2022
Đâu là điểm khác biệt giữa đạo Công Giáo và Tin Lành trong lĩnh vực am hiểu Kinh Thánh?
Đâu là điểm khác biệt giữa đạo Công Giáo và Tin Lành trong lĩnh vực am hiểu Kinh Thánh?
Hỏi: Hiện nay có rất nhiều bạn trẻ đạo Công Giáo chưa hoặc rất ít đọc Kinh Thánh nên sự hiểu biết về Kinh Thánh vô cùng hạn chế. So sánh với đạo Tin Lành thì họ học Kinh Thánh rất thuộc và cũng tìm hiểu rất sâu về Kinh Thánh. Vậy đâu là điểm khác biệt giữa đạo Công Giáo và Tin Lành trong lĩnh vực am hiểu Kinh Thánh?
Đáp:
Trước hết, xin lưu ý về nhận định của bạn. Thiết nghĩ, vì chưa có bằng chứng xác thực nên chúng ta cũng đừng vội khẳng định rằng “Hiện nay có rất nhiều bạn trẻ đạo Công Giáo chưa hoặc rất ít đọc Kinh Thánh nên sự hiểu biết về Kinh Thánh vô cùng hạn chế. So sánh với đạo Tin Lành thì họ học Kinh Thánh rất thuộc và cũng tìm hiểu rất sâu về Kinh Thánh.” Có thể nơi môi trường bạn sinh sống có những bạn trẻ như thế, nhưng biết đâu nơi khác, nhiều bạn trẻ Công giáo vẫn miệt mài đọc và học hỏi Kinh Thánh thì sao?
Giờ đây, xin trả lời cho phần hỏi chính của bạn về “điểm khác biệt giữa đạo Công Giáo và Tin Lành trong lĩnh vực am hiểu Kinh Thánh.” Có thể ý bạn hỏi liên quan đến hai điểm: khác biệt về kiến thức Kinh Thánh, và những khác nhau về Kinh Thánh nói chung giữa Công giáo và Tin lành. Vậy xin tạm trả lời bạn như thế này:
– Xét về kiến thức thì tôi chưa thấy có thống kê nào so sánh kiến thức Kinh Thánh giữa Công giáo và Tin lành. Nếu như nhận định trên của bạn là đúng thì chắc người Tin lành có kiến thức nhiều hơn Công giáo chăng? Tuy nhiên, thiết nghĩ trong thời đại ngày nay, chúng ta nên quan tâm đến việc cùng nhau hiểu biết Kinh Thánh, giúp nhau gia tăng kiến thức thì sẽ tốt hơn. Và thực tế, các nhà chuyên môn Kinh Thánh của Công giáo và Tin lành đã chia sẻ và giúp nhau rất nhiều về kiến thức Kinh Thánh.
– Về nội dung và việc nghiên cứu Kinh Thánh, chúng ta có thể nêu hai khác biệt căn bản sau đây:
- Thứ nhất là về Quy điển: Quy điển Cựu ước của Tin lành nhận 39 cuốn. Còn Công giáo là 46 cuốn. Vậy, Công giáo nhiều hơn 7 cuốn, đó là: Tobia, Giuđitha, 1 và 2 Macabê, Khôn ngoan (của Salômôn), Huấn ca (Ecclesiasticus) và Barúc (kể cả Thư của tiên tri Giêrêmia). Và chính xác hơn có thể kể đến một phần của các sách Esther và Daniel (x. Raymond E. Brown, 101 Questions & Answers On The Bible, (New York: Paulist Press, 1990), Q. 5).
