Aenean nec eros. Vestibulum ante ipsum primis in faucibus orci luctus et ultrices posuere cubilia curae. Suspendisse sollicitudin velit sed leo.

Chuyên mục
  • Bài giảng
  • Các loại khác
  • Chia sẻ
  • Chưa phân loại
  • GH Hoàn Vũ
  • GH Việt Nam
  • Giáo dục
  • Hạnh các Thánh
  • HĐGM Việt Nam
  • Kinh Thánh
  • Phim giáo dục
  • Phụng vụ
  • Sách
  • Suy niệm Chúa nhật
  • Suy niệm hàng ngày
  • Tài liệu giáo dục
  • Tài liệu phụng vụ
  • Thần học
  • Thánh ca
  • Thánh lễ
  • Thánh lễ trực tuyến
  • Thư chung
  • Thư viện
  • Tin tức
  • Triết học
  • Tư liệu
  • UBGD Công giáo
  • uncategorized
  • Video
From Gallery
Stay Connected
UyBanGiaoDucHDGM.net
  • Trang chủ
  • Thư chung
    • HĐGM Việt Nam
    • UBGD Công giáo
  • Tin tức
    • GH Việt Nam
    • GH Hoàn Vũ
  • Phụng vụ
    • Thánh lễ
    • Thánh lễ trực tuyến
    • Suy niệm hàng ngày
    • Suy niệm Chúa nhật
    • Tài liệu phụng vụ
  • Giáo dục
    • Chia sẻ
    • Tài liệu giáo dục
  • Thư viện
    • Sách
      • Kinh Thánh
      • Triết học
      • Thần học
      • Các loại khác
    • Video
      • Bài giảng
      • Thánh ca
      • Phim giáo dục
      • Hạnh các Thánh
      • Tư liệu
  • Liên hệ
Give Online

Danh mục: Giáo dục

Home / Giáo dục
18Tháng Năm
2023

Người Việt đầu tiên soạn từ điển là Công giáo

18/05/2023
Anmai
Chia sẻ, Giáo dục
0

Người Việt đầu tiên soạn từ điển là Công giáo

Đã 113 năm từ khi ông Huỳnh Tịnh Của qua đời. Cuộc đời, sự nghiệp và công trạng của ông đối với việc phát triển chữ quốc ngữ đã được lịch sử ghi nhận và tri ân. Tuy nhiên, vẫn còn khá nhiều điều bí ẩn quanh cuộc đời ông chưa tìm được lời giải. Ông chính là người Việt đầu tiên biên soạn từ điển.

Tên của ông là Huỳnh Tịnh Của, ông còn có ngoại hiệu là Tịnh Trai và tên thánh là Paulus, tức là ghi theo tiếng Latin hay tiếng Đức, còn Việt Nam phiên âm đọc là Phaolô.

Tác phẩm Đại Nam Quấc âm tự vị của Huỳnh Tịnh Của liên tục được các thế hệ tái bản, nghiên cứu.

Bậc kỳ tài nhiều bí ẩn

Lẽ thường với người Công giáo, tên thánh sẽ đặt trước tên thật (hoặc cả họ tên) và ông Của đã nhiều lần sử dụng cách đặt tên này trong các tác phẩm của ông, như ký tên là Paulus Của hoặc P. Của, có sách ông ký tên là Paulus Của Huình-Tịnh.

Thế nhưng, trên một số tác phẩm, trong đó tác phẩm nổi tiếng Đại Nam quốc âm tự vị, ông lại ký tên là Huình- Tịnh Paulus Của, một cách đặt tên hoàn toàn khác với mọi người, thậm chí khác với chính cách đặt tên của ông trước đó. Họ của ông, ông không viết chữ Huỳnh, mà viết là Huình. Thậm chí trong tác phẩm Trần Sanh diễn ca, ông ký tên là Hoàng-Tịnh Paulus Của.

Năm sinh của ông có những thông tin khác nhau, quê quán của ông cũng chưa được xác định rõ. Ngay cả khi đi tu, học đến chức thầy Tư rồi hoàn tục cưới vợ không rõ vì sao. Tác phẩm của ông cũng bị nhầm lẫn nhiều, nghề nghiệp báo chí cũng chưa được xác định rõ ràng về thời điểm, chức vụ.

Thậm chí, ngay cả hình dáng của ông thế nào cũng không ai rõ vì không có ảnh hay truyền thần lưu lại như những bạn bè đương thời.

Làm việc cho Pháp mà không bị coi là Việt gian

Theo tài liệu được đánh giá khá xác tín là luận văn thạc sĩ của ông Nguyễn Văn Y tại Đại học Văn Khoa Sài Gòn thì Huỳnh Tịnh Của sinh năm 1830 tại làng Phước Tuỵ, tỉnh Bà Rịa. Đây là vùng giáo dân chạy nạn trong các cuộc đàn áp đạo trước đó về nương náu. Do từ nhỏ ông tỏ ra thông minh, hiếu học nên năm 12 tuổi được gửi sang tu học ở Penang Malaysia cho đến khi xuất tu về quê lập gia đình.

KHÔNG HỀ BỊ AI BẮT BUỘC, MÀ CHỈ BẰNG LÒNG ĐAM MÊ MỚI CÓ THỂ KHIẾN ÔNG KIÊN TRÌ TẠO RA NHỮNG TÁC PHẨM CÓ GIÁ TRỊ ĐỂ ĐỜI CHO HẬU THẾ. TRONG ĐÓ CÓ TÁC PHẨM BIÊN KHẢO NỔI TIẾNG ĐẠI NAM QUỐC ÂM TỰ VỊ.

Ông được đánh giá là giỏi cả tiếng Pháp, Hán, Latin và chữ Quốc ngữ vốn còn mới mẻ lúc đó.

Khi Pháp tấn công và chiếm ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ năm 1862, nhiều văn thân sĩ phu nếu không tham gia vào các phong trào khởi nghĩa chống Pháp thì cũng dùng ngòi bút để đả kích chống ngoại xâm.

Còn Paulus Của lại quyết định ra làm việc với Pháp. Vào thời điểm đó việc cộng tác với Pháp được người Việt xem là hành vi phản quốc, là Việt gian. Thế nhưng đến nay dù có vài ý kiến khác nhau nhưng Huỳnh Tịnh Của vẫn không bị gán cho tội danh đó.

Lý do là khi điểm lại cuộc đời của Huỳnh Tịnh Của, người ta có thể nhận thấy ông làm việc với Pháp chỉ làm thông ngôn, dù được ăn lương khá cao nhưng ông không hề cai trị ai cả chứ đừng nói tham gia đàn áp. Ông chỉ làm cầu nối về mặt ngôn ngữ.

Thứ nữa, Huỳnh Tịnh Của luôn mong mỏi và khát khao đem các kiến thức về học thuật và kỹ thuật của Tây phương vào để canh tân đất nước nhưng vẫn giữ gìn bản sắc của dân tộc và văn hóa truyền thống nước nhà.

Ông là người có công rất lớn đã nhen nhóm nền văn học, đặc biệt là chữ Quốc ngữ trong những bước đầu ở Nam Kỳ. Là người có lòng yêu quý ngôn ngữ và các tác phẩm văn học nước nhà, ông sưu tầm các áng văn hay của người xưa bằng cách ghi chép lại các câu hát góp, thành ngữ, tục ngữ, gia ngôn.

Ông dịch thuật rất nhiều tác phẩm nước ngoài sang chữ Quốc ngữ để người dân dễ đọc, như Quan âm diễn ca, Trần Sanh diễn ca, Chiêu Quân cống Hồ truyện, Bạch Viên Tôn Các truyện, Văn Doanh diễn ca, Thoại Khanh Châu Tuấn truyện, Thơ mẹ dạy con, Tống Tử Vưu truyện… Ngoài ra ông cũng biên soạn các cuốn: Phép toán, Phép đo, Maximes et proverbers, Gia Lễ, Chuyện giải buồn, Bác học sơ giải, Sách quan chế, Tân soạn từ trát nhất xấp…

Công trình thế kỷ

Đại Nam quốc âm tự vị được ông miệt mài viết trong bốn năm, bao gồm hai tập, dày tổng cộng trên 1.200 trang, xuất bản từ năm 1895 tại Sài Gòn. Trong đó liệt kê và chú giải rất nhiều từ ngữ tiếng Việt kèm theo chữ Hán và cả chữ Nôm.

Trước đó, nước ta chưa có quyển từ điển nào giải nghĩa tiếng Việt bằng tiếng Việt. Điểm đặc biệt là thành phần từ ngữ, tục ngữ của Đại Nam quốc âm tự vị rất phong phú nhưng cơ bản là những từ ngữ rất phổ thông, những câu cửa miệng vốn được người dân Việt lúc đó sử dụng hằng ngày. Mỗi từ, mỗi chữ đều được ông giải nghĩa rõ ràng, ngắn gọn không dài dòng, rất dễ hiểu.

Thông qua hai tập sách, người ta có thể nhận thấy sự giàu có và phong phú của ngôn ngữ Việt Nam, có những câu chữ mà xưa nghĩa khác và nay nghĩa khác. Nếu không có tác phẩm của ông, chúng ta không được biết đến rất nhiều câu chữ, từ ngữ độc đáo của người Việt mà nay đã không còn được sử dụng nữa.

Khi còn sống, Huỳnh Tịnh Của khiêm tốn giải thích công trình của mình không phải là tự điển mà chỉ là tự vị: Có kẻ hỏi tự điển, tự vị khác nhau thế nào? Sao sách ta làm kêu là tự vị mà không gọi là tự điển?… Tự điển, tự vị khác nhau có một sự rộng hẹp. Tự điển phải có chú giải, mỗi chữ, mỗi tiếng đều phải dẫn điển, dẫn tích, nguyên là chữ sách nào, nguyên là lời ai nói, cả thảy đều phải có kinh truyện làm thầy; chí như tự vị cũng là sách hội biên các thứ chữ, cùng các tiếng nói, song trong ấy thích chữ một, nghĩa một, mà không dẫn điển tích gì”. Nhưng sau này một số nhà nghiên cứu vẫn cho rằng tác phẩm của ông xứng đáng được gọi là tự điển.

Nhà báo thứ hai của Việt Nam

Năm 1869 Trương Vĩnh Ký được người Pháp chuyển giao thực hiện tờ Gia Định báo với vai trò giám đốc. Đây là tờ báo chữ quốc ngữ đầu tiên ở Việt Nam thời bấy giờ. Người đứng vai trò chủ bút chính là Huỳnh Tịnh Của.

Tờ Gia Định báo ông Huỳnh Tịnh Của làm chủ bút.

Tại sao lại là ông Của mà không là ai khác? Vì ông Perus Ký đề ra ba mục tiêu chính cho tờ báo là truyền bá chữ quốc ngữ, cổ động tân học và khuyến học trong dân chúng, bằng cách thêm các phần khảo cứu, nghị luận, gồm các bài dịch thuật, sưu tầm, sáng tác thơ, văn, lịch sử, truyện cổ tích…

Những phần này đòi hỏi chủ bút phải là người có học vấn uyên thâm về văn hóa Việt Nam, phải giỏi chữ Hán và chữ Quốc ngữ, đồng thời có kiến thức Tây học (để dịch các tài liệu về vấn đề chính trị, pháp lý, công quyền qua các bài đăng công văn, nghị định, thông tư, đạo dụ của chính quyền).

Sau khi viết báo xong xuôi, lại phải dịch ngược lại tiếng Pháp để nhà cầm quyền Pháp kiểm duyệt… Cho nên ông Huỳnh Tịnh Của là người đủ năng lực để thực hiện công việc này.

Làm chủ bút nhưng ông Của viết rất nhiều, lý do là ông Perus Ký bận việc (thông ngôn, dạy học, viết sách…) nên không có thời gian nhiều cho báo chí, thành ra ông Của cáng đáng tờ Gia Định báo đến tận năm 1880 mới ngưng viết.

Tính ra ông cũng có thâm niên đáng kể với nghề báo và chỉ đứng sau ông Perus Ký khi đặt chân vào lĩnh vực mới mẻ này.

Một con người liêm khiết, thanh bạch
Ông Huỳnh Tịnh Của vào ngạch quan viên từ năm 1862. Sau nhiều lần thăng chức, ông được thăng Đốc phủ sứ năm 1884. Làm Giám đốc Ty Phiên dịch văn án ở soái phủ Sài Gòn, ông có chân trong Ban Biên tập bán nguyệt san Revue Indochinoise. Ông nhiều lần làm giám khảo trong các cuộc thi về Hán và Việt văn, được thống đốc Nam Kỳ cử làm hội viên trong hội đồng bàn nghị về Sở Nghĩa địa làng trong các hạt Nam Kỳ.
Tuy vậy ông sống rất thanh bạch, được thực dân Pháp hậu đãi, có quyền chức lớn nhưng ông tỏ ra là một người khiêm tốn, giản dị. Nhà nghiên cứu Nguyễn Liên Phong sống cùng thời đã mô tả ông: “Hình dung nho nhã, tánh nết cẩn thận hiền lành… làm công chức cao mà nhà vẫn thanh bần. Đã quá tuổi hưu trí mà Nhà nước đoái tưởng ngài tuổi lớn nhà nghèo, cho làm luôn”.

PHẠM TRƯỜNG GIANG

Read More
18Tháng Năm
2023

Trương Vĩnh Ký: Ông tổ nghề báo Việt Nam

18/05/2023
Anmai
Chia sẻ, Giáo dục
0

Trương Vĩnh Ký: Ông tổ nghề báo Việt Nam

Ngày nhỏ thường chạy xe đạp qua giao lộ Trần Hưng Đạo – Trần Bình Trọng, tôi rất ngạc nhiên khi thấy một ngôi nhà mồ nằm trên một khu đất rộng ngay mặt tiền đắc địa. Mãi đến sau này đi làm báo mới biết đó là nhà mồ của nhà bác học người Công giáo Petrus Trương Vĩnh Ký, người khai sinh ra tờ báo đầu tiên viết bằng chữ Quốc ngữ: Gia Định Báo.

