Aenean nec eros. Vestibulum ante ipsum primis in faucibus orci luctus et ultrices posuere cubilia curae. Suspendisse sollicitudin velit sed leo.

Chuyên mục
  • Bài giảng
  • Các loại khác
  • Chia sẻ
  • Chưa phân loại
  • GH Hoàn Vũ
  • GH Việt Nam
  • Giáo dục
  • Hạnh các Thánh
  • HĐGM Việt Nam
  • Kinh Thánh
  • Phim giáo dục
  • Phụng vụ
  • Sách
  • Suy niệm Chúa nhật
  • Suy niệm hàng ngày
  • Tài liệu giáo dục
  • Tài liệu phụng vụ
  • Thần học
  • Thánh ca
  • Thánh lễ
  • Thánh lễ trực tuyến
  • Thư chung
  • Thư viện
  • Tin tức
  • Triết học
  • Tư liệu
  • UBGD Công giáo
  • uncategorized
  • Video
From Gallery
Stay Connected
UyBanGiaoDucHDGM.net
  • Trang chủ
  • Thư chung
    • HĐGM Việt Nam
    • UBGD Công giáo
  • Tin tức
    • GH Việt Nam
    • GH Hoàn Vũ
  • Phụng vụ
    • Thánh lễ
    • Thánh lễ trực tuyến
    • Suy niệm hàng ngày
    • Suy niệm Chúa nhật
    • Tài liệu phụng vụ
  • Giáo dục
    • Chia sẻ
    • Tài liệu giáo dục
  • Thư viện
    • Sách
      • Kinh Thánh
      • Triết học
      • Thần học
      • Các loại khác
    • Video
      • Bài giảng
      • Thánh ca
      • Phim giáo dục
      • Hạnh các Thánh
      • Tư liệu
  • Liên hệ
Give Online

Danh mục: Giáo dục

Home / Giáo dục
22Tháng Hai
2022

“GIA ĐÌNH TRƯỚC THÁCH ĐỐ CỦA MỘT XÃ HỘI VẮNG BÓNG THIÊN CHÚA”

22/02/2022
Anmai
Giáo dục, Tài liệu giáo dục
0

“GIA ĐÌNH TRƯỚC THÁCH ĐỐ
CỦA MỘT XÃ HỘI VẮNG BÓNG THIÊN CHÚA”

Đình Vượng (Nhóm HTXH)

  Bạn cũng như chúng tôi, là người Việt Nam, tất cả đều cảm nhân giá trị linh thiêng của hai tiếng gia đình. Tính linh thiêng đó thấy rất rõ ở khoảnh khắc gia đình đoàn tụ đón Giao thừa. Cho dù ở đâu, làm gì, và cho dù có buồn lòng ai đó trong gia đình, ai cũng mong về nhà. Nhà – hay gia đình – là tổ ấm, mái ấm, chiếc nôi của ‘sự sống và tình yêu’. Ai cũng mong gia đình luôn có nhiều yêu thương, chia sẻ, quan tâm lẫn nhau và nhà nhà ‘đầy ắp nụ cười’ yêu thương… nhưng ước mong để có một gia đình hạnh phúc nơi xã hội Việt Nam ngày hôm nay không hề dễ dàng. Gia đình Việt Nam đang đứng trước nhiều thách đố, nhiều cạm bẫy nguy hiểm, chịu nhiều tổn thương trong tiến trình biến đổi của xã hội và văn hóa, đặc biệt hơn khi xã hội hiện nay đang tìm cách xóa bỏ sự hiện diện của Thiên Chúa.

Những thách đố nói trên cần tìm hiểu nguyên nhân để trả lại cho gia đình ý nghĩa linh thiêng được nhìn nhận như một định chế tự nhiên, vì đó là cấu trúc căn bản của xã hội “Trong đó con người tiếp nhận những ý tưởng đầu tiên mang tính giáo dục về sự thật và sự tốt lành, học được thế nào là yêu và được yêu, biết được làm người thực ra là gì”[1], như vậy,  trách nhiệm ‘xây dựng gia đình hạnh phúc’ là của cộng đồng và của mỗi người. Phát triển xã hội tốt đẹp tùy thuộc vào gia đình bởi “Tương lai nhân loại sẽ đến ngang qua gia đình!”[2]

I. THÁCH ĐỐ VỀ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH Ở NGƯỜI CÔNG GIÁO VÀ Ở XÃ HỘI VIỆT NAM NGÀY NAY

     1. Hôn nhân và gia đình Công giáo

     2. Hôn nhân và gia đình của xã hội Việt Nam hiện nay

II. GIA ĐÌNH TRƯỚC THÁCH ĐỐ CỦA MỘT XÃ HỘI VẮNG BÓNG THIÊN CHÚA

     1. Giá trị của tình yêu hôn nhân dưới góc nhìn Thiên Chúa giáo.

     2. “Sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly” (Mt 19, 3-12)

I. THÁCH ĐỐ VỀ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH Ở NGƯỜI CÔNG GIÁO VÀ Ở XÃ HỘI VIỆT NAM NGÀY NAY

1. Hôn nhân và gia đình Công giáo

Chưa có một thống kê chính thức của Giáo hội Việt Nam, nhưng tình trạng ly dị, ly thân, ngoại tình và nhiều nguyên nhân khác gây ra đổ vỡ trong các gia đình Công giáo không phải không có. Thực trạng nói trên có thể thấy rõ ở mỗi xứ đạo.

Bạn đọc có thể tham khảo thực trạng gia đình Công giáo ở GP Xuân Lộc. “Theo ghi nhận của Tòa Giám mục, hôn nhân Công giáo trong giáo phận năm 2013 là 9207 cặp, trong đó có 269 đôi chuẩn khác đạo và 642 đôi được hợp thức hóa, ngoài ra có 793 đôi ly dị (nếu năm 2012 tăng 119 đôi thì năm 2013 tăng thêm 195 đôi); 28 đôi ly thân; 1274 đôi bỏ nhau (nếu năm 2012 tăng 197 đôi thì năm 2013 tăng thêm 172 đôi); 2.102 đôi chung sống bất hợp pháp (nếu năm 2012 tăng 365 đôi thì năm 2013 lại tăng thêm 228 đôi). Tổng số các gia đình trong toàn giáo phận là 239.861, tăng 29.396 gia đình, trong đó, có 212.401 gia đình hợp pháp, 1.666 gia đình không hợp pháp (mắc ngăn trở). Dù các gia đình mắc ngăn trở chỉ chiếm tỷ lệ 0,078% nhưng trong cuộc sống, đây là những hình ảnh tác động âm thầm và gây lung lạc đối với các gia đình Công giáo, nhất là với các gia đình trẻ.”[3]

2. Hôn nhân và gia đình của xã hội Việt Nam hiện nay

Nhìn vào thực trạng gia đình hiện nay nhiều vấn đề đáng lo, quan niệm về tình yêu hôn nhân và giá trị gia đình đang bị phá vỡ do ảnh hưởng của môi trường sống đáng được báo động “Thật thà thẳng thắn thường thua thiệt. Lừa lọc, lươn lẹo lại lên lương”.

“Gia đình đang bị đe dọa bởi nhiều lực hủy diệt của văn hóa sự chết. Mối đe dọa từ bên trong là lối  sống hưởng thụ ích kỷ, là sự hời hợt trong lời cam kết dấn thân. Mối đe dọa từ bên ngoài là nỗi vất vả của đời sống lao động, kinh tế, là sự cuốn hút của những phương tiện truyền thông, là lối sống buông thả đang nhen nhúm trong xã hội”[4]. Thật không ngạc nhiên khi giới trẻ quan niệm về tình yêu hôn nhân một cách hời hợt, dễ đồng hóa với tình dục; tình trạng ngoại tình, lấy nhau không cần giá thú, bạo lực gia đình, ly dị, ly thân, quan hệ tình dục và nạo phá thai trước hôn nhân… rồi các tệ nạn xã hội, mại dâm, ma túy và sự nhiễu loạn trong các chuẩn mực văn hóa đang từng bước thâm nhập vào các gia đình, tạo nên những mâu thuẫn và xung đột gay gắt. Sự xung đột giữa các thế hệ đang diễn ra trong nhiều gia đình và đặt ra những thách thức mới cho xã hội. Tiền bạc như ‘chuẩn mực’ của hạnh phúc, và nếp sống truyền thống gia đình, tôn ti trật tự bị đảo ngược: do chủ trương bình đẳng giới, do sự thiếu quan tâm của cha mẹ dành cho con cái, do quá trình mở cửa, hội nhập, mặt trái của cơ chế thị trường và các sản phẩm văn hóa độc hại từ bên ngoài tràn vào hằng ngày, hằng giờ tiến công vào mỗi gia đình, hủy hoại lối sống đạo đức của mỗi người; do coi tự do cá nhân là tối thượng dẫn đến mối quan hệ gia đình không còn giữ được sự bền vững chặt chẽ.

Thực trạng gia đình VN thấy rõ hơn qua Cuộc điều tra gia đình năm 2006 của chính phủ[5] “Gia đình VN đang phải đối mặt với nhiều thách thức to lớn: vấn đề thiếu việc làm, thu nhập chưa ổn định và những rủi ro từ nền kinh tế thị trường; gia tăng tỷ lệ các cặp ly hôn, ly thân, những người chung sống không đăng ký kết hôn; bạo lực gia đình; các vấn đề liên quan đến chức năng giáo dục – chăm sóc trẻ em; người già cô đơn / không nơi nương tựa; mâu thuẫn giữa các thế hệ (…) thiết chế gia đình lỏng lẻo, các tệ nạn xã hội ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình.v.v.”

Điều tra cho thấy, số vụ ly hôn đang tăng nhanh. Nếu năm 2000 chỉ có 51.361 vụ ly hôn thì năm 2005 đã tăng lên 65.929 vụ. Người vợ đứng đơn ly hôn hiện gấp 2 lần so với người chồng đứng đơn. Người tốt nghiệp đại học, cao đẳng có tỷ lệ ly hôn từ 1,7 – 2%, thấp hơn tỷ lệ 4 – 6% của người không có bằng cấp. Số năm sống trung bình trước khi ly hôn của các cặp vợ chồng 18 – 60 tuổi là 9,4 năm; còn riêng ở các khu vực nội thành, các thành phố lớn, chỉ 8 năm. Có 4 nguyên nhân thường xảy ra nhiều là: Mâu thuẫn về lối sống: (chiếm 27,7%); ngoại tình (25,9%); kinh tế (13%); bạo lực gia đình (6,7%).

Đặc điểm của ly hôn, ly thân theo Điều tra nói đây: tăng dần do quan niệm xã hội không khắt khe như trước – Chiếm số nhiều ở nhóm: có học vấn thấp, nhóm người tự quyết định hôn nhân không hỏi ý kiến cha mẹ, rõ ràng cha mẹ có vai trò lớn trong việc duy trì, củng cố bền vững cho gia đình trẻ; Người vợ chủ động đứng đơn ly dị cao hơn người chồng (47% trên 28,1%)chứng tỏ người phụ nữ ý thức quyền của mình, sự chủ động của họ trong cuộc hôn nhân tăng lên.

Những vấn đề gây bất hòa trong đời sống hôn nhân: bất hòa về ứng xử và khó khăn về kinh tế  nam giới nhấn mạnh về ứng xử (nam 76,6% / nữ 40,5%) khó khăn kinh tế đối với nữ giới quan trọng hơn (nữ 46,1% / nam 29,4%). Có khoảng trên dưới 10% nói đến sự không hòa hợp sinh lý và sự không chung thủy. Người chồng nhấn mạnh nhiều về việc không hòa hợp sinh lý (17,7% so với 6,7% của vợ) Vợ nhấn mạnh đến vấn đề không chung thủy (12,4% so với 0% của chồng) Bất kỳ lĩnh vực nào của đời sống gia đình như chăm sóc dạy dỗ con cái, công việc làm ăn, quan hệ ứng xử nội ngoại hai bên, hay giữa vợ và chồng, đều có thể nảy sinh sự bất đồng ý kiến dẫn đến mâu thuẫn bất hòa – các lĩnh vực khác như việc quản lí chi tiêu, cách thức làm ăn kinh tế.v.v.

Điều tra dẫn 4 lý do mâu thuẫn, xung đột, bạo lực ở gia đình: say rượu, ý kiến khác nhau trong làm ăn, trong sinh hoạt tính dục, khó khăn kinh tế. Thường xảy ra ở thành phố hơn nông thôn. Tình trạng dẫn đến bạo lực thường xảy ra ở cả chồng lẫn vợ nhưng thường người chồng là nguyên nhân chính: đánh, mắng, chửi, ép quan hệ tình dục. Điều nhận định ở điều tra về thực trạng gia đình Việt Nam đáng phải nói ở đây “Nguyên nhân gốc rễ của bạo lực gia đình là nếp sống gia trưởng…”

Quan niệm về tình dục trước và ngoài hôn nhân: nhìn chung từ cuộc điều tra, “Đại bộ phận không chấp nhận sống chung với nhau mà không có kết hôn. Họ xem đây là lối sống buông thả, đi ngược lại với giá trị văn hóa truyền thống, và có thể gây ra hậu quả nặng nề về nhiều mặt cho người phụ nữ.” Nếu có tình trạng thanh thiếu niên hiện nay có quan hệ tình dục trước hôn nhân là do sự thiếu quan tâm của gia đình, sự thiếu hụt trong giáo dục sức khỏe sinh sản, mức độ tiếp xúc với văn hóa phẩm không lành mạnh… lý do khác mà phần đông không chấp nhận hiện tượng này “là bởi những hậu quả có thể xẩy ra: tan vỡ hạnh phúc gia đình, những tác động tiêu cực truyền thống văn hóa”

Rất nhiều vấn đề khác về gia đình VN được đưa ra như: ai làm chủ của gia đình; kinh tế gia đình như thế nào mới đem lại hạnh phúc; các thế hệ gia đình; trình độ học vấn và giáo dục con cái; người cao tuổi .v.v. Cuộc điều tra gia đình đầu tiên được thực hiện trên phạm vi toàn quốc trong tổng số 24.079 người từ 18-60 tuổi của 9300 hộ có 8573 người (trong đó có 4025 nam và 2548 nữ) được phỏng vấn các thông tin về hôn nhân hiện tại, các nhận định cũng như các quan niệm xung quanh vấn đề gia đình, tuy chưa hoàn thiện nhưng đủ cơ sở cho những nhà quản lý tìm hướng giải quyết. Cuộc điều tra, rất tiếc, không nêu những vấn đề tín ngưỡng có liên quan đến giá trị gia đình! Số Gia đình Việt Nam, nhìn tổng thể đều có tôn giáo và còn thực hành tôn giáo. Vấn đề tâm linh, tín ngưỡng cũng chi phối cuộc sống gia đình VN, góp phần xây dựng hạnh phúc gia đình!