- Thứ hai là về việc giải thích Kinh Thánh: Công đồng Vaticanô II, qua Hiến Chế Tín Lý Về Mạc Khải Thiên Chúa – Dei Verbum, xác nhận: “Nhiệm vụ chính thức giải thích Lời Chúa đã được ghi chép hay lưu truyền, đã được ủy thác riêng cho Huấn Quyền sống động của Giáo Hội, một quyền hạn được thi hành nhân danh Chúa Giêsu Kitô” (số 10); và Công đồng kết luận: “những gì liên hệ đến việc giải thích Thánh Kinh, cuối cùng đều phải lệ thuộc vào phán quyết của Giáo Hội, vì Thiên Chúa đã truyền lệnh và trao cho Giáo Hội nhiệm vụ gìn giữ và giải thích Lời Ngài” (số 12). Như vậy, có thể nói gọn, đối với Công giáo, việc giải thích và hiểu Lời Chúa phải được đặt trong truyền thống đức tin sống động của Giáo Hội và “phải lệ thuộc vào phán quyết của Giáo Hội.” Nói cách khác, đối với nhà chú giải Công giáo, khi ông đưa ra những giải thích của mình về Thánh Kinh, thì những giải thích này không nên vượt ra khỏi truyền thống đức tin và phải được sự chấp nhận của Huấn quyền Giáo Hội.
Hỏi: Kinh Thánh bản tiếng Việt được dịch ra từ ngôn ngữ của nước nào? Nếu được dịch ra từ tiếng Anh hoặc một thứ tiếng khác với tiếng Do Thái thì liệu có bị sai lệch chút nào so với bản gốc không? Và nếu không có sai lệch với bản gốc thì do đâu mà giữ được nguyên ý nghĩa như vậy?
Đáp:
– Kinh Thánh bản tiếng Việt được dịch ra từ ngôn ngữ của nước nào là do người dịch hay nhóm dịch chọn lựa. Nếu bạn muốn biết rõ thì có thể dựa trên những thông tin được ghi trong bản dịch.
– Xin lưu ý với bạn về từ ngữ “bản gốc.” Thật ra, hiện nay không còn bản gốc mà chỉ có những bản sao chép lại. Và trong những bản sao chép này, chúng ta có ngôn ngữ gốclà tiếng Do thái hoặc Hy lạp. Còn việc chuyển dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác thì chắc chắn phải có sai lệch, hay đúng hơn phải nói là bản dịch thường không thể diễn tả hết được trọn vẹn ý nghĩa so với bản ngôn ngữ gốc. Điều này cũng không khó hiểu. Chẳng hạn, Việt Nam chúng ta có ngôn ngữ, văn hóa, tập tục… khác rất nhiều so với người Do thái, nên việc chuyển dịch từ ngôn ngữ Do thái sang ngôn ngữ Việt chắc hẳn phải có nhiều sai lệch, thiếu sót. Tuy nhiên, để khắc phục tình trạng này, các bản dịch thường được chú thích hay giải nghĩa thêm bởi các dịch giả để người đọc có thể hiểu rõ hơn. Theo đó, kiến thức chuyên môn của người dịch cũng là yếu tố quan trọng quyết định sự chính xác của bản dịch.
Lm. Phêrô Bùi Sĩ Thanh
2022
Lửa luyện ngục đốt những gì?
Lửa luyện ngục đốt những gì?
Trong tháng Các Đẳng Linh Hồn, khi suy niệm về sự chết, bài báo sau có thể giúp chúng ta cảm thấy nhẹ nhõm. Philip Kosloski của tờ Aleteia, nghĩa là Chân Lý Tỏ Tường, có bài viết nhan đề “What does the ‘fire’ of purgatory burn?”
Luyện ngục thường được hình dung như một ngọn lửa thanh tẩy, nhưng chính xác thì nó đốt những gì?
Giáo Hội Công Giáo kiên quyết ủng hộ sự tồn tại của luyện ngục, như một giai đoạn chuẩn bị cho thế giới bên kia dẫn một linh hồn vào Thiên đàng.
Người ta biết rất ít về điều gì sẽ xảy ra khi một linh hồn đến luyện ngục, nhưng nhiều vị thánh và nhà thần học đã mô tả nó như một “ngọn lửa thanh tẩy”. Ngay cả Sách Giáo lý của Giáo Hội Công Giáo cũng đề cập đến luyện ngục với loại hình ảnh này.
