2022
Thiên Chúa ở đâu trong trái tim tôi?
GIẢI ĐÁP THẮC MẮC CHO NGƯỜI TRẺ CÔNG GIÁO
THIÊN CHÚA Ở ĐÂU TRONG TRÁI TIM TÔI?
Thiên Di CND – CSA
Hỏi: Thiên Chúa có vị trí nào trong trái tim và mối quan tâm của người trẻ ngày nay?
Trả lời:
- Người trẻ hôm nay quan tâm gì?
– Khao khát học hỏi và sống đức tin
Khi ngồi suy nghĩ trả lời cho câu hỏi này, tôi nhớ đến Đại hội Giới trẻ Giáo tỉnh Miền Bắc vào tháng 11/2019 mà cảm nhận một niềm vui khó tả. Đại hội thu hút hơn 20.000 bạn trẻ từ khắp các Giáo phận Miền Bắc, một lượng người khổng lồ, đầy sức trẻ và năng động. Đại hội tưởng như “vỡ trận” vì số lượng người tham gia quá đông. Nhưng mọi sự diễn tiến khá nhịp nhàng, trật tự, họ thân thiện, vui tươi và không thiếu lịch lãm giữa những con người đồng đạo.
Khi mà cả nước đang hướng về màn hình tivi hò la cổ vũ trận đấu bóng đá kịch tính giữa Việt Nam gặp Thái Lan, thì hơn 20.000 người trẻ trong đại hội vẫn trật tự, sốt sắng tham dự đêm diễn nguyện cho đến phút cuối. Thật xúc động trước cảnh một rừng người trẻ chìm trong thinh lặng, hướng nhìn màn hình để lắng nghe những lời nhắn nhủ của Đức Thánh Cha Phanxicô gởi riêng những người trẻ trong đại hội.
Ngoài ra họ không ngần ngại, kiên nhẫn xếp hàng hằng giờ để được lãnh nhận bí tích hòa giải… Họ là những con người đang khát Lời Chúa, ước ao được chữa lành. Họ luôn mong ước được học hỏi thêm về đức tin, để làm lớn mạnh đức mến và không ngừng cậy trông vào Thiên Chúa.
Đâu đó trong các xứ đạo, chúng ta vẫn gặp những nhóm bạn trẻ họ là huynh trưởng, giáo lý viên…người trẻ nòng cốt của Giáo xứ. Họ nhiệt thành, dấn thân phục vụ hết mình trong mọi việc của Giáo xứ. Từ dạy giáo lý, thăm viếng người nghèo, đi xin ve chai gây quỹ bác ái đến tập hát ca đoàn, tập hoạt cảnh Giáng Sinh, chầu Thánh Thể… họ luôn có mặt. Thánh Giacôbê nói: “Đức tin không có hành động thì quả là Đức tin chết” (Gc2,17) những bạn trẻ này không những chứng minh mình có đức tin mà còn hành động vì yêu Đức Kitô, yêu Hội Thánh của Người.
– Tìm kiếm tri thức
Nói đến người trẻ, là liên hệ đến một lớp người đầy sức sống, năng động, sáng tạo, họ đầy năng lực nội tại… Có người nói vui “người trẻ có đầy thời gian, sức khỏe, họ chỉ thiếu tiền”. Cũng có lý; nhưng tôi còn thấy người trẻ họ có đầy ước mơ, hoài bão và chính những điều này giúp họ không ngừng vươn lên trong cuộc sống. Họ đang tận dụng thời gian, sức khỏe hiện tại để xây dựng tương lai, lên kế hoạch cho cuộc đời mình. Có thể kế hoạch đó nhằm đạt mục tiêu tiền tài, danh vọng… những thứ họ chưa có tại thời điểm này, họ có quyền hướng đến và gầy dựng. Hỏi người trẻ thường tập trung ở đâu? Tôi nghĩ ngay đến các thành phố lớn, gần hơn nữa là các trường đại học, cao đẳng… Nơi đây, các bạn đang tìm kiếm tri thức học hỏi nghiên cứu. Họ đang viết lên cuộc đời mình qua những giờ ngồi trên giảng đường, cùng bạn bè thực hiện một đề tài nghiên cứu…
Ngày nay, phương tiện kỹ thuật số phát triển, người trẻ lại có nhiều cơ hội để tiếp cận với tri thức và khoa học tiên tiến, tìm kiếm những cơ hội cho tương lai. Nguồn sách vở tài liệu nghiên cứu phong phú, tìm kiến dễ dàng… người trẻ đã và đang tận dụng thời gian trẻ của mình không ngừng trau dồi vối liếng cho tương lai. Đức Thánh Cha Phanxicô nói: “Tuổi trẻ là một ân sủng, là một gia tài. Đó là một quà tặng mà có thể chúng ta lãng phí một cách vô ích, hoặc có thể đón nhận với lòng biết ơn và sống sung mãn” (Tông huấn Chúa Kitô Đang Sống, số 134)
– Mong muốn được làm việc
Trong tông huấn Chúa Kitô đang sống, Đức Thánh Cha Phanxicô nhận định: “Việc làm là điều rất quan trọng trong cuộc sống của người trẻ… Việc làm xác định và ảnh hưởng đến căn tính và ý thức về chính mình của một người trẻ, là nơi phát triển tình bằng hữu và các mối tương quan khác…” (số 268) Trong nhịp sống cơm áo, tại Việt Nam hằng năm có trăm ngàn bạn trẻ từ các vùng quê đổ về các thành phố lớn để học tập và làm việc, đồng thời họ tìm kiếm những cơ hội cho tương lai. Từ những nhu cầu chi phí cuộc sống, cũng như ước mong được trải nghiệm… nhiều sinh viên luôn được thúc đẩy vừa học – vừa làm, ngày trên giảng đường, chiều tối phụ quán ăn, bán trà sữa… Họ tận dụng mọi thời gian, không ngại bất cứ công việc nào để có thể kiếm tiền cũng như học hỏi kinh nghiệm.
Cũng không ít sinh viên ra trường cầm trên tay tấm bằng loại ưu nhưng kiến được một việc làm thì cũng lắm phen chật vật. Bạn trẻ lao động phổ thông thì chịu áp lực về thời gian làm việc, mức lương thấp không đủ chi phí sinh hoạt… khiến họ phải “tăng gia sản xuất” làm một lúc hai ba việc, làm cả ngày lẫm đêm. Không ít bạn trẻ phải thay đổi công việc liên tục vì nhu cầu thời vụ, cũng như tính chất công việc không còn phù hợp. Cho dù, việc làm hiện tại không giúp người trẻ thực hiện được các giấc mơ, nhưng “điều quan trọng là họ phải nuôi dưỡng một viễn ảnh, học hỏi làm việc theo cách thức riêng, hướng đến cuộc sống tốt đẹp trong tương lai” (Tông huấn Chúa Kitô Đang Sống, số 268). Nơi người trẻ luôn khao khát khẳng định mình qua một vị trí việc làm mà họ được đảm trách.
– Tình yêu của người trẻ
Tuổi trẻ, lứa tuổi có nhiều đam mê, khao khát về hạnh phúc. Thời thanh xuân hồn nhiên và đầy sức sống này thì sự thu hút phái tính, đồng điệu về giá trị sống… luôn làm cầu nối giúp người trẻ tìm đến nhau. Bên cạnh đó, ở tuổi mới bước vào đời, người trẻ dễ chơi vơi, vô định chưa tìm được hướng đi của cuộc đời, đôi khi họ cảm thấy cô đơn, chán nản thì tình yêu lại trở nên một động lực cần thiết cho họ vững bước. Vì thế, cũng dễ hiểu vì sao tình yêu đôi lứa cũng là mối bận tâm trong cuộc đời của người trẻ. Nhà thơ Xuân Diệu đã thốt lên: “làm sao cắt nghĩa được tình yêu, có nghĩa gì đâu một buổi chiều”.