II. GIA ĐÌNH TRƯỚC THÁCH ĐỐ CỦA MỘT XÃ HỘI VẮNG BÓNG THIÊN CHÚA

Để gia đình có được hạnh phúc, trở thành điểm tựa cho mọi người, gia đình thực sự là “chiếc nôi cuộc sống và tình yêu, nơi mà con người được sinh ra và lớn lên[6]” cần phải khẳng định sự hiện hữu của tôn giáo là cần thiết, không chỉ cho gia đình mà chung cho toàn xã hội con người. Tại sao nhiều người ‘tu tâm dưỡng tánh’, ‘ăn chay niệm phật’, thích làm lành lánh dữ, sợ lương tâm cắn rứt khi làm điều ác…? Tất cả chỉ vì con người tin có Trời Phật, có thần linh, có ‘một sự sống khác sau cuộc đời này’, và đó là khởi điểm của tôn giáo. Các tôn giáo chân chính[7] chỉ muốn đem lại hạnh phúc cho nhân loại. Các tôn giáo, cách riêng Thiên Chúa giáo luôn nhấn mạnh, đề cao sự thật vì chính “Sự thật sẽ giải phóng anh em” (Ga 8,32)

Khi chủ trương duy vật vô thần, quan niệm tự do và chủ nghĩa cá nhân len lỏi vào cuộc sống gia đình làm thay đổi diện mạo: thay vì là mái ấm, điểm tựa, chiếc nôi…gia đình trở thành ‘nhà tù chung’ ở đó mỗi người sống ích kỷ, tự thu mình lại. Khi không còn tin vào những giá trị siêu nhiên, con người sẽ bị chệch hướng cuộc đời. Chối bỏ Thượng Đế là nguyên nhân của bạo lực. Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI[8] đã nhiều lần quả quyết như thế. “Sự chối bỏ Thiên Chúa làm băng hoại con người, khiến con người không còn mẫu mực nữa, và dẫn họ đến bạo lực”. Đề cập đến sự cần thiết của tôn giáo Tiến sĩ Nguyễn Quang Hưng[9], thuộc Viện Nghiên cứu Tôn giáo đã viết: “Sự khủng hoảng đạo đức Việt Nam hiện nay do nhiều nguyên nhân, trong đó có việc truyền bá chủ nghĩa duy vật và vô thần, hạ thấp vai trò của tôn giáo, nhất là thời kỳ trước Đổi mới. Việc phủ nhận các giá trị tôn giáo, đề cao chủ nghĩa duy vật vô thần tới mức cực đoan vô hình trung cổ vũ cho cái ‘văn hóa’ tiêu dùng phàm tục”. Rồi tác giả kết luận: “Khủng hoảng đạo đức xã hội ở Việt Nam đã tới mức báo động và có thể còn kéo dài, đòi hỏi nỗ lực của các cấp chính quyền, các tổ chức tôn giáo và từng người dân để khắc phục”.  Hy vọng ước mong của một trí thức ngoài công giáo được nhiều người để ý quan tâm.

1. Giá trị của tình yêu hôn nhân dưới góc nhìn Thiên Chúa giáo.

Nhiều, rất nhiều người không tin có Thiên Chúa và luôn cả người tin, hiểu giáo lý hôn nhân qua ‘những luật cấm’. Bạn cầm trên tay tấm Thiệp Hồng của người Công giáo luôn đọc thấy “Điều gì Thiên Chúa kết hợp, loài người không được phân ly” Câu này nói lên điều gì? Luật cấm ư? Quá khắt khe, mất tự do… và thực tế thì bạn đã rõ, lấy nhau của Công giáo ‘phải qua nhiều khê!

Khi hai người nam nữ yêu nhau rồi quyết định tiến đến hôn nhân, ai cũng mong hôn nhân bền vững, nhiều yêu thương và điều mong ước nhất là có được người bạn đời tâm đầu ý hợp. Nhưng thật đáng buồn, rất nhiều người thất vọng vì cuộc sống hôn nhân, họ than thân trách phận: có người dễ dàng ly hôn và có người âm thầm chịu đựng vì áp lực tôn giáo và dư luận xã hội. Sai lầm trong tình huống này phát xuất từ thứ tình yêu sớm nở tối tàn, thứ tình yêu ích kỷ được xây dựng từ một phía, tôi lấy anh, lấy chị “vì…”, đủ thứ “vì…”. Có không ít chuyện hôn nhân, sau ngày đám cưới linh đình, đôi bạn sống với nhau chưa bao lâu, thì hôn nhân của họ biến thành ‘đám ma’. Quan niệm ‘tình yêu’ ở đây đã bị biến dạng, hiểu sai.

Tình yêu không phải là ý niệm quá trừu tượng đến nỗi không thể diễn tả được. Nó hiện diện trong cuộc sống và người ta không thể sống hạnh phúc nếu vắng bóng tình yêu. Tình yêu không phải là món quà đổi chác; là rung cảm lần đầu từ ánh mắt, nụ cười và cả đam mê về thể xác khi mới gặp nhau; là những lời hứa ngọt ngào… tất cả đều phảng phất nét lãng mạn.

Tình yêu phải là quà tặng linh thiêng, vô giá mà hai người sẵn sàng dâng hiến quên mình. Đó là tình yêu chân chính, nền tảng để hôn nhân sung mãn – bền vững – hạnh phúc “Yêu có nghĩa là cho và nhận một điều gì đó không thể mua cũng không thể bán, mà chỉ có thể cho một cách tự nguyện và hỗ tương”[10]

Điều kỳ diệu của tình yêu chân thật là nó phát triển cùng với quá trình tiến đến hôn nhân. Nó làm cho hôn nhân ‘thăng hoa’ cả trong thuật ân ái vợ chồng và quan trọng hơn cả là tình cảm, là cung cách đối xử ‘sống cho người mình yêu’ để đem lại niềm vui cho người bạn đời. Chỉ có như vậy bạn mới nhận thấy giá trị, nét đặc thù của đời sống hôn nhân: “Hợp nhất thể lý cũng như tinh thần, trở nên “một xương một thịt” (St 2,24), bất khả phân ly và trung tín  và hướng mà chính hôn nhân tiến tới là việc sinh con cái”[11]. Nhưng việc không có con cái, không phải là lý do của ly thân, ly hôn, trái lại, tính bất khả phân ly và giá trị của hiệp nhất vẫn còn nguyên vẹn, trong trường hợp này, vợ chồng “có thể diễn tả lòng quảng đại của mình bằng cách nhận nuôi những đứa trẻ bị bỏ rơi hay bằng cách thực hiện những công tác phục vụ theo nhu cầu cần thiết của người khác”[12]

Tình yêu chân thật dẫn đến hôn nhân và gia đình rõ ràng có giá trị linh thiêng không thể phủ nhận. Tình yêu đó không do xã hội con người làm ra, người Công giáo tin rằng chính Thiên Chúa là tác nhân của tình yêu hôn nhân. Ngay từ tạo dựng, Chúa đã lập nên một gia đình, Chúa chúc phúc, Chúa muốn họ hạnh phúc (X. St việc tạo dựng con người 1,26-28; 2,7-24 – Mt 19, 5-6) và rồi, cũng từ khởi nguyên, gia đình Ông Bà Edong & Eva không hạnh phúc vì chối từ sự hiện diện của Thiên Chúa (St 3,1-7) nhưng Thiên Chúa luôn yêu thương và trung tín “Bởi vì Chúa nhân hậu, muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương, qua bao thế hệ, vẫn một niềm thành tín.” (Tv 99, 5) Niềm xác tín được minh chứng nơi từng trang Kinh Thánh. Dẫu cho loài người có bất tín bất trung, thì tình yêu thương và lòng thành tín của Thiên Chúa vẫn không hề đổi thay. Qua các tổ phụ và các ngôn sứ, Thiên Chúa không ngừng lặp lại lời hứa cứu độ cho đến khi mọi sự được hoàn tất nơi Đức Giêsu Kitô. Đây cũng chẳng phải là “thuốc phiện[13]” nhằm ru ngủ những người đang đau khổ trong hôn nhân, gia đình; trái lại, là lẽ sống và nguồn trợ lực cho những ai luôn gắn bó với Chúa.

Hôn nhân của một người nam và một người nữ là sự phản chiếu giao ước yêu thương của Thiên Chúa với dân riêng của Ngài, và “Cả đến tội lỗi, có thể làm tổn thương khế ước hôn nhân cũng trở thành hình ảnh cho sự bất trung của dân đối với Thiên Chúa. Việc thờ ngẫu tượng là một sự mãi dâm, bất trung là ngoại tình, và không nghe luật Chúa là một sự chối bỏ hôn ước tình yêu của Chúa. Nhưng sự bất trung của dân Israel không hủy diệt lòng trung tín đời đời của Chúa và bởi thế, tình yêu trung thành mãi mãi của Thiên Chúa được giới thiệu như kiểu mẫu cho những tương quan tình yêu trung thành phải có giữa vợ chồng.”[14]

Tình yêu dẫn đến hôn nhân và làm nên một gia đình, đó là sự chuyển hóa tự nhiên và hoàn toàn không phải “là kết quả của những thỏa thuận con người đến nhau, cũng không phải là kết quả của những quy định pháp lý, nhưng có được sự ổn định như thế là do quyết định của Thiên Chúa. Đó là một định chế[15] được khai sinh” – kể cả trước mắt xã hội – ‘do một hành vi nhân linh, qua đó hai bên trao phó bản thân mình cho nhau’ và được xây dựng dựa trên chính bản tính của tình yêu vợ chồng, một tình yêu được xem như là một sự trao tặng toàn vẹn và độc quyền mà người này dành cho người kia, khiến hai bên dứt khoát dấn thân cho nhau, và điều này được biểu lộ qua việc hai bên bày tỏ sự ưng thuận với nhau cách công khai và không thể rút lại”[16].

2. “Sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly” (Mt 19, 3-12)

Các kinh sư luật sĩ Do Thái muốn biết lập trường của Chúa Giêsu về vấn đề ly dị, Ngài đã dứt khoát trả lời như vậy.

Ngày hôm nay tình trạng ly dị xẩy ra quá dễ dàng, luật thừa nhận hiện tượng này, tuy nhiên không phải mọi người đều dễ dàng chấp nhận ly dị (cả tòa án, trước khi đưa ra phán quyết, quan tòa đều muốn giải hòa). Kết quả ly dị luôn đáng thương, gây xáo trộn gia đình, để lại tâm lý khủng hoảng bất an cho con cái, và gánh nặng cho xã hội… Bạn có thể tham khảo đầy đủ hơn hiện tượng này ở internet.

Tình yêu, một cách tự do, hai người nam và nữ chưa từng biết nhau, không nợ gánh nhau, nhưng rồi họ yêu nhau, tự nguyện đến với nhau và dâng hiến cuộc sống riêng của mình cho người mình yêu, trở thành “một xương một thịt”. Người nam và người nữ được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa. Họ bình đẳng nhau về nhân phẩm. Trong hôn nhân họ không còn phải là hai, nhưng là một xác thịt. Vậy, điều mà Thiên Chúa phối hợp thì con người không được phân ly, và đó là đặc tính của tình yêu vợ chồng: hôn nhân bền vững và bất khả phân ly. Chính đặc tính quý báu này Giáo hội lên tiếng “Đưa ly dị vào trong pháp chế dân sự là tiếp sức thêm cho quan niệm tương đối hóa sự ràng buộc của hôn nhân và việc nó được phổ biến khắp nơi trở thành ‘một nạn dịch thực sự cho xã hội”[17]

Trách nhiệm gìn giữ đặc tính này không chỉ phía vợ chồng mà còn của xã hội phải “đem đến hôn nhân tính cơ chế, dựa trên một hành vi công khai được xã hội và luật pháp nhìn nhận”[18] Bạn không ngạc nhiên khi Lời Chúa Giêsu nói ở đây được lập lại trước cộng đoàn Kitô hữu khi cử hành Bí tích hôn nhân. Hôn nhân Công giáo thành sự khi có sự hiện diện của cộng đoàn, họ cầu nguyện, họ chung vui và họ ôm ấp bảo vệ cho đôi bạn để hôn nhân trở nên bền vững. Hình ảnh sự hiện diện của cộng đoàn cũng thấy rất rõ ở những ngày cưới và đều mang một ý hướng yêu thương như vậy, đó là định chế hôn nhân rất tự nhiên của xã hội. Ly dị, kết quả đáng buồn, bạn có bao giờ tự hỏi: “Khi tôi làm đơn ly dị đưa ra tòa xét xử, tự chính tôi đã làm quan tòa xét đoán người bạn đời? Chúa Giêsu không đến để kết án ai mà để cứu chuộc, yêu thương mọi người. Ngài muốn hai người phối ngẫu trở về với lương tâm. Chính lương tâm làm chúng ta cảm nghiệm chân lý của tình yêu chân chính ở hôn nhân và gia đình.

Tóm lại, còn rất nhiều điều phải đề cập về “Gia đình trước thách đố của xã hội vắng bóng Thiên Chúa”,  khuôn khổ của một bài báo không cho phép chúng tôi đào sâu. Tuy nhiên, cần làm sáng tỏ vấn đề cốt lõi khi đề cập đến gia đình, đó là định chế và cấu trúc gia đình không phát xuất từ xã hội, nhưng do chính Thiên Chúa thiết lập ngay từ khởi nguyên khi tạo dựng. Xác định chân lý này tức là trả lại cho hôn nhân và gia đình sự sống và tình yêu:

Hiến pháp Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 1992, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991, cũng như ở  nhiều văn kiện của Đảng và chính sách xã hội có nhấn mạnh tầm quan trọng của gia đình: Gia đình là tế bào của xã hội…Học thuyết Xã hội Công giáo, chương V : Gia đình là tế bào sống động[19]  của xã hội. Có gì khác biệt ở đây ? Rất rõ, gia đình là tế bào hay là gốc, căn nguyên của sự sống và sự sống đó được hình thành từ tình yêu hôn nhân làm nên gia đình. Chính vì sự sống này, các phần tử trong gia đình liên đới yêu thương, có trách nhiệm làm cho gia đình ‘sống động’ trở nên hạnh phúc.  Lúc Gia đình là tế bào sống động của xã hội, hay ‘chiếc nôi của sự sống và tình yêu’, bạn ý thức : mỗi thành viên trong gia đình là mỗi con người có phẩm giá, là hình ảnh của Thiên Chúa, bạn thấy có bổn phận phải quý trọng, kính trọng, yêu thương và những điểm chính của HTXH chúng tôi đề cập sau đây là cần thiết để gia đình được bền vững:

– Sự thật: gia đình không phải là sân khấu, mỗi thành viên sống thật với vai trò tự nhiên của mình  là cha mẹ, vợ chồng, con cái. Cho dù bạn là ai, là chức sắc tôn giáo hay địa vị ở đời, khi về nhà, vai vế kia sẽ không cần thiết nữa, không có khoảng cách, địa vị bỏ ngoài cửa. Tình yêu chân thực thì tôn trọng sự thật ở cung cách xử sự, ở lời nói và ở cách sống. Tình yêu chân chính trong gia đình yêu cầu bạn không diễn tuồng! Khi sự thật là lẽ sống, mọi người biết trân trọng cái chung từng mong muốn là của nhau: chung nhà, chung giường chiếu, chung bếp… và khi sự thật vắng bóng, ngôi nhà biến thành “nhà tù chung!”

