2022
Vì sao nhiều bạn trẻ ngày nay sợ kết hôn?
Vì sao nhiều bạn trẻ ngày nay sợ kết hôn?
Một danh nhân đã nói: “Hôn nhân là con đường đưa ta xuống địa ngục hay dẫn ta vào thiên đàng” (Balzac). Những ai đã bước vào đời sống hôn nhân gia đình đều có chung một nhận định này là hôn nhân đối với người này có thể là hỏa ngục nhưng với người khác lại là thiên đàng.
Riêng một số người đã trải nghiệm những đắng cay trong đời sống hôn nhân thì đã thốt lên cách bi quan là, “Hôn nhân giống như cái lồng chim, con ở trong thì muốn bay ra, còn con ở ngoài thì muốn bay vào” (Montaigne). Hay đã than thở rằng: “Cãi lộn chiếm phần lớn đời sống hôn nhân, phần còn lại không có gì đặc sắc” (Thornoton Wilder). Thực tế là ngày nay một số bạn trẻ quyết định không kết hôn, bởi đối với họ hôn nhân chỉ là một bi kịch, một thảm họa, một điều gì đó đáng sợ…với suy nghĩ rằng “Hôn nhân là mồ chôn tình yêu!” (Chamfort).
Trong phạm vi bài này, chúng ta thử tìm hiểu về thực trạng và nguyên nhân liên quan câu chuyện nhiều bạn trẻ ngày nay sợ kết hôn, đồng thời cũng muốn bàn đến một số những giải pháp khả thi nhằm giúp các bạn trẻ có cái nhìn tích cực hơn về hôn nhân, nhất là đối với các bạn trẻ Ki-tô giáo.
1.- Thực trạng
Trong bài báo có tựa đề “Giới trẻ Hàn Quốc lười kết hôn, ngại sinh con” trên trang vnexpress.net ngày 31-5-2021, tác giả đã cho biết như sau: Trước áp lực của cuộc sống hiện đại, thế hệ trẻ Hàn Quốc đang chọn cách sống độc thân, không con cái, dẫn đến nhiều hệ quả đối với nền kinh tế hàng đầu châu Á. ‘I Live Alone’ (Tôi sống một mình) là chương trình truyền hình thực tế nổi tiếng, kể về cuộc sống của các diễn viên, ca sĩ K-pop với những hoạt động đời thường như cho thú cưng ăn hoặc nấu mì ramen vào lúc nửa đêm – tất cả đều một mình.
Tác giả bài báo cho biết tiếp, ngày càng nhiều người Hàn Quốc ở độ tuổi 20-30 chọn từ bỏ ba điều được coi là quan trọng trong cuộc đời mỗi con người: hẹn hò, kết hôn và sinh con. Họ được gọi là “thế hệ Sampo” và thường bị chỉ trích là ích kỷ. Theo một báo cáo của chính phủ Hàn Quốc, những người sống một mình đã chiếm gần 40% dân số ở đất nước này. Năm 2020, khi quốc gia này lần đầu tiên báo cáo tỷ lệ tăng trưởng dân số âm, thứ trưởng Bộ Tài chính khi đó là Kim Yong-beom tuyên bố cột mốc quan trọng này là “nút thắt tử thần”. [1]
Quả thực, hiện nay, xu hướng chọn lựa sống độc thân, ngại kết hôn, sợ làm đám cưới, không muốn có con đang lan tràn mạnh mẽ tại nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt là tại Á Châu như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc. Xu hướng này ngày càng trở nên đáng lo ngại hơn bởi đó không còn đơn thuần là một hiện tượng cá nhân nhỏ nhoi nữa, mà đang trở nên một hội chứng tâm lý đặc biệt mà các chuyên gia gọi đó là Hội chứng sợ kết hôn (Gamophobia).
Vậy “Hội chứng sợ kết hôn” (Gamophobia) là gì? Theo tác giả Nguyễn Thảo trên trang tamly.com.vn ngày 8-2-2022 đã cho biết như sau:
Hội chứng sợ kết hôn (Tiếng Anh: Gamophobia/ Fear of Commitment, Fear of Marriage) là một dạng rối loạn tâm lý ít gặp. Hội chứng này đặc trưng bởi nỗi sợ thái quá, vô lý về việc cam kết lâu dài cho một mối quan hệ (thường là hôn nhân). Gamophobia được xếp vào nhóm rối loạn lo âu ám ảnh sợ hãi (ám ảnh sợ đặc hiệu) như chứng sợ độ cao, sợ côn trùng, sợ máu v.v…
Hội chứng sợ kết hôn (Gamophobia) đặc trưng bởi nỗi sợ thái quá về hôn nhân và sự gắn kết lâu dài trong một mối quan hệ. Hội chứng này thường gặp ở những người có trải nghiệm tiêu cực về hôn nhân gia đình trong quá khứ. Những ý nghĩ về việc kết hôn hoặc sự ràng buộc lâu dài trong một mối quan hệ khiến bệnh nhân trở nên lo lắng, bất an, sợ hãi và căng thẳng. Thậm chí một số người trở nên hoảng loạn và mất kiểm soát. Có rất nhiều dạng ám ảnh sợ đặc hiệu nhưng Gamophobia ít được nghiên cứu hơn. Chính vì vậy, không ít người cảm thấy hoang mang, lo lắng khi bản thân có nỗi sợ vô lý về việc gắn kết lâu dài hay cụ thể hơn là kết hôn.
Hiện tại, chưa có thống kê chính xác về tỷ lệ người mắc hội chứng sợ kết hôn. Theo ước tính có khoảng 12.5% người Mỹ mắc phải chứng ám ảnh sợ, trong đó phổ biến nhất là sợ kim tiêm, sợ máu, sợ nhện vv…Trong khi đó tỷ lệ người mắc hội chứng Gamophobia ước tính khoảng dưới 1% dân số. Tương tự như các dạng ám ảnh đặc hiệu khác, Gamophobia có thể đi kèm với những nỗi sợ vô lý khác như nỗi sợ bị bỏ rơi, sợ thân mật và sợ phải tin tưởng người khác. Dù chưa có thống kê chính xác nhưng các chuyên gia nhận thấy, tỷ lệ người mắc hội chứng này tăng lên đáng kể trong 15 năm qua và nguy cơ cao hơn ở nữ giới trẻ tuổi.[2]
Theo một khảo sát được thực hiện trên website fearof.net với sự tham gia của 69.108 người vào giữa năm 2019, phụ nữ hiện nay có xu hướng từ chối kết hôn nhiều hơn đàn ông. Cụ thể, 66% người tham gia là nữ mắc hội chứng Gamophobia. Trong khi đó, con số này chỉ là 34% với nam giới.[3]
Riêng tại các đô thị lớn ở Trung Quốc, hiện tượng khiếp sợ hôn nhân hiện nay đang dần dần đã trở thành một căn bệnh truyền nhiễm trong giới phụ nữ công chức. Các nhà tâm lý học và xã hội học đã tiến hành tìm hiểu và thấy có mấy nguyên nhân chính của căn bệnh trên, chẳng hạn như: do sợ gánh vác trách nhiệm trong hôn nhân, lo sợ hôn nhân là mồ chôn của tình yêu, do bị ảnh hưởng của những biến cố lớn trong cuộc đời như tuổi thơ đã phải chịu một vết thương tâm lý nặng nề, để lại dấu ấn sau đậm trong tim họ, hay trường hợp luôn lo sợ về gánh nặng kinh tế sau khi kết hôn, hoặc người có những yêu cầu quá cao, quá hoàn mỹ đến mức hà khắc về đối tượng hôn nhân.[4]
Một thống kê cho biết, tại Trung Quốc, tỷ lệ kết hôn đang giảm mạnh. Vào năm 2021, chỉ có 8,13 triệu cặp đôi đăng ký kết hôn, giảm 12% so với năm 2020. Đây cũng là năm thứ bảy liên tiếp tỷ lệ này giảm. Nếu so với năm 2013 (13,47 triệu cặp đăng ký kết hôn), tỷ lệ này đã giảm đến 40%. Một cuộc điều tra dân số trong năm vừa qua cho thấy nước này đã trải qua mức thấp nhất trong sáu thập kỷ về tỷ lệ sinh.
Trong khi đó, ở Nhật Bản thống kê cho thấy, cứ 4 người đàn ông thì có 1 người không lập gia đình cho đến độ tuổi 50. Tại sao vậy? Theo báo Japan Times, xu hướng không lập gia đình ngày càng tăng trong xã hội là một nội dung trong báo cáo sắp công bố của Chính phủ Nhật. Bên cạnh đàn ông, tỉ lệ phụ nữ Nhật ở vậy một mình đến tuổi 50 là 1/7 người. Dữ liệu này được Chính phủ Nhật công bố 5 năm một lần và không tính đến những người đã ly hôn hoặc có hôn phu/hôn thê qua đời trước tuổi 50. So với hồi thập niên 1970, chỉ có 1,7% đàn ông và 3,33% phụ nữ Nhật chưa từng kết hôn đến tuổi 50.
Các chuyên gia đánh giá xu hướng độc thân đi lên là do áp lực đối với chuyện cưới xin trong xã hội Nhật ngày càng giảm, cùng với nó là nỗi lo tài chính trong nhóm những người không có nghề nghiệp ổn định. Phát hiện này cũng đồng nghĩa tỉ lệ sinh ở Nhật khó lòng sớm hồi phục, trong khi sẽ có thêm nhiều người cao tuổi độc thân chọn viện dưỡng lão để sống những năm tháng cuối đời.
