Aenean nec eros. Vestibulum ante ipsum primis in faucibus orci luctus et ultrices posuere cubilia curae. Suspendisse sollicitudin velit sed leo.

Chuyên mục
  • Bài giảng
  • Các loại khác
  • Chia sẻ
  • Chưa phân loại
  • GH Hoàn Vũ
  • GH Việt Nam
  • Giáo dục
  • Hạnh các Thánh
  • HĐGM Việt Nam
  • Kinh Thánh
  • Phim giáo dục
  • Phụng vụ
  • Sách
  • Suy niệm Chúa nhật
  • Suy niệm hàng ngày
  • Tài liệu giáo dục
  • Tài liệu phụng vụ
  • Thần học
  • Thánh ca
  • Thánh lễ
  • Thánh lễ trực tuyến
  • Thư chung
  • Thư viện
  • Tin tức
  • Triết học
  • Tư liệu
  • UBGD Công giáo
  • uncategorized
  • Video
From Gallery
Stay Connected
UyBanGiaoDucHDGM.net
  • Trang chủ
  • Thư chung
    • HĐGM Việt Nam
    • UBGD Công giáo
  • Tin tức
    • GH Việt Nam
    • GH Hoàn Vũ
  • Phụng vụ
    • Thánh lễ
    • Thánh lễ trực tuyến
    • Suy niệm hàng ngày
    • Suy niệm Chúa nhật
    • Tài liệu phụng vụ
  • Giáo dục
    • Chia sẻ
    • Tài liệu giáo dục
  • Thư viện
    • Sách
      • Kinh Thánh
      • Triết học
      • Thần học
      • Các loại khác
    • Video
      • Bài giảng
      • Thánh ca
      • Phim giáo dục
      • Hạnh các Thánh
      • Tư liệu
  • Liên hệ
Give Online

Danh mục: Giáo dục

Home / Giáo dục
23Tháng Năm
2023

Chuyện điều răn thứ nhất…

23/05/2023
Anmai
Chia sẻ, Giáo dục
0
Photo: inspiration.org

♦ Giuse Nguyễn Đình Trường – Học Viện Ngôi Lời

“Rồi một người thông luật trong nhóm hỏi Đức Giêsu để thử Người rằng : “Thưa Thầy, trong sách Luật Môsê, điều răn nào là điều răn trọng nhất ?” Đức Giêsu đáp: “Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi. Đó là điều răn quan trọng nhất và điều răn thứ nhất”. (Mt 22, 35 -38)

“Yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi”, phó từ “hết” gợi lên mức độ cao nhất trong hành động, một sự trọn vẹn. Điều đó thực sự là một thách đố thực sự cho người Kitô hữu. Bởi lẽ, lòng yêu mến Thiên Chúa tột độ như vậy đòi hòi nơi chúng ta một đời sống sao cho cân xứng. Dĩ nhiên, chúng ta phải buông bỏ “những ngẫu tượng” mà lâu nay chúng ta vẫn yêu mến, vun vén và gắn bó. Vậy điều răn thứ nhất có chăng là một gánh nặng?

Mang lấy một gánh nặng bên mình?

Văn hào người Nga Leon Tonstoï có một câu chuyện với đại ý như sau: “Một người hành khất nghèo đến trước cửa nhà của một người giàu có để xin bố thí, sau những van xin thì điều ông nhận được không phải là bánh ăn hay những đồng xu mà là một cục đá ném vào con người khốn khổ. Người hành khất lặng lẽ nhặt lấy hòn đá cho vào túi, đi đâu, cũng mang theo hòn đá ấy, mong một ngày tìm lại được người giàu có kia để ném cục đá ấy vào ông nhà giàu”.

Một câu chuyện ngụ ngôn tưởng chừng chẳng trúng trật hay liên hệ gì với “câu chuyện của điều răn thứ nhất” nhưng chúng ta có thể thử làm một phép loại suy như sau: Thiên Chúa trong thế đứng của Ngài có lẽ cũng tựa như một “ông chủ giàu có”, nơi người sung mãn mọi sự, Ngài là Vua cả vũ hoàn, mọi sự trên trời dưới đất đều là của Ngài. Đối lại, trong thân phận của một thụ tạo với những yếu đuối, mỏng giòn, chúng ta chẳng khác nào “người hành khất nghèo” trong “cuộc lữ” với bao khốn khổ tư bề. Chúng ta chạy đến kêu cầu cùng Chúa để mong được những điều tốt đẹp, “những mẩu bánh hay đồng xu”. Thế nhưng, chúng ta lại nhận được một “hòn đá” thật to, thật nặng nề mà chúng ta phải mang theo bên mình kể từ đó: “Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi”. Yêu mến Thiên Chúa mà thôi là chưa đủ nhưng còn phải yêu mến chỉ một mình Người với trọn cả con tim, linh hồn và trí khôn. Đó chẳng khác nào “cục đá” mà ông nhà giàu ném cho người hành khất.