– Gia đình một cộng đoàn tình yêu của sự liên đới. Họ liên đới cùng chịu trách nhiệm trước thành công, thất bại, vật chất cũng như tinh thần. Họ liên đới chia sẻ cho nhau buồn vui, hạnh phúc và bất hạnh…Với người Việt Nam, tính liên đới này thấy rõ hơn trong những dịp đám cưới, đặc biệt ở đám ma (dù đám ma ở cuộc ly hôn) với câu nói rất tình nghĩa “Một con ngựa đau cả tàu chê cỏ”. “Liên đới cũng là một đức tính luân lý thực sự, không phải là một cảm giác thông cảm mơ hồ hay đau buồn hời hợt trước những bất hạnh của nhiều người, gần gũi cũng như xa lạ. Ngược lại, liên đới là có một quyết tâm vừa chắc chắn vừa kiên định muốn dấn thân lo cho công ích.” Tức là lo cho ích lợi của mọi người và mỗi người, vì tất cả mọi thành viên trong gia đình thật sự đều phải chịu trách nhiệm về tất cả mọi người. “Liên đới được nâng lên hàng đức tính xã hội căn bản, vì đó là đức tính nằm trong phạm vi của công bằng. Đó là một đức tính ưu tiên nhắm tới công ích và được tìm thấy nơi những người dấn thân lo cho ích lợi của người thân cận tới mức, theo nghĩa của Tin Mừng, sẵn sàng ‘liều mất bản thân mình’ vì người khác thay vì khai thác người khác, và sẵn sàng ‘phục vụ người khác’ thay vì áp bức người khác vì ích lợi riêng (x. Mt 10,40-42; 20,25; Mc 10,42-45; Lc 22,25-27)”[20].

Hôn nhân và gia đình như vậy mang một giá trị hoàn toàn linh thiêng như những gì chúng tôi chia sẻ ở trên. Tình yêu hôn nhân làm nên gia đình và phát sinh sự sống, nuôi dưỡng sự sống. Sự sống của mỗi thành viên gia đình luôn phải ‘động’ và hạnh phúc chỉ có khi mọi người chung tay, nỗ lực vun trồng làm cho nó ‘sống động’, trở nên tổ ấm yêu thương, mái ấm che chở mọi người. Nhà, không phải chỉ là nơi dừng chân, quê quán để trở về, mà còn là điểm tựa bình yên. Gia đình là môi trường giáo dục nhân bản tốt nhất, góp phần cho xã hội những công dân có ích. Gia đình Công giáo không tự họ nhờ Bí tích hôn nhân đã tốt đẹp hạnh phúc, nhưng vẫn thấy rõ nhiều gia đình Công giáo giữ được bình yên, thủy chung, vượt được sóng gió, vì sức mạnh yêu thương và luôn phó thác vào Chúa. Giáo huấn xã hội của Giáo hội có lý khi coi gia đình là “cộng đồng yêu thương và liên đới, nơi duy nhất thích hợp để dạy dỗ và truyền đạt các giá trị văn hoá, đạo đức, xã hội, tâm linh và tôn giáo, rất cần cho các thành viên của gia đình và xã hội được phát triển và hạnh phúc.”[21]

Trích Bản tin Hiệp Thông / HĐGMVN, Số 99 (Tháng 3 & 4 năm 2017)

__________

[1] Tóm lược Học thuyết Xã hội của Giáo hội Công giáo (TLHTXHCG), số 212

[2] Tông huấn Familiaris consortio

[3] X. http://www.cgvdt.vn/cong-giao-viet-nam/xay-dung-gia-dinh-kito-giao_a4277

[4] X. Số 18, Thư chung HĐGMVN ngày 29.9.2001, tại https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/thu-chung-2001-cua-hoi-ong-giam-muc-viet-nam-de-ho-duoc-song-va-song-doi-dao-ga-10-10-17877

[5] Được sự hỗ trợ của UNICEF, Bộ trưởng, Chủ nhiệm UBDSGĐTE đã ra quyết định số 765/QĐ-DSGĐ ngày 20.12.2005 thành lập Ban chỉ đạo Điều tra Gia đình VN gồm đại diện UBDSGĐTE và các bộ ngành hữu quan (Ngày 6,11,2007 Bộ trưởng Bộ Văn hóa Thể thao Du lịch ra quyết định số 1243/QĐBVHTTDL kiện toàn Ban chỉ đạo nói trên) nhằm tổ chức toàn bộ các hoạt động chuẩn bị, nghiên cứu và điều tra gia đình VN, Tổng cục Thống kê là cơ quan chịu trách nhiệm tổ chức điều tra và định lượng ĐTGĐVN, Viện Gia đình và Giới là cơ quan chịu trách nhiệm thiết kế bảng câu hỏi điều tra.

[6] TLHTXHCG, số 212

[7] Có rất nhiều ‘đạo’ hay tôn giáo ở VN, nhưng chúng tôi muốn nói đến ‘các tôn giáo chân chính vì có giáo lý, có tổ chức rõ ràng như Thiên Chúa giáo (Công giáo, Tin Lành), Phật giáo, Cao Đài Hòa Hảo, Hồi giáo và ngay cả ‘Đạo thờ kính Ông Bà’. Suốt dòng lịch sử, các tôn giáo luôn bị ‘kẻ xấu lợi dụng vì mục đích chính trị’ làm nhiều người hiểu sai chân lý của đạo, IS hiện nay của đạo Hồi.v.v.

[8] Diễn từ tại Assisi, nhân ngày các đại diện tôn giáo cùng cầu nguyện cho hòa bình 27-11-2011

[9] x. Công giáo và Dân tộc, số 211, tr. 29 và 33

[10] TLHTXHCG, số 221

[11] Ib, số 217

[12] Ib, số 218

[13] Nguyên văn như sau: “Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sanh bị áp bức, là trái tim của một thế giới không có trái tim, cũng giống như nó là tinh thần của trạng thái không có tinh thần, tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân.” C.Mác, lời nói đầu của “Phê phán triết học pháp quyền của Heghen” 1843-1844, NXB Sự Thật Hà Nội, 1962, trang 5-7.

[14] Familiaris consortio, số 12, bản dịch của Lm Agostino Nguyễn Văn Dụ

[15] Định chế hôn nhân (institution du marriage) – định chế : những quy tắc, chuẩn mực mang tính ràng buộc.

[16] TLHTXHCG, số 215

[17] Ib, số 225

[18] Ib.

[19] Tế bào sống động của xã hội “cellute vitale de la société” – vitale : adj (lat:vitalis, de vita, vie) liên quan đến sự sống

[20] Ib, số 193

[21] Ib, số 238

Read More
22Tháng Hai
2022

Đi tìm một nền tảng: Hồng ân đời sống thánh hiến

22/02/2022
Anmai
Giáo dục, Tài liệu giáo dục
0

 Lời khấn của các linh mục dòng giúp ích gì cho các linh mục triều? Khi được phỏng vấn để trở thành một tu sĩ Đa Minh, tôi đã bị bối rối trước câu hỏi này.

Vị phỏng vấn tôi, một giáo sư tại Học Viện Đa Minh, nhìn tôi không chớp, chờ đợi câu trả lời. Dù tôi đã cố gắng để nêu rõ bất kỳ sự khác biệt nào giữa lối sống của các linh mục dòng và các linh mục triều. Tôi biết rằng ba lời khấn tu trì là khó nghèo, khiết tịnh và vâng phục, nhưng tất cả những điều này dường như cũng áp dụng cho các linh mục triều. Rốt cuộc, các linh mục triều cũng không có được nhiều tiền, cũng sống độc thân và cũng phải giữ khiết tịnh và hứa vâng lời giám mục của các ngài.

Thấy sự lúng túng của tôi, vị phỏng vấn đã mủi lòng và giúp tôi tìm ra câu trả lời. Các tu sĩ sống khó nghèo, khiết tịnh và vâng phục một cách rõ ràng hơn các linh mục triều, và do đó, giúp làm chứng cho giá trị của những thực hành ấy trong việc bước theo Đức Kitô.

Kể từ cuộc phỏng vấn đó, tôi đã học biết thêm về từng lời khấn và làm sao để sống những lời khấn ấy trong cuộc sống hàng ngày. Tôi hiểu được rằng mặc dù lời khấn thường không rõ ràng trên bề mặt, nhưng chúng tạo nên nền tảng cho căn tính của một linh mục dòng. Lời khấn đưa ra lời bảo đảm rằng việc đi theo và noi gương Đức Kitô là trung tâm của đời sống người tu sĩ, và giúp hỗ trợ việc thánh hiến và sứ mạng của thánh chức linh mục cho chính mình và cho cả các linh mục triều trong giáo phận.

Từ tính tuỳ phụ đến tính cốt yếu

Trong triết học Aristotle-Thomistic vốn rất gần gũi với tu sĩ Đa Minh, sự khác biệt giữa cái tuỳ phụ và cái cốt yếu diễn ra trong nhiều bối cảnh khác nhau. Chúng ta học cách suy tư theo những thuật ngữ này về mọi thứ, từ những kết cấu tự nhiên đến cách sống của chính mình.

Trong quá trình đào tạo sơ khởi, những khía cạnh tùy phụ của đời sống tu trì như: việc sống chung, việc tuân giữ kỷ luật, việc mặc tu phục và việc tìm hiểu về các vị thánh phong phú đã xuất hiện từ dòng của chúng ta trong quá khứ… thì nổi bật hơn cái cốt yếu.

Chúng ta cũng học về lời khấn, nhưng chúng ta trải nghiệm về lời khấn như những điều kiện tiên quyết để bước vào đời sống tu trì hơn là như những hy sinh cá nhân. Chúng ta đã chấp nhận trả giá khi bỏ lại đằng sau nghề nghiệp hoặc giấc mơ hôn nhân để bước vào Tập viện. Điều quan tâm nhất là thức dậy để suy gẫm và cầu nguyện vào buổi sáng, cố gắng tránh làm rớt nước sốt mì Ý vào tu phục, và kiềm chế những lời nói gắt gỏng đối với một anh em đang nói quá lớn tiếng hoặc đến họp trễ.

Điều đó không có nghĩa là việc nghiên cứu thần học về lời khấn không quan trọng. Chúng ta cần chuẩn bị cho cả việc tuyên khấn đơn lẫn khấn trọng để những giây phút thánh thiêng đó có thể là sự hiến dâng đích thực có chủ đích và tự do, thực sự tận hiến trọn vẹn bản thân cho Thiên Chúa. Chúng ta cần biết rằng những lời khuyên Phúc âm đã được Đức Kitô ban tặng như là những phương thế để chu toàn luật của đức ái, như là những sự trợ giúp việc lớn lên trong tình yêu trọn vẹn với Thiên Chúa và người lân cận (như Thánh Thomas mô tả trong Summa Theologiae II-II, Vấn nạn 184, Điều 3).

Chúng ta cần biết rằng tinh thần của các lời khuyên là bắt buộc đối với tất cả các Kitô hữu, nhưng việc tuân thủ cụ thể các lời khuyên đó phải được đón nhận cách tự nguyện. Chúng ta cần biết rằng các lời khuyên hoạt động bằng cách loại bỏ những tài sản hợp pháp thường gây trở ngại cho sự lớn lên trong đức ái. Chúng ta học hỏi các lời khấn để có thể nắm lấy chúng như là nền tảng của cuộc đời, cả trong giai đoạn giới hạn trong lời khấn đơn và suốt đời trong lời khấn trọng. Tôi đã được chuẩn bị kỹ lưỡng cho việc tuyên khấn của mình, và khi một người anh em trẻ hơn hỏi tôi là sau đó thì việc khấn trọng của tôi đã như thế nào, tôi có thể thành thật nói với thầy ấy rằng, đó là ngày hạnh phúc nhất trong đời tôi.

Hiểu được đặc tính thiết yếu của lời khấn là điều quan trọng đối với những tu sĩ đang trong giai đoạn đào tạo. Nhưng việc tuân giữ các lời khấn còn kèm theo những áp lực phải vượt qua các yêu cầu về đào tạo trong các lĩnh vực nhân bản, tâm linh, trí thức và mục vụ, vì vậy việc tuân giữ các lời khấn có xu hướng không chiếm vị trí ưu tiên trong nhận thức.

Về nhiều mặt, đời sống chủng viện giáo phận cũng tương tự như đời sống trong một tu viện lớn. Vì thế, không có gì ngạc nhiên khi các tu sĩ là ứng viên cho chức linh mục tập trung sự chú ý của họ vào những điều giống như các chủng sinh giáo phận làm.

Những yếu tố thiết yếu của đời sống tu trì – ba lời khấn – xuất hiện rõ ràng hơn đối với người tu sĩ sau khi kết thúc việc đào tạo sơ khởi, cho dù đó là với tư cách một trợ sĩ hay một linh mục. Một khi thầy/cha ấy không còn bị bỏ phiếu và có tự do hơn trong cách sử dụng thời gian của mình, thì việc tuân giữ lời khấn sẽ có nhiều khả năng giống như một sự hy sinh hơn. Vào những thời điểm khác nhau, việc từ khước tài sản, hoạt động tình dục và quyền tự quyết xuất hiện từ hậu cảnh và nhắc nhở người tu sĩ, cũng như những người xung quanh, rằng những lời khấn định hình cuộc sống của họ cách triệt để.

Học biết Tuân phục qua đau khổ

Tôi mới chịu chức chưa được ba năm, nhưng đặc tính triệt để của ba lời khấn đã bắt đầu xuất hiện đối với tôi. Chứng thư chấp thuận của Bề trên giám tỉnh cho việc khấn lần đầu của tôi phần nào mang tính tiên tri đối với tôi: Ngài nói với tôi rằng các đòi hỏi của lời khấn ngày càng khắt khe hơn theo thời gian, thường theo những cách mà chúng ta không mong đợi. Sau giai đoạn đào tạo sơ khởi, tôi mong chờ một sự bổ nhiệm may lành đầu tiên tại một trong những giáo xứ của chúng tôi, nhưng thay vào đó, tôi lại có cảm giác như Thiên Chúa đã giật tấm thảm dưới chân tôi.

Tôi đã trải qua mùa hè của mình với tư cách là một phó tế chuyển tiếp tại giáo xứ Thánh Patrick của chúng tôi ở Columbus, Ohio, vì vậy tôi rất vui mừng khi Bề trên giám tỉnh nói với tôi rằng ngài muốn bổ nhiệm tôi ở đó sau khi tôi hoàn tất việc học. Tôi đã dành năm đầu tiên của đời linh mục để hoàn tất bằng Thạc sĩ thần học, vì vậy trong khi tôi có một vài việc mục vụ và độc lập hơn trước khi thụ phong, tôi vẫn là một sinh viên toàn thời gian sống trong một ngôi nhà đào tạo.