Tình yêu thời trẻ có nhiều gam màu khác nhau. Có tình yêu làm động lực ý chí cho đôi bạn vươn lên trong cuộc sống, vượt qua khó khăn của nghịch cảnh và đi đến hôn nhân viên mãn. Nhưng cũng không ít những tình yêu trở thành nỗi âu lo, bận lòng của cha mẹ và xã hội. Không ít người trẻ đi vào con đường yêu đương quá sớm, yêu mù quáng dẫn đến nhiều hậu quả khó lường. Tình yêu vốn dĩ đẹp nhưng một bộ phận người trẻ coi tình yêu là một món đồ “thay người tình như thay áo”, hay yêu chớp nhoáng, yêu theo phong trào “cặp kè cho vui” nhằm thỏa mãn những nhu cầu tính dục, lợi dụng nhau mà sống…
Lối sống buông thả trong tình yêu làm họ rơi vào những tình cảnh bi đát như việc học dở dang, mang thai ngoài ý muốn, phá thai, những chấn thương tâm lý sau phá thai, tương lai chưa định hình mà đã phải làm cha làm mẹ ở lứa tuổi teen…
– Hưởng thụ một lối sống tục hóa
Bên cạnh những bạn trẻ đang không ngừng tìm kiếm tri thức, làm tăng vốn liếng cho tương lai qua việc đầu tư học tập, thì một bộ phận người trẻ khác lại bị lối sống hưởng thụ. Họ bị chủ nghĩa vật chất của xã hội đương thời khống chế. Họ lao vào ăn chơi trác táng, tiêu sài phung phí thỏa mãn những nhu cầu vật chất, coi nhẹ giá trị “chân – thiện – mỹ”.
Biết sao được khi xã hội ngày nay đang cổ võ cho một lối sống tôn thờ vật chất, đề cao thực dụng, hình thức bên ngoài trở thành chuẩn mực đánh giá con người. Câu nói “tốt gỗ hơn tốt nước sơn”đã xưa rồi diễm ơi! Thời nay “cái đẹp sẽ đè bẹp cái nết”! Nhiều bạn trẻ thích sang chảnh với chiếc điện thoại đắt tiền, quần áo hàng hiệu, chiếc đồng hồ đắt giá…Họ sẵn sàng đánh đổi tất cả để có được vẻ ngoài sang chảnh, tận hưởng cuộc sống như chuyện đương nhiên của thế giới vật chất. Lối sống dễ dãi, quan hệ trước hôn nhân, bỏ bê việc học cắm đầu vào những trò chơi vô bổ như game, đua xe, vũ trường… làm họ hao mòn tuổi trẻ, chôn vùi tương lai trong vũng lầy của sự tầm thường.
Thời kỹ thuật số, thế giới ảo lại trở thành một miền đất tốt cho những ai ưa thích thể hiện bản thân. Họ nói “sống ảo chẳng chết ai” vì thế họ tha hồ tung những chiêu trò độc – lạ để câu view, bất chấp nỗi đau của người khác, miễn là bản thân họ được dậy sóng trên cộng đồng mạng. Cách sống vụ lợi, quy về mình khiến người trẻ rơi vào trạng thái bàng quang trước mọi việc, vô cảm trước nỗi đau… Thật đáng lo ngại cho tương lai của một đất nước khi một lớp người trẻ chỉ sống quy về chính mình, coi trọng vật chất, xem người khác là bàn đạp để hưởng lợi, tiến thân…
- Thiên Chúa ở đâu trong trái tim người trẻ?
Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI khẳng định: “Đức tin là ơn Thiên Chúa, nhưng cũng là một hành động tự do sâu xa của con người, họ tín thác nơi Thiên Chúa là Đấng yêu thương họ”. Đức tin là kết quả của sự tương tác hai chiều, giữa Thiên Chúa và con người. Một đức tin vững mạnh, giàu lòng mến với người xung quanh hay một niềm tin nông cạn, hời hợt trước Thiên Chúa… thì hoàn toàn tùy thuộc vào mỗi con người, còn Thiên Chúa thì Ngài luôn hiện diện với con người, Ngài giàu lòng xót thương, luôn quan tâm chăm sóc và quan phòng cho mỗi người.
Khi nhìn vào bức tranh tổng quan về mối bận tâm của người trẻ hôm nay, chúng ta có thể thấy hai khuôn mặt nổi bật của người trẻ đáp trả lại tình yêu và sự quan tâm của Thiên Chúa. Có khá nhiều bạn trẻ có đức tin vững mạnh, họ thực sự là những người muốn cống hiến cho Giáo Hội và xã hội. Họ đã cảm nhận mình được thương trong chính “Ngôi nhà Giáo Hội” và muốn sống một cuộc sống đầy tình thương ấy. Họ dấn thân không mệt mỏi trong các hoạt động của Giáo xứ, tham gia các hội đoàn như Giáo lý viên, ca đoàn, nhóm sinh viên Công giáo… Họ sẵn sàng hi sinh thời gian, làm việc bác ái để thăm viếng người đau khổ, người tàn tật; tham dự Thánh lễ, tham dự giờ chầu Thánh Thể…
Trước đây, các lớp Thần học chỉ dành cho Linh mục, tu sĩ nhưng thời gian gần đây nhiều Học viện Thần học đã mở ra cho giáo dân tham dự, và đã có rất nhiều bạn trẻ tham gia khóa học thần học, tìm hiểu Thánh Kinh, chia sẻ Lời Chúa sống niềm vui Tin Mừng… Họ là chứng nhân của Chúa giữa cuộc sống đời thường, nơi họ học tập, nơi họ trao ban sự quảng đại dấn thân. Họ sống đức tin giữa lòng dân tộc, sự cống hiến của họ giữa đời luôn mang ngọn lửa của Tin Mừng. Họ sống một tuổi trẻ đầy năng lượng của tình yêu Chúa.
Bên cạnh đó, chúng ta phải nhìn nhận rằng một số người trẻ hôm nay đang xa rời với đức tin của Giáo hội. Quan sát Thánh lễ ngày thường ở các xứ đạo, chúng ta chỉ nhìn thấy phần đông là người trung niên, người lớn tuổi và một ít thiếu nhi trong các lễ chiều. Vậy, người trẻ họ ở đâu, xin thưa “con phải đi học thêm, con phải đi làm thêm, đi học về con chỉ muốn nằm…” “lễ sáng sớm quá, con dậy không được”. Và có rất nhiều lý do được đưa ra ngụy biện cho việc không đến nhà thờ của người trẻ. Họ chỉ đến nhà thờ vào ngày Chúa nhật nhưng là một sự miễn cưỡng “Bố mẹ nói nhiều quá nên đi cho xong!”
Vì thế, họ tham dự Thánh lễ ở cổng nhà thờ, hay những gốc cây chung quanh Thánh đường. Họ có mặt ở đó để xem lễ, nhưng không hề ý thực “tôi ở đây để làm gì?”, họ vui vẻ trò chuyện cùng bạn đi lễ, thích thú với những trò chơi trên điện thoại, lướt lướt Iphone cho xong giờ lễ, họ không quan tâm hôm nay lễ gì, linh mục đang làm gì… Có những bạn đi lễ ngồi sẵn trên xe máy, khi thấy giáo dân ra về là họ phóng xe chạy thẳng.
Phải nhìn nhận rằng lối sống tục hóa của xã hội đã ảnh hưởng rất nhiều đến suy tư và cách sống của một số người trẻ. Những giá trị chuẩn mực trước đây của cha ông trở thành “cổ”, thay vào đó là những giá trị lệch chuẩn do chính họ nhìn nhận. Tỉ như tình yêu đồng giới, không thích nuôi con thì phá bỏ, coi trọng sự sang chảnh hơn là một người có phẩm chất “công – dung – ngôn – hạnh”. Họ cho rằng những trải nghiện sống thử trước hôn nhân là cần với họ, yêu không giới hạn… và rất nhiều những giá trị lệch lạc xa rời với đức tin Công giáo. Tất nhiên, ít nhiều bạn trẻ Công giáo chịu ảnh hưởng đến lối sống này.
Lối sống tục hóa chi phối cách nhìn và hành động, những giá trị nhân văn, Tôn giáo trở nên tầm thường với họ, và họ đặt Thiên Chúa ra ngoài cuộc sống của mình. Theo đó chủ nghĩa tương đối len lỏi hình thành trong cách sống. Con người chỉ là tương đối, tương quan cũng tương đối, tình yêu cũng tương đối và Thiên Chúa cũng tương đối mà thôi.