Sách giáo lý Công Giáo điều 1031 viết:
Hội Thánh gọi sự thanh luyện cuối cùng này của những người được chọn là Luyện ngục, sự thanh luyện này khác hẳn với hình phạt của những kẻ bị luận phạt. Hội Thánh công bố đạo lý đức tin liên quan đến luyện ngục, chủ yếu trong các Công đồng Florentinô và Triđenti-ô. Truyền thống của Hội Thánh, dựa trên một số bản văn của Thánh Kinh, nói đến lửa thanh luyện:
“Đối với một số tội nhẹ, phải tin là trước phán xét chung có lửa thanh luyện, theo điều Đấng là Chân lý đã nói rằng nếu ai nói phạm đến Chúa Thánh Thần, người đó sẽ chẳng được tha cả đời này lẫn đời sau (Mt 12:32). Trong lời đó, chúng ta có thể hiểu là một số tội có thể được tha ở đời này, còn một số tội có thể được tha ở đời sau.”
Tuy nhiên, hình ảnh ngọn lửa có thể khiến người ta tưởng như có những linh hồn đang cháy trong lửa, tương tự như những linh hồn ở Địa ngục đang cháy mãi mãi.
Origen, một nhà thần học của Giáo hội thời sơ khai, cung cấp một cái nhìn rõ ràng về ngọn lửa này và chính xác ngọn lửa “đốt cháy” những gì.
Nếu một người rời bỏ cuộc sống này với những lỗi lầm nhẹ hơn, anh ta sẽ bị kết án phóng hỏa đốt cháy những vật liệu nhẹ mắc míu vào linh hồn… ‘Bạn không thể vào thiên đàng với củi, cỏ khô và gốc rạ của bạn và do đó làm ô uế vương quốc của Thiên Chúa… ngọn lửa này không tiêu thụ sinh vật, nhưng những gì sinh vật đã tự tạo ra, gỗ, cỏ khô và gốc rạ. Rõ ràng là ngọn lửa phá hủy gỗ của những vi phạm của chúng ta và sau đó trả lại cho chúng ta phần thưởng là những công việc vĩ đại của chúng ta.
Hình ảnh này có thể giúp chúng ta hiểu rằng Thiên Chúa không gửi chúng ta đến hình phạt bằng lửa để tra tấn chúng ta trước khi vào Thiên đàng, nhưng thay vào đó chúng ta đi qua ngọn lửa thanh tẩy, đốt sạch mọi tội lỗi nhỏ hơn mà chúng ta đang mắc phải khi chết.
Trên hết, ngọn lửa luyện ngục không phải là một phần của sự tra tấn ghê rợn, mà là một cách để chuẩn bị tâm hồn chúng ta đón nhận những niềm vui trên Thiên đàng một cách trọn vẹn hơn.
Đặng Tự Do
2022
Có hôn nhân trên Thiên Đàng không?
Có hôn nhân trên Thiên Đàng không?
Chúa Giêsu tuyên bố rõ ràng rằng sẽ không có hôn nhân trên Thiên đàng, mặc dù điều đó không có nghĩa là chúng ta sẽ không được gắn kết với người vợ/chồng của mình.
Đối với nhiều cặp vợ chồng, thật khó để tưởng tượng Thiên đàng chia ly họ, không thể là vợ chồng vĩnh viễn.
Tuy nhiên, Chúa Giêsu đã giảng dạy rất rõ ràng về hôn nhân trên Thiên Đàng.
- “Con cái đời này cưới vợ lấy chồng, chứ những ai được xét là đáng hưởng phúc đời sau và sống lại từ cõi chết, thì không cưới vợ cũng chẳng lấy chồng” (Luca 20: 34-36).