Riêng tại Việt Nam, tác giả bài viết “Những người chọn sống độc thân” đăng trên trang vnexpress.net ngày 2-3-2022 cho hay: Tại Việt Nam, theo Tổng cục thống kê tỷ lệ người sống độc thân cũng đang có xu hướng tăng nhanh, từ 6,23% năm 2004 tăng lên 10,1% vào năm 2019. Một giảng viên khoa Tâm lý Đại học sư phạm TP. Hồ Chí Minh đã cho hay là sống độc thân đã trở thành xu hướng mới, đại diện cho sự độc lập về kinh tế và tinh thần của một số người trẻ. Chuyên gia này cũng cho biết thêm về một nghiên cứu tại Mỹ thực hiện năm 2012 bởi các nhà tâm lý học Đại học Thành phố San Diego và được Hiệp hội Tâm lý học (Mỹ) công bố, những người sinh ra trong thập niên 80 và 90 thường tự cho mình là trung tâm hơn so với thế hệ trước. Họ trân trọng chủ nghĩa cá nhân, biểu hiện lớn nhất là khát vọng sống cho mình. Nếu hôn nhân không thể cải thiện chất lượng cuộc sống, hoặc ảnh hưởng đến giá trị bản thân, họ sẽ không lựa chọn hôn nhân. Ngoài ra, theo chuyên gia này, ngoài lý do theo đuổi chủ nghĩa cá nhân, việc chưa tìm thấy đối tượng phù hợp, sợ trẻ con hay bị ám ảnh về hôn nhân không hạnh phúc cũng khiến nhiều người chọn độc thân.[5]
Như vậy, chúng ta đã thấy rằng vấn đề sợ kết hôn không chỉ là một xu hướng nhất thời, chung chung nữa, mà đã trở thành một căn bệnh truyền nhiễm đặc biệt, đã và đang lây lan trong giới trẻ tại nhiều nơi trên thế giới. Các nhà tâm lý học và xã hội học đã nghiên cứu sâu hiện tượng này và đã phát hiện ra nhiều nguyên nhân khiến cho nhiều bạn trẻ lo sợ không dám kết hôn một cách bình thường nữa. Vậy những nguyên nhân chính là những nguyên nhân nào?
2.- Nguyên nhân
Trở lại với bài viết “Hội chứng sợ kết hôn” trên trang tamly.com.vn ngày 8-2-2022, tác giả đã nêu ra một số nguyên nhân gây Hội chứng sợ kết hôn, như sau: Hiện tại, các chuyên gia chưa thể xác định được nguyên nhân gây hội chứng sợ kết hôn. Tương tự như các ám ảnh sợ đặc hiệu khác, Gamophobia thường là hậu quả do nhiều yếu tố kết hợp. Trong đó, những trải nghiệm tiêu cực trong quá khứ là yếu tố có vai trò quan trọng nhất. Các nguyên nhân, yếu tố có thể gây ra chứng Gamophobia, đó là:
2.1. Trải nghiệm tiêu cực từ thời thơ ấu: Các chuyên gia nhận thấy, những người mắc hội chứng Gamophobia thường có gia đình không hạnh phúc, chứng kiến cha mẹ cãi nhau và có các hành vi bạo lực từ khi còn nhỏ. Điều này tạo nên thái độ tiêu cực của trẻ về việc kết hôn và dần phát triển thành nỗi sợ vô lý, thái quá.
2.2. Thất bại trong hôn nhân: Ngày nay, việc ly hôn, ly thân không còn là vấn đề quá xa lạ. Sau một cuộc hôn nhân tan vỡ, cả hai người đều sẽ phải chịu tổn thương về mặt tinh thần. Ngoài ra, chứng kiến những người xung quanh liên tục thất bại trong tình yêu cũng khiến cho nhiều người có suy nghĩ tiêu cực về hôn nhân. Yếu tố này góp phần thúc đẩy sự phát triển của nỗi sợ vô lý, thái quá về việc gắn kết lâu dài.
2.3. Ảnh hưởng của nền văn hóa: Ở một số quốc gia, phụ nữ phải chịu nhiều thiệt thòi khi kết hôn và nam giới phải có nguồn lực tài chính để chi trả cho những thủ tục cưới xin phức tạp. Những yếu tố này cũng được xem là nguyên nhân thúc đẩy sự phát triển nỗi sợ phi lý, thái quá về việc kết hôn.
2.4. Di truyền: Tương tự như các ám ảnh sợ đặc hiệu khác, Gamophobia cũng có khả năng di truyền. Ở những bệnh nhân mắc các ám ảnh sợ, chuyên gia nhận thấy hạch hạnh nhân hoạt động quá mức. Cơ quan này chịu trách nhiệm chi phối và kiểm soát nỗi sợ, sự lo lắng và bất an. Hạch hạnh nhân hoạt động quá mức khiến cho một số người sợ hãi thái quá với một số vấn đề không thực sự nguy hiểm.
Tác giả bài viết cũng cho biết thêm, theo nhiều chuyên gia, hội chứng sợ kết hôn là hệ quả do di truyền kết hợp với các yếu tố tâm lý – xã hội. Trong đó, thường có liên quan đến những trải nghiệm tiêu cực về hôn nhân của người thân trong gia đình hoặc chính bản thân người bệnh. Mặt khác, nhiều người nhầm lẫn hội chứng sợ kết hôn với những người theo chủ nghĩa độc thân, muốn sống tự do, thoải mái thay vì gò bó trong mối quan hệ hôn nhân. Sự nhầm lẫn này khiến cho nhiều bệnh nhân không được thăm khám và điều trị sớm. So với các dạng ám ảnh sợ khác, Gamophobia ít ảnh hưởng đến việc học, nghề nghiệp mà chủ yếu ảnh hưởng đến các mối quan hệ.
Người mắc hội chứng sợ kết hôn sẽ gặp phải nhiều vấn đề trong các mối quan hệ. Bởi phản ứng thái quá khi người khác hỏi về tình trạng hôn nhân và dự định lâu dài trong mối quan hệ. Mâu thuẫn, xung đột có thể xảy ra khiến bệnh nhân dần thu mình, ít giao tiếp và kết bạn. Việc giới hạn các mối quan hệ cũng sẽ gây ra những khó khăn nhất định trong quá trình học tập, làm việc, sinh hoạt vv…
Tương tự như các ám ảnh sợ đặc hiệu khác, bệnh nhân mắc hội chứng sợ kết hôn sẽ phải đối mặt với nhiều vấn đề sức khỏe thể chất như stress, mất ngủ, cao huyết áp, suy nhược cơ thể… Suy nghĩ tiêu cực, cảm giác đau khổ và tuyệt vọng khi phải chia tay với người mình yêu thương cũng khiến cho người bệnh phát triển các vấn đề tâm lý khác như rối loạn lo âu, trầm cảm, rối loạn ăn uống. Bản thân người mắc hội chứng Gamophobia nhận ra sự thái quá, vô lý về nỗi sợ của bản thân nhưng không thể nào kiểm soát. Để quên đi thực tại, bệnh nhân có xu hướng sử dụng rượu bia, thuốc lá, chất gây nghiện và khó có thể duy trì được lối sống lành mạnh. Nhiều người lựa chọn các mối quan hệ độc hại để tránh sự áy náy, hối hận khi phải chấm dứt mối quan hệ.[6]
Trên đây, dựa vào những nghiên cứu của các nhà chuyên môn về tâm lý xã hội, chúng ta biết được tính chất của hội chứng sợ kết hôn như thế nào, cùng với việc phát hiện ra nhiều biểu hiện đặc trưng và những nguyên nhân chính gây ra chứng này. Hiện nay, người ta đã nghiên cứu và đưa ra nhiều giải pháp khả thi nhằm làm giảm thiểu sự gia tăng và mức độ nghiêm trọng của hiện trạng này. Các chuyên gia đã thực hiện một số giải pháp khả thi trên ba phương diện y tế, tâm lý và xã hội.
Bên cạnh đó, vai trò của tôn giáo, đặc biệt là Hội thánh Công giáo, cũng góp phần không nhỏ trong việc quan tâm, yêu thương và nâng đỡ các bạn trẻ cách chung và những ai đang trong tình trạng sợ kết hôn, do dự không dám lập gia đình và kể cả những người được chẩn đoán là đang mắc hội chứng Gamophobia.
Sau đây, chúng ta sẽ bàn về các giải pháp nêu trên.
3.- Giải pháp của xã hội
Các nhà chuyên môn nhận định rằng, nỗi sợ vô lý về việc kết hôn gây ra nhiều ảnh hưởng đối với cuộc sống. Ngoài tình trạng phải sống đơn độc, sự đau khổ, lo lắng và bất an do hội chứng này gây ra cũng khiến cho bệnh nhân phải đối mặt với nhiều vấn đề sức khỏe thể chất và tinh thần. Can thiệp điều trị là điều cần thiết đối với hội chứng sợ kết hôn mặc dù còn tồn đọng nhiều khó khăn và thách thức. Tùy vào tình trạng cụ thể, bác sĩ sẽ tư vấn phương pháp phù hợp. Hiện nay, các phương pháp được áp dụng phổ biến nhất là liệu pháp tâm lý và sử dụng thuốc.
3.1. Y tế
Các chuyên gia cho rằng, sử dụng thuốc không phải là lựa chọn ưu tiên đối với hội chứng sợ kết hôn. Tuy nhiên, nếu bệnh nhân thường xuyên lo lắng, căng thẳng, bác sĩ có thể chỉ định dùng một số loại thuốc. Trường hợp mắc đồng thời với trầm cảm và các rối loạn lo âu khác sẽ phải sử dụng thuốc lâu dài như một phương pháp điều trị chính. Dùng thuốc không giúp ích trong việc kiểm soát nỗi sợ phi lý và thái quá. Do đó, bệnh nhân bắt buộc phải kết hợp sử dụng thuốc với can thiệp liệu pháp tâm lý.
3.2. Tâm lý
Liệu pháp tâm lý là lựa chọn ưu tiên khi điều trị rối loạn ám ảnh sợ, bao gồm cả hội chứng sợ kết hôn. Mục tiêu của phương pháp này là giúp bệnh nhân vượt qua nỗi sợ và học cách khống chế sự sợ hãi vô lý, thái quá. Về lâu dài, nỗi sợ kết hôn sẽ thuyên giảm và bệnh nhân có thể trải nghiệm cuộc sống một cách trọn vẹn thay vì thường trực sự lo lắng, sợ hãi như trước đây. Trước khi can thiệp, chuyên gia sẽ đánh giá tình trạng cụ thể và lựa chọn phương pháp phù hợp với từng bệnh nhân.