Khuôn viên rộng 2.000 m2 vẫn được giữ nguyên nét cổ kính hoang sơ như cả trăm năm trước. Những hàng cây tán rộng, những mảng sân xi măng loang lổ tróc vữa. Gần giữa trưa nhưng khuôn viên vẫn râm mát do cây me ngay cửa ra vào tỏa bóng rộng.

Nhà bác học Trương Vĩnh Ký

Ngôi nhà mồ cổ hiu quạnh

Tôi vào một ngôi nhà kiểu cổ, bên trong vẫn mang nét kiến trúc cổ điển đậm chất Việt để tìm ông Trương Minh Đạt là hậu duệ đời thứ tư của cụ Petrus Ký, cũng là người được giao nhiệm vụ trông coi quản lý đất hương hỏa.

Ông Đạt lấy chìa khóa để mở cổng nhà mồ cho tôi vào tham quan, đồng thời giải thích thắc mắc. Đây nguyên là phần đất của gia đình, do đích thân cụ Trương Vĩnh Ký tổ chức xây dựng. Đường Trần Hưng Đạo trước đây là đại lộ Gallieni vốn là một con kênh bị lấp đi thành đường để nối Sài Gòn và Chợ Lớn.

Từ khu đất này nhìn qua thấy rạch Bến Nghé cách đó không xa. Nhà xây ngoài mục đích để ở còn là nơi để dạy học, tiếp khách và làm việc trong những năm cuối đời của cụ Trương Vĩnh Ký. Bên ngoài căn nhà gỗ mái âm dương, phía trước nhà đặt một hòn non bộ lớn, thú tiêu khiển đặc trưng của nhà vườn Nam Bộ xưa.

Sau khi cụ Trương mất, thi hài được mai táng trong căn nhà mồ đã được xây dựng ngay từ lúc cụ còn sống. Một phong cách rất Việt, người già thường sắm sửa trước cỗ áo quan cho ngày ra đi của chính mình. Trên nhà mồ còn ghi rõ ngày hoàn thành là tháng 12-1898, tức là năm cụ Trương mất.

Đến năm 1937, nhân dịp giỗ lần thứ 39 của cụ, con cháu trùng tu lại di tích, xây thêm tường gạch kiên cố bên ngoài, còn mọi thứ vẫn giữ nguyên.

Ngôi nhà mồ không quá to lớn, hình bát giác, nhìn trên cao xuống như hoa thị. Bên trong thiết kế bằng phẳng với lớp gạch bông Hoàng Hậu cũ vẫn còn nguyên, kể cả ba ngôi mộ đều theo phong cách Tây không đắp cao mà phẳng với nền nhà.

Ngôi mộ cụ Trương đặt ở giữa, hai bên là mộ của người vợ được ghi tên theo phong cách xưa là Maria Trương Vĩnh Ký (nhũ danh Vương Thị Thọ) và người con trai cả Trương Vĩnh Thế. Bia mộ trang trí rất đơn giản, chỉ có viền hoa văn hình lá ở ngoài. Bia mộ cụ Trương được làm bằng đá trắng, còn của vợ và con thì làm bằng đá hoa cương đỏ, bị nứt nẻ khá nhiều.

Mặc dù bia mộ theo phong cách Tây nhưng trần nhà mồ lại vẽ một con kỳ lân cùng các hoa văn cách điệu ngọn lửa giống trong chén đĩa cổ. Ngôi nhà mồ là một kiến trúc kết hợp phong cách Đông-Tây, Á-Âu rất hài hòa dù diện tích chỉ vẻn vẹn chưa đầy 50 m2.

Trong khuôn viên còn độ 60 ngôi mộ nữa là con cháu của cụ. Các ngôi mộ được đặt sát cạnh nhau và đều không có nhà mồ.

Ông Đạt cho biết nhà mồ cụ Trương mới được trùng tu năm năm trước, gia đình không sửa chữa thay thế gì cả, chỉ sơn quét lại và tô vẽ các hoa văn đã bị mờ y như cũ. “Thỉnh thoảng mới có người lại viếng cụ, cô hiệu trưởng Trường Lê Hồng Phong (Petrus Ký cũ) cũng mang hoa lại đây” – ông Đạt kể lại.

Ngôi nhà mồ cụ Trương Vĩnh Ký. Ảnh: PTG

Thần đồng ngôn ngữ

Lịch sử Việt Nam từng có nhiều thần đồng kiệt xuất như Mạc Đĩnh Chi, Lê Quý Đôn… nhưng giai đoạn cận đại mới có một người đặc biệt như Trương Vĩnh Ký. Sinh ra trong một gia đình quan lại, cha là Lãnh binh Trương Chánh Thi mất sớm khi nhậm chức tại Nam Vang, cậu Ký sống với mẹ và đã bộc lộ khả năng sáng dạ, nghe hay đọc qua một lần là thuộc.

Ba tuổi, cậu học thuộc sách Tam Tự Kinh, đến sáu tuổi đã thông hiểu Minh Tâm Bửu Giám, thuộc nhiều bài thơ đời Đường, đời Tống, kể cả các bài ca dao dài mà người lớn không nhớ nổi… Cậu đọc cả Tứ Thư, Ngũ Kinh và trích dẫn trong các tình huống ứng xử hằng ngày khiến mọi người đều kinh ngạc.

VỚI KHẢ NĂNG SỬ DỤNG 26 NGOẠI NGỮ, TRONG ĐÓ CÓ 15 NGÔN NGỮ CHÂU ÂU VÀ 11 NGÔN NGỮ PHƯƠNG ĐÔNG, TRƯƠNG VĨNH KÝ ĐƯỢC XEM LÀ MỘT TRONG 18 BÁC HỌC NỔI TIẾNG Ở THẾ KỶ XIX.

Gia cảnh khó khăn, cậu sớm được các linh mục chú ý nhận nuôi dưỡng, cho theo đạo, đặt tên là Petrus Ký rồi dạy tiếng Latin và chữ quốc ngữ. Đến khi triều đình cấm đạo gay gắt, cậu được một linh mục người Pháp tên là Bouilleaux (tên Việt là Cố Long) đưa sang Chủng viện Pinha-lu bên Cao Miên để lánh nạn.

Chủng viện Pinha-lu tập hợp 25 chủng sinh xuất sắc từ các chủng viện khác, tuổi 13-15. Khi ấy cậu Ký chỉ mới 11 tuổi nhưng biết tiếng Latin xuất sắc nhất. Trong quá trình giao tiếp với các chủng sinh nước ngoài, cậu Ký nhanh chóng học luôn các thứ tiếng Nhật, tiếng Hán, tiếng Thái của các bạn cùng lớp.

Qua năm sau, cậu nói được tiếng Lào, tiếng Miên, tiếng Ấn Độ… khiến mọi người đều sửng sốt. Ban đầu cậu học qua bạn học và từ điển, rồi sau đó tự tìm ra quy luật ngữ pháp để học ngoại ngữ nhanh chóng hơn.

Đứng đầu lớp, cậu Ký được sang học ở Chủng viện Dulalma ở Penang, Mã Lai. Trong khoảng thời gian theo học tại đây, cậu học thêm các thứ tiếng khác như tiếng Anh, Tây Ban Nha, Mã Lai, Hy Lạp, Pháp…

Giữa hai dòng nước và nỗi oan trăm năm

Mặc dù được các cha tạo điều kiện sang La Mã học để làm linh mục nhưng thầy Petrus Ký quyết định trở về nước để chịu tang mẹ. Ông được giới thiệu làm thông ngôn cho Pháp và dạy tại trường thông ngôn do Pháp mở.

Ông được gọi theo phái đoàn Pháp bàn nghị hòa với triều đình rồi được đại thần Phan Thanh Giản gọi theo làm phiên dịch trong chuyến sang Pháp xin chuộc ba tỉnh miền Đông. Sau này ông lãnh nhiều chức vụ khác liên quan đến việc dạy ngôn ngữ cho người Pháp cũng như triều đình.

Petrus Ký được phong danh hiệu viện sĩ của Viện Hàn lâm Pháp và chức hàn lâm viện thị giảng học sĩ. Ngoài viết hơn 120 quyển sách, một con số khổng lồ, Trương Vĩnh Ký còn xin phép xuất bản tờ Gia Định báo, tờ báo bằng chữ quốc ngữ đầu tiên của Việt Nam vào năm 1865 và được xem như ông tổ nghề báo Việt Nam.

Mộ Petrus Ký bên cạnh vợ và con. Ảnh: PTG

Ông chỉ làm công việc phiên dịch và dạy ngôn ngữ, góp phần vào việc kết nối Việt Nam với văn hóa các nước nhưng lại bị nghi ngờ từ cả hai phía. Mặc dù làm việc cho Pháp nhưng ông không chịu nhập quốc tịch Pháp. Đã vậy trong sách của ông viết, ông vẫn gọi Pháp là “giặc”.

Do vậy, ông bị Pháp nghi ngờ, không tin tưởng. Mặt khác, việc ông theo đạo Công giáo cũng bị phía triều đình nghi ngờ. Pháp xem ông như một người “hai mang”, còn người Việt xem ông là Việt gian.

Lúc cuối đời, ông bị cả hai bên ghẻ lạnh, thậm chí trù dập.. Những năm tháng cuối đời ông sống trong cảnh buồn bã và nghèo khó.

Cuộc đời ông Trương Vĩnh Ký như đứng bên hai dòng nước, có nhân sĩ viết sách lên án ông nhưng cũng có những người vận động đúc tượng ông để ghi công. Nỗi oan của ông kéo dài cả trăm năm sau khi chết. Những con đường hay ngôi trường mang tên ông đã bị đổi tên, tượng của ông bị tháo dỡ, cất trong bảo tàng…

Cảm thấy mình bị oan ức, ông chỉ biết than thở qua những vần thơ lúc lâm chung, có hai câu cuối:

Cuốn sổ bình sanh công với tội, Tìm nơi thẩm phán để thừa khai.

Các nhà ngôn ngữ học của nước Pháp vô cùng ngạc nhiên
Tất cả nhà ngôn ngữ học của nước Pháp vô cùng ngạc nhiên trước cuốn Khảo luận về các ngôn ngữ phương Đông bởi tính độc đáo của nó. Lần đầu tiên, một người bản xứ như Trương Vĩnh Ký lại có cái nhìn về “bác ngữ học” nhằm bày tỏ cho những nhà ngôn ngữ học châu Âu nhiều tư liệu và đánh giá rất khoa học. Cuốn khảo luận này chắc chắn mau chóng nâng bạn lên hàng những nhà ngôn ngữ học thế giới. Và các nhà ngôn ngữ học của Pháp sẽ coi bạn là niềm tin tự hào của chính mình…
Nhà văn hóa Pháp LITTRÉ

PHẠM TRƯỜNG GIANG

Read More
11Tháng Năm
2023

ĐÂU LÀ PHÂN ĐỊNH LUÂN LÝ ĐỐI VỚI CÁC VIỆC BÁC ÁI ?

11/05/2023
Anmai
Giáo dục, Tài liệu giáo dục
0

ĐÂU LÀ PHÂN ĐỊNH LUÂN LÝ ĐỐI VỚI CÁC VIỆC BÁC ÁI ?

ĐÂU LÀ PHÂN ĐỊNH LUÂN LÝ ĐỐI VỚI CÁC VIỆC BÁC ÁI ?

Lòng bác ái có thể được biểu lộ như thế nào? Xuyên qua những công việc bác ái. Nhưng đối với nhiều người, bác ái bị nghi ngờ, từ ngữ “bác ái” gợi lên một khuôn mẫu lỗi thời, che giấu tồi một sự tiếp tay đối với một trật tự xã hội bất công. Trong Deus Caritas est, số 26, Đức Bênêđíctô XVI đã nhắc lại phong trào chống đối hoạt động bác ái của Giáo hội từ thế kỷ 19, được tư tưởng Marxít triển khai cách rõ ràng. “Việc chống đối này cho rằng người nghèo không cần đến những công việc bác ái, nhưng đòi hỏi công bằng. Những việc bác ái – việc bố thí – trong thực tế chỉ là cách thức để người giàu bỏ qua việc tái lập công bằng, ru ngủ lương tâm, bảo vệ vị trí riêng của mình và tước đi quyền lợi của người nghèo….”. Đức Bênêđíctô XVI nhìn nhận “vài điểm trong lập luận này, nhưng nhiều điểm sai lệch”.

Quả đúng là bác ái luôn bị đe dọa bởi sự đồi bại. Nhưng điều đó không có nghĩa rằng cần phải chối bỏ nó. Do đó, làm thế nào khôi phục danh dự cho nhân đức này?  Đâu là phân định luân lý được thực hiện trên các việc bác ái?

1. Bác ái đích thực

Đâu có thể là ý nghĩa của cử chỉ đúng đắn này mà rõ ràng sẽ không giải quyết số phận của người nghèo? Chính cử chỉ bố thí không tránh khỏi ngờ vực. Người cho phải chăng không được đền trả lại? Do đó, một cử chỉ như thế không thể là nhưng không thuần túy. Quả thật, bác ái luôn dễ bị làm méo mó và phục vụ cho những lợi ích thầm kín.