Việc đến giáo xứ Thánh Patrick là cơ hội cho một khởi đầu mới và thực hiện đầy đủ tác vụ linh mục của tôi. Tôi nhanh chóng hòa nhập vào khuôn khổ hàng tuần của cuộc sống của một cha phó tại giáo xứ: những bổn phận hành chính, dâng lễ hàng ngày và ngồi toà giải tội, những cuộc gọi bệnh viện và những buổi sáng Chúa nhật thú vị nhưng mệt lử. Tôi nhận thức rõ mình là thành viên của một cộng đoàn tu trì, nhưng trọng tâm của tôi chủ yếu là về căn tính linh mục của mình.

Mặc dù tập trung vào thừa tác vụ linh mục, tôi đã ở một vị thế tốt hơn nhiều để hiểu sự khác biệt giữa việc trở thành một linh mục dòng và một linh mục triều hơn khi còn là một ứng viên ơn gọi.

Trong nhiều năm, tôi đã biết rõ về một số linh mục triều, và tôi biết rằng việc tuân giữ các lời khấn đòi hỏi về nhiều mặt. Mặc dù lương của một linh mục thì khiêm tốn, nhưng đó vẫn là thu nhập của ngài và không phải chuyển thẳng vào cộng đoàn. Linh mục triều có thể nhận và giữ những quà tặng mà không cần phải xin phép bề trên, và cũng không phải chuyển những món tiền biếu cho bề trên. Linh mục triều có thể tích lũy tài sản, sở hữu căn nhà nghỉ dưỡng và chi tiêu kha khá cho các sở thích.

Sự tiết dục hoàn toàn cũng tuyệt đối như đối với tu sĩ, nhưng có nhiều nguy cơ đi lạc đường hơn khi sống riêng lẻ thay vì sống trong một cộng đoàn. Việc vâng lời giám mục liên quan đến việc thực hiện thánh chức và việc mục vụ nhưng không mở rộng đến các chi tiết của cuộc sống hàng ngày. Không có hiến pháp nào để tuân giữ và không có bề trên trực tiếp để xin phép hoặc đồng ý với trong các vấn đề thực tế.

Các linh mục được mời gọi đến sự hoàn thiện của sự thánh thiện nhờ Bí Tích Truyền Chức Thánh (x. Sắc lệnh Presbyterorum ordinis, số 12), vì vậy linh mục vẫn phải giữ sao cho của cải thế gian không trở thành chướng ngại vật cho đức ái. Linh mục có nghĩa vụ tuân giữ tinh thần của các lời khuyên, và việc tuân thủ của các linh mục dòng, cũng như của các anh chị em tu sĩ, giúp nhắc nhở linh mục triều về những lời khuyên này.

Tôi đã cố gắng trở thành một tu sĩ biết vâng lời trong cộng đoàn, và một người anh em độ lượng để sống cùng, nhưng điều này vẫn không giúp tôi chuẩn bị cho sự vâng lời trọn vẹn trong vòng chưa đầy một năm sau khi tôi được bổ nhiệm.

Cùng với 2 thành viên khác của cộng đoàn, tôi bị nhiễm COVID-19 vào tháng 12 năm 2020. Các triệu chứng của tôi khá nhẹ và phần tồi tệ nhất là bị cách ly trong phòng vào dịp Giáng sinh và Năm mới. Tôi bị đau ngực kéo dài sau khi các triệu chứng khác biến mất, nhưng tôi đã trở lại thi hành thừa tác vụ.

Trong sự phấn khích vì có thể nhận được vaccine sớm trong đợt triển khai, tôi đã tiêm vaccine chỉ vài tuần sau khi bị ốm. Vào thời điểm đó, các bác sĩ nghĩ rằng điều này là ổn, nhưng nó khiến cơn đau ngực của tôi tăng đột biến. Một số loại thuốc ban đầu dường như làm cho nó tốt hơn, nhưng nó đã quay trở lại sau liều vaccine lần thứ hai của tôi. Mặc dù tôi đã cố gắng vượt qua nó, nhưng tôi dần nhận ra rằng cơ thể của tôi không thể tự hồi phục được. Tôi đã luôn khá khỏe mạnh và thích tập thể dục, vì vậy tôi tự tin rằng cuối cùng tôi sẽ tự chữa lành.

Đến giữa tháng 3, cơn đau ngực của tôi trở nên nghiêm trọng và liên tục đến mức tôi không thể làm việc toàn thời gian nữa. Bề trên của tôi và tôi đã quyết định là tôi nên nghỉ một vài tuần để tập trung vào việc nghỉ ngơi và chăm sóc y tế, và vào thời điểm đó, tôi đã không hình dung được rằng tôi sẽ không được cử hành Thánh Lễ với cộng đoàn trong 5 tháng.

Các bác sĩ của tôi đã cố gắng cách quyết liệt để tìm ra nguồn gốc có thể đo lường được của cơn đau nhưng không thành công. Nhiều người trong giáo xứ, cũng như anh em Đa Minh của tôi, cầu nguyện cho tôi. Tôi đã nghĩ rằng mình có thể có một kỳ nghỉ kéo dài ở một nơi nào đó, nhưng tôi dự trù là khi đã xong nhiệm kỳ được bổ nhiệm của mình ở Columbus.

Đó là vào cuối tháng 4, khi tôi cảm thấy giống như tấm thảm dưới chân bị kéo đi. Bề trên giám tỉnh của chúng tôi (một Bề trên giám tỉnh khác với vị thời tôi còn trong tập viện) đã gọi điện và nói với tôi rằng ngài muốn thuyên chuyển tôi tới giáo xứ của chúng tôi ở Youngstown. Những lời nói đó giáng vào tôi như một cú đánh, mặc dù tôi nhận ra rằng ngài có lý do chính đáng: giáo xứ ở đó đã có đủ nhân sự mà không cần có tôi, vì thế tôi có thể dành bao lâu có thể để phục hồi sức khoẻ mà không cảm thấy lo lắng về gánh nặng mà tôi đang đặt lên những người anh em hoặc các dự án còn dang dở của mình.

Tôi đã khóc sau cuộc điện thoại đó hơn một lần. Tôi đã gắn bó với cộng đoàn, với những vai trò của mình trong giáo xứ, và với nhiều gia đình ở đây. Đây là lúc mà những lời trong chứng thư chấp thuận việc khấn đơn trở lại với tôi: những đòi hỏi của lời khấn ngày càng khắt khe hơn theo thời gian, thường theo những cách mà chúng ta không ngờ tới. Một cuộc sống dường như trọn vẹn và có thể đoán trước được đã thay đổi hoàn toàn vì một đặc điểm thiết yếu: lời khấn vâng phục. Tôi biết rằng đây là nền tảng của cuộc đời mình, nhưng vì tôi đã lường trước tất cả các giai đoạn đào tạo, bao gồm cả lần bổ nhiệm đầu tiên của tôi, nên đây là lần đầu tiên sự vâng phục đi ngược lại với ý muốn tự nhiên của tôi.

Tôi phải tin cậy vào sự quan phòng của Thiên Chúa và noi gương lời cầu nguyện của Chúa Giêsu trong vườn Giêtsimani: “Không phải theo ý con, nhưng theo ý Cha” (Mt 26, 39). Mục đích của sự vâng phục là làm cho chúng ta nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô trong sự dâng hiến của Người cho Chúa Cha, và với sự tái bổ nhiệm đột ngột này, tôi bắt đầu học biết điều này có nghĩa là gì.

Như là sự phù hợp vừa cho một tu sĩ lẫn một linh mục, Thiên Chúa đã làm cho tôi nên giống Con của Ngài hơn, Đấng đã học vâng phục từ những gì Người phải chịu đựng. Thậm chí còn hơn cả cơn đau ngực của tôi, sự quy phục ý muốn của tôi là một đớn đau đối với tôi.

Sự hiểu biết lớn hơn

Câu chuyện của tôi có một kết thúc có hậu: Tôi đã hồi phục đủ ở Youngstown để đảm nhận một tác vụ mới tại Trung tâm Newman. Sự quan phòng của Thiên Chúa đã không thất bại, và như là một phần của điều đó, tôi hy vọng việc thực hành vâng phục của tôi là một chứng tá cho giáo dân của giáo xứ Thánh Patrick và các linh mục mà tôi đã gặp.

Bây giờ tôi hiểu rõ hơn rằng các linh mục triều có thể gặp khó khăn lớn trong việc thuyên chuyển của mình. Tôi biết ơn về hồng ân đời tu giúp tôi thấy sự cần thiết của hi sinh, nhưng tôi cũng ý thức rằng việc tuyên khấn các lời khuyên không có nghĩa là một tu sĩ thì có chút gì đó thánh thiện hơn một linh mục triều.

Lời khấn là những hỗ trợ mà chúng ta nắm lấy trong hành trình tìm kiếm sự hoàn thiện của đức ái, nhưng một linh mục triều tuân giữ tinh thần của những lời khuyên có thể vượt trội một tu sĩ khô khan, nguội lạnh. Điều quan trọng là những hành động chúng ta thực hiện để lớn lên trong đức ái.

Việc củng cố lẫn nhau giữa sự thánh hiến tu trì và căn tính linh mục, giữa các thể chế tu trì và các linh mục triều là điều thiện hảo mà Thiên Chúa là Cha của mọi người mong muốn. Thánh Tôma nói rằng các bậc sống khác nhau trong Giáo hội góp phần làm nên vẻ đẹp và phẩm giá của Giáo hội (x. Summa Theologiae II-II, Vấn nạn 183, Điều 2), và điều này đúng cách riêng đối với các dòng tu và linh mục triều.

Không có sự tuyên khấn khó nghèo, khiết tịnh và vâng phục của các tu sĩ, thì những lời khuyên Phúc âm sẽ nhạt nhoà trong hậu cảnh của đời sống Giáo hội. Không có các linh mục và các giám mục giáo phận, sẽ không có việc chăm sóc mục vụ cho các tu sĩ tham gia. Khi cả linh mục lẫn tu sĩ đều trung thành với bậc sống của mình, thì Giáo Hội trở nên đẹp đẽ hơn, và những nền tảng của Giêrusalem thiên quốc được củng cố.

Nt. Anna Ngọc Diệp, OP
Dòng Đa Minh Thánh Tâm
Chuyển ngữ từ: thepriest.com (15.01.2022)

_____

(*) Cha Norbert Keliher, OP, là một tu sĩ dòng Đa Minh thuộc Tỉnh Dòng Thánh Giuse và là giám đốc mục vụ khu Đại học tại Trung tâm Newman của trường Đại học Youngstown ở Ohio, Hoa Kỳ.

Read More
06Tháng Hai
2022

Những bài học từ Thánh Phaolô

06/02/2022
Anmai
Giáo dục, Tài liệu giáo dục
0

NHỮNG BÀI HỌC TỪ THÁNH PHAOLÔ

Donald Senior, CP.

Lý do những kinh nghiệm và phẩm chất của thánh tông đồ Phaolô vẫn còn thích hợp cách đặc biệt cho các linh mục hôm nay.

Có lẽ hơn ai hết trong giáo hội tiên khởi, thánh Phaolô Tông đồ hiện thân cho sự hoán cải và biến đổi sâu xa vì Tin Mừng – cả trong mức độ cá nhân lẫn trong truyền thống tôn giáo mà ngài nhiệt tâm dấn thân. Phaolô được sinh ra vào khoảng năm thứ 5 sau Công nguyên tại Tarsô, thủ phủ ở Trung Nam vùng Tiểu Á, thuộc Thổ-Nhĩ-Kỳ ngày nay. Tarsô là thành phố có tiếng về văn hoá và trí thức, một thành phố đặc trưng La-Hy, nhưng cũng có một cộng đồng thiểu số Do Thái đáng kể. Chúng ta được biết Phaolô được sinh ra trong một gia đình Do Thái đạo đức – một di sản mà ngài luôn ôm ấp và kính trọng. Tuy nhiên, ngài là con một người cha là công dân Rôma – chúng ta không biết làm thế nào Phaolô một người Do Thái lại có quốc tịch Rôma, có lẽ vì cha ngài đã đi lính hay là người nô lệ được trả tự do. Từ di sản kép này – một người Do Thái đạo đức và một người Rôma tự hào – Phaolô ẩn chứa trong chính mình sự pha trộn về văn hoá và tôn giáo là tố chất sẽ trở nên then chốt cho sứ vụ tương lai của ngài.

Từ di sản Do Thái, ngài có được một đức tin kiên cường vào Thiên Chúa của Israel, Thiên Chúa nhân từ và giải thoát, Đấng tạo thành vũ trụ và gìn giữ nó trong sự quan phòng yêu thương. Cũng như từ Do thái giáo, Phaolô được đào tạo và nuôi dưỡng một cảm thức luân lý mạnh mẽ để diễn tả niềm tin vào Thiên Chúa bằng đời sống tuân phục ý Chúa. Từ di sản Rôma và nền giáo dục cổ điển ở Tarsô, Phaolô có thể mở rộng cái nhìn về thế giới Địa Trung Hải với những sự khác biệt và năng động và được học về nghệ thuật tu từ và thuyết phục mà người Rôma thừa hưởng từ những người Hy Lạp đi trước. Tố chất gia đình của Phaolô, hay nếu thích có thể gọi là DNA, được giải thích như tác động của Chúa Thánh Thần vào trong một nhân vật sẽ là cầu nối cho cả thế giới Địa Trung Hải.

Phaolô và hoán cải

Tân Ước cho chúng ta hai mô tả sống động về bước ngoặt mang tính quyết định trong cuộc đời Phaolô, lúc mà ơn Thiên Chúa kêu gọi ngài bùng cháy. Một mô tả nằm trong những câu chuyện hoán cải ngoạn mục trong sách Công vụ Tông đồ. Phaolô, với lòng nhiệt thành đầy cao ngạo đã thúc đẩy ngài đi bắt bớ những người theo Chúa Giêsu, đã bị đánh gục xuống đất do sức mạnh của sự hiện diện cứu độ của Chúa Kitô. Bị làm mù do ánh sáng của tình yêu tha thứ của Chúa, nhưng ngược lại, Phaolô lại bắt đầu nhìn thấy chân lý lần đầu tiên (x. Cv 9:3-19; 22:6-16; 26:12-18)

Trong trình thuật của thánh Luca về lịch sử của cộng đoàn tiên khởi, thì Phaolô, người hành hạ và bắt bớ các Kitô hữu, trở nên “phương tiện chuyển tải được chọn” – là người sẽ mang Tin Mừng của Chúa Giêsu từ Giuđêa tới Antiôkia, tới hướng tây đến HY-lạp và cuối cùng đến tận Rôma.

Như vậy, theo như mô tả của sách Công vụ Tông đồ, sự hoán cải của Phaolô, theo một nghĩa nào đó, được thúc ép từ bên ngoài – một cảm nghiệm vượt quá sự kiểm soát đã đảo ngược ý nghĩa tôn giáo của ngài và biến đổi cuộc sống của ngài mãi mãi.