Liệu pháp tâm lý là phương pháp điều trị chính đối với hội chứng sợ kết hôn. Một số liệu pháp tâm lý tiêu biểu được áp dụng cho bệnh nhân mắc hội chứng sợ kết hôn, chẳng hạn như:
Liệu pháp nhận thức hành vi (CBT- Cognitive Behavioral Therapy): là hình thức trị liệu giúp bệnh nhân thay đổi suy nghĩ một cách tích cực hơn, từ đó kiểm soát nỗi sợ và giúp người bệnh phát triển các mối quan hệ lành mạnh. Hiện nay, CBT là phương pháp trị liệu tâm lý được áp dụng phổ biến nhất nhờ mang đến nhiều lợi ích.[7]
Liệu pháp tiếp xúc: Liệu pháp tiếp xúc (liệu pháp phơi nhiễm) được thực hiện bằng cách cho bệnh nhân tiếp xúc với nỗi sợ với cường độ tăng dần theo thời gian. Khi bệnh nhân xuất hiện sự sợ hãi và lo lắng, chuyên gia sẽ hướng dẫn các kỹ thuật thư giãn như thư giãn cơ, hít thở sâu,… Quá trình này sẽ được lặp đi lặp lại giúp cho bệnh nhân học cách khống chế nỗi sợ và giảm đi sự sợ hãi vô lý, thái quá.
Cách chung, liệu pháp tâm lý mang lại hiệu quả cao trong điều trị hội chứng sợ kết hôn và các ám ảnh sợ khác. Để tăng hiệu quả, chuyên gia có thể đề nghị bệnh nhân can thiệp trị liệu nhóm, cặp đôi hoặc gia đình bên cạnh trị liệu cá nhân.
3.3. Cá nhân
Theo các chuyên gia, phạm vi cá nhân sẽ có các biện pháp tự cải thiện. Ngoài các phương pháp y tế, bệnh nhân cũng cần có các biện pháp tự cải thiện để vượt qua nỗi sợ kết hôn và gắn kết lâu dài. Các biện pháp này góp phần giúp giảm nỗi sợ thái quá, đồng thời hỗ trợ bệnh nhân học cách khống chế cảm xúc và thay đổi những suy nghĩ méo mó về hôn nhân.
Các chuyên gia đã đề nghị một số biện pháp tự cải thiện hội chứng sợ kết hôn như:
. Chia sẻ tình trạng sức khỏe của bản thân với gia đình hoặc những người bạn thân thiết. Khi được người khác thấu hiểu, bệnh nhân sẽ cảm thấy thoải mái và có động lực để điều trị.
. Tập thói quen viết nhật ký hằng ngày cũng là cách giải tỏa cảm xúc hữu hiệu. Biện pháp này sẽ giúp bệnh nhân kiểm soát sự lo lắng, căng thẳng, bất an… Đồng thời có cơ hội đánh giá lại suy nghĩ, cảm xúc của bản thân, từ đó điều chỉnh hành vi và nhận thức một cách đúng đắn hơn.
. Nên trò chuyện, chia sẻ với những người có hôn nhân trọn vẹn để thay đổi những suy nghĩ tiêu cực. Năng lượng tích cực từ những người xung quanh sẽ giúp bệnh nhân có thêm niềm tin và hy vọng về hôn nhân, từ đó giảm đi nỗi sợ và sự lo lắng thái quá về việc gắn kết lâu dài.
. Xây dựng lối sống lành mạnh, không dùng rượu bia, thuốc lá và chất gây nghiện.
. Tham gia các hoạt động cộng đồng và thực hiện những hành động có ý nghĩa để gia tăng sự tự tin, lòng trắc ẩn và yêu thương. Nhiều nghiên cứu cho thấy, hoạt động thiện nguyện giúp giảm đáng kể những cảm xúc tiêu cực và học cách kiểm soát tốt cảm xúc cá nhân.
Các chuyên gia tâm lý cho biết thêm là trầm cảm là một trong những bệnh tâm lý phổ biến nhất dẫn tới tình trạng sợ hãi hôn nhân. Vì thế người mắc hội chứng Gamophobia luôn cần được sự quan tâm chăm sóc của gia đình và của cộng đồng. Bất kỳ ai tại một thời điểm nào đó trong cuộc đời mình có thể thấy chùn bước trước quyết định kết hôn và cảm thấy lo lắng, sợ hãi. Tuy nhiên với lòng kiên định cùng sức mạnh của ý chí, nỗi sợ hôn nhân có thể được giải quyết tương tự như các nỗi sợ khác. Để vượt qua nỗi sợ này, bạn cần tin tưởng người khác đồng thời duy trì lòng tin vào bản thân.
Tóm lại, theo các chuyên gia tâm lý và các nhà xã hội học, trong vấn đề thực trạng hôn nhân ở Việt Nam hiện nay, cùng với việc vi phạm điều kiện kết hôn, hiện tượng không muốn lập gia đình cũng là một hiện tượng hôn nhân đáng bàn luận. Không muốn lập gia đình có thể hiểu là nam, nữ không muốn tham gia vào mối quan hệ vợ chồng và không muốn xác lập quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng. Hiện tượng trên khởi đầu trong những nước có mức sống cao ở Bắc Âu, lan sang Bắc Mỹ. Ở Châu Á, Nhật Bản là quốc gia điển hình. Riêng ở Việt Nam, hiện nay chưa có con số thống kê về tỉ lệ người theo xu hướng sống độc thân. Trên thực tế, trong một thời gian dài, hiện tượng này trở thành một trào lưu và được nhiều bạn trẻ hưởng ứng, nhiều người trở nên tôn sùng “chủ nghĩa độc thân”.
Nhìn trên phương diện lợi ích quốc gia, xu hướng không lập gia đình nếu kéo dài sẽ gây xáo trộn đời sống xã hội, điển hình như: không lập gia đình kéo theo việc duy trì nòi giống bị gián đoạn, dẫn tới lực lượng lao động trên thị trường suy giảm; khi bước sang giai đoạn già hóa dân số, gánh nặng về vấn đề phúc lợi xã hội sẽ tăng cao; tỉ lệ sinh đẻ giảm khiến lượng cầu của hàng hóa, dịch vụ cho bà mẹ và trẻ em giảm theo. Quan trọng nhất, các “tế bào xã hội” sẽ dần bị mất đi. Hiện tượng trên có thể được hình thành từ nhiều nguyên nhân, nhưng điển hình có thể kể đến như do sự du nhập văn hóa từ các quốc gia khác, do áp lực về kinh tế và do tư tưởng muốn sống tự do, không thích ràng buộc của các bạn trẻ. (Nguồn: Internet)
3.- Giáo huấn của Hội thánh về mục vụ Hôn nhân Gia đình
Chúng ta biết rằng ngày nay, hôn nhân đối với hầu hết các bạn trẻ, kể cả các bạn trẻ Công giáo là một thực tế đầy khó khăn và phức tạp. Dường như họ đang gặp phải những thách thức to lớn khiến nhiều người rơi vào tâm lý khủng hoảng, hoang mang lo sợ cho viễn ảnh hôn nhân của mình. Có thể kể ra, nào là thực trạng ly hôn lan tràn, nào là việc bị ép kết hôn sớm, nào là chuyện phá thai hoặc có thai trước hôn nhân, nào là hiện tượng “mẹ-đơn-thân”, rồi vấn đề bạo hành bạo lực trong gia đình vv.
Trước những mặt tiêu cực đó của hôn nhân, Hội thánh Công giáo luôn bầy tỏ trách nhiệm phải làm sao giúp các bạn trẻ mạnh mẽ vượt qua tất cả, để có một cuộc hôn nhân xứng đáng và đem lại hạnh phúc đích thực. Có thể nói, Hội thánh mọi thời đều tỏ ra rất quan tâm, lo lắng tới vấn đề hôn nhân gia đình của các Ki-tô hữu, những người đã lập gia đình, những người đang gặp khó khăn cách này cách khác trong đời sống hôn nhân, những ai đang chuẩn bị kết hôn.
Đức thánh GH Gio-an Phao-lô II trong Tông huấn Những bổn phận gia đình Kitô hữu (Familiaris Consortio/ FC) ngày 22-11-1981, ngay trong phần dẫn nhập với tiêu đề “Giáo hội phục vụ các gia đình” đã viết như sau:
“Vì biết rằng hôn nhân và gia đình là một trong những điều thiện hảo quý giá nhất của nhân loại, Giáo Hội muốn ngỏ lời và đem lại sự nâng đỡ cho những người đã biết được giá trị của hôn nhân cũng như gia đình và đang cố gắng sống trung thành với giá trị đó, cho những người đang sống trong ngập ngừng âu lo và đang đi tìm chân lý, cho những người đang bị ngăn cản cách bất công, không được tự do sống những dự phóng của gia đình họ. Trong khi đem lại sự nâng đỡ cho nhóm thứ nhất, ánh sáng cho nhóm thứ hai và sự trợ giúp cho nhóm người thứ ba, Hội Thánh muốn đem thân phục vụ mọi người đang bận tâm lo lắng cho số phận của hôn nhân và gia đình.
“Giáo Hội đặc biệt ngỏ lời với các bạn trẻ đang chuẩn bị dấn thân trên con đường hôn nhân và gia đình, ngõ hầu mở ra cho họ những chân trời mới bằng cách giúp họ khám phá ra vẻ đẹp và sự cao cả của ơn gọi sống tình yêu phục vụ cho sự sống.” (x. số 1)[8]
Nếu đối với một số người, hôn nhân là tai họa, là gánh nặng, là hỏa ngục, là một cuộc chơi, là một ván cờ…thì trái lại hôn nhân đối với người Công giáo được khẳng định như một ơn gọi, một ơn huệ, một sứ mệnh đến từ Thiên Chúa. Vẻ đẹp cao cả của hôn nhân là do bản chất của nó nằm trong ý định sáng tạo và cứu rỗi của Thiên Chúa. Thiên Chúa đã tạo dựng con người có nam có nữ để họ kết hợp thành đôi hôn phối sống với nhau và nương tựa nhau: “Con người ở một mình thì không tốt. Ta sẽ làm cho nó một trợ tá tương xứng với nó” (St 2,18); “Bởi thế người đàn ông lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai thành một xương một thịt” (St 2, 24).
Và sự kết hôn của họ nằm trong chương trình kế hoạch kỳ diệu của Thiên Chúa: “Những đôi bạn cử hành hôn nhân Công giáo là những người đã đi vào trong chính kế hoạch của lịch sử cứu độ, mà cao điểm tìm thấy trong Giao Ước Tình Yêu của Đức Ki-tô với Hội thánh. Họ được mời gọi trở nên hình ảnh sống động của Tình Yêu Thiên Chúa…” (Thánh GH Gio-an Phao-lô II, FC).