Nhưng cho dù những động cơ ít nhiều vô thức của cử chỉ được thực hiện là gì, thì chắc chắn rằng thế giới hẳn phi nhân hơn nếu mỗi người không chịu chìa tay ra. Đôi bàn tay đưa ra đã diễn tả một khởi đầu ân cần. Nó là dấu của một thái độ không dửng dung. Nó đón nhận sự hiện diện của người khác. Nó biến lề đường, quán xá…thành những nơi gặp gỡ tha nhân. Nó là sự khởi đầu của bác ái: “Bác ái bắt đầu bằng những cử chỉ sơ đẳng tìm cách làm giảm cơn khát của con người mệt nhoài, tìm cách chìa tay ra cho người bị ruồng bỏ…[1]”

Nhưng sẽ là cái nhìn thiển cận về bác ái khi chỉ dừng lại ở việc bố thí. Vậy đâu là những tiêu chí của một bác ái đích thực? Sự liên kết giữa bác ái và công bằng cho chúng ta một tiêu chí đầu tiên: bác ái đích thực cần quan tâm đến công bằng. Việc bố thí làm phúc không miễn chuẩn một sự dấn thân cho công bằng[2]. Ngược lại, sự dấn thân cho công bằng không miễn trừ cử chỉ cá nhân đối với người nghèo. Đức Gioan-Phaolô II cung cấp cho chúng ta một tiêu chí khác về bác ái đích thực này vốn trái ngược với não trạng thời đại tìm kiếm một cử chỉ thuần túy vô vị lợi, hoàn toàn một chiều. Ngài biến sự hỗ tương thành điều kiện của bác ái đích thực: “Tình yêu thương xót, trong các tương quan của con người, không phải là một hành vi hay là một tiến trình đơn phương. Ngay cả trong các trường hợp mà tất cả dường như rằng chỉ một bên tặng và cho và bên kia chỉ lấy và nhận (chẳng hạn trong trường hợp bác sĩ chăm sóc, thầy dạy, cha mẹ nuôi dưỡng và giáo dục con cái, ân nhân giúp đỡ những người túng thiếu), thế nhưng, trên thực tế, ngay cả người cho vẫn luôn hưởng ích từ đó” (Dives in misericordia, số 14).

Xem xét lòng thương xót cách đơn phương, rốt cục đó là duy trì một khoảng cách giữa người làm việc thiện và người được hưởng. “Từ đó phát sinh tham vọng giải phóng các tương quan nhân loại và xã hội khỏi lòng thương xót và xây dựng chúng trên công bằng” (số 14). Công việc thanh tẩy các hành vi và ý hướng của chúng ta do đó hệ tại bước vào một sự hiểu biết song phương các thực hành của chúng ta, chứ không chỉ như là một thiện ích được làm cho người khác. Vì lòng thương xót “thực sự là một hành vi tình yêu thương xót chỉ khi, khi thực thi nó, chúng ta xác tín sâu xa rằng chúng ta lãnh nhận nó đồng thời từ những ai chấp nhận nó từ chúng ta. Nếu khía cạnh song phương và tính hỗ tương này thiếu đi, thì các hành động của chúng ta không còn là những hành vi thương xót đích thực nữa; sự hoán cải, mà con đường của nó được Chúa Kitô dạy cho chúng ta trong lời nói và mẫu gương của Ngài, cho đến thập giá, vẫn còn chưa được hoàn toàn thực hiện nơi chúng ta; và chúng ta vẫn còn chưa tham dự hoàn toàn vào nguồn mạch kỳ diệu của tình yêu thương xót, được mạc khải cho chúng ta nơi Ngài” (số 14). Chúa Kitô chịu đóng đinh được đề nghị cho chúng ta như là khuôn mẫu và “khi xây dựng cuộc đời chúng ta trên khuôn mẫu cảm động này, thì chúng ta, bằng tất cả lòng khiêm nhường, có thể biểu lộ lòng thương xót đối với những người khác, biết rằng Ngài đón nhận nó như thể nó được làm chứng cho chính Ngài (x. Mt 25, 34-40)” (ibid.).

Như thế, thay vì theo đuổi một cử chỉ làm phúc “thuần khiết về mặt luân lý”, hoàn toàn vô vị lợi, Đức Gioan-Phaolô II mời gọi chúng ta khám phá rằng chúng ta luôn hưởng ích lợi từ cử chỉ mà chúng ta thực hiện đối với những người túng thiếu. Các hành vi bác ái từ nay có thể được xem như là một ân sủng hơn là một nghĩa vụ: để “trả lại con người cho chính nó” (Dives in misericordia, số 14), để làm cho thế giới nhân bản hơn (x. GS số 40).

Như thế, tính đặc thù của Kitô giáo không hệ tại trong việc phục vụ tha nhân cách vô vị lợi – cái quan niệm vị tha của tương quan với tha nhân vốn có nguy cơ chuyển sang những hình thức óc gia trưởng hay chủ nghĩa luân lý (x. Piô XI, Divini Redemptoris, số 46: “Nhưng vẫn còn một phương dược hữu hiệu hơn, mà phải tác động cách trực tiếp hơn đến sự dữ hiện nay, đó là giới luật đức ái. Chúng tôi muốn nói đến đức ái Kitô giáo « kiên nhẫn và tốt lành » (1 Cor 13, 4), vốn biết tránh những dáng vẻ bảo vệ làm mất thể diện và mọi sự phô trương; đức ái mà, từ ban đầu của Kitô Giáo, đã chinh phục được cho Chúa Kitô những nghèo nhất giữa những người nghèo, những người nô lệ). “Trái lại, nên suy nghĩ sự đảo ngược sâu xa và sự lật đổ tận căn qua đó chính chủ thể được hiểu như là một người khác[3]”. Vấn đề không phải là chúng ta chăm lo cho người khác, chú ý đến hoàn cảnh của họ, nhưng là nhìn nhận bản thân chúng ta như họ, nhìn nhận họ như là những người khác “chính mình như một người khác”, khám phá ra họ là những bạn bè huynh đệ.

Du ngôn người Samaritanô nhân hậu (Lc 10, 29-36) cung cấp một mình họa tốt cho sự đảo ngược này. “Quả thế, chìa khóa hệ tại trong cách thức lật ngược hoàn cảnh mà nó thực hiện. Đối với luật sĩ hỏi Ngài – về việc giải thích giới răn yêu thương kép – ai là tha nhân của ông, Chúa Giêsu, sau khi đã kể câu chuyện về người bất hạnh bị bỏ rơi bởi hai người đạo đức và được cứu giúp bởi một người Samaritanô, đã hỏi: “Theo ý ông, ai trong ba người này đã tỏ ra là tha nhân của người bị rơi vào tay bọn cướp? (câu 36). Như thế, Ngài đã dẫn người đối thoại của Ngài đến chỗ tự đồng hóa, không phải với người này hay người kia có thể cứu giúp, nhưng với người đang cần được cứu giúp. Quả thế câu hỏi “ai là tha nhân mà tôi phải yêu mến?” không bao giờ có thể là “óc gia trưởng” và, do đó, trái ngược với thực tại sâu xa của tình yêu. Tình yêu này chỉ thực sự có thể nảy sinh ở đâu người ta chấp nhận không phải trước tiên yêu mến và giúp đỡ, nhưng là được yêu mến và được giúp đỡ…ngay cả bởi một người Samaritanô, tức là một kẻ thù và là một người chẳng ra gì[4]”. Sự lật ngược này là nguồn mạch và là điều kiện của sự gần gũi của chúng ta với những người nghèo nhất, với những người bị tổn thương của cuộc sống. Như thế, chìa tay cho người nghèo, đó là một cách nào đó nhớ đến các nạn nhân và các người cùng khổ như là những chủ thể bình đẳng và nhớ đến sự cùng quẫn của chúng ta. Đức Gioan-Phaolô II cho thấy quà tặng được cho và được nhận biểu dương phẩm giá con người và củng cố mối liên hệ xã hội và tinh thần: “Người cho trở nên quảng đại hơn khi nó cảm thấy được đáp trả lại bởi người chấp nhận quà tặng; cách hỗ tương, người nào biết nhận quà tặng với ý thức rằng bản thân mình cũng làm việc thiện khi chấp nhận quà tặng, thì, về phần mình, phục vụ cho sự nghiệp cao cả nhất của phẩm giá con người, và do đó đóng góp vào việc hiệp nhất con người cách sâu xa hơn” (Dives in misericordia, số 14).

2. Một đức ái sáng suốt

Tuy nhiên, lòng nhân từ, sự tử tế đối với người ăn xin không được chìm đắm trong sự mù quáng. Chắc chắn cần phải dè chừng “những lý do tốt lành” sai lạc của chúng ta về việc không cho mà rốt cục đi đến chỗ lên án người nghèo khổ. Truyền thống tông đồ đã soạn thảo các tiêu chí trong việc phân cấp trợ giúp cho người nghèo. Bởi vì là vô hạn, nên bác ái có nguy cơ đưa đến việc khai thác những tâm hồn quảng đại. Bác ái do đó phải sáng suốt. Về vấn đề này, France Quéré đã cho thấy trong Didachè, một cuốn giáo lý luân lý cổ xưa, một giáo huấn mà các Giáo Phụ sẽ không ngừng lặp lại: “Có óc thực tế, tập sách Didachè đề phòng những lạm dụng có thể xảy ra, bằng cách xác định những giới hạn cho bác ái…Để sống yêu thương, nó không được nhượng bộ cho sự mù quáng. Đó sẽ là tự buộc mình phải bị sụp đổ, do những chi tiêu thái quá đối với những kẻ thiếu tế nhị và như thế chỉ phục vụ cho cái xấu. Cần phải đọc tập khảo luận luân lý thực hành thú vị này. Tác giả của nó bảo vệ những người cho mà thu nhập của họ nói chung là khiêm tốn, nhưng lại có ưu tư đối với phẩm giá của những người hưởng nhận: cảnh khổ cực thoáng qua của họ không miễn cho họ các bổn phận đối với cộng đồng mà họ không ngừng thuộc về. Do đó, sách Didachè dạy phân biệt người túng thiếu thực sự và kẻ bịp bợm:  nó giữ cân xứng sự trợ giúp cho công việc mà vị khách chấp nhận làm, khi anh ta có sức khỏe tốt. Sau cùng, nó đề phòng các cộng đoàn Kitô hữu chống lại việc lưu trú dài ngày: “Nếu anh ta cố chấp làm biếng, thì đó là một kẻ bịp bợm của Chúa Kitô. Hãy đuổi những người như thế”. Nhưng cuốn sách cũng khuyên tiếp đón mọi người xa lạ, ít ra thời gian của một chặng đường[5]”.

XII. 1. Bất cứ ai « đến » với bạn « nhân danh Chúa » đều phải được lãnh nhận (Mt 21, 9 ; Tv 117, 26) ; nhưng tiếp đến, sau khi đã thử người ấy, bạn sẽ biết phân định phải với trái : bạn có phán đoán của bạn. 2. Nếu người đến với bạn chỉ là qua đường, thì hãy giúp anh ta như bạn có thể. Nhưng anh ta chỉ ở lại nhà bạn hai hay ba ngày, nếu cần thiết. 3. Nếu anh ta muốn ở luôn nơi nhà bạn và anh ta là thợ, thì anh ta phải làm việc và tự nuôi sống. 4. Nhưng nếu anh ta không có nghề nghiệp, thì sự khôn ngoan của bạn phải bù vào đó, để một Kitô hữu không được sống nhàn cư nơi nhà bạn. 5. Nếu anh ta không muốn hành động như thế, thì đó là một kẻ bất chính của Chúa Kitô ; bạn hãy giữ mình khỏi những hạng người đó » ( « La Didachè », in Les Pères Apostoliques, Coll. Foi Vivante, Cerf, Paris, 1990, p. 60.)

Người xin, dù đó là ai, phải luôn được tôn trọng. « Bởi vì mọi người đều là hình ảnh hữu hình của Thiên Chúa vô hình và là người em của Chúa Kitô, nên người Kitô hữu nhận thấy nơi mỗi người chính Thiên Chúa với đòi hỏi tuyệt đối của Ngài về công bằng và tình yêu » (Justitia in Mundo, số 49).

3. Một đức ái sáng tạo

Sắc lệnh về Tông đồ Giáo Dân dành một đoạn cho hoạt động bác ái : « Ngày nay, hoạt động bác ái có thể và phải nhắm tới tất cả mọi người và mọi nhu cầu. Ở đâu có người thiếu ăn, thiếu uống, thiếu mặc, thiếu nhà ở, thiếu thuốc men, thiếu việc làm, thiếu giáo dục, thiếu những phương tiện cần thiết để sống xứng danh con người, ở đâu có người bị đau khổ vì nghịch cảnh, ốm yếu, chịu cảnh lưu đày, tù ngục, thì ở đó bác ái Kitô giáo phải tìm gặp, ân cần săn sóc, ủi an và xoa dịu họ bằng những trợ giúp thích đáng. Thi hành bổn phận này trước hết là bổn phận của những người giàu và các dân tộc giàu » (số 8). Như thế, các giáo dân có trách nhiệm hàng đầu trong việc thực thi và biểu lộ bác ái : tìm kiếm và khám phá những ai đang sống trong sự khốn quẫn, an ủi họ, nâng đỡ họ. « Từ đó, bác ái sẽ có ý nghĩa xã hội là trao lại cho họ những người đối thoại[6] ».

Trong bối cảnh hiện nay,  vấn đề đối với các tổ chức Giáo Hội là biết làm thế nào chúng có thể còn làm chiếu sáng bác ái Kitô giáo. Những khai triển trên đây cho phép chỉ ra một vài đường hướng cho việc suy tư rộng rãi hơn.

a. Các tổ chức bác ái tôn giáo theo cách của mình phải biểu lộ sự biện chứng giữa công bằng và bác ái. Sứ mạng của chúng không thể khép mình vào việc phân phối các trợ giúp đủ loại khác nhau. Chúng phải làm cho bác ái lên tiếng nhưng cũng nhắc nhở những đòi hỏi công bằng. Vì các hoàn cảnh mà chúng gặp cũng là những hậu quả của một số bất công. Điều này cũng cho chúng một trách nhiệm đối với các cấp chính trị và kinh tế để nói lên những gì thuộc về công bằng.