Điều này có vẻ giống như một kiểu hiện hữu “thấp kém hơn”, nơi chúng ta không còn hợp nhất với người vợ / người chồng của mình trên Thiên đàng.
Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là chúng ta sẽ không thể hợp nhất với người vợ / người chồng của mình mãi mãi.
Sách Giáo lý của Giáo hội Công giáo mô tả Thiên đàng là nơi “hiệp thông”.
- “Thiên Đàng” là cuộc sống viên mãn vì được hiệp thông trong sự sống và tình yêu với Thiên Chúa Ba Ngôi, với Đức Trinh Nữ Maria, với các thiên thần và các thánh. Thiên Đàng là mục đích tối hậu và là sự hiện thực các nguyện vọng sâu xa nhất của con người, là tình trạng hạnh phúc tuyệt hảo và chung cuộc” (GLGHCG, số 1024).
Hơn nữa, tất cả những người trên Thiên đàng đều hợp nhất trong một “thành thánh của Thiên Chúa”.
- “Những kẻ được kết hợp với Chúa Kitô tạo thành cộng đoàn những người được cứu chuộc, Thành Thánh của Thiên Chúa (Kh 21,2), “Hiền Thê của Con Chiên”(Kh 21,9). Cộng đoàn này sẽ không còn mang thương tích của tội lỗi nhơ bẩn (Kh 21,27), ích kỷ từng hủy diệt hoặc gây tổn thương cho cộng đồng nhân loại dưới thế. Việc hưởng nhan thánh Chúa sẽ là nguồn hạnh phúc, bình an và hiệp thông bất tận cho những người được tuyển chọn, vì Thiên Chúa tự ban trọn vẹn cho họ” (GLGHCG, số 1045).
Thiên đàng sẽ không giống như bất cứ trải nghiệm nào về sự hiệp thông mà chúng ta gặp trên trần thế, vượt qua cả những thời điểm hạnh phúc nhất của cuộc sống hôn nhân trên trái đất.
Nếu cả hai vợ chồng đã cùng ra sức sống thánh thiện trên trần gian và đi vào hạnh phúc vĩnh cửu của Thiên đàng, thì trong Thiên đàng họ sẽ được kết hợp theo cách mà chúng ta không thể hiểu được. Việc đó sẽ không giống như hôn nhân trên trần gian, vì chúng ta sẽ được kết hợp với tất cả các thánh trên Thiên đàng trong một tình yêu hiệp thông vĩnh cửu, được ràng buộc với nhau bởi chính Thiên Chúa.
Cuộc sống hôn nhân mất đi sẽ không phải là vấn đề đối với bất cứ ai trong chúng ta, vì chúng ta sẽ nhận được phần thưởng lớn hơn nhiều so với những gì chúng ta có thể tưởng ra được.
Hôn nhân là một con đường được thiết lập để giúp chúng ta đi đến Thiên đàng và cuối cùng một khi chúng ta đã đến đích, thì sẽ không còn cần phải giữ lấy con đường hôn nhân đó nữa.
Tác giả: Philip Kosloski – 06/11/22, https://aleteia.org.
Chuyển ngữ: Phêrô Phạm Văn Trung
2022
Người Công-giáo nhìn trận chiến “phá thai” tại Mỹ
Người Công-giáo nhìn trận chiến “phá thai” tại Mỹ
Phá thai là một tệ nạn xã hội ở khắp nơi trên thế giới này nhưng sao chỉ ồn ào tại Mỹ, nhất là trong mùa bầu cử này. Vấn nạn phá thai đã bị chính trị hóa. Nhiều người bị cuốn hút vào vong tranh chấp: Hoặc bênh vực hoặc phê bình lên án.
Chúng tôi nghĩ rằng: Sau mùa bầu cử thì cơn lốc chính trị sẽ giảm đi và ta mới có thể bình tâm để suy luận trung thực hơn. Chúng tôi xin chia vấn đề này ra làm hai mặt:
- Hiệu quả của việc phê bình, lên án:Phá thai là giết người, là trọng tội. Mọi người biết thế nhưng việc lên án nặng nhẹ khác nhau tùy theo quan điểm mỗi người, mỗi nhóm, tùy theo mức độ đạo đức hoặc văn hóa.