Hôn nhân đích thực là một ơn gọi như bao ơn gọi khác, bởi vì Thiên Chúa đã kêu gọi con người đi vào đời sống ấy như một ơn thiên triệu và hôn ước giữa hai người nam nữ được thiết định như một bí tích vừa đem lại ân sủng vừa thúc đẩy dấn thân chu toàn sứ mệnh.
“Thiên Chúa là tình yêu và nơi chính mình Người, Người đang sống mầu nhiệm hiệp thông yêu thương giữa các ngôi vị. Khi tạo dựng nhân tính của người nam và người nữ theo hình ảnh Người và liên lỉ bảo toàn cho nhân tính ấy được hiện hữu, Thiên Chúa ghi khắc vào đó ơn gọi cũng như khả năng và trách nhiệm tương ứng, mời gọi con người sống yêu thương và hiệp thông. Tình yêu là ơn gọi căn bản và bẩm sinh của mọi người” (Đức thánh GH Gio-an Phao-lô II, FC số 11).
Mặt khác, hôn nhân cũng là một sứ mệnh đặc biệt, bởi vì Thiên Chúa đã ban cho con người một trái tim để yêu và được yêu, một giới tính để hấp dẫn và thu hút nhau, một định mệnh để liên kết sống-với-nhau. Khi lãnh nhận những ân huệ ấy, con người đáp trả Đấng Tạo Thành bằng việc thi hành sứ mệnh của hôn ước. Họ chấp nhận nên một để trọn đời yêu thương và nâng đỡ bổ sung cho nhau, “Không còn là hai, nhưng chỉ là một xương một thịt” (x. Mt 19,6; St 2,24). Do vậy, “Sự hiệp thông vợ chồng ăn rễ sâu từ sự thu hút tự nhiên về giới tính, cũng như từ sự bổ túc lẫn nhau giữa nam và nữ, được nuôi dưỡng nhờ những nỗ lực của đôi bạn muốn chia sẻ cho nhau trọn cả bản thân trong suốt cuộc đời”. [9]
Họ chấp nhận liên kết nhau để hướng đến một mục đích cộng tác với Thiên Chúa trong việc sinh sản và giáo dục con cái. Họ ý thức rằng, “Con cái là ân huệ cao quý của hôn nhân và là sự đóng góp lớn lao kiến tạo hạnh phúc của cha mẹ. Tình yêu vợ chồng còn phong phú nhờ những hoa quả của đời sống luân lý, tinh thần và siêu nhiên được cha mẹ truyền lại cho con cái qua việc giáo dục. Theo nghĩa này, mục tiêu nền tảng của hôn nhân và gia đình là phục vụ cho sự sống và hạnh phúc.”[10]
Trong lá thư gửi các cặp vợ chồng nhân ngày lễ Thánh Gia 26-12-2021, cũng là dịp kỷ niệm 5 năm ban hành Tông huấn Amoris laetitia / Niềm Vui của Tình Yêu, ĐTC Phan-xi-cô đã chia sẻ những lời nhắn nhủ như sau:[11]
Với các bạn trẻ chuẩn bị kết hôn, ngài viết: “Ngay cả trước khi đại dịch xảy ra, việc các cặp đôi đính hôn lên kế hoạch cho tương lai cũng chẳng dễ dàng gì vì khó tìm được việc làm ổn định. Giờ đây, thị trường lao động thậm chí còn bấp bênh hơn, cha khuyến khích các cặp đôi đã đính hôn đừng nản lòng, nhưng hãy có sự can đảm sáng tạo như Thánh Giuse đã thể hiện, người mà cha đã muốn tôn vinh trong năm dành riêng cho ngài. Trên hành trình tiến tới hôn nhân, hãy luôn tin tưởng vào sự quan phòng của Thiên Chúa, dù khả năng của các con có hạn chế, vì đôi khi chính những khó khăn lại mang đến cho mỗi chúng ta những nguồn lực mà chúng ta chưa bao giờ nghĩ rằng mình có. Đừng ngần ngại dựa vào gia đình và bạn bè của các con, vào cộng đoàn Giáo hội, vào giáo xứ, để giúp các con chuẩn bị cho cuộc sống hôn nhân và gia đình bằng cách học hỏi từ những người đã trải qua lộ trình mà các con đang bắt đầu”.
Riêng đối với các đôi vợ chồng đã kết hôn, câu hỏi đặt ra là họ có thể đóng góp điều gì cho đời sống và sứ mạng của Hội Thánh. Về điểm này, ĐTC đã nhắc đến vai trò của giáo dân trong Hội Thánh, ngài viết: “Như cha đã lưu ý, chúng ta ngày càng nhận thức được căn tính và sứ mạng của giáo dân trong Giáo hội và xã hội. Các con có sứ mạng biến đổi xã hội bằng sự hiện diện của các con tại nơi làm việc và đảm bảo rằng các nhu cầu của gia đình được quan tâm đúng mức.”
Tiếp theo, ngài nhấn mạnh vai trò của các cặp vợ chồng trong Mục vụ Hôn nhân: “Vì vậy, cha khuyến khích các con, các cặp vợ chồng thân mến, hãy tích cực hoạt động trong Giáo Hội, đặc biệt là trong việc chăm sóc mục vụ gia đình. Tinh thần đồng trách nhiệm đối với sứ mạng của Giáo hội đòi hỏi các cặp vợ chồng và các thừa tác viên được thụ phong, đặc biệt là các giám mục, hợp tác với nhau cách hiệu quả trong việc quan tâm chăm sóc các Giáo hội tại gia”. Đừng bao giờ quên rằng gia đình là “tế bào nền tảng của xã hội.” ./.
Aug. Trần Cao Khải
[1] Giới trẻ Hàn Quốc lười kết hôn, ngại sinh con – VnExpress Đời sống
[2] Hội chứng sợ kết hôn (Gamophobia) là gì? Cách vượt qua nỗi sợ – Tâm Lý Học (tamly.com.vn)
[3] Hội chứng Gamophobia: Hễ nhắc đến hôn nhân là toát mồ hôi hột, tay chân bủn rủn (afamily.vn)
[4] Sợ hôn nhân – Căn bệnh của giới nữ công chức – Báo Người lao động (nld.com.vn)
[5] Vì sao nhiều người trẻ Việt chọn sống độc thân (vnexpress.net)
[6] Hội chứng sợ kết hôn (Gamophobia) là gì? Cách vượt qua nỗi sợ – Tâm Lý Học (tamly.com.vn)
[7] CBT: Những hiểu biết cơ bản liệu pháp nhận thức hành vi – YouMed
[8] Tông Huấn Familiaris Consortio (Gia Đình Kitô Hữu) Của ĐGH Gioan Phaolô II (Ngày 22-11-1981) – (1) | Học viện Đa Minh (catechesis.net)
[9] UB Giáo Lý Đức Tin – Giáo Lý Hôn Nhân Gia Đình – NXB TG Hànội 2004
[10] UB Giáo Lý Đức Tin – Giáo Lý Hôn Nhân Gia Đình – NXB TG Hànội 2004
[11] Đọc Thư của Đức Thánh Cha Phanxicô gửi các đôi vợ chồng (hdgmvietnam.com)
2022
Lời khuyên cho các tân linh mục: Ý nghĩa thật sự của đời linh mục
Tôi xin được chia sẻ với tất cả anh chị em bài giảng tôi soạn để giảng lễ Tạ ơn Tân Linh Mục trong Giáo Phận.
Kính thưa cộng đoàn Phụng vụ,
Thật là một điểm đáng ghi nhớ đối với tất cả chúng ta là người Công giáo đã được rửa tội, vì chúng ta được các linh mục gọi tên lúc rửa tội. Tuy nhiên, chúng ta cũng nên quan tâm đến Chức Tư Tế Thừa Tác trong Bí tích truyền chức thánh, bởi các linh mục được kêu gọi để phục vụ dân Chúa trong lòng Giáo hội, để vừa hỗ trợ vừa dẫn dắt họ.
Trong Thánh lễ Tạ ơn hôm nay, thường mọi người nghĩ bài giảng của tôi sẽ nói về chức linh mục là một mầu nhiệm. Nơi chức linh mục có nhiều điều để chúng ta có thể nói đến. Tuy nhiên, hôm nay tôi muốn tập trung vào Lời Chúa trong bài Tin mừng theo thánh Gioan (Ga 15,9-17) chúng ta vừa nghe[1], trong đó Chúa Giêsu nói những lời từ biệt cuối cùng của Ngài với các môn đệ. Hai từ nổi bật trong bài Tin mừng: Tình yêu và Niềm vui.
Trong bài Tin Mừng, chúng ta nghe thấy rằng: “Thiên Chúa là tình yêu, hãy ở lại trong tình yêu của Thầy. Không có tình yêu nào lớn hơn tình yêu của người thí mạng vì bạn hữu mình”. Trong những lời này, chúng ta tìm thấy tâm điểm của đời sống Kitô hữu và có lẽ không có lời nào tốt hơn để hướng dẫn đời sống của một linh mục.
Sau đó, Chúa Giêsu nói tiếp “Thầy nói với các con điều đó để niềm vui của Thầy ở trong các con, và niềm vui của các con được trọn vẹn”. Tình yêu và niềm vui luôn đi đôi với nhau. Khi một linh mục thực sự sống với thánh chức của mình, khởi đi từ tình yêu thương thì điều này cũng sẽ dẫn đến niềm vui, cho linh mục và cho những người xung quanh.
Tình yêu mà linh mục được kêu gọi được tìm thấy trong việc phục vụ. Nhiệm vụ của linh mục là để phục vụ dân Chúa, để tìm thấy Chúa Giêsu trong những người mà các linh mục phục vụ: các bệnh nhân, người già đóng neo đơn, mục vụ trong mùa Giáng sinh và Phục sinh, những tín hữu thờ ơ, nguội lạnh, người bị gạt ra ngoài lề xã hội, người giàu và người nghèo, người già và trẻ nhỏ. Các linh mục phải phục vụ tất cả họ bằng con mắt của đức tin. Để mỗi người trong số họ có phẩm giá và giá trị ngang nhau. Một linh mục phải tìm thấy Chúa Giêsu ẩn mình giữa những người mà mình phục vụ.