Bạn thân mến,
Đức Thánh Cha Phanxicô tâm sự với bạn rằng: “Làm sao người ta có thể biết ơn Thiên Chúa nếu không biết tận hưởng những món quà nho nhỏ hằng ngày của Ngài, nếu không biết dừng lại trước những điều đơn sơ và dễ thương mà chúng ta vẫn gặp. Điều quan trọng không phải là hưởng thụ vô độ, vui thú bất tận…Vì điều này sẽ ngăn cản con sống giây phút hiện tại.” (Đức Kitô Đang Sống, số 146).
Là một người Kitô hữu, chúng ta rất cần những khoảng lặng trong đời để bình tâm nhận định cuộc sống với những hay – dở, đúng – sai mà kịp thời hoán cải. Sống tâm tình tạ ơn Chúa, cám ơn tha nhân từ những điều rất bình thường họ đã tử tế với mình. Thiên Chúa vẫn chờ đợi mỗi chúng ta qua cử hành phụng vụ Thánh Lễ, qua Bí Tích Thánh Thể và Bí tích giải tội… Hãy trung thành với tình yêu của Ngài đã dành cho mỗi chúng ta. Như những người bạn với nhau, chúng ta có trò chuyện, thường xuyên liên lạc thì tình bạn mới gắn bó, hiểu nhau và yêu mến nhau. Cũng vậy, Thiên Chúa luôn có đó, Ngài hằng hiện diện và đồng hành cùng bạn, hãy đến với Ngài và: “Hãy kết thân với Thiên Chúa và bạn sẽ là những người giàu nhất nhân loại.” (Thánh Pierre Fourier–Đấng sáng lập Dòng Đức Bà).
Có Thiên Chúa hiện diện trong đời, người trẻ sẽ mang trong mình ngọn lửa năng động – sáng tạo của Thần Khí, và đong đầy cuộc đời bằng tình yêu của Thiên Chúa. Đức Thánh Cha nhắm nhủ chúng ta: “Một trải nghiệm tuổi trẻ được sống tốt đẹp luôn còn đó như một kinh nghiệm nội tâm. Và trong đời sống trưởng thành kinh nghiệm ấy thấm nhập sâu sắc hơn và tiếp tục trổ sinh hoa trái…” (Chúa Kitô Đang Sống, số 160). Mến chúc bạn có một sự kết thân mật thiết với Thiên Chúa!
2022
Công nghệ 4.0 và chậm phát triển ngôn ngữ ở trẻ mầm non
CÔNG NGHỆ 4.0 VÀ CHẬM PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ Ở TRẺ MẦM NON:
TỔNG QUAN TỪ MỘT SỐ NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI
Nt. Nguyễn Bảo Uyên, MTG Huế
Tiến sĩ Tâm lý Tham vấn
Tóm tắt
Mục tiêu: Tìm hiểu ảnh hưởng của việc tiếp xúc sớm với màn hình lên sự phát triển ngôn ngữ ở trẻ em tuổi mầm non.
Phương pháp: Sử dụng phương pháp tổng hợp và phân tích các nghiên cứu sẵn có liên quan đến chậm phát triển ngôn ngữ ở trẻ và việc tiếp xúc sớm với màn hình.
Kết quả: Có một mối liên hệ ý nghĩa về mặt thống kê giữa việc tiếp xúc sớm với màn hình và chậm phát triển ngôn ngữ ở trẻ mầm non.
Từ khóa: Tiếp xúc sớm với màn hình, chậm phát triển ngôn ngữ.
- Mở đầu
Sự phát triển của trẻ em ngày nay chịu sự ảnh hưởng đáng kể của các phương tiện kỹ thuật số. Các nghiên cứu gần đây cho thấy có 64% đến 100% trẻ em xem tivi trước 2 tuổi.[1] Trẻ em thường vui vẻ, yên lặng khi có một màn hình tivi trước mặt hoặc có một thiết bị điện tử trong tay. Trẻ ăn cơm nhanh hơn và tốt hơn nếu vừa ăn vừa xem tivi. Trẻ sẽ yên lặng cho cha mẹ giải quyết các công việc hay vượt qua một ngày bận rộn cách dễ dàng nếu có tivi trước mặt hoặc một thiết bị điện tử khác trong tay. Nhiều người còn nghĩ rằng tivi là một công cụ tốt để giúp trẻ trở nên ngoan hơn.
Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu cho thấy rằng, màn hình không là phương tiện tốt cho trẻ em học hỏi các kỹ năng, trong đó có kỹ năng về ngôn ngữ.[2] Trước đây, nguyên nhân thường được biết đến của chậm phát triển ngôn ngữ ở trẻ em là do hậu quả của khiếm thính, khuyết tật trí tuệ, sang chấn sản khoa, động kinh, tổn thương não, giảm tập trung chú ý, hoặc do di truyền, rối loạn phổ tự kỷ điển hình/ bậc cao… Các nghiên cứu gần đây đã phát hiện ra một nguyên nhân tác động khác, ảnh hưởng đáng kể đến chậm phát triển ngôn ngữ ở trẻ, là do tiếp xúc sớm với màn hình.
Trong thực tế, hiện tượng chậm phát triển ngôn ngữ có liên quan đến tiếp xúc sớm với tivi, điện thoại thông minh hoặc các phương tiện truyền thông khác đang gia tăng tại một số nước trên thế giới. Tại Việt Nam, mặc dù chưa có một con số thống kê chính xác nhưng có thể thấy rằng có một sự gia tăng báo động về vấn đề chậm phát triển ngôn ngữ ở trẻ. Theo BS. Phạm Ngọc Thanh, tại bệnh viện Nhi Đồng 1, Tp. Hồ Chí Minh, số trẻ em bị chậm nói đến bệnh viện Nhi Đồng 1 để kiểm tra và điều trị ngày càng gia tăng, trong đó 100% trẻ chậm nói đều có gắn liền với việc xem truyền hình quá sớm. Cũng vậy, tại Khoa Tâm lý bệnh viện Nhi Đồng 2, BS.TS Ngô Xuân Điệp nhận định rằng: “Thời gian gần đây, khoa cũng tiếp nhận nhiều trường hợp trẻ chậm nói do xem truyền hình quá nhiều.”[3] Tại Trung tâm giáo dục kỹ năng sống hoàn năng Huế, trong 6 tháng cuối năm 2018, có 130 trẻ từ 18 tháng tuổi đến 5 tuổi đến nhận dịch vụ tham vấn trị liệu. Các trẻ đến trung tâm, đa số trong đó là do những biểu hiện chậm phát triển ngôn ngữ: hoàn toàn không có ngôn ngữ ở tuổi lên hai hoặc lên ba, khiếm khuyết ngôn ngữ theo độ tuổi, hoặc khả năng giao tiếp kém. Những thông tin được báo cáo từ phụ huynh thường là “trẻ ở với bà ngoại, bà nội và đã bắt đầu xem tivi trước 12 tháng tuổi.” “Vì công việc, cha mẹ không có nhiều thời gian chăm sóc con, người giúp việc là người chăm sóc chính và hầu hết thời gian trẻ xem tivi hoặc máy tính bàn để thuận tiện cho người chăm sóc có thể làm các công việc khác. Mỗi ngày trẻ có thể xem từ 5 đến 7 tiếng đồng hồ.” “Ba mẹ không nói chuyện nhiều với con vì ngoài thời gian làm việc, thời gian bên màn hình lấn chiếm thời gian của gia đình, thay thế sự tương tác giữa người lớn và trẻ em.” “Người lớn trong nhà xem phim, chơi game online trước sự hiện diện của trẻ.” “Đi khám bác sĩ y khoa thì bảo rằng cháu phát triển bình thường, nhưng tôi thấy lo vì thấy trẻ chậm nói hơn bạn bè cùng lứa” v.v.[4]
Vậy có một tương quan có ý nghĩa về mặt thống kê nào giữa chậm phát triển ngôn ngữ và tiếp xúc sớm với màn hình đối với trẻ ở tuổi trước khi đến trường? Mục tiêu của nghiên cứu này là tổng hợp và phân tích các nghiên cứu sẵn có về mối tương quan giữa chậm phát triển ngôn ngữ ở trẻ em trước khi đến trường và tiếp xúc sớm với màn hình. Qua đó, đề xuất những phương pháp phù hợp cho phụ huynh, cho những người chăm sóc trẻ em cũng như các nhà giáo dục trẻ em để có cách hiểu đúng và hướng dẫn đúng đối với con trẻ trong việc tiếp xúc với màn hình.