Trình thuật nổi bật về việc hoán cải của Phaolô trong sách Công vụ Tông đồ lại mang một hình thức rất khác qua những lời của chính Phaolô trong thư của ngài gửi tín hữu Galát (x. Gl 1:11-24). Nhìn lại, giờ đây Phaolô thấy rằng Thiên Chúa đã gọi ngài đến sự biến đổi diệu kỳ này từ muôn thuở trước – trước cả khi ngài được hình thành trong lòng mẹ. Ngài trích dẫn những lời tiên tri của Isaia  49 và Giêrêmia 1- “ Lời Chúa nói với tôi:/trước khi ta hình thành ngươi trong dạ mẹ ta đã biết ngươi, / trước khi ngươi được sinh ra ta đã thánh hiến ngươi,/ đặt ngươi làm ngôn sứ cho các dân tộc.” (Gr 1: 4-5)

Tính chất làm nên sự thay đổi tận căn này không đơn thuần là do tác động của những biến cố bên ngoài nhưng là sự thành toàn của một vận mệnh Chúa định, một hành động của sự quan phòng mà Thiên Chúa đã gọi Phaolô từ muôn thuở trước.

Như thế Phaolô đã bước vào truyền thống kinh thánh sâu xa và tuyệt hảo – là truyền thống của “ơn gọi”, thuật lại việc Thiên Chúa kêu gọi cách nhiệm mầu trải dài từ Môisê đến các ngôn sứ, và tiếp tục đến Mẹ Maria và các môn đệ của Chúa Giêsu trong Tân Ước. Thần Khí của Thiên Chúa ra dấu một cách nhiệm mầu, kiên trì – mời gọi một người dấn thân vào một lối sống mới và thường là bất ngờ cho Chúa. Phaolô là một trong số đó. Chúa thì thầm vào tai Isaia: “Nếu ngươi chỉ là tôi trung của Ta/để tái lập các chi tộc Gia-cóp,/để dẫn đưa các người Ít-ra-en sống sót trở về, thì vẫn còn quá ít./ Vì vậy, này Ta đặt ngươi làm ánh sáng muôn dân,/để ngươi đem ơn cứu độ của Ta đến tận cùng cõi đất” (Is 49:6).

XÂY DỰNG GIÁO HỘI CHO CHÚA KITÔ

Chúng ta cần nhắc lại là Phaolô là một người có những kế hoạch lớn lao, dù trong thời của ngài, chúng ta có thể nói (giống như thời đại chúng ta) là ơn gọi hiếm hoi và tài chính không ổn định. Như ngài nói trong thư gửi tín hữu Rôma chương 15, Phaolô có ý lập các giáo hội khắp bờ Bắc Địa Trung Hải, đến tận Rôma và Tây Ban Nha, để thu phục dân ngoại cho Chúa Kitô, một sự thành toàn huy hoàng nhờ ơn Chúa mà ngài hy vọng qua đó thuyết phục được tất cả Israel chấp nhận Chúa Kitô.

Những phương thức đích thực

Tôi nghĩ rằng tất cả chúng ta có thể suy tư về những phương thức khác biệt và đích thực này của cuộc sống và ơn gọi của chúng ta. Ở một mức độ, chúng ta đang bị lèo lái do những nhân tố bên ngoài chúng ta: những biến cố của thế giới, đe doạ của dịch bệnh, kinh tế, gương mặt thay đổi của Giáo hội, các trào lưu văn hoá và lịch sử, sự khích lệ của bạn bè hay người cố vấn. Và chắc chắn chúng ta cần người khôn ngoan và biết chăm lo để giúp chúng ta lựa chọn những kinh nghiệm và làm cho nó có ý nghĩa. Giống như Phaolô, chúng ta cần những người giúp rũ bỏ sự mù loà của chúng ta và nhìn cuộc sống chúng ta cũng như của những người chung quanh bằng nhãn quan của đức tin Kitô giáo.

Nhưng ở một mức độ khác cũng quan trọng tương đương là chúng ta tin rằng Chúa đang gìn giữ chúng ta trong bàn tay ngài, cuộc sống của chúng ta, cả cá nhân hay tập thể là một lời đáp trả tiếng Chúa kêu gọi chúng ta trong sâu thẳm, một lời kêu gọi ẩn sâu trong sự quan phòng đầy yêu thương của Thiên Chúa từ muôn thuở. Và ở đây chúng ta biết được tầm quan trọng của việc suy tư về cội nguồn sâu thẳm nhất của đức tin chúng ta; sự suy ngắm Kinh Thánh và những nhân vật  hay những vị thánh vĩ đại trong di sản của chúng ta, là những người đã đáp trả tiếng Chúa gọi và thẩm thấu suối nguồn của linh đạo Kitô giáo để hiểu Chúa đang làm gì trong cuộc sống của họ, như Phaolô rút ra những lời đầy xúc động của Isaia và Giêrêmia, và gương mẫu của sứ vụ ngôn sứ của các ngài làm cho có ý nghĩa những trở lại đầy bất ngờ trong cuộc sống của ngài. Có lẽ đây là việc cần làm trong thời gian tu dưỡng (sabbatical) hay trong những chương trình suy tư về thừa tác vụ của Tin Mừng trong mọi thời.

Cuộc khổ nạn của Phaolô

Như chúng ta biết, Phaolô không phải là thành viên từ ban đầu hay đặc quyền trong các môn đệ của Chúa Giêsu. Phaolô không bao giờ quên thân phận ‘hạng hai’ của mình – hay việc bắt bớ sai lầm các Kitô hữu. Ngài vẫn ở mãi như “đứa con sinh non”. Nhưng điều đó không làm mất đi sự dấn thân đầy đam mê của Phaolô cho Chúa Kitô và Tin Mừng của ngài.

Cuộc khổ nạn của Phaolô rỏ ràng một phần là do của tính khí nồng nhiệt tự nhiên của ngài. Không phải là sự nhẹ nhàng điềm đạm được biểu lộ trong thư chung gửi tín hữu Galát khi ngài mong những Kitô hữu đòi buộc những người ngoại trở lại phải chịu cắt bì “phải chi họ tự thiến cho xong” (Gl 5:12) – hay đầu thư cho một hội thánh nổi tiếng với những lời sau: “Hỡi những người Galát ngu muội!”. Tôi cho rằng Phaolô không phải là người dể sống chung. Vì vậy không phải tình cờ mà trong sứ vụ ngài chủ yếu là lưu động nơi này đến nơi khác.

Nhưng cũng rõ ràng là ngọn lửa luôn bừng cháy của cuộc khổ nạn của Phaolô đến từ sự mức độ mãnh liệt trong dấn thân của ngài cho Chúa Kitô. Có lúc trong cuộc sống, Phaolô xác quyết cho cộng đoàn của mình bằng những lời tự thú làm giật mình: “Chúa Kitô sống trong tôi”. Chính điều này đã đưa dẫn Phaolô trong sứ vụ, và từ đó xuất phát lời giảng dạy và thần học của ngài.

Cuộc khổ nạn của Phaolô đã khiến ngài viết những bức thư với những hình ảnh và sự mạnh mẽ đã làm thay đổi cảm thức Kitô giáo mãi mãi. Những bức thư viết vội vã, thường là văn phong đau đớn; những bức thư bùng phát những ý tưởng mà phải cần hơn một người cùng lúc ghi chép những lời Phaolô đọc lên; và ngay cả một tác giả kinh thánh được linh ứng khác phải nói, và nói nhẹ đi, là có những điều người anh em Phaolô của chúng ta viết thật khó hiểu (x. 2 P 3:15-16).

Theo tôi, những ý tưởng của Phaolô – lời rao giảng, những trước tác, thần học, giáo huấn, ý nghĩa về quyền bính và cai trị của ngài – được hun đúc cho tính chất môn đệ đầy đam mê của chính ngài. Thần học của Phaolô không vay mượn, theo thời thượng hay chỉ suy tưởng. Phaolô rút ra cái nhìn của mình từ linh hồn sống động của Giáo hội và sự dấn thân cuồng nhiệt của ngài cho vào đó. Ngài là người thụ hưởng và là người canh giữ có trách nhiệm của truyền thống: “Trước hết, tôi đã truyền lại cho anh em điều mà chính tôi đã lãnh nhận, đó là: Đức Ki-tô đã chết vì tội lỗi chúng ta, đúng như lời Kinh Thánh.” (1 Cor 15:3)

Nhưng ngài cũng có thể rút ra quan điểm thần học từ kinh nghiệm Kitô giáo thực của dân chúng: Giáo hội là Thân Thể của Chúa Kitô đối lại với óc bè phái của dân Corintô; thần học về sự yếu đuối đối với cảm nghiệm về giới hạn của mình và của các Kitô hữu của mình – về thể lý và về thiêng liêng; thần học về một Tin Mừng không bị ảnh hưởng bởi Lề Luật bởi vì ngài tin tưởng ở kinh nghiệm tôn giáo của dân ngoại; một thần học về sự khải hoàn của Chúa Kitô trên vũ trụ thay vì sự sợ hãi khiếp đảm về số mệnh rất phổ biến  trong thế giới La-Hy.

Trọng tâm của thần học Phaolô và linh đạo của ngài còn liên kết với một cảm nghiệm về cuộc khổ nạn khác – cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu. Đối với Phaolô, cái chết và sống lại của Chúa Kitô là thực tại giải thích mọi thực tại, và mạc khải chân dung thật của Thiên Chúa. Trong ánh sáng của Cuộc Khổ Nạn, của Mầu Nhiệm Vượt Qua, Phaolô suy nghĩ lại và tái khám phá trọng tâm của truyền thống Do thái của mình. Chúa của Abraham cũng là Chúa của các dân tộc. Thiên Chúa của Chúa Giêsu chịu đóng đinh không được mạc khải qua những biểu hiệu bên ngoài của quyền lực và huy hoàng nhưng trong sự kỳ diệu của cái mà con người cho là yếu hèn: cuộc sống trao ban cho người khác.

“Trong khi người Do-thái đòi hỏi những điềm thiêng dấu lạ, còn người Hy-lạp tìm kiếm lẽ khôn ngoan, thì chúng tôi lại rao giảng một Đấng Ki-tô bị đóng đinh, điều mà người Do-thái coi là ô nhục không thể chấp nhận, và dân ngoại cho là điên rồ. Nhưng đối với những ai được Thiên Chúa kêu gọi, dù là Do-thái hay Hy-lạp, Đấng ấy chính là Đức Ki-tô, sức mạnh và sự khôn ngoan của Thiên Chúa. Vì cái điên rồ của Thiên Chúa còn hơn cái khôn ngoan của loài người, và cái yếu đuối của Thiên Chúa còn hơn cái mạnh mẽ của loài người” (1 Cor 1:22-25)

Từ tâm điểm này, Phaolô suy niệm mọi thứ: trọng tâm của đời sống Kitô hữu là tình yêu, như tình yêu vô điều kiện đã làm cho Chúa Kitô chịu đóng đinh; kinh nghiệm về giới hạn và yếu hèn, như chính Phaolô đã cảm nghiệm trong thân xác hay chết của mình, tìm được ý nghĩa trong thân xác chịu đóng đinh của Chúa Giêsu Đấng tự hiến cho chúng ta; Thân thể của Chúa Giêsu là Giáo hội đã trân trọng nhất phần tử yếu đuối và bị coi thường nhất vì Chúa Kitô đã mạc khải chính mình cho thế gian qua một Đấng Thiên Sai chịu đóng đinh, vì thế Thân Thể của Chúa Kitô là thân thể bị đóng đinh và những vết thương vẫn còn thấy rõ; và những đau khổ cũng như nhức nhối tâm can của người tông đồ mà Phaolô cảm nghiệm trong hành trình sứ vụ của mình, và những gì mà các cộng đoàn của ngài cảm nghiệm trong những  đau khổ và đấu tranh, không phải là vô ích vì thấp giá của Chúa Giêsu mãi mãi xác quyết là nhờ ân sủng Chúa từ cái chết sẽ đến cuộc sống dồi dào.

Người lãnh đạo tự tin

Tôi nghĩ là mọi người đang làm việc trong Giáo hội hôm nay có thể học được điều gì đó về sự lãnh đạo tông đồ đích thực của Phaolô, và cũng về hình ảnh của Giáo hội mà chúng ta cần dự kiến cho những người chúng ta phục vụ. Phaolô rất ý thức về vai trò “tông đồ của Chúa Giêsu Kitô” của mình và thường xuyên nhắc tới. Nhưng là hiểu lầm về Phaolô và sứ vụ của ngài khi nghĩ về ngài như là một người khổng lồ đơn độc đứng dạng chân ra trong giáo hội tiên khởi hay như một người rong ruổi cô đơn, di chuyển không sợ hãi và cô đơn trong khắp vùng Địa Trung Hải, gieo trồng hạt giống Tin Mừng mà không tùy thuộc vào ai hay liên kết với ai.

Đây là hình ảnh sai lầm, và bằng chứng của chúng ta là chứng từ của chính Phaolô. Một trong những cái nhìn rõ rệt và quan trọng về Phaolô mà chúng ta có được thời gian gần đây là ngài hành động với một mạng lưới tuyệt vời của những cộng tác viên. Phaolô không co cụm lại trong những đòi hỏi của việc lãnh đạo hay trách nhiệm của quyền bính, nhưng ngài thi hành ơn gọi đó theo cách tương hợp với thần học của mình về khổ nạn và về cộng đoàn thuộc về Chúa Kitô.

Đoạn văn kết luận nổi tiếng trong thư gửi tín hữu Rôma chương 16 là nguồn bằng chứng tốt nhất về điều này.  Khi Phaolô kết luận thư gửi cho một Giáo hội mà ngài chưa bao giờ thăm, nhưng đối với ngài đây là một cộng đoàn rất quan trọng, ngài thêm vào một loạt những lời chào thăm cho chúng ta thấy phạm vi rộng lớn của mối liên lạc của ngài và tinh thần không chiếm hữu của mình, đồng thời cũng cho thấy sự năng động và mạng lưới của chính giáo hội tiên khởi. Ngài nêu tên 29 người Hy-lạp và Do thái và những bạn “tông đồ” (10 người là nữ), từ giới quý tộc, những người được trả tự do, hay những người nô lệ.

Phaolô không bao giờ hành trình một mình; ngài nhắc đến danh hiệu ‘cộng tác viên” trong khắp các thơ của ngài, ngay cả chính những lá thư của ngài là một công việc có nhiều người cộng tác, hai trong số đó được công khai nhắc đến như là đồng tác giả. Cảm thức về sự cộng tác của Phaolô không đơn thuần chỉ là phong cách cá nhân hay vì nhu cầu đòi hỏi, nhưng xuất phát từ nhận thức về Tin Mừng, đâm rể từ hình ảnh của ngài về Thiên Chúa là Đấng quy tụ mọi người, là Chúa của cả người Do thái lẫn dân ngoại. Một sự xác quyết lan toả trong những hình ảnh cộng tác thích hợp của Phaolô về Giáo hội như là một thân thể với nhiều chi thể, sự dồi dào ân huệ được hun đúc trong cùng một Thánh Thần, như hàng ngũ của những dụng cụ và chất liệu được hình thành trong một đền thờ sống động của Thiên Chúa. Xây dựng cộng đoàn của Giáo hội là mục tiêu tông đồ không ngừng nghỉ của ngài, và ngài biết rằng mọi ân huệ, cho dù nổi bật đến đâu, đều là thứ yếu so với ân huệ đức ái và mối liên kết cộng đoàn.