Dĩ nhiên, một lối loại suy như trên thật là quá khập khiễng nhưng thiết nghĩ, nó phần nào diễn tả thái độ mà chúng ta đang tuân giữ điều răn của Thiên Chúa. Điều đó muốn phản ánh một sự thật rằng đôi khi chính chúng ta cũng đang sống giới răn của Thiên Chúa với một tâm thế tiêu cực như vậy. Chúng ta sống vật vờ với những giới răn, cảm thấy thật nặng nề và ngột ngạt. Chúng ta thấy khó chịu trước lệnh truyền của Thiên Chúa nhưng vẫn phải mang theo nó trên suốt hành trình đức tin, trên cuộc lữ hành của mình, để đi tìm Thiên Chúa. Chúng ta đi tìm Ngài mà chẳng biết đi đâu, đến bao giờ hay sẽ mãi chẳng bao giờ gặp được, tựa như ông hành khất mang cục đá bên mình đi tìm người giàu có.

Những người ngoài Kitô giáo vẫn xem những giới răn của Thiên Chúa ban cho con người chẳng khác gì những sự ràng buộc, gò bó, trong khi con người, đang hơn bao giờ hết, tha thiết sự tự do, “sự giải phóng”. Hay nói theo kiểu của triết gia Friedrich Nietzsche, con người cần phải “giết Thượng Đế để con người được làm Chúa”. Và nếu như chính chúng ta, những người Kitô hữu cũng cảm thấy giới răn của Thiên Chúa là “một gánh nặng” cần được phải “quẳng đi”, điều đó thật nguy hại biết bao.

Quả thật, nhìn nhận giới răn thứ nhất tựa như một gánh nặng là một lối nhìn tiêu cực trong cách thức tuân giữ lệnh truyền của Thiên Chúa.Thế  nhưng, trớ trêu thay, điều đó lại đang xảy ra nơi chính thực tế đời sống của chúng ta. Một gánh nặng mà đôi lúc mỗi người đã chẳng dám thừa nhận hay không dám đối diện hoặc thậm chí là cố chịu đựng vậy. Dĩ nhiên, điều đó không làm đẹp lòng Thiên Chúa. Bởi lẽ, những lệnh truyền của Thiên Chúa là Thần Khí và là Sự Sống (x. Ga 6,63), để cho chúng ta, những người tuân giữ, “được sống và sống dồi dào” (x. Ga 10,10), chứ không phải để trở nên “gánh nặng” như vậy.

Vậy đâu là lối nhìn cần có khi giữ giới răn thứ nhất?

“Người thông luật kia đứng lên hỏi Đức Giêsu để thử Người rằng: “Thưa Thầy, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp?” Người đáp: “Trong Luật đã viết gì ? Ông đọc thế nào?” Ông ấy thưa: “Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết sức lực, và hết trí khôn ngươi, và yêu mến người thân cận như chính mình.” Đức Giêsu bảo ông ta: “Ông trả lời đúng lắm. Cứ làm như vậy là sẽ được sống”” (Lc 10, 25-28).

Nhìn dưới một góc nhìn khác, điều răn thứ nhất phải là một lời mời gọi, một phương tiện vươn tới Thiên Chúa thay vì một gánh nặng. Có lẽ “cục đá” mà người hành khất mang theo bên mình lại cách nào đó trở nên một phương thế giúp ông tìm kiếm và kiên trì tìm kiếm ông nhà giàu năm xưa trong suốt hành trình của mình.