- Phương pháp nghiên cứu
Bài báo này sử dụng phương pháp nghiên cứu các tài liệu sẵn có về tương quan giữa việc tiếp xúc màn hình sớm ở tuổi mầm non và chậm phát triển ngôn ngữ. Các tài liệu tham khảo phải được xuất bản sau năm 2000 và đạt tiêu chuẩn của một bài báo khoa học. Các bài báo được đăng trên các tạp chí online của viện nghiên cứu Khoa Nhi, như viện khoa nhi Canada, Hoa Kỳ, v.v. Các tạp chí nghiên cứu về phát triển hành vi, ngôn ngữ, kỹ năng giao tiếp của trẻ.
Sau khi các tài liệu tham khảo được chọn đúng theo mục tiêu nghiên cứu, phương pháp tổng hợp và phân tích được sử dụng nhằm tìm ra điểm tương đồng và khác biệt giữa các nghiên cứu về mối tương quan giữa việc tiếp xúc sớm với màn hình và chậm phát triển ngôn ngữ ở trẻ tuổi mầm non.
Trên cơ sở đó, đưa ra một số kiến nghị cho phụ huynh, những người chăm sóc, các nhà giáo dục trẻ và các nhà nghiên cứu quan tâm đến công việc giáo dục trẻ thơ trong thời đại cách mạng 4.0.
- Kết quả nghiên cứu
2.1. Các từ khóa
Thời gian tiếp xúc màn hình (Screen time)
Thời gian tiếp xúc với màn hình là thời gian ngồi trước một màn hình bất kỳ như: Tivi, màn hình rạp chiếu phim, điện thoại thông minh, máy tính bảng, thiết bị trò chơi video cầm tay, đầu DVD trong xe ôtô hoặc bất cứ phương tiện nào khác mà có màn hình và hình ảnh chuyển động.[5]
v Chậm phát triển ngôn ngữ (language delay)
Một trẻ được chẩn đoán chậm phát triển ngôn ngữ, khi khả năng ngôn ngữ cơ bản và số lượng từ vựng thấp hơn so với cột mốc phát triển của tuổi, như giảm từ vựng, cấu trúc câu giới hạn, khiếm khuyết trong diễn ngôn.[6] Trẻ phát triển ngôn ngữ theo trình tự chính xác nhưng với tốc độ chậm hơn mong đợi so với tuổi thực.[7] Một sự chậm trễ trong việc tiếp thu các kỹ năng ngôn ngữ so với các bạn cùng tuổi theo thời gian của các cột mốc phát triển. Một trẻ chậm phát triển ngôn ngữ có thể biểu hiện sự khởi đầu chậm hơn của việc sử dụng một kỹ năng ngôn ngữ, tốc độ tiến bộ chậm thông qua quá trình tiếp thu. Nói chung, chậm phát triển ngôn ngữ có thể được đánh giá, ví dụ, bởi số từ vựng ít hơn 50 từ trong 24 tháng, chỉ nói được một ít từ đôi trong 30 tháng, hạn chế sử dụng cử chỉ và âm thanh để giao tiếp, hạn chế hiểu biết về nghĩa của từ và không thể theo dõi hướng dẫn bằng lời nói, hạn chế chơi với bạn.[8]
Chậm phát triển ngôn ngữ được phân biệt với các rối loạn ngôn ngữ (language disorders). Rối loạn ngôn ngữ được định nghĩa: một rối loạn ngôn ngữ là sự suy yếu đáng kể trong việc tiếp thu và sử dụng ngôn ngữ qua các phương thức (ví dụ: lời nói, ngôn ngữ ký hiệu hoặc cả hai) do khiếm khuyết khả năng hiểu và / hoặc khả năng diễn đạt, được thể hiện qua một hoặc nhiều trong năm lĩnh vực ngôn ngữ bất kỳ, bao gồm âm vị học, hình thái, cú pháp, ngữ nghĩa, ngữ cảnh). Rối loạn ngôn ngữ là không đồng nhất, và bản chất và mức độ nghiêm trọng của các rối loạn có thể thay đổi đáng kể (Hiệp hội Thính giác Ngôn ngữ Hoa Kỳ/ASHA, 2015). Rối loạn ngôn ngữ cho thấy khả năng nói hoặc khả năng ngôn ngữ của trẻ khác biệt cách căn bản so với trẻ bình thường.[9]
Trẻ chậm phát triển ngôn ngữ dẫn đến khó khăn trong việc hiểu được ngôn ngữ của người khác (ngôn ngữ tiếp nhận/ receptive language) và khó khăn khi muốn dùng lời nói (ngôn ngữ biểu đạt/ expressive language) để diễn tả suy nghĩ hay nhu cầu của bản thân. Ngoài ra, chậm phát triển ngôn ngữ còn biểu hiện ở khiếm khuyết khả năng biểu cảm, sử dụng ngôn ngữ cơ thể.[10]
Trẻ chậm phát triển ngôn ngữ có thể dẫn đến những hạn chế về chức năng trong hiệu quả giao tiếp, tương quan xã hội (DSM -5, tr. 42). Trong thực tế những trẻ chậm phát triển ngôn ngữ cũng khó khăn trong một số kỹ năng như: kỹ năng tương tác hai chiều, chủ động làm bạn, chơi theo quy luật trong nhóm, v.v.
3.2. Các nghiên cứu về tương quan giữa chậm phát triển ngôn ngữ và thời gian tiếp xúc màn hình
| Vấn đề nghiên cứu | Kết quả nghiên cứu | Tác giả và thời gian |
| Khi màn hình tivi đang được bật lên: màn hình tivi sẽ thu hút sự chú ý của trẻ sơ sinh từ 6 đến 18 tháng tuổi hơn sự tương tác của chúng đối với cha mẹ. | Đối với trẻ sơ sinh và trẻ mẫu giáo, thời gian tiếp xúc với màn hình có tương quan tỉ lệ nghịch với thời gian tương tác với cha mẹ. Nghĩa là trẻ càng tiếp xúc với màn hình nhiều thì càng ít tương tác với cha mẹ qua các trò chơi để học các kỹ năng trong đó có kỹ năng ngôn ngữ. | Vandewater, Bickham, & Lee (2006) |
| Mối liên hệ giữa việc sử dụng các phương tiện truyền thông và phát triển ngôn ngữ ở trẻ em dưới 2 tuổi. | Kết quả khảo sát hơn 1.000 cha mẹ của trẻ em dưới hai tuổi cho thấy rằng những trẻ em mới biết đi chập chững xem nhiều video thì nói được ít từ hơn. Đối với những trẻ từ 8 tháng tuổi đến 16 tháng tuổi, với gia tăng mỗi giờ video trong một ngày, trung bình sẽ làm giảm từ 6 đến 8 từ. | Zimmerman,
Christakis, & Meltzoff (2007) |
| Mối tương quan giữa xem tivi và chậm ngôn ngữ. | Những trẻ em bắt đầu xem tivi trước 12 tháng tuổi với thời gian > 2 giờ mỗi ngày có khả năng chậm ngôn ngữ gấp sáu lần so với trẻ phát triển bình thường (nhóm đối chiếu). | Chonchaiya
& Pruksananonda (2008) |
| Chất lượng tương tác giảm với thời lượng xem tivi cùng với trẻ so với việc đọc sách hay chơi cùng với trẻ. | Chất lượng tương tác giữa cha mẹ đối với con cái trong khi cùng xem tivi với con kém hơn thời gian khi họ nói chuyện trực tiếp với con hay đọc sách hoặc chơi với con. | Courage,
Murphy, Goulding, Setliff (2010) Nathanson, & Rasmussen (2011) |
| Hỏi đáp các vấn đề tâm lý trẻ em. | Yếu tố tác động (môi trường xung quanh) dẫn đến chậm phát triển ngôn ngữ ở trẻ em: Trẻ xem truyền hình quá nhiều, bố mẹ ít nói chuyện với con, khiến trẻ chỉ nhận thông tin một chiều, không có sự phản hồi trong một thời gian dài sẽ làm trẻ chậm nói. Thiếu tình thương của bố mẹ, trẻ bị ngược đãi. Bố mẹ phó mặc con cho người giữ trẻ không có thời gian trò chuyện với trẻ, trẻ không có cơ hội được nói. Trẻ bị tách ra khỏi môi trường xung quanh. Trẻ suy dinh dưỡng, sinh đôi, sinh ba (hơn 50% các cặp sinh đôi, sinh ba bị chậm nói). | Phạm Ngọc