Do đó, chúng cũng phải đóng góp vào việc tố giác và làm cho luật pháp tiến triển khi luật pháp này tỏ ra bất công hay bất lực. Trong trường hợp trái lại, đó sẽ là biến bác ái thành một phạm trù phụ so với công bằng. Thế nhưng, đối với chúng, trước hết vấn đề là diễn tả xuyên qua các hành động của chúng rằng tình yêu thương xót là nguồn mạch sâu xa nhất của công bằng.

b. Các tổ chức bác ái có một vai trò đặc thù phải thực hiện, một vai trò không được lẫn lộn với vai trò của các cấp kinh tế và xã hội. Trước hết, chúng không tồn tại để sửa chữa những rối loạn chức năng của kinh tế hay của chính trị. Nhưng xuyên qua các hành động của mình, chúng phải biểu lộ ý nghĩa của con người, « trả lại con người cho chính nó » theo kiểu nói của Đức Gioan-Phaolô II. Bởi thế, các tổ chức bác ái của Giáo hội được mời gọi cập nhật những hình thức nghèo khổ và sáng tạo nên những hình thức hiện diện và gần gũi mới mẻ nhằm khôi phục lại một tương quan nhân bản với những ai cách này hay cách khác đang sống trong sự túng thiếu. Vì thế, đức ái phải sáng tạo và làm nổi lên những hình thức can thiệp mới mẻ mỗi khi « Thiên Chúa bị đe dọa nơi con người và con người như là hình ảnh của Thiên Chúa bị đe dọa [7]».

c. Một đe dọa đè nặng trên mọi tổ chức : các việc thực hành trở thành lề thói. Các tổ chức bác ái phải canh chừng đừng để chìm đắm trong các thực hành hành chính, đừng nhượng bộ cho một lo-gíc cửa giao dịch hay một lo-gíc hiệu năng trong việc xem xét và cư xử các hoàn cảnh. Điều đó có nguy cơ làm biến mất chứng tá về « tình yêu thương xót ».

d. Các tổ chức bác ái cũng phải biết diễn tả sự biết ơn của chúng đối với các ân nhân giúp họ hành động và đối với các thụ nhân chấp nhận sự trợ giúp của chúng. Chính với điều kiện này mà các ân nhân sẽ có thể nhận ra ân huệ mà họ được đổ đầy khi đáp lại những lời cầu xin và các thụ nhân cũng sẽ có thể được mời gọi sống quảng đại đối với những người còn nghèo khổ hơn họ. Chính ở đó mà « không gian nên thánh » được mở ra cho họ và cho hết mọi người.

Tác giả: Dominique Greiner

(Tý Linh chuyển ngữ)

 ————————————————-

[1]C. Chalier, « Equité et bonté », art. cit., p. 35.

[2] Về vấn đề này, Catherine Chalier nói đến “cái bẫy ngộ đạo thuyết » trong đó các Kitô hữu đôi khi vấp ngã : một bác ái quá nhanh chóng rời bỏ công bằng : « Bác ái đích thực, bác ái mà không bao giờ quên sự cần thiết của công bằng, thật khó nghĩ và khó sống, biết bao nhiêu lần, viện cớ đến một lòng nhân từ được coi như là được cưu mang bởi lý tưởng imitatio Dei (bắt chước Thiên Chúa), con người có nguy cơ đầu hàng trước cám dỗ của một bác ái bất công, chẳng hạn nó cho kẻ tội phạm cư trú mà không đòi hỏi nó phải trả lẽ cho luật pháp của một nước » (Catherine Chalier, « Equité et bonté », Autrement, série Morale n° 11, avril 1993, p. 29).

[3]Denis Müller, « Estime et respect de soi, justice, reconnaissance » in Les passions de l’agir juste, EditionsUniversitaires, Fribourg, Cerf, Paris, 2000, p.112

[4]J.-F. Collange, « Foi, espérance, amour et éthique », art. cit., p. 43.

[5]France Quéré, « Un mot qui prend feu », Autrement, série Morale n° 11, avril 1993, pp. 43-44.

[6] Ibid., tr. 26.

[7]Règle de vie de la Congrégation des Augustins de l’Assomption, Rome, 1984, Chapitre 1, n° 4.

Tác giả bài viết: (Tý Linh chuyển ngữ)

Read More
11Tháng Năm
2023

Người Kitô hữu trước vấn nạn tham gia mạng xã hội

11/05/2023
Anmai
Giáo dục, Tài liệu giáo dục
0

Người Kitô hữu trước vấn nạn tham gia mạng xã hội

 

NGƯỜI KITÔ HỮU TRƯỚC VẤN NẠN THAM GIA MẠNG XÃ HỘI

Aug. Trần Cao Khải

Trong bài giảng tĩnh tâm Mùa Chay 2023 cho giới trẻ tại giáo xứ Đa Minh (Ba Chuông Saigon) với chủ đề “Những nấm mồ trên mạng xã hội”, Đức Giám mục Phêrô Nguyễn Văn Khảm, giám mục Mỹ Tho, khi nói về những tác động và ảnh hưởng mạnh mẽ của mạng xã hội, đã dùng hai hình ảnh nổi bật trong Kinh Thánh, đó là dụ ngôn Người Samari nhân hậu (Lc 10,29-37) và câu chuyện Chúa Giêsu đứng trước mộ Lazaro (Ga 11,1-45) để dẫn giải rằng mặc dù mạng xã hội có nhiều điểm tích cực nhất định nào đó, nhưng bên cạnh cũng đầy dẫy những ảnh hưởng tiêu cực đáng lưu ý, nhất là đối với giới trẻ Công giáo chúng ta ngày nay. Trong phần kết luận, Đức Giám mục Mỹ Tho đã nói:

“Lắng nghe tiếng gọi, ‘Hãy ra khỏi mồ’. Nói đến những nấm mồ trên mạng xã hội làm cho chúng ta dễ có cảm giác Giáo Hội không có thiện cảm với mạng xã hội, và khuyến khích chúng ta tẩy chay mạng xã hội. Không! Không phải thế. Giáo Hội không tẩy chay mạng xã hội vì mạng xã hội có thể mang lại rất nhiều lợi ích và làm cho đời sống chúng ta phong phú hơn. Hơn nữa đây còn là sứ mạng của Giáo Hội: loan báo Tin Mừng bằng các phương tiện truyền thông, hiện diện ở nơi con người đang hiện diện: “Người trẻ – cũng như các thế hệ lớn hơn – xin Giáo Hội gặp gỡ họ nơi họ đang hiện diện, gồm cả mạng xã hội”. Vấn đề là hiện diện như thế nào? Chúa muốn chúng ta hiện diện như thế nào trên mạng xã hội?

“Suy nghĩ về mạng xã hội trong ánh sáng Tin Mừng hôm nay, chúng ta hãy hình dung Chúa Giêsu đang đứng trước cánh cửa tâm hồn mỗi người giống như Ngài đứng trước mồ của Lazaro, và Ngài cũng kêu lên “Hãy ra khỏi mồ”. Hãy ra khỏi nấm mồ của thế giới ảo; hãy ra khỏi nấm mồ của gian dối; hãy ra khỏi nấm mồ của hận thù và chia rẽ! Hãy bước vào mạng xã hội trong tư cách môn đệ của Chúa, nghĩa là trở thành người loan báo sự thật và gieo rắc tình yêu trong thế giới mạng xã hội.”[1]

Như vậy, người Ki-tô hữu chúng ta hãy mạnh dạn ra khỏi nấm mồ của thế giới tiêu cực của mạng xã hội, thế giới tràn ngập những gian dối, lọc lừa, phản bội, chia rẽ, hận thù, để can đảm bước vào mạng xã hội tích cực trong tư cách là môn đệ Chúa Ki-tô. Chúng ta sẽ biến thế giới ảo thành thế giới của sự thật, biến thế giới đố kỵ ghen ghét thành thế giới của tình thương và sự tha thứ. Với căn tính Ki-tô hữu của mình, nhờ Chúa Thánh Thần hướng dẫn, nhờ ơn khôn ngoan và khả năng phân định, chúng ta sẽ sử dụng mạng xã hội cách sáng suốt, tự tin, đúng với những giáo huấn và đường hướng mà Hội thánh đề ra.

Cách đây gần một năm, ngày 25-5-2022, trả lời phỏng vấn của Truyền Thông Gx Ba Chuông Saigon nhân Ngày Thế Giới Truyền Thông lần thứ 56 với chủ đề “Hãy lắng nghe bằng con tim”, Đức cha Phê-rô Nguyễn Văn Khảm, giám mục Mỹ Tho cũng đã nói như sau:

“…Trong thời kỹ thuật số ngày nay, mỗi chúng ta đều là chủ thể truyền thông, hoặc bằng cách đưa bài viết, tin tức, hình ảnh lên mạng; hoặc bằng cách phản hồi qua việc comment, like, share… Ở cả hai tư cách (người đưa tin và người nhận tin) chúng ta đều cần ý thức trách nhiệm của mình là người môn đệ Chúa Giêsu và tự hỏi xem: hành động của tôi có làm gia tăng sự hiệp thông và tình yêu thương trong Hội Thánh không, hay là gây chia rẽ và xung đột? Hành động của tôi có phục vụ cho sự thật hay lại cổ võ sự dối trá? Có gieo rắc cái đẹp của Phúc Âm không hay lại phá hủy vẻ đẹp đó?

“Tư cách Công giáo, tư cách môn đệ Chúa Kitô không chỉ thể hiện ở việc đi nhà thờ mà thôi, dù việc đó rất tốt, nhưng còn ở ngay lúc ngồi trước màn hình máy tính, lên mạng, vào mạng xã hội: tôi xem gì, đọc gì, nói gì, phản ứng thế nào… Tất cả đều phản ánh tư cách môn đệ của chúng ta. Nếu mỗi người Công giáo ý thức được điều này thì bằng chính những việc nhỏ bé hằng ngày, chúng ta trở thành những tông đồ trên máy tính, góp phần làm cho men Tin Mừng thấm nhập và lan tỏa nhiều nơi.”[2] 

Như vậy, vấn đề của người Công giáo chúng ta hôm nay tự xét coi mình đã sử dụng mạng xã hội như thế nào cho phù hợp với tư cách của một Ki-tô hữu. Nhất là chúng ta có coi đó như là một phương tiện hữu hiệu, chính đáng để loan báo Tin Mừng Chúa Ki-tô cho hết mọi người xung quanh xa gần.

Chúng ta cũng biết rằng, “…Mạng xã hội trở thành một ‘lục địa mới’, với hơn nửa dân số thế giới tham gia mà đa số là người trẻ, và thời gian họ hoạt động trên đó mỗi ngày một nhiều hơn. Đây đúng là một lục địa bao la đang cần rất nhiều mục tử đến đồng hành và chăm sóc. Thật vậy, nhu cầu đối với Giáo hội hiện nay là làm thế nào để các mạng xã hội mang lại lợi ích từ sự tham gia đầy đủ của những người tin, những người khao khát chia sẻ sứ điệp của Đức Kitô và giá trị của phẩm giá con người vốn được giáo huấn của Đức Kitô khích lệ. Các tín hữu ngày càng nhận thức rằng nếu Tin Mừng không được phổ biến cả trong những môi trường kỹ thuật số, thì có thể sẽ vắng bóng trong kinh nghiệm của nhiều người, những người vốn coi không gian này là điều quan trọng. Môi trường kỹ thuật số không phải là một thế giới song song hay chỉ là một thế giới ảo, nhưng là thành phần của thực tại thường nhật của nhiều người, nhất là của giới trẻ.”[3]

Xin nhắc lại, ngày 13-11-2022, trên trang web của HĐGMVN (WHĐ) có đăng bài viết tựa “Giáo hội và mạng xã hội: ứng dụng mạng xã hội vào sứ mạng loan báo Tin Mừng” của LM George Nwachukwu, theo đó tác giả có nêu ý kiến như sau:

“Là người Công giáo, ơn gọi của mỗi người chúng ta cũng như của Giáo hội là trở thành người đem Tin Mừng của Chúa Giêsu đến cho mọi người. Chúng ta được kêu gọi để trở thành người chia sẻ với người khác những niềm vui và những gọi mời của đức tin. Vì tầm quan trọng của sứ vụ này, nên chúng ta cần sử dụng tất cả những phương tiện tốt nhất hiện có.

“Theo dòng lịch sử, phương tiện mà Giáo hội sử dụng để thi hành sứ mạng loan báo Tin Mừng đã được hỗ trợ bởi các công nghệ theo từng thời kỳ. Đối với Thánh Phaolô Tông đồ, đó là hệ thống đường sá La Mã. Đối với thời kỳ Cải Cách, đó là máy in. Đối với chúng ta ngày nay, đó là sức mạnh của Internet, thứ đang nằm trong tầm tay của gần như tất cả mọi người. Điều này có được là nhờ công nghệ hiện đại và sự ra đời của các mạng xã hội. Trong thời đại này, chúng ta có thể tiếp cận và giảng dạy cho hầu hết mọi người trên thế giới thông qua một thiết bị đơn giản mà chúng ta cầm trên tay. Thiết bị đó có thể là một máy tính xách tay hoặc một chiếc điện thoại di động trong túi chúng ta. Thế giới đã thay đổi và mở ra những cơ hội lớn cho Giáo hội trong thời đại hôm nay.”[4]

Nhân đây, trong khuôn khổ bài viết về đề tài người Công giáo trước vấn nạn tham gia mạng xã hội, chúng ta cùng tìm hiểu mấy vấn đề sau:

– Mạng xã hội là gì?

