Cả”, luôn ghi nhớ phải sống và dạy về những giá trị vững chắc, chẳng hạn như tình yêu, tình bạn, lòng kiên nhẫn, lòng khoan dung, lòng nhân từ và lòng khiêm nhường. Ngài để lại dấu ấn nổi tiếng nhất trong lịch sử khi được Hoàng đế Valentinian III chọn vào năm 452 để dẫn đầu phái đoàn ngoại giao của Rôma trong nỗ lực thuyết phục vị vua đáng sợ của người Huns, Attila, không tấn công vào Rôma và rút lui khỏi nước Ý. Thánh Lêô Cả đã thuyết phục được vị vua này, và nhờ đó mà ngài nhận được sự tôn trọng của tất cả cư dân trên bán đảonước Ý.
Ngài có tầm ảnh hưởng và sức thuyết phục rất lớn đối với dân chúng không chỉ nhờ sự kiện lịch sử quan trọng trên, mà còn vì ngài một “vị mục tử nhân lành”, người đã lần lượt dạy cho những “vị mục tử” khác cũng phải trở nên giống như vậy. Dưới đây là một số câu nói đáng ghi nhớ nhất của ngài, những câu nói giúp chúng ta thêm phần hiểu biết và noi theo gương sáng thánh thiện của ngài.
Tác giả: Maria Paula Daud
Chuyển ngữ: Phil. M. Nguyễn Hoàng Nguyên