Xin mở ngoặc: Có lý luận rằng: Thai nhi cũng là một con người có giá trị như mọi người, và giết một thai nhi cũng không khác gì giết người lớn. Nhưng chúng tôi nghĩ đó là kiểu lý luận thuần túy tôn giáo và trên thực tế thì không thể như vậy. Ví dụ một thai nhi bị chết vi phá thai hay bị xảy thai thì nguời ta không thể có xúc cảm thương đau như khi đứng trước một người lớn qua đời.
Hoặc lý luận mơ hồ rằng khi phá thai thì thai nhi cũng đau đớn và biết khóc. Hoặc mọi giúp đỡ cho việc phá thai là tiêu tiền thuế của dân chúng.
Khi nghe những lý luận trên đây, chúng tôi có cảm nhận rằng: Vì e mình không đủ tự tin là mình đang nắm vững được ”Lẽ phải”, cho nên mình phải vơ vét thêm những lý lẽ có tính khích động đến tình cảm và túi tiền người khác. Các cách này thì nhà chính trị vẫn làm nhưng nhà đạo đức thì không thể.
Phê bình chỉ trích là đúng nhưng chưa đủ vì nó chỉ là một vế của phương trình. Vì bao năm nay, việc phê bình chỉ trích chẳng làm thay đổi gì cả.
- Vậy phải tìm xem nguyên nhân nào đã gây nên nạn phá thai để tìm cách sửa chữa:
Nhiều thống kê cho rằng phần lớn các vụ phá thai là do khó khăn về tài chánh và khủng hoảng tâm lý khi biết mình có thai, nhất là người ở tình trạng có thai ngoài hôn nhân, sợ xã hội chê cười, gia đình ghét bỏ. Vào thời kỳ này, đương sự rất cần được sự giúp đỡ: Nâng đỡ tinh thần và cả vật chất.
Khi qua được mấy tháng đầu thì những người nghèo lại lo đến một tương lai dài hạn hơn, là làm sao nuôi con tới ngày khôn lớn, phải nghỉ việc, lấy đâu ra tiền để sống cho toàn thể gia đình…
Nếu ta cảm thông được hoàn cảnh của họ thì ta sẽ dễ dàng thương cảm hơn là lên án.
Có vài cơ cấu tôn giáo đã có những chương trình giúp đỡ họ, ví dụ cung cấp cho một số người nơi ăn ở cho tới ngày sinh nở. Trường hợp này rất ít vì chỉ áp dụng cho những người nhất thời không nơi ăn ở. Cần nhiều cơ sở giúp đỡ họ tại nhà của họ, Không chỉ ở thời kỳ đầu, mà cả thời kỳ nuôi con sau này. Đây mới là chương trình lớn mà Xã-hội và các Giáo-hội vẫn chưa làm gì đáng kể.
Một chuyện mới đây, đó là Công-an tại Vietnam đã bắt được mấy nhóm người buôn bán trẻ sơ sinh.
Họ tổ chức nuôi ăn ở cho một số người mang thai để sau khi sanh thì bán đứa nhỏ cho cha mẹ nuôi…
Nhìn vào hai trường hợp là phá thai và bán con trên đây thì ta thấy có cùng một nguyên nhân, đó là vì nghèo không nuôi nổi con.
Cả hai trường hợp đều có tội, nhưng nếu người mẹ không bán con mà là cho không thì lại không bị tội hoặc trường hợp người “hiến nội tạng” thì lại đáng khen! Nhưng nếu người nhận con nuôi hay nhận nội tạng, rồi sau đó, muốn trả ơn người đã hiến tặng, bằng cách biếu lại quà cáp “đáng giá” gì đó thì ta lại thấy đó là chuyện tự nhiên?