Là những người Kitô hữu, hẳn chúng ta đã rõ về đích điểm của hành trình cuộc đời, đó là được hưởng kiến Thiên Chúa, hay nói cách khác là tìm gặp được Ngài. Hành trình ấy thực sự là một cuộc tìm kiếm và vươn lên không ngừng, những sẽ thật đáng lo ngại khi chúng ta thường quên mất điều đó. Bởi lẽ, hành trình bước theo Thiên Chúa vẫn còn lắm những chông gai và đôi lúc, chúng ta bị lạc mất phương hướng. Chúng ta thường chọn yêu mến những “sự dịu êm” của đời này hơn những giới răn tưởng như nặng nề của Thiên Chúa. Thế nên, chính trong bối cảnh như vậy, điều răn thứ nhất mà Đức Giêsu trao ban lại càng trở nên giá trị biết bao, đó là kim chỉ nam cho chúng ta, “cứ làm như vậy là sẽ được sống” (x. Lc 10, 28). Lệnh truyền ấy mời gọi và dẫn lối chúng ta không ngừng kiếm tìm Thiên Chúa với trọn cả con tim, linh hồn và lý trí. Chính giới răn của Thiên Chúa sẽ kéo chúng ta thoát khỏi vũng bùn tội lỗi và nâng chúng ta vươn lên tới Ngài. Nhờ đó, chúng ta vững bước trong đường lối và thánh ý của Ngài. Đó cũng là dấu chỉ biểu lộ lòng yêu mến của chúng ta đối với Thiên Chúa, bởi lẽ, còn yêu mến là còn kiếm tìm.

Dĩ nhiên, chúng ta không thể phủ nhận việc tuân giữ giới luật thứ nhất của Thiên Chúa thực sự là một thách đố, vì lẽ, nó chất vấn cuộc sống của chúng ta mỗi ngày và trong từng khoảnh khắc, “Thiên Chúa đã thực sự là chủ cuộc đời tôi hay chăng?”. Thế nhưng, bên cạnh đó, lệnh truyền mà Đức Giêsu truyền dạy thực sự là phương tiện giúp chúng ta định hướng và kiên vững trong hành trình hướng về Nước Trời. Đó mới là lối nhìn cần có khi tuân giữ giới răn của Thiên Chúa. Và nếu điều đó giúp chúng ta đạt tới cứu cánh đích thực của mình thì đó hẳn là một phương thế tốt đẹp. Vậy phải chăng một phương tiện hỗ trợ tốt đẹp lại có thể là một gánh nặng được?

Tóm lại

Thiết nghĩ, trong tâm tình Mùa Chay, mỗi người được mời gọi trở về với cõi lòng mình để tự vấn với giới răn quan trọng nhất và điều răn thứ nhất: “Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi”. Yêu mến một vị Thiên Chúa đã yêu chúng ta trước bằng “một mối tình muôn thuở” (x. Gr 31, 3), một vị Thiên Chúa đã trao nộp chính Con Một Yêu Dấu của mình vì tất cả chúng ta (Rm 8,31-32). Có lẽ, trước tình yêu của một vị Thiên Chúa như thế, chúng ta đáp trả Ngài bằng tình yêu, đó quả là điều“chính đáng và phải đạo”. Hơn nữa, nhờ yêu mến vị Thiên Chúa ấy hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi, chúng ta, “những kẻ được Thiên Chúa chúc phúc” sẽ được“lãnh nhận phần gia nghiệp là Nước Trời” (x. Mt 25, 34).

 

Read More
21Tháng Năm
2023

Yếu đuối thành sức mạnh

21/05/2023
Anmai
Giáo dục, Tài liệu giáo dục
0

Yếu đuối thành sức mạnh

“Khi tôi yếu chính là lúc tôi mạnh”; “sức mạnh được hoàn hảo trong sự yếu đuối”. Những câu như thế thường được trích làm chìa khóa cho sự trưởng thành tâm linh, nhưng chúng ta có thật sự hiểu những câu đó muốn nói gì không? Có ai hiểu được không?

Có. Nếu chúng ta không thể hiểu gì về điều đó, Thiên Chúa đã không nói về nó cho chúng ta. Thiên Chúa không phí lời. Đó là một mầu nhiệm vĩ đại, nhưng mầu nhiệm không phải là điều chúng ta không thể hiểu, nhưng là điều chúng ta không thể hiểu được bằng lí trí của mình, khi không có sự mặc khải của Thiên Chúa. Đó cũng là điều chúng ta không thể hiểu hết, nhưng là điều chúng ta có thể hiểu được một phần. Hiểu được một phần không hoàn toàn là bóng tối. “Chúng ta nhìn qua một tấm kính, cách lờ mờ”.