– Đôi nét về “Hội chứng nghiện mạng xã hội”

– Các mặt tích cực và tiêu cực đáng lưu ý của mạng xã hội

– Ki-tô hữu có nên tham gia mạng xã hội?

I. MẠNG XÃ HỘI LÀ GÌ?

II. ĐÔI NÉT VỀ “HỘI CHỨNG NGHIỆN MẠNG XÃ HỘI”

III. KHÍA CẠNH TÍCH CỰC VÀ TIÊU CỰC CỦA MẠNG XÃ HỘI

1. Những khía cạnh tích cực (hay ưu điểm) của mạng xã hội

1.1. Công nghệ cao, tính năng dễ sử dụng, dịch vụ rẻ tiền, phổ biến

1.2. Công dụng đa dạng

1.3. Môi trường giao tiếp thuận lợi

1.4. Phương tiện giải trí gọn nhẹ, không tốn kém

2. Những khía cạnh tiêu cực (hay khuyết điểm) của mạng xã hội

2.1 Dễ gây nghiện

2.2 Tốn kém thời gian và sức lực

2.3 Nguyên nhân gây một số bệnh

2.4 Ảnh hưởng tiêu cực từ tin giả, người gian, kẻ xấu

IV. KI-TÔ HỮU VÀ VIỆC THAM GIA MẠNG XÃ HỘI

1. Các Đức Giáo hoàng nói gì về truyền thông và mạng xã hội

2. Các Đức Giáo hoàng dùng mạng xã hội

3. Ki-tô hữu cần tham gia mạng xã hội như thế nào?

  1. MẠNG XÃ HỘI LÀ GÌ?

Trước đây, khi chưa biết đến mạng xã hội, bản thân người viết hình dung đó như là một cái gì ghê gớm lắm. Giống như một thứ bệnh “xã hội” lây lan trong cộng đồng khiến nhiều người mắc phải, đau khổ và chìm đắm trong đam mê tội lỗi! Nhưng sau khi đã “kết” mạng xã hội rồi thì mới thấy đây quả là một “lục địa mới” đầy hấp dẫn và tươi đẹp. Chúng ta cũng biết rằng, Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI đã gọi đó là agora (quảng trường hay Sân chư dân) mới, một không gian công cộng rộng mở, nơi con người chia sẻ ý tưởng, thông tin, ý kiến, và là nơi cũng có thể nảy sinh những mối tương quan và những hình thức cộng đoàn mới[5].

Sau đây ta thử tìm hiểu đôi nét về mạng xã hội.

Mạng xã hội trong tiếng Anh là Social network. Theo tổng hợp trên Wikipedia, mạng xã hội với cách gọi đầy đủ là “dịch vụ mạng xã hội” hay “trang mạng xã hội”, là nền tảng trực tuyến nơi mọi người dùng để xây dựng các mối quan hệ với người khác có chung tính cách, nghề nghiệp, công việc, trình độ,… hay có mối quan hệ ngoài đời thực.

Mạng xã hội có nhiều dạng thức và tính năng khác nhau, có thể được trang bị thêm nhiều công cụ mới, và có thể vận hành trên tất cả các nền tảng như máy tính để bàn, máy tính xách tay, máy tính bảng hay điện thoại thông minh.

Mạng xã hội cho phép người dùng chia sẻ câu chuyện, bài viết, ý tưởng cá nhân, đăng ảnh, video, đồng thời thông báo về hoạt động, sự kiện trên mạng hoặc trong thế giới thực. Nếu như trong mô hình mạng xã hội truyền thống, ví dụ như sự kiện hội chợ, đã tồn tại từ lâu trong lịch sử thì mạng xã hội trên web giúp người dùng kết nối với những người sống ở nhiều vùng đất khác nhau, ở thành phố khác hoặc trên toàn thế giới.

Mạng xã hội là kênh kết nối, chia sẻ và tiếp nhận thông tin ngày càng trở nên phổ biến và mở rộng. Những tác động của nó tới đời sống con người cũng ngày càng rõ rệt, được thể hiện trên cả hai phương diện tích cực và tiêu cực[6].

  1. ĐÔI NÉT VỀ “HỘI CHỨNG NGHIỆN MẠNG XÃ HỘI”

Chúng ta biết rằng, “trên thế giới, số lượng người dùng mạng xã hội tính đến tháng 01 năm 2021 đạt hơn 4,2 tỷ người dùng, chiếm khoảng 53% tổng dân số toàn cầu. Con số này sẽ tiếp tục tăng trong tương lai gần. Facebook vẫn là nền tảng mạng xã hội được nhiều người truy cập nhất với hơn 2,7 tỷ người dùng tích cực, tiếp theo là YouTube (2,2 tỷ), WhatsApp (2 tỷ), Facebook Messenger (1,3 tỷ), WeChat (1,2 tỷ), Instagram (1,158 tỷ), TikTok (0,689 tỷ),… Có tới 86% người trẻ từ 18 đến 29 tuổi sử dụng Facebook và là thành phần chiếm đa số người dùng mạng xã hội này. Một người dùng mạng xã hội thường có trung bình 9 tài khoản khác nhau và dành ra trung bình mỗi ngày 2 giờ 24 phút trên mạng xã hội, tăng hơn 1 giờ đồng hồ so với năm 2015.  

“Riêng tại Việt Nam, như cầu sử dụng mạng xã hội xem ra ngày càng gia tăng. Thống kê cho hay, Việt Nam là nước có số lượng người dùng mạng xã hội cao hơn mức trung bình thế giới. Dân số Việt Nam hiện nay là 97.980.706, đứng thứ 15 thế giới, nhưng số lượng người dùng Facebook tại Việt Nam thì vươn lên 8 bậc, đứng thứ 7 thế giới với hơn 69 triệu người, chiếm 70,1% toàn bộ dân số. Đó là chưa kể đến số lượng người dùng các mạng xã hội nổi tiếng khác như Zalo, YouTube, Tiktok,…

“Với số lượng người dùng lớn như vậy, trong các gia đình Việt Nam, từ ông bà, cha mẹ, cho đến trẻ em, hầu hết mọi người đều có tài khoản mạng xã hội để nối kết và đăng tải các sự kiện lớn nhỏ trong đời sống mỗi người. Trong đó, người trẻ hoạt động tích cực nhất. Theo thống kê, đa số người dùng Facebook tại Việt Nam có độ tuổi còn khá trẻ từ 18 – 34 tuổi (chiếm hơn 23 triệu người). Đặc biệt, thời gian người Việt sử dụng mạng xã hội cũng nhiều hơn mức trung bình thế giới. Theo một nghiên cứu của Đoàn Thanh niên Bộ Tư pháp, trung bình một ngày, người Việt Nam bỏ ra khoảng 6 giờ 53 phút để lướt Web nếu dùng máy vi tính cá nhân và Tablet; 2 giờ 33 phút nếu dùng điện thoại di động; và dành 2 giờ 39 phút cho mạng xã hội, nhiều hơn mức trung bình của thế giới 15 phút.”[7]

Như vậy, ta có thể thấy ngay rằng ngày hiện nay mạng xã hội đã trở thành “người bạn đường” rất thân thương của nhiều người, nhất là đối với những người trẻ. Sự thân thiết mạnh mẽ đến nỗi người ta coi đó như một hội chứng cuồng mạng xã hội. Quả thực nhiều người cuồng điên vì lệ thuộc quá nhiều vào mạng xã hội. Ta hãy thử xem một trường hợp điển hình được báo chí kể lại sau: Cô gái tên T. 27 tuổi có thói quen cứ dừng đèn đỏ là lôi điện thoại ra kiểm tra và trả lời tin nhắn trên mạng xã hội. Cô thường tốn thời gian đi đường nhiều gấp đôi người khác. Cô thừa nhận “Quãng đường người khác đi hết 15 phút thì tôi có thể cần tới 30 phút!”. Chiếc smart-phone gần như không rời khỏi tay vì cô luôn có cảm giác “sợ lỡ mất thông tin quan trọng!”.

Trên thực tế, còn cả trăm, nghìn trường hợp khác cho thấy người ta gắn bó với mạng xã hội như thế nào. Ngay cả khi đi khám bệnh, đi làm giấy tờ ở công sở, chờ đợi ở sân bay, trên xe đò, xe buýt, ở quán ăn, quán cà-phê…thậm chí ngay cả đang đi xe máy, xe hơi người ta cũng tranh thủ vào mạng xem có gì mới lạ! Bản thân tôi, người viết, còn chứng kiến nhiều bạn trẻ, khi đi lễ Chúa nhật, không quên cầm theo điện thoại để kết nối… Có người ngồi ngoài sân, ngoài đường vừa “xem/ nghe” lễ vừa kết nối. Có người khi vừa vào trong nhà thờ chưa kịp làm dấu đọc kinh đã rút cái smart-phone ra để “lướt mạng”, nhắn tin…Tất cả điều này cho thấy nhiều người đang bị nghiện mạng xã hội.

Theo các chuyên gia, tại Việt Nam, tình trạng lệ thuộc mạng xã hội được đánh giá là rất phổ biến. Theo báo cáo Digital 2021 của công ty quảng cáo kỹ thuật số We Are Social (Anh), Việt Nam có khoảng 72 triệu người dùng mạng xã hội, tương đương hơn 73% dân số. Nhóm 25-34 tuổi và 18-24 tuổi lần lượt là hai nhóm sử dụng nhiều nhất nên hay xuất hiện tình trạng lệ thuộc nhất. “Chỉ cần ra quán cà phê, ta sẽ thấy các bạn trẻ cắm đầu vào điện thoại cả buổi mà không tương tác trực tiếp với nhau”. Báo cáo Digital 2021 cũng cho thấy mỗi ngày, người Việt dùng Internet trung bình 6 tiếng 47 phút, trong đó 2 tiếng 21 phút dành riêng cho mạng xã hội. Với những người lệ thuộc “chuyên nghiệp” thì thời gian truy cập hàng ngày lên tới 5-6 tiếng. Có người khẳng định, “Trước khi đi ngủ, tôi cũng phải lướt mạng ít nhất một tiếng đồng hồ!”[8]

Khi nói một ai đó lệ thuộc quá nhiều vào mạng xã hội thì có nghĩa là họ đang mắc phải hội chứng nghiện-mạng-xã-hội. Theo các nhà chuyên môn thì hiện tượng này không phải là mới. Chương trình Nghiên cứu Internet và Xã hội (VPIS) thuộc ĐH. KHXH-NV Hà Nội trong báo cáo có tên “Tác động tâm lý của mạng xã hội với tâm lý người dùng” năm 2017 cho hay là có 20% người Việt vào mạng xã hội trên ba tiếng đồng hồ mỗi ngày, có 54% truy cập hơn một tiếng một ngày, có 39 % rất đau buồn nếu mạng xã hội bị đóng cửa, có 37% khẳng định nó là phần quan trọng của cuộc sống và có 35% khó chịu, lạc lõng nếu không được truy cập trong 1-2 ngày… Đặc biệt, khi tiến hành thực nghiệm 72 giờ không mạng xã hội, có hơn 43% người tham gia vi phạm cam kết ngay sau sáu tiếng đầu tiên. Những trạng thái cảm xúc thường thấy là mất kết nối với bạn bè, lạc hậu do không nắm được các thông tin đang diễn ra và bứt rứt, như thiếu thốn một thứ gì đó. Các chuyên gia cho rằng những người nghiện mạng xã hội luôn có những dấu hiệu đặc trưng của tình trạng nghiện như ngày càng gia tăng thời lượng sử dụng, trăn trở và tìm kiếm, khó chịu khi tìm cách giảm sử dụng…do đó đối với một số người từ bỏ mạng xã hội là điều không tưởng. Có người tuyên bố thẳng thừng là không có nó (MXH) thì họ sẽ chết mất!

LM Giuse Vũ Hữu Hiền trong bài “Giáo hội, người trẻ và mạng xã hội” đăng trên trang web của HĐGMVN (WHĐ) ngày 12-12-2021 khi đề cập đến vấn đề nghiện mạng xã hội, đã cho biết như sau:

“Các nhà khoa học đã phát hiện ra rằng: việc lạm dụng mạng xã hội sẽ tạo ra một kiểu kích thích tương tự như những kích thích được tạo ra bởi các hành vi gây nghiện khác. Một nghiên cứu cho thấy: việc nhận được “lượt thích (like)” trên mạng xã hội sẽ kích hoạt các mạch não tương tự như trong não của các thiếu niên được kích hoạt bằng cách ăn sôcôla hoặc trúng thưởng. Khi một thanh thiếu niên đăng nội dung nào đó trực tuyến và nhận được lượt thích (like), chia sẻ (share) và nhận xét tích cực (comment) từ bạn bè của họ, não bộ sẽ tiết ra dopamine – một chất hóa học tạo khoái cảm. Đối với một số người, điều này có thể bắt đầu một chu kỳ gây nghiện khiến họ dành nhiều thời gian hơn trên mạng xã hội.” Về vấn đề liệu có thể cai-nghiện-mạng-xã-hội được không, tác giả bài viết trên cho hay:

“Tình trạng nghiện mạng xã hội ở người trẻ thường là kết quả của các vấn đề tiềm ẩn, chẳng hạn như căng thẳng mãn tính, lo lắng hoặc chấn thương thời thơ ấu. Do đó, việc điều trị bệnh nghiện này tại Học viện Newport luôn bao gồm việc ngưng sử dụng điện thoại và mạng xã hội. Khi cai nghiện như thế, họ sẽ có các triệu chứng giống như khi cai thuốc: lo lắng, tăng nhịp tim, run rẩy… Sau vài ngày, họ được hướng dẫn trở lại với môi trường “sống thực”, hình thành tình bạn trực diện, kết nối lại với thiên nhiên và khám phá các hoạt động ngoại tuyến đầy tính sáng tạo và lành mạnh.”[9]

Các chuyên gia cho biết mặc dù trên thực tế số người tìm đến sự trợ giúp vì mắc chứng lệ thuộc mạng xã hội còn khá ít song điều này không có nghĩa đây không phải là vấn đề cần lưu tâm. So với các chứng nghiện như nghiện rượu hay nghiện mua sắm, chứng lệ thuộc mạng xã hội không bị lên án, khó nhìn thấy ngay hậu quả nhưng vẫn tác động nặng nề tới sinh lý, tâm lý cá nhân và cả xã hội.