Một trong những định nghĩa hay nhất về linh mục quản xứ mà tôi đã được nghe là: “Linh mục quản xứ trở nên một với giáo dân và giáo dân nên một với linh mục quản xứ”. Một linh mục phải đi đến với giáo dân. Các linh mục đừng có suy nghĩ rằng liệu giáo dân nào xứng đáng để mình phục vụ hay không. Các linh mục phải phục vụ mà không mong chờ giáo dân đáp lại bất cứ điều gì. Đừng quên và cũng đừng tránh những người có đời sống đạo nguội lạnh, những người ít lui tới nhà thờ hay những người đang chống đối Giáo hội.
Trong cái nhìn về các bí tích trong Đạo Công Giáo của chúng ta, chúng ta thấy rằng tất cả đều là một con đường dẫn chúng ta đến gần với Thiên Chúa. Chúa Giêsu thậm chí còn sử dụng những con người yếu đuối, tội lỗi như chúng ta làm linh mục của Ngài. Một linh mục không cần nản lòng vì tội lỗi và sự yếu đuối của mình. Nhưng hãy thành thật đối mặt với nó. Hãy nhìn nhận tội lỗi và sự yếu đuối của mình. Không được nản lòng vì điều đó, mà hãy trung thực với chính mình. Điều này sẽ giúp các linh mục không có cảm giác được hưởng quyền lợi, không cảm thấy mình vượt trội hoặc hơn những người khác. Điều này sẽ giúp các linh mục nhân ái hơn, nhân từ hơn với tất cả những người họ gặp gỡ. Có người từng nói rằng khi nhìn một người bước vào đời linh mục, họ tự hỏi rằng liệu một giáo dân bình thường như anh ta có trở thành linh mục được không. Xin thưa rằng: khi một linh mục bắt đầu phục vụ tại nhiệm sở đầu tiên trong đời linh mục, nghĩa là linh mục đó chỉ mới bắt đầu học để trở thành một linh mục. Các linh mục phải phục vụ giáo dân của mình bằng tình yêu thương, tìm thấy Chúa Giêsu trong họ, và học cách trở thành một linh mục từ họ.
Chức linh mục được thể hiện rõ ràng nhất khi linh mục cử hành Bí tích Thánh Thể. Nó không đơn giản chỉ là nghi lễ bên ngoài hay việc phải cử hành cho đúng nghi thức. Trung tâm điểm của Bí tích Thánh Thể đối với linh mục có lẽ được tìm thấy rõ nhất trong lời truyền phép mà các ngài đọc mỗi ngày khi cử hành Bí tích Thánh Thể: “Này là Mình Thầy sẽ bị nộp vì các con”. Các linh mục không chỉ nói những lời đó, nhưng còn phải sống những lời đó. Ý nghĩa của chức linh mục được tìm thấy trong những từ đó. Các linh mục phải hy sinh cuộc sống của mình cho những người mà các ngài phục vụ.
Chức Linh Mục là một Bí Tích, Bí Tích Truyền Chức Thánh. Trong truyền thống Công giáo của chúng ta, chúng ta biết rằng lời cầu nguyện và niềm tin là không thể thiếu với nhau, cách chúng ta cầu nguyện là cách chúng ta thể hiện niềm tin của mình. Vì vậy, chúng ta phải thể hiện một cách trực quan những gì chúng ta tin. Các linh mục nên tự hỏi lương tâm mình rằng, “Qua đời sống linh mục của tôi, mọi người thấy gì?”
Khi giáo dân nhìn vào cách các linh mục đang sống với thánh chức của mình, họ sẽ thấy gì? Hy vọng rằng những gì giáo dân nhìn thấy ở mỗi linh mục là người mà họ đang cần. Họ sẽ thấy một linh mục chăm lo cử hành Bí tích, một linh mục luôn chuẩn bị bài giảng, một linh mục luôn hiện diện với người bệnh, người nghèo và người hấp hối. Giáo dân sẽ quan tâm đến cách các linh mục đón tiếp và gặp gỡ giáo dân. Hi vọng tôi sẽ được nghe giáo dân nói rằng: các tân linh mục đây sẽ là những linh mục mà giáo dân có thể đến gặp, những linh mục đón nhận giáo dân với lòng thương xót và sự chăm sóc. Giống như Chúa Giêsu đã nói: Hãy đến với Ta vì Ta hiền lành và khiêm nhường.
Tôi đang suy nghĩ về một lời khuyên mà tôi sẽ đưa ra cho bất kỳ ai đang bước vào đời linh mục. Một lời khuyên mà tôi dành cho các tân chức. Tôi nghĩ lại về những lời khuyên mà tôi đã nhận được trong đời linh mục của mình. Một lời khuyên mà tôi nghĩ đến, là lời khuyên từ cha của tôi khi tôi đang còn là chủng sinh. Lời khuyên duy nhất bố dành cho tôi: Hãy tử tế với mọi người. Có vẻ như lời khuyên này nghe có vẻ đơn giản vào thời điểm đó, nhưng tôi thấy rằng đó có lẽ là lời khuyên quan trọng nhất mà tôi đã nhận được. Hơn 28 năm làm linh mục, tôi đã có lúc hối hận vì đã không tử tế với mọi người, nhưng chưa bao giờ tôi hối hận vì đã quá tử tế với mọi người. Vì vậy, đó sẽ là lời khuyên của tôi cho các tân linh mục: Hãy tử tế với mọi người.
Có hai từ mà chúng ta đã bắt đầu ngày hôm nay: Tình yêu và Niềm vui. Trong ơn gọi của mỗi người chúng ta, dù là hôn nhân, sống độc thân, đời linh mục, đời sống tu trì, nếu chúng ta biết cho đi cuộc sống của mình trong tình yêu, thì lúc đó chúng ta sẽ tìm thấy niềm vui và mang lại niềm vui cho người khác. Một linh mục dâng hiến cuộc đời mình trong tình yêu thương, thực sự yêu thương những người mà mình phục vụ, thì linh mục đó sẽ tìm thấy niềm vui trong chức vụ của mình và mang lại niềm vui cho những người mà mình phục vụ.
Jos. Đăng Vũ
Chuyển ngữ từ: catherineofsienachurch.ca (06.5.2018)
[1] Tin mừng Chúa Nhật 6 Phục Sinh Năm B, Ga 15, 9-17:
Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: “Như Cha đã yêu mến Thầy, Thầy cũng yêu mến các con. Hãy ở lại trong tình yêu của Thầy. Nếu các con tuân lệnh Thầy truyền, các con sẽ ở trong tình yêu của Thầy, cũng như Thầy đã giữ lệnh truyền của Cha Thầy, nên Thầy ở lại trong tình yêu của Người. Thầy nói với các con điều đó để niềm vui của Thầy ở trong các con, và niềm vui của các con được trọn vẹn. Ðây là lệnh truyền của Thầy: Các con hãy yêu mến nhau, như Thầy đã yêu mến các con. Không có tình yêu nào lớn hơn tình yêu của người thí mạng vì bạn hữu mình. Các con là bạn hữu của Thầy, nếu các con thi hành những điều Thầy truyền. Thầy không còn gọi các con là tôi tớ, vì tôi tớ không biết việc chủ làm; Thầy gọi các con là bạn hữu, vì tất cả những gì Thầy đã nghe biết nơi Cha Thầy, thì Thầy đã cho các con biết. Không phải các con đã chọn Thầy, nhưng chính Thầy đã chọn các con, và đã cắt đặt để các con đi và mang lại hoa trái, và để hoa trái các con tồn tại, để những gì các con xin Cha nhân danh Thầy, Người sẽ ban cho các con. Thầy truyền cho các con điều này là các con hãy yêu mến nhau”.
Tác giả: Lm. Mark Gatto
2022
Tội phạm và hình phạt theo luật Giáo Hội Công Giáo
Tội phạm và hình phạt theo luật Giáo Hội Công Giáo
Xét theo bản chất, Giáo Hội Công Giáo vừa là một thực thể tâm linh (nhiệm thể Chúa Kitô) vừa là một đoàn thể hữu hình bao gồm các giáo sĩ, tu sĩ và giáo dân Kitô). Đồng thời, Giáo Hội là một tổ chức có cơ cấu phẩm trật, trong đó các phần tử đối với nhau theo công bằng và bác ái. Ngoài ra, các tín hữu phải vâng phục các vị lãnh đạo của mình tại địa phương cũng như tại trung ương.
- Quyền bính của Giáo Hội
Xét theo đối ngoại, Giáo Hội lãnh nhận quyền hành từ Chúa Giêsu, Đấng Sáng Lập Giáo Hội, chứ không phải do nhân dân hay Nhà nước ban cấp. Do đó, Giáo Hội gọi quyền này là quyền bẩm sinh (x. đ. 362; 747 §1; 1254 §1; 1260). Xét theo đối nội, Giáo Hội phải đặt ra những quy luật thường được gọi là “luật” để xác định rõ ràng tương quan công lý giữa các phần tử. Trước tiên, Giáo Hội phải chu toàn những nghĩa vụ với Chúa như trung thành với Lòi Chúa, đức tin, bí tích, loan truyền Tin Mừng cho mọi người. Tiếp theo, Giáo Hội nhắc nhở các tín hữu chu toàn những nghĩa vụ của họ đối với Chúa và Giáo Hội, sống xứng đáng với địa vị con cái Thiên Chúa, hiệp thông để xây dựng Giáo Hội vững mạnh trong đức tin, đức cậy, và đức ái.
- Giáo Hội là cộng đoàn các thánh
Giáo Hội ý thức mình là cộng đoàn các thánh nhưng cũng ý thức rằng tất cả thành phần của Giáo Hội đều là những con người yếu đuối tội lỗi (1Ga 1,18). Do đó, có những thánh phần vi phạm luật lệ, không những gây nên xáo trộn trật tự nhưng còn nghịch lại bản tính thánh thiện của các tín hữu cũng như cộng đoàn Kitô. Một đàng, Giáo Hội tỏ ra nghiêm khắc do ý thức cao độ về ơn cứu độ và sự thánh thiện. Đàng khác, Giáo Hội tỏ ra thông cảm do ý thức về thân phận mỏng dòn của con người. Chính các vị lãnh dạo Giáo Hội đã trải qua những sa ngã nhờ ơn Chúa. Thánh Phêrô chối Chúa 3 lần. Thánh Phaolô đã lộng ngôn, bách đạo và ngạo ngược nhưng đã được Chúa thương xót…(1Tim 1,13-15) Trong xã hội hoặc Giáo Hội, có những thành viên hành động sai lầm nên gây thiệt hại cho cộng đoàn và cá nhân. Xã hội có những hình phạt dành cho các phạm nhân vì làm rối loạn trật tự công cộng. Giáo Hội bài trừ các tội phạm vì chúng làm hoen ố sự thánh thiện của Giáo Hội.