Chìa khóa để hiểu mầu nhiệm sức mạnh được hoàn hảo trong sự yếu đuối là thập giá của Chúa Kitô. Không có thập giá, nó không phải là mầu nhiệm nhưng là sự phi lí, là bóng tối.

Nhưng những người không phải Kitô hữu như Lão Tử, nhà thần bí và thi sĩ vĩ đại Trung Hoa, dường như đã hiểu mầu nhiệm sức mạnh được hoàn hảo trong sự yếu đuối khá sâu sắc, ít nhất trong một số khía cạnh của nó, mà không cần biết đến Chúa Kitô hay thập giá.

Có lẽ họ hiểu một mầu nhiệm tương tự và có liên quan nhưng không hoàn toàn giống. Hoặc có lẽ họ hiểu điều đó qua Đức Kitô và thập giá của Người, mặc dù một cách không ý thức và rõ ràng. Làm sao chúng ta biết ranh giới của thập giá kéo dài đến đâu? Vòng tay của thập giá rất rộng. Đức Kitô là “ánh sáng đến thế gian và chiếu soi mọi người” (Ga 1,9) bằng mặc khải tự nhiên, sự khôn ngoan tự nhiên và luật tự nhiên được lương tâm nhận biết. Khi một vị Lão Tử, hoặc một Socrates, hoặc một Đức Phật thâm hiểu một chân lí vĩnh cửu, các vị ấy làm được vậy là nhờ ánh sáng của Đức Kitô, Ngôi Lời vĩnh cửu, Người là Lời trước khi nhập thể hay là sự mặc khải của Thiên Chúa. Ngài vẫn là đấng (ngôi vị) ấy, nhưng không mang bản tính nhân loại, nhập thể.

Tất cả chân lí là chân lí của Ngài. Nhưng Chúa Giêsu nhập thể là mặc khải dứt khoát của Thiên Chúa, là gương mặt của Thiên Chúa hướng về chúng ta trong sự thân mật tột cùng. Chúng ta biết nhiều về một người thông qua gương mặt của người đó hơn là lưng hoặc bàn chân của họ. Vì vậy, chúng ta hãy nhìn vào mặc khải chung cuộc, dứt khoát và trọn vẹn ấy của Thiên Chúa mà chúng ta hiện có ‒ Đức Kitô và thập giá của Người ‒ để cố gắng làm sáng tỏ nghịch lí về sức mạnh đến từ sự yếu đuối. Câu hỏi của chúng ta là: Làm sao sự yếu đuối lại làm cho chúng ta mạnh mẽ nhờ thập giá? hoặc, làm sao sự yếu đuối của thập giá làm cho chúng ta mạnh mẽ?

Đây là hai câu hỏi, chứ không phải một. Câu thứ nhất có tính lí thuyết và không thể trả lời. Câu thứ hai có tính thực tế và có thể trả lời.

Câu hỏi thứ nhất là: Nó hoạt động như thế nào? Bằng kĩ thuật tâm linh, siêu nhiên nào mà cỗ máy là sự yếu đuối tạo ra sản phẩm là sức mạnh? Thập giá hoạt động như thế nào?

Các nhà thần học đã nghiên cứu về điều đó trong gần hai nghìn năm, và không có sự đồng thuận rõ ràng trong Kitô giới, không có câu trả lời rõ ràng đầy đủ, chỉ có những điều loại suy. Phép loại suy lành mạnh của Thánh Anselmô là sự dữ chiếm hữu chúng ta và Đức Kitô đã trả giá để chuộc chúng ta về. Các Giáo phụ đầu tiên đã đưa ra một phép loại suy như trận chiến vũ trụ: Đức Kitô đã xâm chiếm lãnh thổ bị kẻ thù chiếm đóng – trước hết là mặt đất, sau đó, vào Thứ Bảy Tuần Thánh, đến âm phủ, và đánh bại ma quỷ cùng các thế lực tội lỗi và sự chết của hắn. Khi đó có một Chủ nghĩa thực tiễn Mỹ mang tính đơn sơ thú vị của mục sư thuộc Southern Free Will Baptist cho rằng: “Satan bỏ phiếu chống lại bạn, và Chúa Giêsu bỏ phiếu ủng hộ bạn, còn bạn đưa ra lá phiếu quyết định”. Những ẩn dụ này hữu ích, nhưng chúng chỉ là những biểu tượng, những sự tương tự thôi. Chúng ta hầu như không biết cách thức hoạt động của điện, làm sao chúng ta có thể biết sự cứu chuộc hoạt động như thế nào?