Thanh (2010) |
| Liên hệ giữa sử dụng thời gian trên màn hình và phát triển ngôn ngữ ở trẻ mới biết đi ở Tây Ban Nha: Một nghiên cứu cắt ngang và dọc. | Những trẻ em xem tivi > 2 giờ mỗi ngày có tỷ lệ điểm giao tiếp thấp. | Duch, Elisa, &
Ensari (2013) |
| Tương quan giữa xem truyền hình và chậm ngôn ngữ ở trẻ em mới biết đi: Bằng chứng từ một cuộc khảo sát cắt ngang ở Hàn Quốc. | Kết quả phân tích hồi quy Regression cho thấy trẻ mới biết đi với thời lượng xem tivi: 2 giờ < thời gian xem tivi < 3 giờ, có khoảng 2,5 lần có nguy cơ chậm ngôn ngữ hơn. Những trẻ với thời lượng xem tivi > 3 giờ có khoảng 3 lần có nhiều rủi ro chậm ngôn ngữ hơn (p <0,05). | Byeon & Hong
(2015) |
| Ảnh hưởng của việc tiếp xúc với tivi đối với các kỹ năng phát triển ở trẻ nhỏ. | Trong số 75 trẻ em thường xuyên tiếp xúc với tivi, các em đã xem trung bình 67,4 phút/ ngày, thời điểm trước 2 tuổi. Điều này là quá mức theo tiêu chuẩn của Học viện Nhi khoa Hoa Kỳ. Xem tivi làm tăng nguy cơ chậm phát triển nhận thức, ngôn ngữ và vận động ở trẻ. Sự chậm trễ về nhận thức, ngôn ngữ và vận động ở trẻ có liên quan đáng kể đến việc chúng dành bao nhiêu thời gian để xem tivi. | Ling-Yi et al.
(2015) |
| Tương quan giữa thời gian tiếp xúc với màn hình và chậm ngôn ngữ ở trẻ em. | Một nghiên cứu mới từ Bệnh viện dành cho Trẻ em bị bệnh ở Canada đã theo dõi gần 900 trẻ nhỏ từ 6 tháng tuổi đến 24 tháng tuổi. Kết quả cho thấy những trẻ chập chững tiếp xúc với màn hình cầm tay nhiều dẫn đến chậm trễ các kỹ năng ngôn ngữ biểu cảm. Kết quả cũng cho thấy rằng cứ sau 30 phút tăng cường thời gian tiếp xúc với màn hình cầm tay hằng ngày sẽ tăng 49% nguy cơ chậm trễ ngôn ngữ biểu cảm! | American
Academy of Pediatrics (2017) |
| Sử dụng thiết bị truyền thông di động có liên quan đến chậm ngôn ngữ biểu cảm ở trẻ 18 tháng tuổi. | Mẫu nghiên cứu bao gồm 893 trẻ em (tuổi trung bình 18,7 tháng). Hầu hết các bậc cha mẹ đã báo cáo con trẻ họ sử dụng 0 phút mỗi ngày thiết bị phương tiện di động (n = 693, 77,6%). Trong khi đó, những đứa trẻ có cha mẹ báo cáo bất kỳ việc sử dụng thiết bị phương tiện di động nào (n = 200, 22,4%), thời gian sử dụng phương tiện di động trung bình hằng ngày là 15,7 phút. Tỷ lệ chậm phát triển ngôn ngữ biểu cảm do phụ huynh báo cáo là 6,6% và tỷ lệ chậm trễ giao tiếp do phụ huynh báo cáo là 8,8%.
Trẻ em sử dụng điện thoại di động, tăng 30 phút/1ngày tỉ lệ thuận với tăng tỷ lệ chậm ngôn ngữ biểu cảm (báo cáo của phụ huynh). Như thế kết quả nghiên cứu cho thấy có mối liên hệ ý nghĩa giữa việc sử dụng thiết bị truyền thông di động và chậm ngôn ngữ biểu cảm ở trẻ 18 tháng tuổi. |
Heuvel và cs. (2018) |
Các kết quả nghiên cứu cho thấy rằng thời gian tiếp xúc với màn hình không thúc đẩy sự phát triển ngôn ngữ của con trẻ. Ngược lại, xem tivi hay tiếp xúc với bất kỳ màn hình nào khác như điện thoại thông minh, máy tính bàn, thiết bị trò chơi video cầm tay, đầu video v.v. làm tăng khả năng chậm ngôn ngữ và chất lượng giao tiếp xã hội kém. Cụ thể, về ngôn ngữ biểu đạt, hệ quả của việc tiếp xúc nhiều với màn hình làm giảm vốn từ gấp 6 lần hoặc giảm từ 6 đến 8 từ.[11] Tiếp xúc với màn hình với thời lượng không phù hợp làm giảm khả năng hứng thú trong tương tác hai chiều với cha mẹ, người chăm sóc.[12] Chất lượng tương tác giữa cha mẹ với con cái thông qua các chương trình trên tivi giảm so với các phương tiện khác như đọc sách cho con nghe, chơi cùng con.[13]
Màn hình trẻ tiếp xúc được đề cập trong các nghiên cứu trên là tivi, điện thoại di động, hay các thiết bị điện tử cầm tay khác.
Thời lượng tiếp xúc với màn hình gây cản trở phát triển ngôn ngữ là từ 2 giờ trở lên/ngày đối với trẻ dưới 12 tháng tuổi. Gia tăng thời gian tiếp xúc với màn hình từ 24 tháng tuổi đến 5 tuổi cũng làm giảm sự chú ý, trí nhớ ngắn hạn và khả năng đọc kém.
Ngoài ra, vấn đề chậm ngôn ngữ do tiếp xúc sớm với màn hình còn có thể được giải thích như sau:
Sự phát triển ngôn ngữ ở trẻ em xảy ra liên tục từ khi sinh ra cho đến 5 tuổi. Giai đoạn này được biết đến như giai đoạn rất quan trọng đối với việc tiếp thu ngôn ngữ ở trẻ.[14] Đặc biệt, trẻ sơ sinh từ 18 đến 24 tháng tuổi là thời điểm vàng tiếp thu hay học từ ngữ, trong đó các từ tăng theo cấp số nhân. Trong giai đoạn này, trẻ bắt đầu nói được câu có hơn hai từ.[15]
Trẻ học cách nói chuyện và giao tiếp thông qua tương tác với người khác. Đó là cách hữu hiệu và vẫn luôn tồn tại. Những năm đầu đời rất quan trọng cho sự phát triển ngôn ngữ của trẻ. Đó là lúc mà bộ não của trẻ dễ tiếp thu nhất để học ngôn ngữ mới và xây dựng các lộ trình giao tiếp mà sẽ làm nền cho các bước phát triển khác sau này. Từ vựng quan trọng trong giao tiếp, tuy nhiên, với sự tương tác hai chiều, trẻ còn học được ngôn ngữ biểu cảm qua nét mặt, ngôn ngữ cơ thể và các tín hiệu phi ngôn ngữ. Một khi cửa sổ đó đóng lại, nghĩa là cơ hội tương tác hai chiều giữa trẻ và người khác bị đóng lại thì việc học và phát triển các kỹ năng ngôn ngữ sẽ khó khăn hơn nhiều. Hãy tưởng tượng, đứa trẻ được nuôi dưỡng bởi những con sói trong rừng thì rất khó học cách giao tiếp hiệu quả. Cũng thế, mỗi phút mà trẻ tiếp xúc với màn hình là một phút trẻ mất cơ hội để học cách tương tác với người khác. Khi trẻ có một thiết bị điện tử trước mặt, nó lặng lẽ ngồi và xem chương trình yêu thích của mình và không thấy có nhu cầu tương tác với người khác. BS. Phạm Ngọc Thanh (2010)[16] cho rằng khi xem tivi, trẻ nhận thông tin một chiều trong một thời gian dài, không có cơ hội tương tác hai chiều gây nên chậm nói.