- Ý niệm và những yếu tố tạo nên tội phạm
Theo Giáo luật, tội phạm được hiểu như là sự vi phạm bên ngoài và có thể quy trách một luật có thể gắn theo một chế tài ít là bất định. Có 3 yếu tố cấu thành tội phạm:
1/ Sự vi phạm bên ngoài về một luật hoặc một mệnh lệnh của Giáo Hội qua lời nói hoặc hành động;
2/ Hành vi ấy có thể quy trách được cho chủ thể, nghĩa là đương sự phải nhận trách nhiệm về hành vi đó khi vi phạm luật cách ý thức và tự do;
3/ Luật hay mệnh lệnh có kèm theo chế tài. Một hành vị chỉ bị coi là tội phạm khi vi phạm một luật có kèm theo hình phạt. Một điều đáng chú ý là chỉ có những tín hữu Công Giáo mới là chủ thể của tội phạm bị trừng phạt theo quy định của bộ Giáo luật.
- Khàc biệt giữa “tội lỗi” (sin) và “tội phạm” (delict)
“Tội lỗi” là từ dùng cho sự vi phạm trong lãnh vực luân lý. Tội phạm dùng trong lãnh vực hình sự. Tội lỗi khác biệt với tội phạm ở những điểm sau:
1/ Tội lỗi có thể diễn ra trong tâm tư, lời nói và hành động. Tội phạm phải được thực hiện ra bên ngoài;
2/ Tội lỗi có thể là nặng hoặc nhẹ (tội nặng hoặc tội nhẹ), trong khi có chỉ có những vi phạm nặng mới có thể trở thành tội phạm;
3/ Tội lỗi là sự vi phạm luân lý nói chung. Tội phạm chỉ giới hạn vào luật hình sự mà thôi.
- Mục đích Giáo Hội áp dụng những hình phạt
Giáo luật điều 1399 qui định tổng quát: Ngoài những trường hợp do luật này hay do những luật khác ấn định, sự vi phạm bên ngoài về một luật Thiên Chúa hay luật Giáo Hội chỉ có thể bị một hình phạt thích đáng, khi tính cách nghiêm trọng đặc biệt của sự vi phạm đòi hỏi một sự trừng phạt, và khi có yêu cầu thúc bách phải phòng ngừa hay sửa chữa những gương xấu. Hình phạt là biện pháp của Giáo luật trừng trị tội phạm. Hình phạt gồm có 3 yếu tố:
1/ Bị giới hạn hưởng điều tốt. Phạm nhân có thể bị giới hạn về những điều tốt bên ngoài như không được tham dự các bí tích hoặc giữ các chức vụ; 2
/ Vị lãnh đạo mới có quyền thiết lập và áp dụng những hình phạt nhất định (đ. 1319);
3/ Mục đích chính hình phạt là cải hóa phạm nhân và sửa chữa tội phạm. Khi ra hình phạt, Giáo Hội không nhắm đến việc loại trừ phạm nhân ra khỏi cộng đoàn cho bằng tìm cách giúp họ xứng đáng lãnh nhận ơn cứu rỗi. Chính vì thế, cải hóa phạm nhân đi trước việc trừng trị tội phạm.
- Những hình phạt “chữa trị” (penal remedies) và những hình phạt “đền tội” (expiatory penalties)
Hình phạt “chữa trị” được coi như thuốc chữa bệnh, giúp cải thiện phạm nhân để họ từ bỏ cố chấp. Trước khi ra hình phạt, cần phải cảnh cáo họ để họ từ bỏ sự cố chấp, nếu khuyến cáo vô ích thì mới dùng hình phạt (đ. 1347 §1). Hình phạt này kéo dài cho đến khi phạm nhân thành thực hối lỗi. Phạm nhân được tha khi chấm dứt sự cố chấp (đ. 1358 §1). Hình phạt “đền tội” hay báo đáp được áp dụng vì ích lợi thiện ích công cộng hơn là cá nhân. Hình phạt này thường được xác định thời gian.
- Những vị có thẩm quyền thiết lập hình phạt dưới hình thức luật hoặc mệnh lệnh
Những vị có thẩm quyền được phân chia ra như sau:
1/ Chí có những vị nào có thẩm quyền lập pháp mới có thể thiết lập luật hình sự (đ. 1315);
2/ Ai được quyền cai quản thì có thể thiết lập mệnh lệnh hình sự (đ. 1319). Những người có thẩm quyền lập pháp gồm có:
- a) Đức Thánh Cha và Công đồng hoàn vũ, đối với toàn thể Giáo Hội;
- b) Các công đồng địa phương (quốc gia, miền) trong giới hạn địa phương;
- c) Giám mục giáo phận trong giáo phận của mình.
Điều 1315 giải thích thêm về việc cơ quan địa phương có thẩm quyền trong 5 điểm sau:
- a) Họ có thể ban hành luật kèm theo hình phạt dành cho địa phương của mình (đ. 1315 §1), thí dụ thêm hình phạt cho các sòng bạc, buôn ma tuý hoặc buôn dâm;
- b) Họ có thể thêm hình phạt vào một luật Chúa (đ. 1315 §1) thi dụ như thêm hình phạt cho những người ly dị tại toà án dân sự;
- c) Họ có thể thêm hình phạt vào một luật do cấp trên ban hành (đ. 1315 §1); d) Khi cần thiết trầm trọng, họ có thể tăng thêm hình phạt vào một luật hình do cơ quan lập pháp toàn cầu đã ban hành (đ. 1315 §3);
- e) Họ có thể quy định hình phạt xác định và bó buộc mà luật chung có tính cách bất định hoặc nhiệm ý (đ. 1315 §3).
Tuy nhiên, điều 1317 nhắc nhở: Chỉ nên thiết lập hình phạt khi thực sự cần thiết để bảo vệ kỷ luật Giáo Hội một cách thích hợp.
- Tính chất hình luật
Khi áp dụng , những hình luật có thể là “xác định” (determinate) hay “bất định” (indeterminate), có thể là “bắt buộc” (obligatory) hay “nhiệm ý” (facultative). Gọi là xác định khi luật đã xác định rõ ràng hình phạt cho phạm nhân, thí dụ ai phạm tội ly giáo thì bị phạt tuyệt thông (x. đi 1364). Gọi là bất định vì nhà lập pháp dành việc xác định hình phạt cụ thể cho cơ quan hành pháp (đ. 1315 §2). Gọi là bắt buộc khi luật buộc phải ra hình phạt phạm nhân. Gọi là nhiệm ý khi luật để cho nhà chức trách tùy nghi thẩm định có cần ra hình phạt hay không (đ. 1369; 1370 §3; 1371; 1372; 1376; 1377; 1379; 1381; 1386; 1392; 1395 §2; 1396). Ngoài ra còn có hình phạt “tiền kết” hay tự kết (latae sententiae) và hình phạt “hậu kết” (ferendae sententiae). Về hình phạt tiền kết, phạm nhân mắc phải hình phạt ngay khi vi phạm do luật qui định và không cần tòa kết án (x. đ 1314). Hình phạt hậu kết chỉ nhận hình phạt sau khi bị toà kết án.
- Những tội phạm mắc phải các hình phạt tiền kết
- Có 6 tội phạm mắc hình phạt tuyệt thông tiền kết:
1/ Những người bội giáo, lạc giáo hay ly giáo (đ. 1364 §1);
2/ Những người ném bỏ, lấy hoặc giữ Mình Máu Thánh Chúa với mục đích phạm thánh (đ. 1367);
3/ Người nào dung vũ lực thể lý chống lại Đức Giáo Hoàng Roma (đ. 1370 §1);
4/ Tư tế nào giải tội phạm điều thứ sáu cho người đồng lõa, chiếu theo điều 977 (đ. 1378 §1);
5/ Giám Mục nào phong chức Giám Mục cho một người mà không có thư ủy nhiệm của Đức Giáo Hoàng, cũng như người nào được vị ấy truyền chức cho (đ. 1382);
6/ Cha giải tội trực tiếp vi phạm ấn tòa giải tội (đ. 1388)
- Có 5 tội phạm mắc hình phạt cầm chế tiền kết:
1/ Người nào dung vũ lực thể lý chống lại một người có chức Giám Mục (đ. 1370 §2);
2/ Người nào không phải là tư tế mà cám cử hành Thánh Lễ hay ban bí tích Giải tội hoặc nghe xưng tội như bí tích (1378 §2);
3/ Giám mục phong chức cho một người thuộc quyền Giám Mục khác mà không có thư giới thiệu hợp pháp (đ. 1383);
4/ Người nào cáo gian một cha giải tội với Bề Trên trong Giáo Hội về tội dụ dỗ hối nhân phạm tội điều răn thứ sáu, chiếu theo điều 1387 (đ. 1390 §1);
5/ Một giáo sĩ mưu toan kết hôn, dù chỉ là dân sự, thì bị vạ huyền chức tiền kết (đ. 1394 §1)
- Có 6 tội phạm mắc hình phạt huyền chức:
1/ Giáo sĩ dung vũ lực thể lý chống lại một người có chức Giám Mục (1370 §2);
2/ Giáo sĩ không phải là tư tế mà dám cử hành phụng vụ Hiến Tế Thánh Thể hoặc dám ban bí tích Giải Tội hoặc nghe xưng tội như bí tích (đ 1378 §2);
3/ Người được thụ phong do một Giám Mục khác mà không có thư giới thiệu hợp pháp (đ. 1383);
4/ Giáo sĩ cáo gian một cha giải tội với Bề Trên trong Giáo Hội về tội dụ dỗ hối nhân phạm tội điều răn thứ sáu, chiếu theo điều 1387 (đ. 1390 §1);
5/ Giáo sĩ mưu toan kết hôn, dù chỉ là hôn nhân dân sự (đ. 1394 §1)
- Có 1 tội phạm mắc cấm chế tiền kết: Giám Mục truyền chức cho một người thuộc quyền Giám Mục khác mà không có giấy giới thiệu hợp pháp, thì bị cấm truyền thức trong vòng một năm (đ. 1383
- Những hình phạt chữa trị
Trong bộ Giáo luật hiện hành, nhà lập pháp đã liệ kê ba thứ hình phạt chữa trị: tuyệt thông (excommunication), cấm chế (censure) và huyền chức (suspension).