Riêng trong phạm vi người Công giáo chúng ta, tôi nghĩ là con số người nghiện mạng xã hội không phải là nhỏ, nhất là bộ phận giới trẻ ngày nay. Phải thừa nhận một điều này là mạng xã hội thực sự đã là một cám dỗ rất mạnh mẽ đối với nhiều người, thuộc nhiều lứa tuổi. Một đứa bé hai, ba tuổi đã biết mở youtube quẹt quẹt bấm bấm để xem các chương trình chúng nó thích. Bên cạnh đó, các cụ ông cụ bà sáu bảy mươi tuổi cũng mò mò để vào các trang mạng xã hội theo dõi tin tức, nghe nhạc, nghe giảng, hay chát chít tám chuyện với bạn bè, với người thân xa, gần. Riêng giới trẻ và trung niên là thành phần chiếm đa số người dùng mạng xã hội thì quá sành sỏi trong các thao tác có trên máy tính cá nhân, máy tính bảng hay trên các smart-phone, để giao lưu trực tuyến, chia sẻ câu chuyện, bài viết, ý tưởng cá nhân, đăng ảnh, gửi video, đồng thời thông báo về hoạt động, sự kiện trên mạng hoặc trong thế giới thực vv.

Hiện nay, mọi người đều thống nhất ý kiến cho rằng mạng xã hội như con dao hai lưỡi, nếu ta khôn ngoan, tỉnh táo thì mạng xã hội là một người bạn tốt, một người thầy giỏi, còn nếu ta u mê, dại dột thì nó trở thành một nhân tố tác hại khôn lường.

Sau đây, chúng ta sẽ tìm hiểu hai mặt tích cực và tiêu cực của mạng xã hội dựa theo nhận định của các chuyên gia và căn cứ kinh nghiệm cá nhân của những người thường xuyên sử dụng mạng xã hội.

III. KHÍA CẠNH TÍCH CỰC VÀ TIÊU CỰC CỦA MẠNG XÃ HỘI

Trên trang elle.vn ngày 30-3-2016 có đăng bài tựa “10 lợi ích khi sử dụng mạng xã hội”, ngay từ đoạn đầu tác giả đã viết như sau:

“Kể từ khi có kết nối mạng trên toàn cầu (internet) và nhất là sau khi điện thoại thông minh hay máy tính bảng được chế tạo, việc sử dụng mạng xã hội (Facebook, Instagram, Viber, Zalo, Skype, Whatsapp, Youtube, Linked, Twitter, vv…) đã không còn xa lạ với hầu hết người dùng, kể cả trẻ em, thanh thiếu niên và người lớn tuổi.

“Mặc dù nhiều người dùng phàn nàn về sự thiếu kiểm soát trong việc sử dụng rộng rãi các mạng xã hội như: có khả năng gây nghiện cao, mất nhiều thời gian, công sức và tiềm ẩn nhiều rủi ro về đời sống cá nhân hay sự cân bằng cảm xúc do quá mải mê hay ganh đua số lượng fan hoặc cạnh tranh, so sánh hay chỉ trích thái quá, nhưng mạng xã hội/ social network vẫn tiếp tục được sử dụng ngày càng rộng rãi là vì những lợi ích tuyệt vời do xu thế này đang mang lại mà chúng ta không thể phủ nhận. Tất cả những gì chúng ta cần làm là có một chiếc điện thoại thông minh hay máy tính bảng, máy tính cá nhân có cài đặt sẵn tính năng sử dụng social network mà chúng ta muốn tham gia, tạo lập một tài khoản hay đăng ký một số điện thoại là ta sẽ có được những lợi ích rõ ràng cho cuộc sống này…”[10]

  1. Những khía cạnh tích cực (hay ưu điểm) của mạng xã hội

Sau đây, chúng ta thử liệt kê ra một số ưu điểm nổi bật của mạng xã hội.

1.1. Công nghệ cao, tính năng dễ sử dụng, dịch vụ rẻ tiền, phổ biến

Như trên đã có dịp đề cập, hiện nay trên thế giới và tại VN, số người dùng mạng xã hội ngày càng tăng. Đó là xu thế tất yếu của thời đại công nghệ 4.0. Trước đây, khi chưa có mạng internet, mạng di động, mạng xã hội thì không ai nghĩ rằng chỉ với một chiếc điện thoại thông minh nhỏ bằng bàn tay là người ta có thể sử dụng cách quá dễ dàng các tính năng sẵn có để kết nối, giao lưu, học hành, liên lạc, chia sẻ hay tiếp nhận thông tin với bất kỳ một ai ở bất kỳ nơi đâu và trong bất cứ thời điểm nào.

Mạng xã hội đang phổ biến hiện nay tại VN là Facebook, Zalo, Youtube, Tiktok…và số người đang sử dụng mạng xã hội ước chừng khoảng trên 73% dân số. Ai cũng biết rằng, việc sở hữu và thực hành mạng xã hội có những ưu điểm rõ rệt, đó là dễ sử dụng, không tốn kém, nhanh gọn và rất phổ biến. Phổ biến là vì bất kỳ ai cũng có thể lập tài khoản mạng xã hội riêng cho mình, đồng thời bất kỳ ai cũng có thể tham gia là thành viên các trang mạng, hay giao lưu kết bạn với bất cứ ai sống trên hành tình này. Một em bé dăm ba tuổi cũng có thể sử dụng thành thạo Youtube, một cụ già, một chị bán rau bán cá ngoài chợ hay một bác lái xe ôm cũng hằng ngày vào mạng Facebook để xem-nghe-nhìn những gì có trên mạng.

1.2. Công dụng đa dạng

Có thể kể mấy công dụng chính của mạng xã hội hiện nay như sau: kết bạn giao lưu, học tập, tiếp nhận và chia sẻ thông tin, kinh doanh mua bán, trau giồi các kỹ năng, giảng dạy, phổ biến kiến thức cá nhân, lập các nhóm cùng chung chí hướng và sở thích vv.

Thực vậy, “Mạng xã hội góp phần tích cực vào sự phát triển nhận thức, tư duy và kỹ năng sống của con người: Mạng xã hội đang ngày càng trở thành nơi cung cấp tin tức, kiến thức về tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Chỉ với một vài thao tác đơn giản, người dùng sẽ luôn nhận được những thông tin cập nhật kịp thời về lĩnh vực, vấn đề mà mình quan tâm theo dõi. Qua đó giúp họ có thể nắm bắt được các xu thế của đời sống phục vụ cho công việc và cuộc sống của mình. Bên cạnh đó, trên mạng xã hội có nhiều trang dạy kỹ năng sống như ngoại ngữ, nấu ăn, sửa chữa, giao tiếp, tâm lý, thể thao… giúp người dùng có những kỹ năng cơ bản cần thiết trong cuộc sống hiện đại mà không cần đến lớp hay đóng học phí.”[11]

1.3. Môi trường giao tiếp thuận lợi

Ngày nay, các chuyên gia đều đề cập đến công dụng kết nối các mối quan hệ của mạng xã hội như là một lợi ích tuyệt vời và hấp dẫn. Họ đã nhận định:

“Đặc điểm nổi bật chính của các mạng xã hội chính là thúc đẩy quá trình tương tác với người thân, bạn bè. Nếu như trước kia chúng ta không có điều kiện, cơ hội gặp gỡ bạn bè, người thân, chúng ta phải liên lạc với họ qua thư từ, điện thoại khiến chúng ta tốn khoản tiền dịch vụ không nhỏ.

“Khi mạng xã hội xuất hiện, chúng giúp chúng ta thoải mái cập nhật trạng thái, liên hệ với người thân, bạn bè ở bất cứ nơi đâu, chỉ cần chúng ta có trong tay chiếc máy tính hay là điện thoại thông minh. Thời đại công nghệ hiện nay, con người chúng ta có thói quen hay chia sẻ bày tỏ những cảm xúc trên mạng xã hội. Bất cứ khi nào chúng ta cũng có thể kịp thời cập nhật ngay những câu chuyện, suy nghĩ của họ mà không cần phải nghe lại lời kể của ai. Những người thân, bạn bè đã một khoảng thời gian dài không gặp cũng có thể chat chit, trò chuyện trực tuyến với họ hàng ngày mà không gây tốn kém tiền bạc, cảm giác thật như vừa mới gặp họ vậy. Vì vậy trò chuyện thông qua các trang mạng xã hội sẽ giúp chúng ta gắn bó, đến gần với nhau hơn.”[12]

1.4. Phương tiện giải trí gọn nhẹ, không tốn kém

Chúng ta đều biết rằng, hầu hết các bạn trẻ nam nữ đều ưa thích các phương tiện giải trí như phim ảnh, ca nhạc, biểu diễn nghệ thuật vv. Ngày trước khi chưa có mạng xã hội thì họ phải đến rạp hay đến các tụ điểm vui chơi giải trí hay ít ra theo dõi các chương trình giải trí trên màn ảnh TV…Nhưng nay khi đã có mạng xã hội, họ có thể xem trực tiếp “live” các chương trình giải trí truyền đi trên Youtube, Facebook mà không tốn kém một đồng nào. Nhiều bạn còn quy tụ nhóm bạn yêu văn nghệ từ khắp nơi cùng hát, cùng chia sẻ niềm vui qua việc cài đặt các ứng dụng thích hợp.

Thực vậy, “Cái gì cũng có trên social-network cả! Nào là nghe nhạc miễn phí, xem phim online, chơi trò chơi điện tử trực tuyến, quá nhiều thứ để giải trí đang luôn sẵn sàng chờ các bạn trẻ đăng ký làm thành viên và tham gia chơi trong mạng lưới rộng thậm chí trên toàn quốc hay toàn thế giới như trò chơi Võ lâm truyền kỳ, trò chơi Angry Brids, hay phim và clip nhạc đều có phụ đề các loại ngôn ngữ khác nhau cho bạn lựa chọn. Chắc chắn trong lịch sử văn minh loài người, chưa bao giờ có cái thời đại nào các bạn trẻ lại được giải trí dễ dàng, thuận tiện và thoải mái như hiện nay.”[13]

  1. Những khía cạnh tiêu cực (hay khuyết điểm) của mạng xã hội

Như trên đã nói, mạng xã hội là con dao hai lưỡi, có mặt tích cực, ưu điểm thì bên cạnh đó cũng có mặt tiêu cực, khuyết điểm. Dựa vào thực tế và kinh nghiệm của người dùng mạng xã hội, ta có thể tạm liệt kê ra mấy điểm sau:

2.1 Dễ gây nghiện

Chúng ta đều biết rằng, mạng xã hội là thứ dễ gây nghiện như nghiện ma túy, nghiện rượu, nghiện thuốc hút, nghiện game…Một khi đã nghiện rồi thì khó bỏ, khó thoát khỏi sự ràng buộc kỳ lạ của nó. Ngay cả những người mang danh là trí thức cũng có thể rơi vào tình trạng nghiện mạng một cách không ngờ. Thậm chí có nhiều bạn trẻ thẳng thắn nói rằng bỏ cái gì thì bỏ chứ không bỏ “mạng”! Tuy nhiên, hiện nay cũng có một số bạn trẻ đi ngược lại cái xu thế nghiện mạng qua hành động tự nguyện nhằm “thanh lọc” bản thân khỏi sự ràng buộc quá đáng của mạng xã hội. Các chuyên gia nhận định là nhiều bạn trẻ Việt Nam trong thời gian gần đây đang dùng các biện pháp khác nhau để giảm thiểu thời gian sử dụng, “thanh lọc” các trang mạng xã hội cá nhân của mình. Lý do là vì  việc sử dụng mạng xã hội nhiều có thể dẫn đến chất lượng giấc ngủ thấp, gây hại cho sức khỏe tâm thần. Vì vậy, gần đây, nhiều bạn trẻ Việt Nam đang lựa chọn xu hướng thanh lọc mạng xã hội để hướng tới một cuộc sống tốt hơn.

2.2 Tốn kém thời gian và sức lực

Theo báo cáo về thị trường số 2022 của We Are Social, số người dùng mạng xã hội tại Việt Nam chiếm hơn 78% dân số. Trung bình mỗi ngày, người Việt dùng mạng xã hội trong thời gian 02 giờ 28 phút, tương đương với mức trung bình của thế giới. Thực tế, thời gian dùng mạng xã hội của nhiều người còn cao hơn nữa. Có thể từ 4-6 giờ mỗi ngày. Có người sáng sớm vừa thức giấc đã lướt mạng và đến tối trước ngủ cũng dành thời gian dài để vào mạng. Điều đó sẽ là nguyên nhân gây tốn phí thời gian và sức lực của nhiều người. Thay vì dành thời gian để học tập, nghiên cứu, đọc sách, đi dạo chơi hay du lịch thì người ta cắm cúi vào chiếc điện thoại thông minh từ sáng đến tối để tự thỏa mãn đam mê! Nhất là việc sử dụng mạng xã hội thường dẫn đến mức độ lo lắng và căng thẳng cao, và điều này sẽ trở thành nguyên nhân gây ra một số bệnh như trầm cảm, mất ngủ, lo âu…

Các nhà nghiên cứu mạng xã hội đã nhận xét, thế hệ trẻ hầu như quá mải mê với mạng xã hội thay vì dành thời gian đó để làm những công việc thực tế hữu ích. Họ lãng phí quá nhiều thời gian trên các nền tảng này đến mức có khi họ phải mua các bài giải đề thi nơi các nhà cung cấp dịch vụ trực tuyến. Họ dành hàng giờ trên mạng xã hội để theo dõi, kiểm tra thông tin cập nhật và phản ứng với các hoạt động của bạn bè.