Tuy nhiên, câu hỏi thứ hai có thể trả lời chắc chắn hơn. Đó là câu hỏi thực tế: Tôi phải sống như thế nào; Tôi nên cư xử như thế nào liên quan đến sự yếu đuối? Tôi nên thể hiện thập giá như thế nào trong cuộc sống của tôi? Bởi vì thập giá ở ngay trong cuộc sống của tôi. Nó không phải là một điều kì dị mà là một sự thật phổ quát đã nhập thể, không chỉ là một sự kiện chỉ xảy ra một lần là xong ở bên ngoài tôi trong không gian và thời gian, ở Israel vào năm 29 Công nguyên, cách tôi 8.000 dặm và 2.000 năm, nhưng đó cũng là một sự kiện đang tiếp diễn bên trong tôi, hay đúng hơn tôi ở trong đó.

Có hai sai lầm ngang nhau và trái ngược nhau khi trả lời câu hỏi này: Tôi sẽ thể hiện mầu nhiệm thập giá này như thế nào trong cuộc đời tôi? Đó là chủ nghĩa nhân văn và chủ nghĩa ẩn dật, chủ nghĩa hiếu động và chủ nghĩa thụ động. Chủ nghĩa nhân văn nói rằng tất cả đều là hành động của con người, rằng chúng ta phải tranh đấu và vượt qua sự yếu đuối, thất bại, thua thiệt, bệnh tật, cái chết và đau khổ. Chúng ta phải vượt qua thập giá. Nhưng rốt cuộc chúng ta không bao giờ vượt qua được. Chủ nghĩa nhân văn là Don Quixote phóng ngựa đối đầu với xe tăng.

Chủ nghĩa ẩn dật, hay thuyết định mệnh, quan niệm một cách đơn giản là: Hãy chịu đựng nó, hãy chấp nhận nó. Nói khác đi, đừng là con người. Hãy đi “nhẹ nhàng vào đêm tối tốt lành đó”, đừng “tức giận, nổi xung vì ánh sáng lụi tàn”.

Kitô giáo còn nghịch lí hơn chủ nghĩa nhân văn và thuyết định mệnh ‒ chủ nghĩa nhân văn cứ vậy mà chối bỏ; còn thuyết định mệnh thì cứ vậy mà chấp nhận. Có một nghịch lí kép trong câu trả lời của Kitô giáo về sự nghèo khó, đau khổ và cái chết. Sự nghèo khó phải được chống lại và giảm bớt, nhưng nó là mối phúc. Giúp đỡ người nghèo thoát khỏi sự tàn phá của sự nghèo khó là một trong những nhiệm vụ thiết yếu của Kitô hữu. Nếu chúng ta chối bỏ sự khó nghèo, chúng ta không phải là Kitô hữu, chúng ta không được cứu độ (Mt 25, 41-46). Tuy nhiên, chính những người giàu có mới là những người cần được thương xót và đáng thương, như Mẹ Têrêsa đã nói với Harvard những lời gây sửng sốt: “Đừng gọi đất nước của tôi là một nước nghèo. Ấn Độ không phải là nước nghèo. Mỹ là nước nghèo, một nước nghèo về tinh thần”. Người giàu khó được cứu rỗi (Mt 19,23), trong khi những người có tâm hồn nghèo khó, nghĩa là những người vui lòng nghèo khó, những người không dính bén của cải, thì được chúc phúc (Mt 5,3).

Cũng thấy được thái độ bộ đôi đầy nghịch lí ấy trong Kitô giáo đối với cái chết. Cái chết một mặt là sự dữ lớn lao, là “kẻ thù cuối cùng” (Cr 15,26), là dấu vết và hình phạt của tội lỗi. Đức Kitô đến để đánh bại nó. Tuy nhiên, cái chết cũng là cánh cửa dẫn đến sự sống đời đời, dẫn vào thiên đàng. Đó là cỗ xe ngựa vàng do vị vua vĩ đại gửi đến đón cô dâu Lọ Lem của ngài.