1/ Hình phạt vạ tuyệt thông ngăn cấm phạm nhân lãnh nhận tất cả các bí tích. Chính đương sự tự ý rời bỏ Giáo Hội, chứ không phải là Giáo Hội đã trục xuất họ (x. Đ. 316 §1; 1117);
2/ Cấm chế có nghĩa là bị cấm đoán. Trong giai đoạn một, phạm nhân bị: a) cấm không được làm thừa tác viên trong các buổi cử hành phụng vụ; b) cấm không được ban và nhận lãnh các bí tích và á bí tích. Trong giai đoạn hai (sau khi bị tuyên án) phạm nhân bị trục xuất khỏi các buổi cử hành phụng vụ hay buổi lễ phải tạm đình chỉ;
3/ Huyền chức (suspension) chỉ áp dụng cho giáo sĩ. Phạm nhân bị cấm thi hành các chức năng thuộc quyền thánh chức, quyền cai quản hoặc quyền lợi trong bậc giáo sĩ (đ. 1333 §1)
- Những hình phạt đền tội
Những hình phạt đền tội nhắm mục đích sửa chữa những tổn hại mà tội phạm đãy gây ra. Điều 1336 §1 nêu lên 5 hình thức hình phạt vĩnh viễn hoặc tạm thời:
1/ Cấm chỉ (prohibition) hay bắt buộc lưu trú tại một nơi hay một lãnh thổ nhất định. Hình phạt này áp dụng cho giáo sĩ và tu sĩ;
2/ Tước quyền hành (privation of power) hay chức vụ (office), nhiệm vụ (function), quyền lợi (right), đặc ân (privilege), năng quyền (faculty), ân huệ (grace) danh hiệu (title) hoặc phù hiệu (insignia) dù chỉ là thuần túy danh dự;
3/ Cấm thi hành những điều kê khai ở số 2 hoặc cấm thi hành các điều ấy ở một nơi hoặc ngoài một nơi nhất định;
4/ Thuyên chuyển sang chức vụ khác vì tính cách hình sự. Theo giáo luật, có thứ thuyên chuyển như là thủ tục hành chánh (đ. 190-191; 1748-1752) nhắm tới ích lợi của các tín hữu hoặc nhu cầu của Giáo Hội. Còn sự thuyên chuyển hình sự nhằm trừng phạt một tội phạm;
5/ Trục xuất khỏi hàng giáo sĩ. Ấn tích đã nhận lãnh do chức thánh không thể nào bị hủy bỏ hoặc tước đoạt (đ. 1328 §2). Tuy nhiên, giáo sĩ bị cấm thi hành tác vụ chức thánh và mất hết quyền lợi bậc giáo sĩ. Việc cấm thi hành chức thánh bị đình chỉ mỗi khi cần phải giúp một người tín hữu đang trong tình trạng nguy tử (đ. 1338 §2, đ. 1335)
- Những biện pháp hình sự và việc sám hối
Điều 1339 nói đến hai biện pháp “cảnh cáo” (warning) và “khiển trách” (rebuke). Bề Trên cảnh cáo để họ dừng lại việc họ đang toan tính hoặc cảnh cáo họ từ bỏ sự cố chấp. Cảnh cáo bằng văn thư là điều kiện hữu hiệu cho việc tuyên kết (đ. 1347). Nhà lập pháp đòi hỏi Bề Trên Dòng tu phải cảnh cáo tu sĩ hai lần trước khi tiến hành thủ tục trục xuất (đ. 697). Bề trên khiển trách đương sự để họ thấy hạnh kiểm của họ gây ra gương xấu và xáo trộn trật tự trầm trọng. Theo sự khôn ngoan của mình, Đấng Bản Quyền có thể thêm những việc sám hối vào dược hình cảnh cáo và khiển trách thay vì đưa ra cách hình phạt nặng hơn vì phạm nhân đáng được khoan hồng (đ. 1324 §1; 1328 §2) hay đã hối cải (đ. 1343)
Lm. Nguyễn Tất Thắng OP
2022
Giáo Luật về vấn đề phá thai
Giáo Luật về vấn đề phá thai
Sự sống con người là một hồng ân cao quý mà Thiên Chúa ban tặng vì con người là một nhân vị được tạo dựng giống hình ảnh Thiên Chúa, là một cái gì có tính cách linh thánh vì sự sống phát xuất từ Thiên Chúa và thuộc về Thiên Chúa.
Sự sống con người cũng là một cái gì hết sức quý báu, vì nó nền tảng của mọi phúc lợi, là nguồn gốc và là điều kiện tất yếu cho mọi sinh hoạt con người và mọi cảm thông trong xã hội. Không có gì gần gũi con người hơn sự sống của chính mình, đụng đến sự sống là đụng đến chính con người. Tôn trọng sự sống là khởi nguồn của mọi tôn trọng các quyền căn bản của con người.
Vì thế, tội giết người là một tội rất nghiêm trọng, vì là tội ác chống Thiên Chúa, Đấng duy nhất có quyền sinh tử, và là tội ác chống tha nhân vì mình đã tước đoạt của họ một giá trị hết sức quý báu. Thiên Chúa đã ra lệnh: “Ngươi không được giết người” (Xh 20,13; Đnl 5,17). Trong tất cả tội ác mà con người có thể thực hiện chống lại sự sống thì sự phá thai do cố ý là một tội ác đặc biệt nghiêm trọng. Đây chính là một loại giết người hết sức ghê tởm vì nạn nhân trong trường hợp này là một kẻ vô tội chưa đủ khả năng tự vệ.
- Vấn đề phá thai
“Phá thai là lấy khỏi bụng mẹ một con người không thể sống được dựa vào một phương pháp nào đó của con người, hoặc bằng cách giết nó trước khi lấy ra khỏi bụng mẹ, hoặc bằng cách làm cho nó phải liều mạng khi sống ngoài bụng mẹ” (KARL H. PESCHKE, Christian Ethics, vol. II: “Special Moral Theology”. Bản dịch tiếng Việt “ Thần học luân lý chuyên biệt, Tập Hai, Tủ sách chuyên đề, trang 285). Vấn đề đặc biệt được nêu ra là chính xác khi nào phôi thai là một con người đúng nghĩa? Từ xưa đến nay đã có hai lý thuyết khác nhau:
– Aristote và thánh Tôma Aquinô cho rằng linh hồn có lý trí chỉ được phú cho thân xác sau khi trứng thụ tinh ấy phát triển tới một mức nào đó. Còn trước đó, phôi thai chỉ có một sự sống thực vật và động vật.
– Các học giả gần đây cho rằng phôi thai đã có linh hồn ngay từ khi thụ thai.
Giáo Hội không đưa ra lời tuyên bố chính thức nào, tán thành hay phi bác một trong hai lý thuyết vừa kể. Tuy nhiên, vì cả hai ý kiến đều có khả năng đúng và vì đứng trước một vấn đề nghiêm trọng là sự sống con người, nên Giáo Hội chỉ còn cách là phải chọn theo hướng hành động nào an toàn hơn Trong trường hợp có sự hoài nghi thì phải theo ý kiến nào đảm bảo hơn, vì nó tránh được nguy hiểm lỗi luật mà phạm tội, theo nguyên tắc luân lý: “In dubio tutior pars est eligenda”. , đó là luôn luôn đối xử với một trứng thụ tinh và còn sống như một con người, với đầy đủ quyền lợi của một con người, bất kể nó đang ở trong giai đoạn phát triển nào.
“Cần phải tôn trọng sự sống con người ngay từ khi bắt đầu quá trình sinh sản. Từ khi trứng thụ tinh, đã có một sự sống mới bắt đầu, không phải của cha, cũng không phải của mẹ. Đúng hơn đó là sự sống của một con người mới sẽ được phát triển riêng. Sự sống ấy sẽ không bao giờ trở thành người được nếu đã không là người” (BỘ GIÁO LÝ ĐỨC TIN, Tuyên ngôn Về việc phá thai. III.12.)
- Tính luân lý của việc phá thai
2.1. Lý do biện minh
Có bốn lý do được đưa ra biện minh cho việc phá thai:
2.1.1. Lý do ưu sinh: Lý do ưu sinh đòi phải phá thai trong những trường hợp dự đoán khá chắc chắn trẻ sơ sinh sẽ bị những khuyết tật nghiêm trọng.
2.1.2. Lý do có tính đạo đức: Lý do có tính đạo đức như khi mang thai do bị cưỡng hiếp. Phá thai trong trường hợp này được biện minh là vì đứa trẻ sinh ra là một gánh nặng không chính đáng mà người mẹ phải chịu ngược với ý muốn của mình và vì thế khó lòng yêu thương nó.
2.1.3. Lý do có tính xã hội: Lý do có tính xã hội như khi đứa trẻ (được sinh ra thêm) là một gánh nặng quá lớn về mặt xã hội và đặc biệt về mặt kinh tế cho gia đình hay cho người mẹ.
2.1.4. Lý do có tính y học hay trị liệu: Lý do có tính y học hay trị liệu khi tính mạng của người mẹ bị nguy hiểm nghiêm trọng do việc mang thai.
2.2. Luân lý tính
Luân lý Công giáo tuyệt đối bác bỏ mọi hình thức phá thai vì những lý do ưu sinh, đạo đức và xã hội, coi đó chỉ là những hình thức giết hại trẻ vô tội.