Thần học về sự yếu đuối của Phaolô là cản trở nền tảng cho cơn cám dỗ chiếm hữu một địa vị hay quyền bính. Sự bất lực thể lý rõ ràng của Phaolô, sự bắt bớ sai lầm của ngài đối với Giáo Hội trước kia – tất cả những kinh nghiệm này dạy cho Phaolô về tình mỏng dòn yếu đuối của mình và đưa ngài đi tìm sức mạnh, một cách mâu thuẫn, trong chính sự yếu đuối của mình, vì ở đâu ngài yếu đuối, ở đó Thiên Chúa mạnh mẽ. Trên hết, suy niệm của Phaolô về Cuộc Khổ Nạn của Chúa gìn giữ ngài khỏi quan niệm về mình cũng như về quyền bính của mình bằng những từ ngữ kiêu căng ngạo mạn… Chúa Giêsu, Người Tôi Tớ Đau khổ của Thiên Chúa, Đấng trao ban cuộc sống cho những người khác được sống, là dấu hiệu nền tảng cho việc thực thi quyền bính chân thực.

Ký ức đó về Phaolô là cần thiết. Những người đang thực thi quyền bính trong Giáo hội, dù ở mức độ nào, cần sự tự tin về ơn gọi tông đồ của mình, nhưng cũng cần giữ nó với cách thế không chiếm hữu. Cộng tác với người khác trong sứ vụ và trong cái nhìn của chúng ta về Giáo hội không phải là ý thích nhất thời, nhưng là lối diễn tả Tin Mừng.

Con người của niềm hy vọng vô hạn

Cho phép tôi nhắc đến một tố chất cuối cùng của Phaolô. Khi đọc những thư của Phaolô tôi xác quyết rằng là một người chịu đau khổ lớn lao trong sứ vụ của mình, nhưng cùng lúc đó lại là đam mê đốt cháy cuộc sống của ngài. Nhiệt tâm bừng cháy của Phaolô cho Chúa Kitô và Tin mừng của Ngài đưa vị tông đồ vào một thực tại kiên định. Tâm hồn của Phaolô đau đớn không chỉ vì những giấc mơ không thành, nhưng còn vì những “pháo kích” liên tục chống lại đôi điều ngài đã xây dựng được. Những đội ‘giữ chân lý’ của những vị lãnh đạo Kitô hữu khác luôn theo dõi từng bước đi của ngài, đặt vấn đề về tính chính thống của ngài, hướng những người mới trở lại đạo của ngài về một lối hiểu khác về Giáo hội, gieo nghi ngờ về quyền bính tông đồ của ngài.

Nỗi đau đớn thất vọng của Phaolô sôi bùng lên trong đoạn văn nổi tiếng trong thư thứ 2 gửi tín hữu Corintô chương 11, như thể rất buồn nản chán chường. Sự kiên nhẫn của Phaolô hầu như không còn nữa và tuôn trào nỗi đau và thất vọng, không hướng về những người lãnh đạo trong hội đường, hay những đe doạ từ các viên chức chính quyền Rôma, nhưng hướng đến những đồng nghiệp tông đồ và những người lãnh đạo trong chính các cộng đoàn của ngài:

“Họ là người Híp-ri ư? Tôi cũng vậy! Họ là người Ít-ra-en ư? Tôi cũng vậy! Họ là dòng giống Áp-ra-ham ư? Tôi cũng vậy! Họ là người phục vụ Đức Ki-tô ư? Tôi nói như người điên: tôi còn hơn họ nữa! Hơn nhiều vì công khó, hơn nhiều vì ở tù, hơn gấp bội vì chịu đòn, bao lần suýt chết. Năm lần tôi bị người Do-thái đánh bốn mươi roi bớt một; ba lần bị đánh đòn; một lần bị ném đá; ba lần bị đắm tàu; một đêm một ngày lênh đênh giữa biển khơi! Tôi còn hơn họ, vì phải thực hiện nhiều cuộc hành trình, gặp bao nguy hiểm trên sông, nguy hiểm do trộm cướp, nguy hiểm do đồng bào, nguy hiểm vì dân ngoại, nguy hiểm ở thành phố, trong sa mạc, ngoài biển khơi, nguy hiểm do những kẻ giả danh là anh em. Tôi còn phải vất vả mệt nhọc, thường phải thức đêm, bị đói khát, nhịn ăn nhịn uống và chịu rét mướt trần truồng. Không kể các điều khác, còn có nỗi ray rứt hằng ngày của tôi là mối bận tâm lo cho tất cả các Hội Thánh! Có ai yếu đuối mà tôi lại không cảm thấy mình yếu đuối? Có ai vấp ngã mà tôi lại không cảm thấy lòng sôi lên?” (2 Cor 11:22-29)

Phaolô sống trong một thời khắc mà cái nhìn của ngài về Giáo Hội không được người khác chấp nhận. Có những đêm tối ở Côrintô hay Thessalonika hay Êphêsô – chắc chắn là ở Giêrusalem hay trong thời gian ngài bị quản thúc tại gia ở Cêsarea và ở Rôma – khi ngài tự nghĩ có phải là cuối cùng ngài đã đi sai lối? Có lẽ những suy nghĩ như thế cũng xuất hiện trong trí óc hay tâm hồn của các linh mục khi các ngài thi hành sứ vụ và nhận xét về những thành quả.

Nắm chắc niềm hy vọng

Nhưng cùng lúc Phaolô cũng đã làm được điều mà một nhà lãnh đạo mục vụ vĩ đại đã làm. Phaolô đã nắm chắc niềm hy vọng của mình. Phaolô không bao giờ từ bỏ cảm nghiệm đức tin nền tảng của mình. Tình yêu của Chúa Kitô chịu đóng đinh là bảo chứng của giao ước bền vững của Thiên Chúa, của tình yêu cứu chuộc không ngừng nghĩ cho thế giới, Phaolô hỏi: “Điều gì có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Đức Ki-tô?” (Rm 8:35). Đây là câu hỏi quặn thắt xuất phát từ con tim của thừa tác viên của Tin Mừng, của một người được gợi đi thi hành sứ vụ, của một người trưởng thành sống trong Giáo hội từ bên trong và vẫn từ chối để không bị làm hư hỏng bởi những gương xấu và thất vọng; một người có những lý tưởng cao vời cho cộng đoàn nhưng cũng hiểu biết những thực tại đáng buồn của sự chia rẽ và xung khắc; một người trên thực tế biết thực tại của khổ đau nhưng vẫn nuôi những niềm hi vọng vĩ đại.

Ngài nói trong một trong những đoạn văn tuyệt vời nhất trong các thư của ngài: “Tôi tin chắc rằng: cho dầu là sự chết hay sự sống, thiên thần hay ma vương quỷ lực, hiện tại hay tương lai, hoặc bất cứ sức mạnh nào, trời cao hay vực thẳm hay bất cứ một loài thọ tạo nào khác, không có gì tách được chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa thể hiện nơi Đức Ki-tô Giê-su, Chúa chúng ta” (Rm 8:38-39).
Như những linh mục và những thừa tác viên của Tin Mừng, được gọi để sống đức tin của chúng ta trong sứ vụ Kitô giáo trong khoảnh khắc hiện tại của lịch sử, một sứ vụ mang nhiều hình thức và có những khoảnh khắc vui, không nghi ngại, nhưng cũng chia xẻ những nản lòng, thất vọng hay cô độc, chúng ta càng phải nhớ đến Phaolô: một người môn đệ đầy hăng say đối với Chúa Giêsu chịu đóng đinh và nhà thần học của những cảm nghiệm; một người mà ơn Chúa gọi để phục vụ được những người khác nuôi dưỡng; một người tự tin về ơn gọi tông đồ  và căn tính của mình nhưng thực thi quyền bính của mình bằng cách cộng tác và không chiếm hữu, vẫn luôn hiểu rằng tích lũy với người khác không phải vì nó là một cách quản trị hấp dẫn nhưng vì nó diễn tả đức tin Kitô giáo; một con người mở ra cho những khả thể mới, một người mà những giấc mơ không ngừng nghĩ và táo bạo cho Giáo hội mang lại cho ngài đau khổ nhưng niềm hi vọng của ngài, được đâm rễ trong đức tin, không bao giờ mờ nhạt đi.

CUỘC ĐỜI VÀ THẦN HỌC CỦA PHAOLÔ

Ngay từ những giây phút đầu tiên gặp gỡ Chúa Kitô phục sinh, Phaolô đã cảm thấy được Thiên Chúa kêu gọi để loan báo Tin Mừng không chỉ cho những đồng bào Do Thái nhưng còn cho cả thế giới dân ngoại. Từ chứng từ của chính mình, Phaolô xác quyết về sức mạnh ban sự sống của Tin Mừng cho toàn thể nhân loại ngay khoảnh khắc đầu tiên  ngài gặp gỡ Chúa Kitô.

Lý luận về việc truyền giáo khẩn thiết của Phaolô là rõ ràng trong đoạn trích dẫn thư của ngài gửi tín hữu Rôma: “Vì tất cả những ai kêu cầu danh Đức Chúa sẽ được cứu thoát. Thế nhưng làm sao họ kêu cầu Đấng họ không tin? Làm sao họ tin Đấng họ không được nghe? Làm sao mà nghe, nếu không có ai rao giảng? Làm sao mà rao giảng, nếu không được sai đi? Như có lời chép: Đẹp thay bước chân những sứ giả loan báo tin mừng! (Rm 10:13-15)

Dù Phaolô làm chứng rằng ngay từ giây phút đầu tiên gặp gỡ Chúa Kitô phục sinh, ngài đã được gọi làm nhà truyền giáo cho dân ngoại (x. Gl 1:15-16), tuy nhiên phải cần thời gian và sự trợ giúp của những người khác để Phaolô khai triển sâu xa ơn thiên triệu khởi đầu này. Ngài cũng đưa ra chứng từ là ngài phải trải qua một thời gian đáng kể để cầu nguyện và cô quạnh ở Siria, gần Đamát, và một thời gian ngắn ở Giêrusalem hội ý với Phêrô và Giacôbê (x. Gl 1:17-20). Sau đó ngài đi Xilixia (vùng quê của ngài ở miền nam Tiểu Á) và rồi đến thành phố lớn của vùng Antiôkia, nơi sẽ là cơ sở truyền giáo đích thực đầu tiên của ngài.

Phaolô được Barnaba tuyển mộ và đưa đến Antiôkia để cùng với mình trong cuộc phiêu lưu mới để rao truyền Tin Mừng cho thế giới vùng Địa Trung Hải bên ngoài phạm vi của Israel. Chính tại đây, như sách Công vụ Tông đồ thuật lại, những người theo chúa Giêsu lần đầu tiên được gọi là “Kitô hữu” và ở đây, dưới sự hướng dẫn của Barnaba, Phaolô mài dũa sứ điệp cho những Kitô hữu gốc dân ngoại và cũng từ đây ngài tiến hành những cuộc truyền giáo về hướng tây qua Tiểu Á và rồi đến Hy lạp khi ngài lần đầu đặt chân đến đất Âu Châu và là nơi ngài thiết lập cộng đoàn Kitô hữu ở Philíp (x. CvTđ 16: 11-12).

Lm. Antôn Bùi Kim Phong chuyển ngữ từ thepriest.com

Read More
23Tháng Một
2022

Giáo dân với Linh mục

23/01/2022
Anmai
Giáo dục, Tài liệu giáo dục
0

Giáo dân với Linh mục

 

Ngày 9-1-2022 vừa qua, trên trang web của TGP Hà Nội, trong mục suy tư tản mạn có đăng bài của LM Tạ Xuân Hòa với tựa đề “Linh mục với giáo dân”. Đọc bài viết này độc giả tín hữu cảm thấy rất vui và ấm lòng, đặc biệt với đoạn văn ngắn được tác giả trích dẫn.

Ngài viết: “Tôi vẫn còn nhớ như in lời của một cha giáo lớn tuổi trong chủng viện. Mỗi lần gặp gỡ chúng tôi bao giờ ngài cũng nói: ‘khi nào các ông ra trường, các ông nhớ thương giáo dân nhé’.” [1]

Cũng trong ý này, ĐTGM Giu-se Nguyễn Chí Linh có lần cũng đã nhắn nhủ các linh mục dịp tĩnh tâm giáo phận Đalat năm 2009, như sau: “… ‘Yêu mến giáo dân như Đức Kitô, trao cho họ tất cả tình yêu và sự quí mến, hao tốn sức lực và thời giờ vì họ nên hình ảnh của Giáo hội hiền thê Đức Kitô’ (Pastores dabo vobis). Tôi nghĩ rằng đây là bí quyết để linh mục huấn luyện con tim mục tử của mình có được sự nhạy cảm của Chúa Giêsu khi Ngài nhìn đám đông không người chăn dắt mà chạnh lòng thương. Phải đạt cho tới trình độ hễ nhìn thấy dân là thương. Theo suy nghĩ của Chúa Giêsu, đám đông luôn là một đàn chiên bơ vơ. Họ cần đến mục tử chăn dắt họ, họ cần đến linh mục. Nếu không tạo được một con tim mục tử, tự khắc chúng ta sẽ biến mình thành một tên Pharisiêu đã bị Chúa Giêsu lên án là chất lên vai người khác những gánh nặng mà chính mình không vác được.” [2]

“Họ cần đến mục tử chăn dắt họ, họ cần đến linh mục”. Thực vậy, mọi nơi mọi thời tín hữu giáo dân chúng ta rất cần đến linh mục. Giữa linh mục và giáo dân có một mối tương quan gắn bó rất đặc biệt không thể tách rời ra được. Linh mục cần giáo dân là vì linh mục xuất phát từ hàng ngũ tín hữu giáo dân và các ngài được sai đến với họ để phục vụ. Không có giáo dân thì linh mục sẽ làm mục vụ cho ai bây giờ! Còn giáo dân cần linh mục là vì nhờ các ngài mà giáo dân được nuôi dưỡng và tăng trưởng trong đức tin và lòng mến. Vậy, nếu các mục tử thương giáo dân vì họ là “Con chiên” mà Chúa đã trao phó cho các ngài chăm sóc thì đối lại giáo dân cũng phải yêu kính các linh mục như “Chủ chăn” của mình. Giáo dân VN ta có truyền thống xưng hô với linh mục là “Cha-Con” là vì ngài đã sinh họ ra trong Chúa, như khẳng định của Công đồng Vat. II: Linh mục phải săn sóc các tín hữu như những người cha trong Chúa Ki-tô, vì đã sinh họ cách thiêng liêng nhờ phép rửa và giáo huấn (x.1Cor 4,15 và 1P 1,23) (x. Vat II, LG 28).

Do đó, một khi tín hữu chúng ta nhìn nhận tư cách Cha của mục tử, chúng ta sẽ đi vào mối tương quan thân tình của một người Con đối với Cha của mình. Mối tương quan ấy gợi mở cho chúng ta những thái độ và bổn phận chính yếu thích hợp. Xin mạn phép nêu lên là: yêu mến thật lòng, chân thành kính trọng, khiêm tốn cộng tác và nhiệt tình giúp đỡ.