Đau khổ cũng là một nghịch lí. Một mặt nó cần được xoa dịu, mặt khác nó là mối phúc. Các thánh là thánh chủ yếu vì hai lí do: họ có tình yêu anh hùng và lòng trắc ẩn đối với những người thân cận, nghĩa là, họ cống hiến hết mình để xoa dịu những nỗi đau khổ của người khác. Nhưng họ cũng yêu mến Thiên Chúa đến nỗi họ chấp nhận và dâng hiến những đau khổ của riêng mình một cách anh dũng và thậm chí còn lấy làm vui nữa. Họ vừa chiến đấu với đau khổ vừa chấp nhận đau khổ. Họ năng động hơn những người theo chủ nghĩa nhân văn và dễ chấp nhận hơn những người theo chủ nghĩa ẩn dật. Cả ba ‒ nghèo khó, cái chết và đau khổ ‒ đều là những hình thức của sự yếu đuối. Vấn đề yếu đuối là vấn đề chung và phổ quát hơn. Chẳng hạn, sự đau khổ tự nó không phải là không chịu đựng được như sự yếu đuối, vì chúng ta sẵn sàng chịu lấy những đau đớn như việc sinh con chỉ với điều kiện chúng được chọn lựa cách tự do, trong khả năng của chúng ta ‒ nhưng ngay cả những nỗi đau và bất tiện nhỏ, như trễ chuyến bay hay bị dầm đâm ngón tay, cũng khiến chúng ta cảm thấy quá sức chịu đựng nếu chúng được áp đặt lên chúng ta ngược lại ý muốn của chúng ta. Chúng ta thà chạy một dặm cách tự do còn hơn bị buộc phải chạy một dãy nhà. Kierkegaard nói: “Nếu tôi có một người đầy tớ khiêm tốn, khi tôi xin anh ta một li nước, thay vào đó, anh mang đến những loại rượu đắt tiền trên thế giới được rót vào một cái li đúng kiểu, tôi sẽ sa thải anh ta, để dạy anh rằng niềm vui thực ở chỗ làm theo cách của riêng tôi”.

Alfred Adler là môn đệ lập dị của Freud đã rời bỏ thầy của mình vì vấn đề trung tâm này: đâu là mong muốn cơ bản nhất của con người; Adler đã khám phá ra đó không phải là thú vui, như Freud nghĩ, mà là sức mạnh.

Ngay cả Thánh Tôma Aquinô cũng ngầm đồng ý, vì khi ngài xem lại và loại bỏ tất cả những ứng viên không thích hợp và có vẻ thần tượng cho vị trí hạnh phúc tối cao của con người, tất cả những thứ chúng ta theo đuổi thay vì Thiên Chúa, ngài nhận xét rằng chúng ta bị quyền lực thu hút bởi vì nó có vẻ thần thánh nhất. (Tuy nhiên, điều này dễ gây lầm lẫn vì quyền năng của Chúa là sự tốt lành của Ngài). Quyền lực là câu trả lời của Thánh Augustinô về lí do ngài đi ăn trộm những quả lê cứng, không ăn được và không bán được khi còn là một cậu bé. Cái ngài muốn không phải là niềm vui hay tiền bạc mà là quyền lực, quyền lực để không bị đặt dưới luật “ngươi không được trộm cắp”, quyền lực để bất tuân luật pháp và dường như thoát khỏi nó. Chúng ta khổ sở dưới sự ràng buộc.

À, nhưng bản chất của chúng ta là sự ràng buộc. Nói cho cùng, chúng ta chỉ là những thọ tạo, không phải là người sáng tạo; hoàn toàn hữu hạn, không vô hạn; phải chết, không bất tử; ngu dốt, không biết tất cả. Tất cả những điều này là các hình thức của sự yếu đuối, chúng không phải là những điểm yếu ngẫu nhiên và có thể tránh được mà là những điểm yếu bẩm sinh và cần thiết cho chính con người chúng ta với tư cách là những thụ tạo. Khi bực bội với những hạn chế của sự yếu đuối, chúng ta bực bội với chính con người mình.

Thậm chí trước khi chúng ta bắt đầu cố gắng thoát khỏi vấn đề của chúng ta về sức mạnh từ sự yếu đuối, trước tiên chúng ta phải nhìn vào trong đó cách sâu hơn và rõ ràng hơn. Có ba nhược điểm liên quan nhưng khác biệt cần xem xét.