2.3 Nguyên nhân gây một số bệnh

Như trên đã đề cập, nếu người dùng lạm dụng mạng xã hội thì dễ mắc phải những chứng bệnh về tâm thần và sức khỏe bị sa sút. Chứng bệnh điển hình nhất nơi người dùng mạng xã hội lâu giờ trong ngày, đó là chứng căng thẳng, lo âu, cáu gắt và khó ngủ. Rồi lâu ngày tình trạng trên có thể dẫn đến những sa sút về sức khỏe, đặc biệt là sức khỏe về mặt tâm thần.

Trong bài viết “Giáo hội, người trẻ và mạng xã hội” đã dẫn của tác giả LM Vũ Hữu Hiền có đề cập vấn đề này như sau: “Nhiều cuộc nghiên cứu cho thấy việc sử dụng mạng xã hội có thể làm gia tăng trầm cảm nơi thanh thiếu niên. Ví dụ, một nghiên cứu vào năm 2018 cho thấy: những người từ 14 đến 17 tuổi sử dụng mạng xã hội 07 giờ mỗi ngày có nguy cơ bị trầm cảm, cần được chuyên gia sức khỏe tâm thần chữa trị hoặc cần dùng thuốc điều trị tâm lý. Các cuộc khảo sát bổ sung đối với thanh thiếu niên Hoa Kỳ cho thấy các triệu chứng trầm cảm ở thanh thiếu niên và tỷ lệ tự tử tăng lên trong khoảng thời gian từ năm 2010 đến 2015, những năm mà việc sử dụng điện thoại thông minh và công nghệ tăng theo cấp số nhân.”[14]

2.4 Ảnh hưởng tiêu cực từ tin giả, người gian, kẻ xấu

Có thể nói ảnh hưởng tiêu cực lớn nhất của mạng xã hội hiện nay, đó là nó gây nên rất nhiều đau thương, tan vỡ, tù tội cho cá nhân và gây bất ổn, xáo trộn, ly tán cho xã hội. Tự tử cũng vì mạng xã hội. Đâm chém cũng vì mạng xã hội. Lừa đảo cũng qua mạng xã hội. Ngoại tình, ly hôn cũng do mạng xã hội. Tù tội cũng bởi mạng xã hội. Ăn gian nói dối cũng nhan nhản trên mạng xã hội. Công kích, bôi nhọ, sát phạt nhau cũng dùng mạng xã hội…Chúng ta biết rằng, ngày nay hiện tượng tin giả (Fake news) rất phổ biến trên mạng xã hội. Người ta tung tin giả để lừa gạt, để câu “Like”, câu “View”, để nổi tiếng hay để vu khống nhau vv. Người dùng mạng xã hội nhiều khi không biết đâu là thật đâu là giả, thật thật giả giả lẫn lộn không thể phân biệt nổi. Nhiều người trẻ vì non dạ nên đễ bị lừa, bị gạt, bởi kẻ gian người xấu thì nhan nhản trên mạng xã hội.

Tóm lại, mặt xấu, mặt tiêu cực tác hại của mạng xã hội thì đã rõ nhưng không phải vì thế mà chúng ta loại trừ, tẩy chay, không dùng mạng xã hội. Bởi trên thực tế, nếu chúng ta biết tận dụng ưu điểm và các mặt tích cực của mạng xã hội thì nó sẽ có thể trở nên một nguồn tài nguyên dồi dào phục vụ con người, xã hội và cả Giáo hội nữa. Thực vậy, “Giáo Hội không tẩy chay mạng xã hội vì mạng xã hội có thể mang lại rất nhiều lợi ích và làm cho đời sống chúng ta phong phú hơn. Hơn nữa đây còn là sứ mạng của Giáo Hội: loan báo Tin Mừng bằng các phương tiện truyền thông, hiện diện ở nơi con người đang hiện diện: Người trẻ – cũng như các thế hệ lớn hơn – xin Giáo Hội gặp gỡ họ nơi họ đang hiện diện, gồm cả mạng xã hội.” (ĐGM Nguyễn Văn Khảm, tĩnh tâm Mùa Chay 2023 tại Gx Đa Minh, Ba Chuông SG, bài đã dẫn).

  1. KI-TÔ HỮU VÀ VIỆC THAM GIA MẠNG XÃ HỘI

Như trên đã nói, số người dùng mạng xã hội trên thế giới hiện chiếm tỷ lệ khá cao và càng ngày có chiều hướng gia tăng (thống kê tháng 1.2021, số người sử dụng mạng xã hội trên toàn thế giới đã là 4,2 tỷ người, nghĩa là 53,6% dân số thế giới 7,8 tỷ). Tất nhiên trong số đó bao gồm không ít Ki-tô hữu chúng ta theo xu thế chung cũng say mê và tham gia mạng xã hội. Trong quá trình sử dụng mạng xã hội, có nhiều tín hữu đã nghiêm túc tự đặt câu hỏi cho mình: “Là người Công giáo, tôi có được tham gia mạng xã hội không? Nếu tham gia thì tôi có tội gì không?…”

  1. Các Đức Giáo hoàng nói gì về truyền thông và mạng xã hội

Vào lễ Thánh Phanxicô Salêsiô 24-1-2013, Đức Giáo hoàng Bênêđictô đã gửi sứ điệp nhân Ngày Thế giới Truyền thông xã hội lần thứ 47 với nội dung đề cập đến mạng xã hội. Ngài nói: “Các mạng xã hội kỹ thuật số đang tạo nên một ‘agora’ (quảng trường hay sân chư dân) mới, một không gian công cộng mở, nơi đó con người chia sẻ các ý tưởng, thông tin, ý kiến, tạo ra những mối tương quan và hình thái cộng đồng mới.” Vì là một ‘quảng trường mới’ đã được mở ra cho toàn nhân loại, nên tất nhiên, mạng xã hội cần phải được Giáo hội lưu ý. Do đó, Đức Bênêđictô đã muốn xem xét thật kỹ việc phát triển các mạng xã hội và vai trò của các tín hữu trên mạng xã hội hôm nay.

Đức Giáo hoàng nhận định rằng: “Các mạng xã hội phát sinh từ những khát vọng sâu xa trong lòng người vì chúng mời gọi mọi người tham gia vào việc xây dựng “các mối tương quan và kết bạn, tìm lời giải đáp cho những vấn nạn và tiêu khiển, rèn luyện trí tuệ cũng như chia sẻ kiến thức và các bí quyết. Khi liên kết những người có chung những nhu cầu cơ bản, các mạng xã hội trở thành một yếu tố dệt nên xã hội.”

Đức Giáo hoàng cũng cho rằng: “Các mạng xã hội sẽ góp phần thúc đẩy những hình thức đối thoại và tranh luận, củng cố những mối dây liên kết hiệp thông giữa con người với nhau, xây dựng được tình bạn nhân loại, với điều kiện người ta phải biết sử dụng những phương tiện này trong tinh thần trách nhiệm, tôn trọng sự thật và quan tâm bảo vệ bí mật đời tư; những người đang sử dụng mạng xã hội cần phải cố gắng tỏ ra đáng tin cậy, vì ở đây người ta không chỉ chia sẻ các ý nghĩ và thông tin mà còn thực sự thông truyền chính bản thân mình.”[15]

LM George Nwachukwu trong bài viết tựa “Giáo hội và mạng xã hội: ứng dụng mạng xã hội vào sứ mạng loan báo Tin Mừng” trên trang WHĐ ngày 13-11-2022 đã viết như sau: Ngày nay, các mạng xã hội và các phương tiện đi kèm trong việc truyền tải thông tin đang phát triển nhanh hơn nhiều so với những gì chúng ta có thể nắm bắt. Vào Ngày thế giới truyền thông xã hội lần thứ 36 năm 2002, Đức Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã đặc biệt nhắc đi nhắc lại về internet khi ngài nói: “Giáo hội tiếp cận phương tiện mới mẻ này với thái độ thực tiễn và tin tưởng. Cũng như những phương tiện truyền thông khác, đây là một phương tiện chứ không phải là cùng đích tự thân. Internet có thể ban tặng những cơ hội tuyệt vời để loan báo Tin Mừng nếu nó được sử dụng cách thành thạo và khi ta ý thức rõ đến mặt mạnh và mặt yếu của nó.”

Tác giả bài viết chia sẻ tiếp: Sau khi suy xét việc sử dụng các mạng xã hội, Đức Giáo hoàng Phanxicô đã nói: “Khi sử dụng các công nghệ hiện đại và các mạng xã hội, điều quan trọng là phải biết cách đối thoại và phân định để biểu lộ một sự hiện diện đầy lắng nghe, thân tình và khích lệ. Các con đừng sợ! Hãy để mình hiện diện theo cách này, hãy biểu lộ bản sắc Kitô hữu của mình khi các con trở thành công dân của thế giới kỹ thuật số. Một Giáo hội bước theo con đường này là một Giáo hội học được cách đi cùng với tất cả mọi người.”[16]

Ngoài ra, trong bài phát biểu trước Hội đồng Giáo hoàng về Truyền thông Xã hội vào ngày 27-6-2015, Đức Giáo hoàng Phanxicô cũng đã kêu gọi: “… Nhiệm vụ của các mục tử là giảng dạy và hướng dẫn các tín hữu để họ đạt đến ơn cứu độ và sự hoàn thiện của bản thân, cũng như của toàn thể gia đình nhân loại. Với sự trợ giúp của các phương tiện truyền thông này, nhiệm vụ của các vị mục tử sẽ đạt hiệu quả hơn. Hơn nữa, các tín hữu phải cố gắng làm cho tinh thần Kitô giáo thấm đượm vào những phương tiện truyền thông này, để chúng có thể hoàn toàn đáp ứng những kỳ vọng lớn lao của nhân loại và đúng theo ý định của Thiên Chúa.”[17]

  1. Các Đức Giáo hoàng dùng mạng xã hội

Thật là bất ngờ khi chúng ta biết rằng cả Đức Giáo hoàng Bê-nê-đích-tô XVI và Đức Giáo hoàng Phan-xi-cô đều đã sử dụng mạng Twitter rất sớm và rất hiệu quả. Tác giả Thảo Nguyên, trong bài “Đức Giáo Hoàng và mạng xã hội” đăng trên cgvdt.vn ngày 18-12-2015 đã cho biết như sau[18]:

Kể từ thời Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI, mạng xã hội đã trở thành một phương tiện quen thuộc để Tòa Thánh mở rộng vòng tay với cộng đồng. Các vị đứng đầu Giáo hội Công giáo đã không “làm ngơ” mạng xã hội khi nó ngày càng trở nên quen thuộc với các “công dân mạng”. Tác giả bài báo cho biết tiếp:

Ngày 12.12.2012, Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI đã chính thức gia nhập mạng Twitter với tên truy cập là Benedict XVI, để cập nhật tình trạng cũng như những thông điệp của mình tới giáo dân. Bất cứ ai cũng có thể đăng ký để theo dõi các thông điệp của Đức Giáo hoàng bằng nhiều thứ tiếng thông qua địa chỉ @Pontifex. Từ đó, Tòa Thánh đã trở thành thành viên “tích cực” của truyền thông xã hội. Trong thông điệp đưa ra trong ngày Truyền thông Thế giới 24.1.2013, Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI đánh giá: “Mạng Xã Hội chính là cánh cửa của sự thật và đức tin, không gian mới cho việc chia sẻ Tin Mừng và hy vọng”. Sự kiện Đức Giáo hoàng tham gia Twitter được xem là phương thức để kết nối hiệu quả hơn với giới trẻ. Twitter của ngài lúc đó thu hút khoảng 2,5 triệu người đăng ký theo dõi.

Ngày 17.3.2013, trang này đã hoạt động trở lại với tin nhắn Twitter đầu tiên của Đức Giáo hoàng Phanxicô. Ngài gởi thông điệp ban phép lành đến mọi người: “Các bạn thân mến, tôi chân thành cảm ơn các bạn và xin các bạn tiếp tục cầu nguyện cho tôi. Giáo hoàng Phanxicô”. Tài khoản Twitter của Đức Giáo hoàng @Pontifex hiện có 9 ngôn ngữ, kể cả tiếng Ả Rập. Theo một nghiên cứu năm 2015 từ Twiplomacy, tài khoản Twitter của Đức Giáo hoàng có trên 25 triệu người theo dõi bằng các ngôn ngữ khác nhau, bỏ xa các nhà lãnh đạo thế giới hay những ngôi sao hàng đầu có ảnh hưởng nhất trên mạng xã hội. Tài khoản @Pontifex trong phiên bản tiếng Anh của ngài đạt mức trung bình khoảng 8.200 lượt chia sẻ với mỗi câu tweet của Đức Phan-xi-cô”…

Đặc biệt, tin tức cũng cho hay vào ngày 20-1-2019 trong bài huấn dụ lúc đọc kinh Truyền Tin, Đức Giáo hoàng Phan-xi-cô đã ra mắt một ứng dụng di động và nền tảng trực tuyến mới, để ngài chia sẻ những ý cầu nguyện của mình, đồng thời mọi người trên khắp thế giới có thể dùng nó để chia sẻ ý cầu nguyện của họ. Sau đó, mọi người có thể “click vào để cùng cầu nguyện” với nhau. Linh mục Dòng Tên Federic Fornos, giám đốc quốc tế của Mạng lưới Cầu nguyện Toàn cầu của Đức Giáo hoàng, cho biết: Chỉ trong ba ngày đầu tiên, đã có 167.000 người tải ứng dụng “Nhấp để cầu nguyện”. Và nút “click để cầu nguyện” trên các ý cầu nguyện cá nhân đã được click hơn 1 triệu lần chỉ trong ba ngày – từ ngày 20 đến ngày 22-1-2019. Cộng đồng cầu nguyện trực tuyến trên điện thoại còn tham gia nhiều hơn nữa vào các tài khoản của Đức Giáo hoàng nơi hai mạng xã hội Twitter và Instagram.