1.- Giáo dân luôn bày tỏ lòng quý mến các linh mục

Có thể nói hầu hết giáo dân chúng ta luôn bày tỏ lòng yêu mến các linh mục. Sự yêu mến ấy rất dễ nhận ra trong đời thường. Thái độ yêu mến có thể được biểu lộ bằng sự quan tâm nhỏ nhặt nào đó, hay bằng nụ cười chào hỏi và cái bắt tay xã giao thân tình, hay qua những đồng cảm sâu lắng bên trong. Dù trong hoàn cảnh nào và như thế nào thì sự yêu mến của giáo dân luôn là niềm khích lệ lớn lao cho các linh mục.

Chúng ta có thể đọc câu chuyện kể của LM Tạ Xuân Hòa tác giả bài viết đã dẫn trên, như sau:

“Sáng nay, sau khi dâng lễ chúa nhật cho thiếu nhi xong, tôi vẫn còn trong phòng thánh thì có một bà giáo dân tới gặp tôi. Bà đưa cho tôi một số tiền và nói đây là tiền xin lễ, còn đây là tiền con tạ ơn Chúa và cám ơn cha. Tôi hỏi lại lý do bà tạ ơn Chúa và cám ơn tôi là gì? Bà kể cho tôi rằng bà đã lên xin tôi cầu nguyện cho hai người cháu của bà. Cả hai đều đã được Chúa ban ơn cho. Một người thì xảy ra trục trặc với gia đình nên bỏ đi. Nhưng người đó đã trở về đoàn tụ với gia đình. Còn một người cháu bị nhiễm Covid trong Sài Gòn. Khi bà lên xin tôi cầu nguyện là lúc người đó đang trong giai đoạn nguy kịch. Bà bảo trong phòng có 3 người nguy kịch thì hai người chết còn cháu bà thì được ơn Chúa thương cho sống. Anh năm nay 41 tuổi. Bà nói với tôi rằng nhờ cha cầu nguyện mà Chúa đã nhậm lời. Trong lời nói và ánh mắt của bà, tôi biết bà rất tin tưởng vào lời cầu nguyện của tôi…Nghe xong tâm sự của bà, thú thực lòng tôi vui mừng vô hạn.”

Trong câu chuyện này, ta thấy chắc hẳn vị mục tử vui không phải vì tiền, vì đồ lỡi, vì của này vật nọ…nhưng chính là vì những lời cầu xin, vì gương sáng và lời giảng dạy của mình đã sinh hoa kết trái. Hằng ngày, giáo dân đến gặp linh mục, ngoài việc xin lễ hay trình bày các nhu cầu mục vụ nào đó, thì họ xem đây là dịp để thăm hỏi, chuyện trò với chủ chăn, để tìm sự đồng cảm, động viên, an ủi, khích lệ… đó là điều mà họ khó có thể tìm thấy ở người khác, nơi khác trong cuộc sống đức tin và xã hội của mình. Chính vì thế, đối với giáo dân, linh mục ngoài tư cách là Cha, ngài còn là Thầy dạy, là Linh hướng, là người Tư vấn, là Bạn đồng hành của tín hữu nữa. Tín hữu đến với chủ chăn là vì họ cần đến ngài, họ yêu mến ngài, họ tin tưởng ngài.

Cha Andrew Greeley, một tác giả viết sách và một nhà xã hội học đã định nghĩa: “Linh mục là người để người ta tìm đến”. Điều đó cũng có thể hiểu được là mục tử trở nên điểm hẹn đáng mong ước và địa chỉ liên hệ đáng tin cậy của mọi tín hữu. Cộng đoàn tìm đến mục tử của họ cũng là để được nói tiếng nói của chiên với chủ chăn, được giãi bày tâm sự, được khuyên giải, được trấn an vv.

Linh mục Micae-Phaolô Trần Minh Huy, PSS trong cuốn “Để được đào tạo và tự đào tạo nên Linh mục giáo phận như Chúa và Giáo hội mong ước” đã viết (các ngài) “phải biết cảm thương những nỗi yếu hèn và bất hạnh của tha nhân như Chúa Giê-su đã làm, và sống thế nào để mọi người đều cảm thấy họ được đón tiếp và coi trọng yêu thương…Lòng hiếu khách phải được thể hiện trong cung cách ân cần tiếp đón niềm nở, tôn trọng, hòa nhã, lắng nghe. Làm sao khi tiếp xúc với linh mục, người ta không phải ngại ngùng, sợ sệt, trái lại cảm thấy an lòng, thoải mái, dễ chịu, dễ mến, nể phục và tín nhiệm.”[3]

Như vậy mối tương quan yêu thương giữa giáo dân và linh mục được khẳng định trên nền tảng của lòng mến mà Chúa Ki-tô Mục Tử đã làm gương và dạy dỗ các môn đệ Ngài. Đặc biệt Ngài nhấn mạnh đến sự “Biết” mà mục tử và con chiên phải ứng xử với nhau: “Tôi biết chiên của tôi, và chiên của tôi biết tôi”(Ga 10, 14).

2.- Giáo dân luôn chân thành kính trọng các linh mục

Như trên đã nói, linh mục là Cha, là Chủ chăn, là Thầy dạy của tín hữu, nên việc chúng ta kính trọng các mục tử sẽ luôn được coi là một bổn phận tự nhiên và một cách ứng xử thích hợp của mọi thành phần Dân Chúa. Ta hãy hình dung hình ảnh của các em thiếu nhi khi trông thấy vị linh mục ở ngoài đường phố, nơi xóm ngõ, trong sân nhà thờ…đều đồng thanh lên tiếng chào “Chúng con chào Cha ạ!”. Hay trường hợp có những vị giáo dân cao tuổi ngả mũ cúi đầu cung kính chào hỏi khi gặp linh mục ở đâu đó, “Chào Cha nhé! Cha khỏe không? Cha đi đâu đó?”. Sự kính trọng của tín hữu đối với mục tử rất đơn sơ như thế đó. Ngoài ra, sự kính trọng các mục tử cũng được thể hiện cụ thể khi các ngài đến dự một cuộc họp, một chỗ đông người, một bữa tiệc hay một buổi chia sẻ nào đó. Vị chủ chăn luôn có một chỗ “an tọa” xứng hợp và mọi người luôn dành cho các ngài sự tiếp đón nồng nhiệt và tiếp đãi tận tình.

Tuy nhiên, trên thực tế, mối quan hệ giữa giáo dân và linh mục trong một số trường hợp không phải lúc nào cũng êm ả, tốt đẹp cả. Thỉnh thoảng cũng có một tín hữu nào đó tỏ ra bất mãn, bất kính đối với linh mục và ngược lại cũng có vị linh mục nào đó tỏ ra nóng nảy, coi thường đối với giáo dân. Thực tế này có thể xuất phát từ mâu thuẫn riêng tư giữa tín hữu và chủ chăn. Sự mâu thuẫn bất đồng có thể lên tới đỉnh điểm, khi hai bên không tìm được tiếng nói chung, không thể nhượng bộ nhau…Lúc đó thì “Cha nói Cha nghe, con nói con nghe”, không ai nhượng bộ ai và kết cục là xảy ra một sự chia rẽ nặng nề ảnh hưởng không ít tới sự hiệp nhất trong cộng đoàn, tới uy tín cá nhân linh mục và tới công việc mục vụ của vị chủ chăn.

Dù sao, những “sự cố” nào đó nếu có lúc xảy ra trong cộng đoàn thì cũng chỉ là cá biệt và không thể làm giảm sút tình cảm yêu mến và thái độ kính trọng của giáo dân đối với linh mục. Chúng ta yêu mến, quý trọng linh mục không như ngoài xã hội người ta tôn vinh một quan chức hay một người nổi tiếng nào đó. Linh mục không phải là một nghề, cũng không phải là một chọn lựa để vinh danh bản thân, nhưng các ngài là Người-của-Chúa, là sứ giả Tin Mừng, là mục tử lãnh đạo Dân Thiên Chúa. Chúng ta đến với linh mục không phải để hưởng lợi lộc hay tiếng tăm thế gian, mà vì chúng ta cần các ngài như là người mang Thiên Chúa đến cho mình.

Trong thư gửi cho các chủng sinh năm 2010, ĐTC Bê-nê-đích-tô XVI đã khẳng định, mọi xã hội, dù giàu có và đầy đủ về vật chất đến đâu đi nữa, thì vẫn cần đến các linh mục. Ngài nhắn nhủ: “Nếu thế giới luôn luôn cần đến Thiên Chúa, thì linh mục là người mang Thiên Chúa vào lòng cuộc đời. Nếu con người luôn khát vọng và tìm kiếm những giá trị siêu nhiên, thì linh mục là người mang Chúa đến làm cho tâm hồn con người được no thoả. Trong một xã hội còn nhiều bóng tối, rất cần có linh mục để thắp lên ngọn lửa hy vọng. Trong cuộc sống còn nhiều dối gian, rất cần đến linh mục để làm chứng cho Sự Thật. Khi lòng người dửng dưng vô cảm, rất cần có linh mục quảng đại dấn thân phục vụ. Qua đời sống và sứ vụ, linh mục là hiện thân của Chúa Giêsu, Linh mục Thượng Phẩm Tối Cao.”

Đức Thánh Cha viết tiếp: “Thiên Chúa sống động, và Ngài cần những người sống cho Ngài và đưa Ngài đến với tha nhân. Đúng vậy, trở thành linh mục thật là điều có ý nghĩa: thế giới đang cần linh mục, cần các vị mục tử, ngày nay, ngày mai và mãi mãi, cho đến khi nào thế giới còn hiện hữu”.[4]

Linh mục Micae-Phaolô Trần Minh Huy, PSS trong cuốn sách đã dẫn, đã viết như sau: “Mỗi người giáo dân đều chịu ơn linh mục coi sóc mình qua những chặng đường đời, từ lúc mới sinh cho đến khi tới nấm mồ. Lúc còn mạnh khỏe, linh mục phục vụ mình thì khi linh mục già yếu không còn đủ sức làm việc được phải hưu dưỡng mà mình đền ơn đáp nghĩa cách nào để chăm sóc các ngài cũng là điều phải đạo, hợp tình hợp lý theo lẽ công bằng…” Tiếp theo, tác giả kể câu chuyện sau: “Trước những gì linh mục làm cho bà, một người phụ nữ kia đã cảm kích quỳ xuống, nắm lấy hôn tay Cha và nói ‘con cảm ơn Cha, vì Cha đã là linh mục thực sự’. Người chồng vội nói thêm ‘nhà con mê Cha lắm, mê cách Cha dâng lễ, cách Cha giảng, cách Cha giải tội, cách Cha tư vấn thiêng liêng, và cách Cha cư xử với giáo dân…Con cũng cảm ơn Cha nhiều và xin Cha cứ giữ mãi được như thế’.”[5]

3.- Giáo dân không ngại cộng tác với linh mục

Trong tập sách có tựa đề “Suy niệm về đời sống và chức vụ linh mục”, linh mục Giu-se Thân Văn Tường, nguyên giáo sư tín lý Đại Chủng viện Thánh Giu-se Saigon đã viết: “Linh mục cũng phải tin cậy vào giáo dân và trao cho họ những trách nhiệm trong Giáo Hội. Khi đã trao cho họ trách nhiệm thì phải để cho họ có đủ tự do và lãnh vực hoạt động, để họ có thể thi thố tài năng và có sáng kiến. Có như vậy, ta mới có những người giáo dân trưởng thành trong công việc tông đồ.”[6]

Vậy một khi linh mục tin tưởng giáo dân trao phó cho họ công việc nào đó trong cộng đoàn, thì về phía mình, chúng ta cũng phải sẵn sàng hợp tác với các ngài trong việc phục vụ công cuộc chung. Ngoại trừ những trường hợp đặc biệt, còn phần đông giáo dân ai cũng muốn cộng tác với linh mục. Từ công việc nhỏ như quản gia, nhà bếp, kéo chuông và canh giữ cổng nhà thờ nhà xứ, hay như quét dọn, làm vệ sinh khu vực trong và ngoài thánh đường, cho đến những chức vụ và công việc chuyên biệt hơn như Hội đồng MVGX, các hội-đoàn-nhóm, các công tác thường xuyên cũng như các công việc đột xuất…hết thảy nếu được mục tử quan tâm mời tham gia thì chắc chắn giáo dân sẽ hết lòng cộng tác.

Tuy nhiên, trên thực tế đã có nhiều trường hợp giáo dân và linh mục rất khó cộng tác với nhau. Ở đây xin đưa ra mấy nguyên nhân chính:

. Giáo dân và linh mục không tìm được tiếng nói chung.

Việc giáo dân được mời gọi tham gia cộng tác với linh mục luôn là một niềm vinh dự lớn của mọi người. Tuy nhiên, khi làm việc với nhau, đôi lúc người giáo dân và cha xứ không tìm được tiếng nói chung. Có thể do kênh đối thoại giữa hai bên bị bế tắc. Chúng ta biết rằng, đối thoại trong lãnh đạo, đối thoại trong hợp tác, đối thoại trong phục vụ và mục vụ luôn là yếu tố thuận lợi giúp cho cộng đoàn thăng tiến.

Trong bài viết có tựa “Linh mục, con người đối thoại” của tác giả Fx. Tiến Dâng đăng trên trang web của TGP Saigon ngày 11-10-2010 có đoạn như sau: “Về việc Đối thoại với giáo dân được ủy thác cho mình: Ở Việt Nam, do ảnh hưởng của tư tưởng nho giáo cũng như vấn đề tôn trọng phẩm trật trong Giáo hội Công Giáo, các linh mục, dù còn rất trẻ, vẫn thường có thói quen “phán” cho giáo dân nghe. Giáo dân nhiều lúc “bằng mặt mà không bằng lòng”. Vì thế, một mục tử đích thực phải học cách đối thoại với giáo dân của mình. Khi vừa được bổ nhiệm coi sóc một giáo xứ, các ngài phải dùng thời gian tìm hiểu những phong tục, tập quán, những mặt yếu, mặt mạnh của giáo xứ. Ngài phải lắng nghe các bô lão, các ông câu, ông trùm, cũng như các thành phần dân Chúa nói cho nghe về giáo xứ của họ. Không ai hiểu giáo xứ hơn những giáo dân sở tại.[7]

Thực ra, giáo dân chúng ta có thói quen “nghe” các cha và “vâng lời” các ngài trong mọi sự hơn là bày tỏ quan điểm, nói chuyện trao đổi thẳng thắn, đôi khi cũng phải tranh luận hay phản biện để tìm ra đường hướng và quyết định chung…Chúng ta e ngại việc đối thoại sẽ làm tổn thương uy tín, gây mất lòng chủ chăn, làm tổn thương uy quyền các đấng bậc vv. Điều này sẽ khiến cho việc cộng tác của chúng ta với chủ chăn không đạt kết quả như mong muốn. Chúng ta biết rằng các mục tử cũng luôn được mời gọi đi vào con đường đối thoại với giáo hữu. Như Sắc lệnh về Chức vụ và Đời sống Linh mục (Presbyterorum Ordinis/ PO) số 9 cũng đã chỉ rõ:

“Các Linh Mục phải thành thật nhìn nhận và khích lệ phẩm giá và vai trò riêng của giáo dân trong sứ mệnh Giáo Hội. Các ngài cũng phải thành thật kính trọng sự tự do chân chính mà mọi người có quyền được hưởng trong xã hội trần gian. Các ngài phải sẵn lòng lắng nghe giáo dân, cứu xét các nguyện vọng của họ trong tinh thần huynh đệ, nhìn nhận kinh nghiệm và khả năng chuyên môn của họ trong các lãnh vực khác nhau của hoạt động nhân sinh, để cùng với họ có thể nhận biết những dấu chỉ của thời đại. Trong khi nghiệm xem các tinh thần có phải từ Thiên Chúa đến hay không (54), các ngài phải lấy tinh thần đức tin mà khám phá, vui mừng mà nhận biết, và chuyên cần phát triển những đặc sủng muôn hình của giáo dân, từ đặc sủng nhỏ bé nhất đến đặc sủng cao cả nhất. Trong những đặc ân mà Thiên Chúa ban tràn đầy trên các tín hữu, phải đặc biệt lưu tâm đến ơn lôi kéo một số giáo dân tiến xa hơn trên đường thiêng liêng. Cũng thế, các ngài phải tin tưởng trao phó nhiệm vụ cho các giáo dân trong việc phục vụ Giáo Hội, để cho họ được tự do và có lãnh vực hoạt động, hơn nữa lúc thuận tiện, phải khuyến khích họ tự ý đảm trách công việc (55).”[8]

. Giáo dân và linh mục có thành kiến với nhau.