Mỗi người chúng ta có thể có cái nhìn khác nhau và có thể sai lầm ít nhiều chăng!
Và một chuyện nữa là một người vợ vì không có khả năng mang thai nên nhờ một bà khác mang thai giùm mấy tháng đầu rồi sau đó sẽ chuyển cái thai vào bào thai của người vợ. Họ làm theo lời khuyên của bác sĩ. Vậy câu hỏi là: Mang thai giùm có tội không? Mấy ai hiểu được nỗi đau khổ của những người không thể có thai hoặc bị sảy thai nhiều lần, chạy chữa rất tốn phí mà vẫn không được!
Ngày nay, sống đạo theo các tiêu chuẩn cổ truyền thì rất khó khăn. Ví dụ: Phá thai thì đương nhiên là có tội, nên chọn cach ngừa thai, nhưng ngừa thai cũng có tội. Vậy không muốn có thai thì vợ chồng chỉ còn cách là đừng gần nhau, vì giáo lý dạy rằng: khi vợ chồng muốn gần nhau thì phải chấp nhận có con. Và cách độc nhất được Giáo-hội cho phép đó là phải theo phương pháp Oginô (do bác sĩ Ogino người Nhật và được ĐGH Pio X áp dụng), nhưng vẫn có rủi ro. Vậy nếu vợ chồng đi làm xa, lâu lâu mới gặp nhau thì phải làm sao?
Và cuối cùng là giới trẻ ngày nay đã sống xa đạo. hoặc bỏ đạo, Họ có tội không?
Chúng tôi nhớ lại rằng: cách đây vài chục năm, cha Lom-bac-đô, phát ngôn viên của Tòa-thánh đã trả lời rằng: Giáo-hội chưa hề có văn thư nào chính thức về việc cấm ngừa thai.
Chúng tôi cũng lại biết rằng: Trong Hội-nghị Giám-mục thế giới về gia đình, năm 2015-2016, thì các Nghị-phụ cũng đã bất đồng ý về nhiều vấn đề gia đình, với chỉ số ngang ngửa 50/50.
Vậy xin các Đấng nên hợp Ý lại để con cái Giáo-hội khỏi sống trong mặc cảm tội lỗi và rồi sống xa đạo.
Chúng tôi xin mạo muội trình bày rằng: Ngày nay, nhiều tin tức nội bộ Giáo-hội cũng cho thấy có những sự khác biệt giữa các Đấng bậc trong Giáo-hội. Một số các Đấng vẫn còn muốn trung thành với truyền thống cũ, kể cả chối bỏ Công-đồng Vatican II, mà khi khai mạc cộng đồng này, ĐGH Gioan XXIII đã phát biểu rằng Giáo-hội phải mở cửa để thông với thế giới bên ngoài.
Những suy nghĩ của chúng tôi có thể sai sót nhưng đây là lòng thành của chúng tôi khi lo lắng cho đám con cháu và bạn bè của chúng.
Chúng tôi cầu xin các Đấng nhìn đến đám con cái với tình cảm của bậc cha mẹ là biết lắng nghe con cái và chia sẻ sự khắc khoải, khó khăn trong cuộc sống đạo của chúng.
Kết luận: “Nghèo đói sinh đạo tặc”. Vậy nếu giảm được đói nghèo thì tội ác sẽ giảm theo và nạn phá thai vì nghèo đói cũng sẽ giảm bớt chăng?
Và cuối cùng, ta hãy nhìn tổng quát đến nhiều vấn nạn trong xã hội hôm nay, đó là biết bao loại tội lỗi khác như bắn giết hằng ngày, tham nhũng, bất công khắp nơi… Đây là những nguyên nhân gây nên sự nghèo đói. Vậy cần phải có chương trình cải tạo và sửa đổi những nguyên nhân này.
Nguyễn Thất-Khê