Chậm phát triển ngôn ngữ do tiếp xúc sớm với tivi hay các loại màn hình khác đã được chứng minh và giải thích qua các kết quả nghiên cứu như đã được đề cập ở trên. Tuy nhiên, giới hạn của các nghiên cứu này là không đưa ra một bức tranh hoàn chỉnh về chậm ngôn ngữ như thế nào về khả năng tiếp nhận và biểu đạt ngôn ngữ ở trẻ trong tương quan với việc tiếp xúc sớm với màn hình. Chưa xác định rõ các loại nội dung nào trẻ tiếp xúc thì ảnh hưởng đến chậm phát triển ngôn ngữ ở trẻ[17] hoặc có thể dùng video để dạy ngôn ngữ cho trẻ không?
- Kết luận
Thời gian tiếp xúc với màn hình càng nhiều thì khả năng phát triển ngôn ngữ càng chậm lại. Làm ảnh hưởng đến chất lượng tương quan giữa trẻ và người khác. Sự phát triển không đồng đều giữa ngôn ngữ tiếp nhận (hiểu và làm theo mệnh lệnh của người khác) và ngôn ngữ biểu đạt (nói, dùng ngôn ngữ diễn tả nhu cầu của bản thân hay ý muốn) xảy ra ở các trẻ có tiền sử xem tivi hoặc tiếp xúc với các loại màn hình khác sớm trước 12 tháng tuổi hoặc tăng cường thời gian xem tivi, điện thoại thông minh, máy tính bảng, v.v. trong các giai đoạn tiếp theo. Tuy nhiên, các nghiên cứu tập trung ở lĩnh vực ngôn ngữ biểu đạt ở trẻ, thay vì có một bức tranh toàn diện bao gồm ngôn ngữ tiếp nhận và ngôn ngữ biểu đạt.
Trẻ em sinh ra trong bối cảnh cách mạng 4.0, không thể tránh khỏi việc tiếp xúc với các loại phương tiện truyền thông đại chúng. Điều quan trọng là phụ huynh, những người chăm sóc trẻ, những nhà giáo dục hiểu và hướng dẫn cho trẻ có những lối tiếp cận phù hợp và hữu ích. Dưới đây là một số kiến nghị cho phụ huynh, người chăm sóc và những nhà giáo dục.
Trẻ sơ sinh và trẻ dưới 2 tuổi hoàn toàn không nên tiếp xúc với bất kỳ loại màn hình nào. Trẻ em từ 24 tháng tuổi đến 5 tuổi với thời lượng phù hợp là không quá 1 giờ /ngày.[18]
Chọn chương trình chất lượng cao, cùng xem video với con trẻ, nói chuyện với con trẻ trong khi xem video, kết nối những gì con trẻ nhìn thấy với những trải nghiệm hằng ngày của chúng. Chất lượng của chương trình và sự tương tác hai chiều với người lớn trong khi trẻ xem video là rất quan trọng đối với trẻ từ 24 tháng tuổi đến 5 tuổi.[19]
Khi người lớn hướng dẫn trẻ trong thời gian trẻ tiếp cận với màn hình và lôi cuốn trẻ vào cuộc trò chuyện hai chiều về nội dung chúng đang xem, thì tác động bất lợi đối với chậm phát triển ngôn ngữ có thể bị vô hiệu hóa.[20] Kết quả này cho thấy vấn đề quan trọng ở đây là cách trẻ tiếp xúc với màn hình như thế nào là phù hợp và ích lợi dưới sự hướng dẫn của người lớn.
Chậm phát triển ngôn ngữ ở trẻ thường dẫn đến cảm xúc, hành vi tiêu cực ở trẻ do khó khăn trong giao tiếp với người khác. Các phụ huynh, người chăm sóc trẻ và các nhà giáo dục mầm non cần hiểu những khó khăn của trẻ và có những cách tiếp cận phù hợp và hiệu quả.
Cần có nhiều nghiên cứu khác về các nội dung, hình thức không phù hợp khi trẻ tiếp xúc với màn hình, dẫn đến chậm phát triển ngôn ngữ ở trẻ em. Kế hoạch sử dụng các phương tiện truyền thông trong gia đình có con trẻ ở tuổi mầm non. Các nghiên cứu trong tương lai được đề xuất nghiên cứu về sự chênh lệch khác biệt giữa ngôn ngữ tiếp nhận và biểu đạt của trẻ như hệ quả của việc tiếp xúc sớm với màn hình và với thời lượng không phù hợp. Nghiên cứu các hệ quả về kỹ năng cá nhân, xã hội của trẻ chậm phát triển ngôn ngữ. Phân biệt chậm nói và chậm ngôn ngữ do tác động của việc tiếp xúc sớm với màn hình. Nghiên cứu các yếu tố khác có thể ảnh hưởng làm chậm phát triển ngôn ngữ ở trẻ.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- American Academy of Pediatrics (2017).American Academy of Pediatrics Announces New Recommendations for Children’s Media Use. Retrieved fromhttps://www.aap.org/en-us/about-the-aap/aap-press-room/pages/american-academy-of-pediatrics-announces-new-recommendations-for-childrens-media-use.aspx
- American Academy of Pediatrics (2017).Handheld Screen Time Linked with Speech Delays in Young Children. Retrieved fromhttps://www.healthychildren.org/English/news/Pages/Handheld-Screen-Time-Linked-with-Speech-Delays-in-Young-Children.aspx
- American Psychology Association. (2013).Diagnostic and Statistical Manual of MentalDisorders – 5 (DSM-5). The American Psychiatric Publication.
- American Speech-Language Hearing Association. (2015).Spoken Language Disorders. Retrieved fromwww.Practice-Portal/Clinical-Topics/Spoken-Language-Disorders
- Berk L.Child Development(9th Ed). NJ: Pearson Education Inc, 2012.
- Byeon, H., & Hong, S. (2015).Relationship between Television Viewing and Language Delay in Toddlers: Evidence from a Korea National Cross-Sectional SurveyPLoS One; 10(3): e0120663. doi: 10.1371/journal.pone.0120663.
- Canadian Pediatric Society (2017).Screen time and young children: Promoting health and development in a digital world.Retrieved from https://www.cps.ca/en/documents/position/screen-time-and-young-children
- Chonchaiya W., & Pruksananonda C. (2008). Television viewing associates with delayed language development,Acta Paediatrica,97(7), 977-982. doi: 10.1111/j.1651-2227.2008.00831.
- Christakis, D. A. (2009). The effects of infant media usage: what do we know and what should we learn? Review Article.Acta Paediatrica, 98, 8-16.
- Council On Communications And Media. (2016). Media Use in School-Aged Children and Adolescents,American Academy of Pediatrics 138(5), 1-8.
- Courage, M., Murphy, A., Goulding, S., & Setliff, A. (2010). When the television is on: The impact of infantdirected video on 6- and 18-month-olds’ attention during toy play and on parent-infant interaction.Infant Behavior and Development,33, 176-188.
- Duch H., Elisa M.F., Ensari I. (2013). Association of Screen Time Use and Language Development in Hispanic Toddlers: A Cross-Sectional and Longitudinal Study,Clinical Pediatrics, 52(9), 857 – 865.
- Elisabeth R.McClureYulia., E.Chentsova-DuttonRachel., F.BarrSteven J.Holochwost1.,W. GerrodParrott. (2015). Facetime doesn’t count”: Video chat as an exception to media restrictions for infants and toddlers.International Journal of Child-Computer Interaction, 6,1 – 6.
- F. Wallace, Nancy D. Berkman, Linda R. Watson, Tamera Coyne- Beasley, Charles T. Wood, Katherine Cullen, Kathleen N. Lohr. (2015). Screening for Speech and Language Delay in Children 5 Years Old and Younger: A Systematic Review.Pediatrics, 136(2), 447 – 462.