Một trong những nguyên nhân khác khiến cho việc cộng tác giữa giáo dân và linh mục gặp khó khăn trở ngại, đó là hai bên có thành kiến, định kiến với nhau. Thành kiến do tự ái, do thái độ không khiêm tốn, do nhận định chủ quan, do suy nghĩ chưa chín chắn hay do sự đánh giá phiến diện vv.

Chúng ta biết rằng, trong một gia đình cũng như trong một tập thể, một cộng đoàn lớn nhỏ, nếu ta có thành kiến này nọ với một hay nhiều người thì sẽ dẫn đến sự hiểu lầm và xa cách nhau. Chẳng hạn, linh mục có thể tin vào dư luận nói về người này, nhóm kia rồi sinh ra có thái độ và cách ứng xử không hòa đồng, tạo ra tính cục bộ, sự phân biệt đối xử khiến cho cộng đoàn luôn xảy ra chia rẽ bất đồng.

Vì vậy, đã có ý kiến thế này: “Để tránh gây chia rẽ trong cộng đoàn, linh mục cũng cần tránh xa sự tùy tiện của người lãnh đạo, nhất là trong việc đề cử các ban ngành. Ở nhiều nơi, đã có tình trạng giáo dân tập họp để bầu các ban ngành theo nội quy của giáo xứ. Cha xứ không đồng ý và đã chọn những người khác hợp sở thích của mình.Vì thế, giáo xứ chia rẽ. Một ít theo cha xứ. Số còn lại cho rằng giáo dân được quyền tự quyết trong việc chọn người đại diện của mình. Giáo xứ chia rẽ trầm trọng, người đến nhà thờ thưa dần. Đức Giám Mục phải đổi cha xứ đi nơi khác.”[9]

Về phần mình, giáo dân chúng ta cũng rất dễ có thành kiến với linh mục. Chẳng hạn, thành kiến rằng linh mục làm giàu để lo cho bản thân mình, rằng cha xứ về phe những người giàu có quyền thế, rằng cha chỉ quan tâm tới những người năng đi lại, quà cáp với cha mà bỏ quên số đông còn lại, rằng cha không lưu tâm tới đời sống đức tin và nhu cầu mục vụ của cộng đoàn mà chỉ chú tâm đến những sinh hoạt bề ngoài, nặng tính hình thức vv. Chúng ta biết rằng, linh mục giáo xứ vốn mang thân phận của một người “làm dâu trăm họ”. Chắc chắn các ngài không thể làm vừa lòng hết mọi người, mọi thành phần được. Đôi khi chúng ta chỉ quan tâm để ý đến việc “soi” những khuyết điểm, những thiếu sót, những bất cập của mục tử mà quên rằng các ngài thường xuyên chịu đựng nhiều áp lực, có khi rất nặng nề, đến từ nhiều phía.

Do đó nếu chúng ta muốn gạt bỏ mọi thành kiến đối với linh mục, chúng ta phải khiêm tốn đến gần mục tử để cảm thông và chia sẻ những nỗi khó khăn của ngài. Chúng ta biết rằng “linh mục là người bị ăn”, cha Antoine Chevrier đã nói vậy và trên mình ngài luôn mang nhiều thương tích vì lòng mến cộng đoàn.

Quả vậy, trong cuộc đời phục vụ, linh mục không ngừng bị thương tích, bị hao mòn, bị cạn kiệt. Bởi những ưu tư dằn vặt nội tâm. Bởi những hiểu lầm nghi kỵ từ nhiều phía. Bởi những chống đối và bất hợp tác do thành kiến hay do bất đồng nào đó trong cộng đoàn. Thậm chí các ngài có thể bị tổn thương bởi những nhục mạ, kết án, phủ nhận vv. Tóm lại, người giáo dân trưởng thành sẽ luôn biết khiêm tốn để đồng hành với các ngài, trong mọi hoàn cảnh, trong mọi tình huống, để làm sao giữa giáo dân và linh mục luôn giữ được hòa khí và thiện cảm, nhờ đó gia đình giáo xứ sẽ bớt đi cái cảnh “cơm chẳng lành, canh không ngọt”.

4.- Giáo dân cần làm gì thường xuyên để nâng đỡ các linh mục?

Thiết nghĩ có 2 việc mà mọi giáo hữu chúng ta có thể thường xuyên thực hiện bất kỳ ở đâu và bất kỳ lúc nào. Đó là cầu nguyện và giúp đỡ vật chất, tinh thần cho các linh mục.

Chúng ta thường nhiệt tình hăng say cộng tác với linh mục, sẵn sàng lăn xả làm mọi việc để giúp các ngài, nhưng có thể chúng ta đã không bao giờ cầu nguyện cho các ngài. Thực sự, các ngài rất cần đến lời cầu nguyện của mọi tín hữu trong cộng đoàn. Nhắc lại, ngày 25-5-2019, trên trang conggiao.info có đăng bài “Khẩn thiết cầu nguyện cho các linh mục” trong đó có đoạn viết như sau:

“Bà Kathryn Jean Lopez, chuyên viên nghiên cứu kỳ cựu của National Review Institute và là tổng biên tập của tạp chí National Review, ngày 21 tháng 5-2019, đã lên tiếng kêu gọi khẩn thiết cầu nguyện và hy sinh cho các linh mục.

“Thực vậy, Lopez trích dẫn cha John Hardon, dòng Tên, người trong bài ‘Giá trị lời cầu nguyện và việc hy sinh cho các linh mục’ đã viết rằng: ‘Không lời lẽ nào tôi có thể sử dụng lại quá mạnh mẽ để quả quyết rằng chức linh mục Công Giáo cần lời cầu nguyện và việc hy sinh hơn bao giờ hết kể từ biến cố Canvariô’. Vị linh mục này suy niệm về 30 năm giảng dạy các linh mục, sống với các linh mục ‘và gian khổ vì các ngài, yêu thương các ngài và cùng đau khổ với các ngài’.

“Ngài viết thêm: ‘Hết vị thánh này đến vị thánh khác đều đã quả quyết rằng mục tiêu chính của ma quỉ ở trên thế gian này là linh mục Công giáo. Các linh mục cần, lạy Chúa các ngài cần xiết bao, các ơn thánh đặc biệt của Thiên Chúa. Chúng ta tự hỏi, tại sao cần phải cầu nguyện cho các ngài? Chúng ta phải cầu nguyện cho các linh mục và giám mục vì đây là thực hành của Giáo hội đã có từ thời các Tông đồ. Nó là một vấn đề chân lý mặc khải. Nó là lệnh truyền của Thiên Chúa’ ”.[10]

Thiết nghĩ, việc cầu nguyện cho các linh mục cũng luôn được nhắc nhở các tín hữu chúng ta thực hành rất thường xuyên và chu đáo. Chẳng hạn, mỗi thứ năm hàng tuần, mỗi thứ năm đầu tháng, rồi hàng năm vào Chúa nhật Chúa Chiên Lành (CN IV Phục Sinh), Hội thánh nhắc nhở tín hữu phải quan tâm đến việc cầu nguyện cho các linh mục. Đây được coi là bổn phận quan trọng và khẩn thiết của mọi thành phần trong Hội thánh. Bởi vì, không có nhiệm vụ nào cao trọng, thánh đức bằng sứ vụ linh mục. Nhưng cũng không có nhiệm vụ nào khó khăn, phức tạp, nhiều nguy cơ cám dỗ, nhiều cạm bẫy bằng đời sống tận hiến của các ngài.

Ngoài việc thường xuyên cầu nguyện cho các linh mục, ngoài việc cộng tác với cha xứ trong mục vụ cộng đoàn, tín hữu còn có thể giúp đỡ các linh mục cả về vật chất lẫn tinh thần nữa.

Trước hết về vật chất, chúng ta đóng góp qua việc xin lễ để linh mục dâng lễ cầu nguyện theo ý chỉ. Việc xin lễ là một phương cách giúp đỡ linh mục một cách thiết thực và đơn giản nhất. Mặc dù các ngài không hoàn toàn sinh sống bằng bổng lễ nhưng đây là một hình thức đóng góp của giáo dân đối với mục tử đồng thời cũng là biểu lộ sự chia sẻ nhằm nâng đỡ các mục tử hoàn thành việc phục vụ cộng đoàn. Bên cạnh việc xin lễ, giáo dân cũng có thói quen vào các dịp lễ Tết này nọ, biếu quà các linh mục, xem đó như là biểu lộ tấm lòng yêu mến và hiếu thảo của con cái thiêng liêng trong gia đình giáo xứ. Đây cũng được coi như một sự giúp đỡ mà phần đông tín hữu chúng ta rất quan tâm thực hành.

Về mặt tinh thần, nhiều giáo dân rất sẵn lòng nâng đỡ các linh mục. Vì cũng là con người như mọi người, nên linh mục cũng có những lúc thất vọng, chán nản, bi quan, xuống tinh thần…lúc đó sự hiện diện của tín hữu vừa cần thiết và quan trọng nhằm giúp các mục tử vượt qua khó khăn, khủng hoảng. Đặc biệt là chúng ta phải nghĩ đến các linh mục già, cô đơn tại các nhà hưu dưỡng. Thực vậy, hãy đến với các linh mục đang nghỉ hưu: Đó là phương cách đơn giản nhất nhằm giảm bớt nỗi buồn đơn độc của các ngài. Cách chung, những người cao tuổi cần sự lui tới thăm viếng hỏi han của một ai đó. Nếu là con cháu hay người thân trong gia đình, chúng ta nên thường tới thăm viếng, trò chuyện, an ủi, khích lệ các ngài. Các ngài có nhu cầu gì, chúng ta tùy khả năng hỗ trợ, giúp đỡ.

Sự yêu mến và quan tâm của chúng ta sẽ giúp linh mục nghỉ hưu trút bỏ được mặc cảm bị bỏ rơi xa cách, mặc cảm tự ti mình là người vô dụng, sống ngoài lề xã hội. Có người đã nói: “Cô độc thật sự đáng sợ đấy, nhưng không đáng sợ bằng việc cảm thấy cô đơn trong một mối quan hệ” (Amedia Earhart). Người già sẽ rất buồn tủi khi mọi người xung quanh, nhất là con cháu và người thân, vô tình hay hữu ý, tạo một bức tường ngăn cách khiến cho họ cảm thấy cô độc trong thế giới xung quanh họ ./.

Aug. Trần Cao Khải

[1] https://www.tonggiaophanhanoi.org/linh-muc-voi-giao-dan/

[2] ĐTGM Giuse Nguyễn Chí Linh – Tĩnh tâm thường niên linh mục gp Đàlạt từ ngày 16 đến 22-02-2009 – Nguồn: VietCatholic News

[3] Linh mục Micae-Phaolô Trần Minh Huy, PSS – Để được đào tạo và tự đào tạo nên Linh mục giáo phận như Chúa và Giáo hội mong ước – Tái bản năm 2021 – NXB TG – Trang 240

[4] https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/linh-muc-nguoi-mang-chua-cho-tran-gian-26263

[5] Linh mục Micae-Phaolô Trần Minh Huy, PSS – Sđd trang 185-187

[6] https://linhmucmen.com/news/lm-giuse-than-van-tuong/suy-niem-ve-doi-song-va-chuc-vu-linh-muc-lm-giuse-than-van-tuong-194.html#_Toc79505392

[7] https://tgpsaigon.net/bai-viet/linh-muccon-nguoi-doi-thoai-41870

[8] http://xuanbichvietnam.net/trangchu/sac-lenh-ve-chuc-vu-va-doi-song-linh-muc-presbyterorum-ordinis/

[9] https://tgpsaigon.net/bai-viet/linh-muccon-nguoi-doi-thoai-41870

[10] Vũ Văn An – VietCatholic News 24-5-2019 – Nguồn: conggiao.info

Read More

Điều hướng bài viết

  • Previous page
  • Page 1
  • …
  • Page 51
  • Page 52
  • Page 53
  • …
  • Page 152
  • Next page
Bài viết mới nhất
THƯ GỬI SINH VIÊN, HỌC SINH CÔNG GIÁO NHÂN DỊP MỪNG XUÂN BÍNH NGỌ
11/02/2026
THƯ GỬI SINH VIÊN, HỌC SINH CÔNG GIÁO NHÂN DỊP MỪNG LỄ CHÚA GIÁNG SINH 2025
20/12/2025
THƯ GỬI ANH CHỊ EM GIÁO CHỨC CÔNG GIÁO NHÂN NGÀY NHÀ GIÁO VIỆT NAM 20.11.2025  
17/11/2025
Video nổi bật
https://www.youtube.com/watch?v=Td144YDsaGo
Sự kiện sắp tới

There are no upcoming events at this time.

Ủy ban Giáo dục Công giáo – Trực thuộc Hội Đồng Giám Mục Việt Nam.

Liên hệ

72/12 Trần Quốc Toản, Phường 8, Quận 3, TP.HCM Get Directions

Phone: +84 931 436 131

Email: [email protected]

Ban chuyên môn
  • Ban Tài liệu và Truyền thông
  • Ban Giáo chức
  • Ban Kỹ năng và Giá trị sống
  • Ban Khuyến học
  • Ban Học viện Thần học
  • Ban Hội Học sinh – Sinh viên
Chuyên mục
  • Tin tức
  • Thư chung
  • Giáo dục
  • Phụng vụ
  • Thư viện
Bản quyền © 2020 thuộc về Ủy Ban Giáo Dục HĐGM VN. Design by JT.