Thần học luân lý công giáo ít ra nhìn nhận phá thai trị liệu cách gián tiếp trong những trường hợp có nguy hiểm trầm trọng tới tính mạng của người mẹ là hợp pháp. Gọi là phá thai gián tiếp khi ta chỉ cho phép phôi thai chết như một hậu quả đi kèm theo một điều ta trực tiếp nhắm tới, như làm chết phôi thai do cắt bỏ tử cung bị ung thư của một người mẹ đang mang thai Trong trường hợp này, ta áp dụng nguyên tắc song hiệu: một sự việc (ở đây là cuộc giải phẫu) có thể gây ra hai hiệu quả, một hiệu quả tốt (là điều duy nhất ta muốn nhắm tới) tức là sức khoẻ người mẹ, và một hiệu quả xấu, nhưng không thể nào tránh được dù ta không nhắm tới (phôi thai chết). Hai hiệu quả quan trọng (hai mạng sống) nhưng độc lập với nhau: người mẹ được cứu không phải do ta diệt phôi thai, nhưng do ta cắt bỏ tử cung bị ung thư..
Vấn đề phá thai trị liệu cách trực tiếp nghĩa là việc phá thai trực tiếp muốn như một phương tiện xấu (giết hại bào thai) để đạt được mục đích tốt (chữa bệnh cho người mẹ) thì không hợp với luân lý. (Còn Tiếp)
- Giáo luật về vấn đề phá thai
Trực tiếp tiêu diệt sự sống một người vô tội bao giờ cũng là một hành vi xấu từ bản chất. Phá thai tự bản chất của nó là xấu, chứ không phải là xấu bởi vì Giáo Hội cấm đoán. Giáo Hội chỉ cấm phá thai bởi vì tự bản chất phá thai là xấu.
Công đồng Vativcan II đã khẳng định phá thai là tội ác ghê tởm chống lại sự sống: “Sự sống ngay từ lúc thụ thai đã phải được giữ gìn hết sức cẩn thận: phá thai và giết trẻ sơ sinh là những tội ác ghê tởm” (GS 51).
Giáo huấn luân lý Kitô giáo luôn luôn coi phá thai là một trọng tội: “Ngay từ thế kỷ thứ nhất, Hội Thánh đã khẳng định mọi vụ phá thai đều là tội ác luân lý. Giáo huấn đó không thay đổi. Giáo huấn đó vẫn luôn luôn không thể thay đổi. Việc phá thai trực tiếp, nghĩa là, hoặc được muốn như mục đích hoặc được muốn như phương tiện, đều trái ngược một cách nghiêm trọng với luật luân lý” (GLHTCG. số 2271).
Theo Giáo luật hiện hành, Hội Thánh phạt vạ tuyệt thông cho những ai đã phá thai thành công: “Người nào thi hành việc phá thai và nếu việc phá thai có hiệu quả, thì bị vạ tuyệt thông tiền kết” (Điều 1398).
1/ Tội phạm
Tội phá thai có hiệu quả. Nếu chỉ có ý mà không thi hành hoặc thực hiện mà không có kết quả thì chỉ mắc tội mà không mắc vạ.
Tội phạm cấu thành mỗi khi không những là một thai nhi bị loại ra khỏi tử cung, mà còn là một hành động được thực hiện trực tiếp nhằm giết một thai nhi còn sống – kể từ khi bắt đầu thụ thai – dù là ở trong dạ mẹ hay ở ngoài, bất kể dùng phương tiện nào, miễn là phát sinh hiệu quả.
2/ Hình phạt
Hình phạt đối với tội phá thai là bị vạ tuyệt thông tiền kết Giáo luật phân biệt hai loại hình phạt:
– Hình phạt tiền kết: khi luật hoặc mệnh lệnh ấn định rằng phạm nhân phải chịu hình phạt tức khắc do chính sự kiện phạm tội.
– Hình phạt hậu kết: phạm nhân chỉ chịu hình phạt sau khi vị thẩm phán hoặc Bề Trên tuyên bố thật sự..
Giáo sĩ vi phạm, ngoài vạ tuyệt thông, còn bị coi là bất hợp luật để chịu chức và để thi hành chức thánh đã lãnh nhận (Điều 1041, 40 và 1044 §1, 30).
Tu sĩ vi phạm, ngoài vạ tuyệt thông (và những bất hợp luật nếu là giáo sĩ), còn bị sa thải khỏi tu hội (Điều 695 §1).
Theo Điều 1331, những người bị vạ tuyệt thông bị cấm:
– Tham dự cuộc cử hành Hiến Tế Thánh Thể và bất cứ nghi lễ phụng vụ nào khác bằng bất cứ cách nào với tư cách là thừa tác viên;
– Cử hành các bí tích hay các á bí tích, và lãnh nhận các bí tích;
– Thi hành các giáo vụ, các thừa tác vụ hay bất cứ nhiệm vụ nào, hoặc thực hiện những hành vi lãnh đạo.
3/ Những ai bị phạt?
Những người bị phạt là người đi phá thai, những người thực hiện và những người đồng loã phạm tội (Điều 1329). Có sự đồng loã phạm tội khi nhiều người cộng tác với chủ ý chung là thực hiện cùng một hành vi tội phạm.
– Nguời đi phá thai.
– Y tá, bác sĩ thực hiện việc phá thai, hoặc dược sĩ bán thuốc phá thai.
– Những người đã xúi giục, khuyến khích việc phá thai.
– Cha mẹ, anh chị em, bè bạn đã tham gia tích cực vào công việc phá thai.
Nguyệt san Công Giáo và Dân tộc, số 1759, tuần lễ từ 28.5 đến 03.06.2010, trang 26, đã đưa tin như sau: “Một nữ tu ở Mỹ, dòng Thương xót đã bị vạ thuyệt thông và mất việc vì tham gia vào quyết định cho phá thai. Đức Giám Mục giáo phận Koenig bang Arizona nói rằng nữ tu này đã bị vạ tuyệt thông tức khắc theo giáo luật vì đã tham gia quyết định cho phá bào thai của một phụ nữ bị bệnh nặng tại nhà thương Thánh Giuse ở TP Koenig. Nữ tu cũng bị loại bỏ chức vụ phó giám đốc nhà thương. Vụ phá thai này xảy ra hồi năm ngoái”.
Có trường hợp người lỗi luật biết luật (vd. cha mẹ, anh chị em đồng loã trong việc phá thai…) nhưng không biết có hình phạt vạ tuyệt thông kèm theo (de ignorantia poenae) thì người lỗi luật đó cũng vẫn mắc vạ, vì đây là một vạ phạt thông thường mà người đó phải sử dụng những phương thế cần thiết để biết sự lỗi luật phải chịu một hình phạt tương xứng.
Vì thế, các linh mục có bổn phận phải loan báo Tin Mừng về sự sống và trình bày cho giáo dân hiểu rõ về tội phá thai và hình phạt tương xứng kèm theo.
- Tha vạ tuyệt thông tiền kết tội phá thai
Vạ tuyệt thông là một hình phạt chủ yếu dùng để sửa dạy người phạm pháp.
4.1. Trong tình trạng nguy tử
Hình phạt không tự chấm dứt. Tuy nhiên, hình phạt cấm lãnh nhận các bí tích sẽ bị đình chỉ bao lâu phạm nhân còn trong tình trạng nguy tử (Điều 1352§1).
Cũng trong trường hợp nguy tử, bất cứ tư tế nào, cho dù không có năng quyền giải tội, cũng giải hết mọi vạ và mọi tội cách thành sự và hợp thức cho mọi hối nhân lâm cơn nguy tử. Mặc dầu có sự hiện diện của một tư tế được chuẩn nhận (Điều 976).
4.2. Cha giải tội tha ở toà trong
Trong trường hợp bình thường, “cha giải tội có thể tha ở toà trong, lúc ban bí tích, vạ tuyệt thông tiền kết hay vạ cấm chế tiền kết chưa được tuyên bố, nếu hối nhân cảm thấy khổ sở khi phải sống trong tình trạng tội trọng suốt thời gian cần thiết để Bề Trên có thẩm quyền định liệu” (Điều 1357 §1). Khi tha vạ, cha giải tội phải buộc hối nhân, nếu bất tuân, thì sẽ mắc vạ lại, trong vòng một tháng phải thượng cầu lên Bề Trên có thẩm quyền hay lên tư tế có năng quyền và phải tuân theo quyết định của ngài; trong khi chờ đợi, cha giải tội phải ra một việc đền tội cân xứng và phải buộc đương sự sửa chữa gương xấu cũng như đền bù thiệt hại trong mức độ cần thiết; cũng có thể nhờ cha giải tội thực hiện việc thượng cầu này, nhưng không nêu danh tính của hối nhân (Điều 1357 §2).
4.3. Đấng Bản quyền tha vạ tuyệt thông tiền kết
Khi nào phạm nhân thật lòng hối hận về tội phạm của mình và sẵn lòng sửa chữa các thiệt hại và gương xấu cách xứng hợp, hay ít là đã nghiêm chỉnh hứa làm điều ấy thì phải kể như người ấy hết ngoan cố (Điều 1347 §2) và sẽ được Bề Trên có thẩm quyền tha hình phạt (x. 1358 §1).
“Hình phạt tiền kết do luật thiết lập những chưa được tuyên bố, và nếu hình phạt ấy đã không được dành riêng cho Tông Toà, thì có thể được Đấng Bản Quyền tha cho những người thuộc quyền mình và những người đang ở trong địa hạt mình hay những người đã phạm tội tại đó; bất cứ Giám Mục nào cũng có quyền tha hình phạt ấy, nhưng chỉ trong khi ban bí tích Giải Tội” (Điều 1355 §2).
Trong Giáo phận Long Xuyên, Đức Giám Mục ban năng quyền cho các linh mục trong Giáo phận được tha vạ tuyệt thông tiền kết, trong khi ban bí tích Giải Tội, cho những ai thi hành việc phá thai và nếu việc phá thai có hiệu quả (Hướng Dẫn Mục Vụ và Năng Quyền, số 5.6, trang 22).
Khi linh mục, chiếu theo luật, giải vạ tuyệt thông tiền kết ở toà trong, lúc ban bí tích Giải Tội cho hối nhân đã chuẩn bị xứng đáng, thì không phải thay đổi mô thức giải tội, nhưng có ý tha vạ là đủ rồi. (x. Prot. số CD 1200/83, ngày 12/09/1983, bí tích Giải Tội, Phụ lục 1, số 1).
Lm. Luy Huỳnh Phước Lâm