- Linebarger D.L., Walker D. (2005). Infants’ and toddlers’ television viewing and language outcomes.American Behavior Science, 48,624–645.
- Ling-Yi, L., Rong-Ju, C., Yung-Jung, C., Yi-Jen, C., Hei-Mei, Y. (2015). Effects of television exposure on developmental skills among young children.Infant Behavior and Development, 38,20 – 26.
- Meta, H., Julia, M., Cornelia M., Christine, K., David W. H., Parkin, C., Jonathon L., & Catherine S., (2018). Mobile Media Device Use is Associated with Expressive Language Delay in 18-Month-Old Children.Developmental & Behavioral Pediatrics. doi: 10.1097/DBP.0000000000000630.
- Nathanson, A. I., & Rasmussen, E. E. (2011). TV viewing compared to book reading and toy playing reduces responsive maternal communication with toddlers and preschoolers.Human Communication Research,37(4), 465-487.
- National Institute on Deafness and Other Communication Disorders (NIDCD). (2017).
- Nguyễn Bảo Uyên (2018). Tổng quan từ các kiểm tra và đánh giá trường hợp các trẻ có nhu cầu dịch vụ Tham vấn trị liệu tại Trung tâm giáo dục kỹ năng sống hoàn năng, Huế.
- Phạm Ngọc Thanh. (2010).Hỏi đáp các vấn đề tâm lý trẻ em. Nhà xuất bản thanh niên.
- Prasad, A.D. (2015). Language Delay Versus Language Disorder: Is There a Problem?.Special Education GuideRetrieved from https://www.specialeducationguide.com/blog/language-delay-versus-language-disorder/?fbclid=IwAR3807YnV1SeSLju2T1EWB-Wzo9tOCi53dwIfs4Qyl47HIgLRndjbSs4RdQ
- Rideout, V.J., Vandewater, E.A., Wartella, E.A. (2003).Zero to Six: Electronic Media in the Lives of Infants, Toddlers, and Preschoolers. The Henry J. Kaiser Family Foundation, Menlo Park, CA 94025.
- Speech and Language Kids. (2016). Retrieved fromhttps://www.speechandlanguagekids.com/screen-time-and-language-development
- Steiner-Adair, C. (2013).The Big Disconnect: Protecting Childhood and Family Relationships in the Digital Age.New York, NY: Harper.
- Thùy Dương (2007).Trẻ Chậm Nói Do xem Tivi. Retrieved fromhttps://dantri.com.vn/suc-khoe/tre-cham-noi-do-xem-tivi-1186467174.htm
- Vandewater, E. A., Bickham, D. S., & Lee, J. H. (2006). Time well spent? Relating television use to children’s free-time activities.Pediatrics,117(2), 181-191.
- Zimmerman, F. J., Christakis, D. A. & Meltzoff, A. N. (2007). Associations between Media Viewing and Language Development in Children Under Age 2 Years.The Journal of Pediatrics, 151, 364-368.
- Zimmerman, F.J., Gilkerson, J., Richards, J.A., Christakis, D.A., Xu, D., Gray, S., & Yapanel, U. (2009). Teaching by Listening: The Importance of Adult-Child Conversations to Language Development.Pediatrics,124(1), 342-349. doi: 10.1542/ peds.2008-2267.
Trích Bản tin Hiệp Thông / HĐGMVN, Số 125 (Tháng 7 & 8 năm 2021)
WHĐ (17.01.2022)
[1] Rideout, V.J., Vandewater, E.A., Wartella, E.A. (2003). Zero to Six: Electronic Media in the Lives of Infants, Toddlers, and Preschoolers.
[2] Christakis, D. A. (2009). The effects of infant media usage: what do we know and what should we learn?.
[3] Thùy Dương (2007). Trẻ Chậm Nói Do xem Tivi. Retrieved from https://dantri.com.vn/suc-khoe/tre-cham-noi-do-xem-tivi-1186467174.html.
[4] Nguyễn Bảo Uyên (2018). Tổng quan từ các kiểm tra và đánh giá trường hợp các trẻ có nhu cầu dịch vụ Tham vấn trị liệu tại Trung tâm giáo dục kỹ năng sống hoàn năng, Huế.
[5] Speech and Language Kids. (2016). Retrieved from https://www.speechandlanguagekids.com/screen-time-and-language-development
[6] American Psychology Association. (2013). Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders – 5 (DSM-5), tr.42.
[7] F. Wallace, và cộng sự. (2015). Screening for Speech and Language Delay in Children 5 Years Old and Younger.
[8] Prasad, A.D. (2015). Language Delay Versus Language Disorder: Is There a Problem?. Special Education Guide.
[9] F. Wallace, và cộng sự (2015).
[10] National Institute on Deafness and Other Communication Disorders (NIDCD). (2017).
[11] Zimmerman, F. J., và cộng sự.(2007). Associations between Media Viewing and Language Development in Children Under Age 2 Years; Chonchaiya W., & Pruksananonda C. (2008). Television viewing associates with delayed language development.
[12] Vandewater, E. A., Bickham, D. S., & Lee, J. H. (2006). Time well spent? Relating television use to children’s free-time activities.
[13] Courage, M., và cộng sự. (2010). When the television is on: The impact of infantdirected video on 6- and 18-month-olds’ attention during toy play and on parent-infant interaction; Nathanson, A. I., & Rasmussen, E. E. (2011). TV viewing compared to book reading and toy playing reduces responsive maternal communication with toddlers and preschoolers.
[14] Berk L. Child Development (9th Ed). NJ: Pearson Education Inc, 2012.
[15] Linebarger D.L., Walker D. (2005). Infants’ and toddlers’ television viewing and language outcomes.
[16] Phạm Ngọc Thanh. (2010). Hỏi đáp các vấn đề tâm lý trẻ em. Nhà xuất bản thanh niên.
[17] Rideout, V.J., Vandewater, E.A., Wartella, E.A. (2003). Zero to Six: Electronic Media in the Lives of Infants, Toddlers, and Preschoolers.
[18] Canadian Pediatric Society (2017). Screen time and young children: Promoting health and development in a digital world.
[19] American Academy of Pediatrics (2017). American Academy of Pediatrics Announces New Recommendations for Children’s Media Use.
[20] Zimmerman, F.J., và cộng sự. (2009). Teaching by Listening: The Importance of Adult-Child Conversations to Language Development.
2022
Đời tu không là sự đổ vỡ nhưng là hiệp thông và chia sẻ
2022
Con trẻ ‘yêu’, cha mẹ ứng xử sao?
Con trẻ ‘yêu’, cha mẹ ứng xử sao?
Một ngày đẹp trời, các bậc cha mẹ bỗng phát hiện ra rằng ‘đứa con bé bỏng của mình’ đang thích, đang yêu thương một ai đó. Phải làm sao?
Tuổi học trò qua nhanh, cái đọng lại trong mỗi người sau này không phải là điểm số mà là những kỷ niệm
Chị N.V.T. (42 tuổi, ngụ TP.HCM) phát hiện ra con mình có bạn trai khi con đang học những tháng đầu tiên ở một trường chuyên nổi tiếng của TP. Khi con mới vào học lớp 10, chị đã nhờ một người bạn là giáo viên trong trường “để mắt” đến con chị, có gì nhắn giúp cho chị biết.
Quan điểm của chị T. là muốn con chú tâm vào học tập để đi du học, chứ không muốn con có bạn trai sớm.
Tuổi học trò rồi cũng qua đi thật nhanh. Cái đọng lại trong mỗi con người sau này không phải là những điểm số mà là những kỷ niệm, những người bạn… Thế nhưng nhiều bậc cha mẹ lại không hiểu được điều này mà chỉ muốn con học và học…
Chị V.V.H., 35 tuổi, từng có nhiều kỷ niệm đẹp về tuổi học trò chia sẻ.
Cuộc điện thoại khiến cả đêm mất ngủ
Buổi chiều hôm ấy, bạn chị T. là giáo viên ở trường con chị học đã gọi điện thoại cho chị để thông báo rằng chính mắt bạn chị đã nhìn thấy con gái chị có cử chỉ rất thân mật với một nam sinh cùng học trong trường. Chị T. đã vô cùng ngạc nhiên khi nhận được thông tin này. Cô con gái “bé bỏng” và rất siêng năng học hành của chị sao lại sớm có bạn trai như thế?