Như vậy ta có thể thấy rằng chính các vị chủ chăn đứng đầu Hội thánh cũng tham gia mạng xã hội một cách tích cực và có hiệu quả. Riêng tại VN chúng ta, hiện chưa có thống kê có bao nhiêu Ki-tô hữu sử dụng mạng xã hội, đặc biệt là Facebook, Zalo, Youtube, Twitter… và cũng chưa có một cuộc khảo sát nhằm thăm dò ý kiến của họ thế nào đối với mạng xã hội nói chung và Facebook nói riêng. Chúng ta tin rằng số người Công giáo sử dụng mạng xã hội, đặc biệt Facebook, Zalo và Youtube không phải là ít và trong số họ có người đã có nhận thức tốt, đúng đắn khi sử dụng mạng xã hội.

  1. Ki-tô hữu cần tham gia mạng xã hội như thế nào?

Đức Giáo hoàng Phan-xi-cô luôn cổ võ các tín hữu tham gia mạng xã hội nhưng ngài nhấn mạnh đến cách sử dụng sao cho có ích lợi cho bản thân, gia đình và cộng đồng. Nếu người sử dụng không tuân thủ những nguyên tắc khôn ngoan và cẩn trọng thì họ sẽ gây tai hại rất lớn. Trong sứ điệp mang tên “Chi thể của nhau – Từ các cộng đồng mạng sang cộng đồng nhân loại” nhân ngày Thế giới Truyền thông Xã hội 2019, Đức Phan-xi-cô đã đưa ra lời cảnh báo như sau: “Khi mạng xã hội được sử dụng để làm gia tăng những khác biệt, gây nghi ngờ, truyền bá dối trá và tạo ra những thành kiến, thì việc sử dụng đó sẽ khiến cho mạng xã hội mang những tính chất phản xã hội, phản Ki-tô giáo và tàn phá nhân loại”.

Tuy nhiên xét về mặt đạo đức tích cực của người dùng mạng xã hội, Đức Giáo hoàng Phan-xi-cô cũng nhấn mạnh là “Giáo hội Công giáo và tất cả những người có thiện chí đều vẫn nhìn ra những tiềm năng to lớn của mạng xã hội khi người ta biết sử dụng nó một cách tốt đẹp: Nó sẽ giúp đưa mọi người xích lại gần nhau, chia sẻ cho nhau những thông tin hữu ích và những chương trình đào tạo hữu dụng.”

Tới đây, ta tự hỏi vậy làm thế nào để Ki-tô hữu chúng ta có thể sử dụng mạng xã hội cách tốt đẹp theo như chỉ dạy của các đấng bậc trong Giáo hội, trong khi mạng xã hội thì luôn có khuynh hướng lôi kéo ta vào vòng xoáy của háo danh ham lợi, của đam mê ích kỷ, của sa đọa tội lỗi, của gian dối lọc lừa, của những hành vi đi ngược lại với Lời Chúa và Tin Mừng Ki-tô giáo… Dưới đây ta thử bàn qua về một số thái độ và cách ứng xử cần có của người tín hữu trong việc sử dụng mạng xã hội.

Trước hết, người tín hữu chân chính sẽ phải biết tự chủ khi sử dụng mạng xã hội. Họ tự chủ để làm chủ ảnh hưởng của mạng không cho nó lèo lái mình theo xu hướng độc hại, vô bổ. Nhiều người đã so sánh mạng xã hội như một cái chợ bách hóa, bày bán đủ thứ “thượng vàng hạ cám”. Do vậy, chúng ta phải tỉnh táo, khôn ngoan và biết phân định, điều gì là đúng, là phải, là có lợi, và điều gì là sai trái, giả dối, nguy hại cần xa tránh hay loại bỏ. Một facebooker (người dùng mạng Facebook), chẳng hạn, khi mở trang của mình ra thì hàng loạt các tin, nội dung mới xuất hiện. Với tư cách là người nhận tin, chúng ta sẽ nhanh chóng phân loại, sàng lọc để tiếp nhận thông tin. Trên mạng xã hội, xuất hiện các tin tức, bài tham luận và hình ảnh từ các nguồn thông tin khác nhau, vô cùng đa dạng. Nào là những clip quảng cáo đủ kiểu đủ loại. Nào là những chiêu trò hấp dẫn, độc lạ tìm cách lừa gạt người sử dụng mạng. Nào là những những câu chuyện hay những trạng thái (status/ tus cư dân mạng gọi là “tút”) riêng tư được mọi người tự do chia sẻ trên “tường” của mình mà bất kỳ ai cũng có thể đọc được. Vấn đề của chúng ta là những người sử dụng mạng phải khôn ngoan và thông minh, biết gạn đục khơi trong thì ta sẽ có một kho tàng trong tay…

Riêng trong môi trường tương tác giữa các Ki-tô hữu trên mạng xã hội, trong đó có cả giám mục, linh mục, tu sĩ, chủng sinh và giáo dân, chúng ta có thể tiếp nhận thông tin qua việc xem-nghe-đọc rất nhiều nội dung bổ ích và mới lạ. Ta có thể tiếp cận các bài giảng, bài chia sẻ, bài giảng huấn trên Facebook, trên Youtube. Luôn cập nhật nhanh, kịp thời và đầy đủ. Ta có thể học hỏi giáo lý hay được hướng dẫn tham khảo các văn kiện của Tòa Thánh, của giáo phận trên các trang website Công giáo hay trên các trang mạng xã hội của các Ki-tô hữu. Điều này cho thấy, mạng xã hội sẽ người bạn đường vô cùng hữu ích nếu chúng ta biết đồng hành cách tỉnh thức và khôn ngoan.

Bên cạnh việc tiếp nhận thông tin, người dùng mạng xã hội cũng có thể chia sẻ (share) tất cả những gì mình muốn người khác có được như mình. Do đó, nếu chúng ta gieo vãi (share) những gì không tốt, không thực, không chân chính…thì vô hình trung chúng ta góp phần làm băng hoại môi trường giao tiếp, gây thiệt hại cho chính bản thân mình và làm băng hoại nhiều lớp người trong cộng đồng.

Mạng xã hội có những cách thức hấp dẫn chúng ta chẳng hạn khi ta đăng bài hay đăng hình ảnh hay chia sẻ sự kiện gì đó, nếu phù hợp với xu hướng của cộng đồng mạng thì lập tức ta sẽ nhận được nhiều người vào xem và thích, ta gọi đó là “views”, là “likes”. Và chắc chắn lúc đó tác phẩm của mình như bài viết, dòng trạng thái, hình ảnh, sự kiện…cũng sẽ được nhiều người share trên trang của họ. Để không vướng mắc vào cái bẫy của views và likes mà cư dân mạng gọi là xu hướng câu “views”, câu “likes”, ta phải tỉnh táo để cân nhắc xem nên đăng/ post gì, nên chia sẻ gì, nên phổ biến gì, nhất là ta đừng để bị ru ngủ bởi những lời khen, lời bình luận/ comments có cánh khiến ta rơi vào ảo tưởng cho rằng mình là người nổi tiếng!

Cuối cùng, như trên đã nói, người Ki-tô hữu tham gia mạng xã hội luôn mang một tâm thế tích cực của người yêu mến việc tông đồ, biết sử dụng các kỹ năng đa dạng của truyền thông để loan báo Tin Mừng. Đối với Ki-tô hữu, mạng xã hội, ngoài việc phục vụ giải trí, giao lưu và học hỏi, còn có một vai trò rất lớn đối với họ. Đó là xây dựng mối tương tác tốt đẹp giữa cá nhân và cá nhân loại bỏ những nghi kỵ thù hằn, đó là phát triển môi trường liên kết lành mạnh, đầy yêu thương và bác ái giữa mọi thành phần trong Dân Chúa và trong cộng đồng mạng. Mạng xã hội còn là nơi để chúng ta làm chứng và rao truyền Tin Mừng Tình Yêu của Chúa Ki-tô. Đó là cách thế chúng ta hiện diện trên mạng xã hội để thực thi sứ mệnh tông đồ giáo dân của mình cách tích cực và hiệu quả.

Thực vậy, “Tư cách Công giáo, tư cách môn đệ Chúa Kitô không chỉ thể hiện ở việc đi nhà thờ mà thôi, dù việc đó rất tốt, nhưng còn ở ngay lúc ngồi trước màn hình máy tính, lên mạng, vào mạng xã hội: tôi xem gì, đọc gì, nói gì, phản ứng thế nào… Tất cả đều phản ánh tư cách môn đệ của chúng ta. Nếu mỗi người Công giáo ý thức được điều này thì bằng chính những việc nhỏ bé hằng ngày, chúng ta trở thành những tông đồ trên máy tính, góp phần làm cho men Tin Mừng thấm nhập và lan tỏa nhiều nơi.”[19]

 

[1] https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/nhung-nam-mo-tren-mang-xa-hoi-50529

[2] http://giaophanmytho.net/bai-viet/truyen-thong-daminh-phong-van-duc-cha-phero-nguyen-van-kham-ve-su-diep-ngay-the-gioi-truyen-thong-lan-thu-56-33301.html

[3] https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/dong-hanh-voi-nguoi-tre-trong-doi-song-gia-dinh-truoc-nhung-co-hoi-va-thach-thuc-tu-mang-xa-hoi-44308

[4] https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/giao-hoi-va-mang-xa-hoi-ung-dung-mang-xa-hoi-vao-su-mang-loan-bao-tin-mung-46786

[5] x.Bênêđictô XVI, Sứ điệp nhân Ngày Thế giới Truyền thông Xã hội lần thứ 47 (12/5/2013).

[6] https://luatduonggia.vn/mang-xa-hoi-la-gi-chuc-nang-vai-tro-dac-diem-va-phan-loai-mang-xa-hoi/

[7] https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/dong-hanh-voi-nguoi-tre-trong-doi-song-gia-dinh-truoc-nhung-co-hoi-va-thach-thuc-tu-mang-xa-hoi-44308

[8] https://vnexpress.net/benh-nghien-mang-xa-hoi-cua-nguoi-tre-4376267.html

[9] https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/giao-hoi-nguoi-tre-va-mang-xa-hoi-44224

[10] https://www.elle.vn/bi-quyet-song/10-loi-ich-khi-su-dung-mang-xa-hoi

[11] https://luatduonggia.vn/mang-xa-hoi-la-gi-chuc-nang-vai-tro-dac-diem-va-phan-loai-mang-xa-hoi/

[12] https://www.studocu.com/vn/document/truong-dai-hoc-duy-tan/viet-tieng-viet/nhung-mat-tich-cuc-cua-mang-xa-hoi/42828352

[13] x. https://www.elle.vn , bài đã dẫn.

[14] LM Vũ Hữu Hiền – Giáo hội, người trẻ và mạng xã hội – Bài đã dẫn

[15] LM Vũ Hữu Hiền – Giáo hội, người trẻ và mạng xã hội – Bài đã dẫn

[16] https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/giao-hoi-va-mang-xa-hoi-ung-dung-mang-xa-hoi-vao-su-mang-loan-bao-tin-mung-46786

[17] LM George Nwachukwu – Giáo hội và mạng xã hội: ứng dụng mạng xã hội vào sứ mạng loan báo Tin Mừng – Bài đã dẫn (nguồn hdgmvietnam.com ngày 13-11-2022)

[18] http://www.cgvdt.vn/cong-giao-the-gioi/duc-giao-hoang-va-mang-xa-hoi_a2405

[19] ĐGM Phê-rô Nguyễn Văn Khảm – Trả lời phỏng vấn của ban TT gx Ba Chuông SG ngày 25-5-2022 – Bài đã dẫn

Read More

Điều hướng bài viết

  • Previous page
  • Page 1
  • …
  • Page 26
  • Page 27
  • Page 28
  • …
  • Page 152
  • Next page
Bài viết mới nhất
THƯ GỬI SINH VIÊN, HỌC SINH CÔNG GIÁO NHÂN DỊP MỪNG XUÂN BÍNH NGỌ
11/02/2026
THƯ GỬI SINH VIÊN, HỌC SINH CÔNG GIÁO NHÂN DỊP MỪNG LỄ CHÚA GIÁNG SINH 2025
20/12/2025
THƯ GỬI ANH CHỊ EM GIÁO CHỨC CÔNG GIÁO NHÂN NGÀY NHÀ GIÁO VIỆT NAM 20.11.2025  
17/11/2025
Video nổi bật
https://www.youtube.com/watch?v=Td144YDsaGo
Sự kiện sắp tới

There are no upcoming events at this time.

Ủy ban Giáo dục Công giáo – Trực thuộc Hội Đồng Giám Mục Việt Nam.

Liên hệ

72/12 Trần Quốc Toản, Phường 8, Quận 3, TP.HCM Get Directions

Phone: +84 931 436 131

Email: [email protected]

Ban chuyên môn
  • Ban Tài liệu và Truyền thông
  • Ban Giáo chức
  • Ban Kỹ năng và Giá trị sống
  • Ban Khuyến học
  • Ban Học viện Thần học
  • Ban Hội Học sinh – Sinh viên
Chuyên mục
  • Tin tức
  • Thư chung
  • Giáo dục
  • Phụng vụ
  • Thư viện
Bản quyền © 2020 thuộc về Ủy Ban Giáo Dục HĐGM VN. Design by JT.