Chị chia sẻ rằng, chị không thể để mọi chuyện diễn ra ngoài tầm kiểm soát của chị như vậy được. Đã bao nhiêu lần chị đã nói với con gái “tuổi con nên tập trung vào việc học hành, không nên yêu đương sớm”. Con luôn “dạ dạ”, nói “con chưa quan tâm đến việc ấy”. Thế mà không ngờ, con lại… “táo bạo” như vậy.
Sau cuộc điện thoại của người bạn, chị T. cảm thấy mình vẫn chưa đủ sức ảnh hưởng đối với con, chị vẫn kiểm soát con chặt lắm. Chị đợi con đi học về sẽ nói chuyện thẳng thắn với con về vấn đề này.
Vừa nhìn thấy chồng chị chở con gái về, chị đã nói ngay “con theo mẹ vào phòng mẹ có chuyện quan trọng muốn nói với con”. Nhìn thái độ của chị, con lấm lét đi theo. Vào trong phòng chị T. kể luôn chuyện có giáo viên trong trường đã nhìn thấy con và một bạn trai như thế.
“Con nghĩ sao mà có thể có những hành động tình cảm với bạn trai ngay trong trường học như vậy? Trường học là nơi các con đến học chứ không phải công viên để các con thể hiện tình cảm nam nữ. Ở trường có bao nhiêu thầy, cô, con muốn “công bố” chuyện của con cho cả trường biết?” – chị T. tức giận nói.
“Chưa kể đến việc gia đình mình đã xác định con sẽ đi du học nên cần có thời gian phấn đấu học hành, chứ không phải có bạn trai sớm, quyến luyến nhau rồi không muốn đi xa nữa. Trước đây mẹ tin con, không kiểm soát con, nhưng từ bây giờ mẹ sẽ kiểm soát con chặt hơn nữa và mẹ phản đối việc con có bạn trai trong những năm con đang học cấp III”, chị T. quả quyết.
Lý do chị T. đưa ra quyết định này là vì ở tuổi này các con rất cảm tính, mà theo chị “thích một nụ cười có thể tưởng mình yêu cả con người đó”, nhưng chỉ vài năm nữa con sẽ thấy người đó thực ra không hợp gì với con cả. Chị T. cho rằng chị có kinh nghiệm nên muốn con tránh những việc không cần thiết, mất thời gian, ảnh hưởng đến việc học tập.
“Nếu mẹ còn nghe những chuyện tương tự như vậy mẹ sẽ chuyển trường cho con. Con có gì giải thích với mẹ về việc này không?” – chị T. cao giọng hỏi con.
Con gái thấy chị giận dữ thì vừa nói vừa khóc: “Nói thật với mẹ, con cũng chưa từng nghĩ mình sẽ có bạn trai. Nhưng bạn trai này học cấp II cùng trường với con, học cũng rất giỏi, bạn nói chuyện cũng rất vui… Bạn ấy kiên trì theo đuổi con từ năm lớp 9 đến nay. Biết con thi vào trường chuyên, bạn cũng cố gắng học để thi để được cùng học với con… Cho nên lâu ngày con cũng quý mến bạn”. “Còn về chuyện có những thể hiện như vậy trong trường học, con thấy con sai rồi. Con sẽ không như vậy nữa”.
Nhưng chị T. quyết luôn với con là con phải chấm dứt mối quan hệ này, nếu không sẽ ảnh hưởng đến việc học tập của con…
Chị T. chia sẻ chị thật sự rất lo lắng khi con còn rất trẻ nhưng bày đặt “yêu đương”, những tâm hồn non nớt mà lại thích những hành động của người lớn thì dễ gây ra hậu quả nghiêm trọng. Chị quan điểm “cấm” là hay nhất, phải tỏ rõ quan điểm của mình, chứ cứ nương theo ý các con thì chẳng biết đâu mà lần…
Suốt đêm hôm đó và nhiều đêm sau nữa chị T. mất ngủ vì lo lắng, chị sợ con mình có hành động dại dột nào đó sẽ ảnh hưởng đến cả tương lai của con. Nói gì thì nói trong chuyện tình cảm con gái vẫn dễ bị thiệt mà chị lại không muốn con chị bị thiệt thòi chút nào…
Có những tình cảm thời học sinh trong sáng, hồn nhiên và là những kỷ niệm đáng nhớ – Ảnh minh họa: DUYÊN PHAN
Các con lại thấy mình bị “trói buộc”
Cháu T.N. – con gái chị T. – lại thấy mẹ quá nghiêm khắc, thấy bản thân mình luôn bị trói buộc… Trong trường cháu N. chuyện các bạn trẻ có tình cảm, nắm tay nhau xuống căngtin trường ăn sáng lại là chuyện rất bình thường. Giới trẻ hiện giờ không ngạc nhiên khi nghe bạn này yêu và cặp với bạn kia. Trong khi trong mắt các bậc cha mẹ luôn thấy các con mình còn rất nhỏ.
Mẹ N. không đồng ý N. có bạn trai, N. thấy rất vô lý mà không thể nói lại với mẹ. Bạn trai của N. cũng biết việc này và nói sẽ cùng N. phối hợp để mẹ không biết. Sau khi bị mẹ phát hiện, hai bạn thường chỉ nhắn tin với nhau vào lúc khuya, việc đi lại ở trường cũng hạn chế hơn… Và hai bạn cùng quyết tâm cố gắng học điểm cao để mẹ yên tâm và không trách mắng.
Nhiều bạn học cùng trường với N. đều biết chuyện của N. Nhiều bạn cùng không đồng ý với cách giải quyết vấn đề như mẹ N. Các bạn học của N. cho rằng trong mắt cha mẹ thì các con luôn nhỏ nhưng bản thân các con thấy mình đã lớn.
Các bạn đã sắp 18 tuổi. Các bạn tự thấy mình đã hiểu được nhiều chuyện, đọc nhiều sách, có nhiều kiến thức về nhiều lĩnh vực khác nhau… Chuyện có tình cảm với bạn khác giới là rất bình thường với các con, cũng không có gì nghiêm trọng nhưng sao trong mắt các bậc cha mẹ lại trở lên nghiêm trọng đến như vậy?
Các bậc cha mẹ luôn muốn các con làm theo ý của cha mẹ nhưng chưa khi nào hỏi các con cảm thấy như thế nào, muốn như thế nào?
“Nếu nhận được sự lắng nghe, chia sẻ… chúng con rất muốn nói những điều còn băn khoăn trước tuổi mới lớn của chúng con. Con cũng có nhiều tâm sự muốn kể cho mẹ nghe nhưng chưa kể đã bị cấm như vậy thì quả là chúng con không dám. Cho nên có những bí mật chúng con chỉ có thể kể cho nhau nghe mà không thể kể cho mẹ của mình…” – một bạn nói.
Bạn T.D., đang học lớp 11, còn kể ba mẹ bạn ly dị nhau từ khi bạn mới được 6 tuổi. Không biết có phải vì vậy hay không mà mẹ luôn nói với bạn “đàn ông rất ít người tốt, con phải cẩn thận khi kết giao”. Nhóm bạn thân trên lớp có 2 bạn trai và 4 bạn gái.
Trong đợt học trực tuyến nhóm bạn thân của T.D. hay rủ nhau đạp xe quanh thành phố nhưng T.D. không bao giờ được đi cả. Cả nhóm bạn nhớ T.D., đã đạp xe đến nhà T.D. chơi nhưng lúc đến nhà, chỉ có mấy bạn gái đứng trước nhà, hai bạn trai đều phải đứng từ xa. Với mẹ T.D., ngay cả bạn trai bình thường cũng không được gặp nữa, chứ chưa nói đến chuyện có bạn trai…
Thực ra, ở tuổi này các con cần được các bậc cha mẹ chia sẻ, chỉ bảo những kiến thức, kinh nghiệm về giới tính, tình yêu, chứ không phải chỉ luôn là cấm đoán.