Trước tiên, có sự yếu đuối do đứng thứ hai, đóng vai phụ, đáp ứng thay vì khởi xướng, theo sau thay vì dẫn đầu, vâng lời thay vì ra lệnh. Chúng ta có bực tức chống lại điều này thì quả là chuyện hoàn toàn ngu xuẩn, vì chính Thiên Chúa cũng có sự yếu đuối này! Từ muôn đời Chúa Con vâng phục Chúa Cha. Điều gì Ngài làm trên trần gian, Ngài đã làm trong cõi vĩnh hằng. George MacDonald đã trình bày như sau: “Ngài đã làm, trong thời tiết gay gắt ở những vùng xa xôi, điều Ngài đã làm từ đời đời nơi quê nhà trong vinh quang”. Chưa có ai từng vâng phục hơn Đức Kitô.

Do đó, vâng lời không phải là dấu hiệu của sự thấp kém. Đáp ứng, hát bè, đóng vai phụ, không hạ thấp phẩm giá, vì Đức Kitô, Thiên Chúa bởi Thiên Chúa, là Đấng vâng lời hoàn hảo. Trong đó, chúng ta có một trong những cuộc cách mạng đáng kinh ngạc và triệt để nhất mà thế giới đã từng được nghe, và vẫn chưa hiểu. Phụ nữ vẫn phẫn nộ vì là phụ nữ, nghĩa là, về mặt sinh học phải tiếp nhận sự thụ tinh của nam giới, cần sự bảo vệ và lãnh đạo của nam giới, bởi họ nghĩ điều này khiến họ thấp kém hơn. Trẻ con khó chịu phải vâng lời cha mẹ, và công dân khó chịu phải phục tùng chính quyền dân sự, vì cùng một lí do: họ nghĩ rằng sự vâng lời đánh dấu sự kém cỏi của họ. Không phải vậy.

Đức Kitô trước đến giờ ngang hàng với Chúa Cha trong mọi sự; nhưng Đức Kitô đã vâng lời và thậm chí bây giờ vẫn đang vâng lời Chúa Cha. Có vai trò khác nhau không có nghĩa là khác nhau về giá trị. “Sự yếu đuối” của sự vâng phục không đến từ sự thấp kém mà đến từ sự bình đẳng về giá trị.

Con cái cũng phải vâng lời cha mẹ. Tuy nhiên, con cái không thua kém cha mẹ về đạo đức hay tâm linh. Mệnh lệnh phải vâng lời không hạ thấp phẩm giá nhưng giải phóng ‒ nếu chúng ta đang nói về sự vâng phục “trong Đức Kitô”. Trên thế giới, quyền lực thống trị, và kẻ mạnh đặt mình lên trên kẻ yếu. Ở đó, vâng phục thực sự là dấu hiệu thấp kém về quyền lực. Nhưng không phải trong Hội Thánh. Ở đây, mọi thứ khác hẳn: “Anh em biết: thủ lãnh các dân thì dùng uy mà thống trị dân, những người làm lớn thì lấy quyền mà cai quản dân. Giữa anh em thì không được như vậy: Ai muốn làm lớn giữa anh em, thì phải làm người phục vụ anh em. Và ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đầy tớ anh em. Cũng như Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người” (Mt 20, 25-28).

Chúa Giêsu ngang hàng với Chúa Cha, nhưng Ngài vâng phục. Nếu sự kiện đơn giản nhưng có tính cách mạng đó được hiểu và đánh giá đúng, chúng ta sẽ có một thế giới mới ‒ không phải thế giới nô lệ và áp bức cổ xưa, cũng không phải thế giới Phương Tây hiện đại bị mất gốc và rối loạn, cào bằng trái tự nhiên và đầy cạnh tranh vì oán hận. Thay vào đó, chúng ta sẽ có tình thương.

Tình thương làm nên sức mạnh. “Sự yếu đuối” của Đức Kitô trong sự vâng phục Chúa Cha đã làm cho Người mạnh mẽ vì đó là sự vâng phục vì thương. Nếu Đức Kitô đã không vâng theo ý muốn của Đức Chúa Cha, khi Satan cám dỗ Người trong hoang địa, Ngài sẽ mất sức mạnh, như Samson, và yếu ớt chịu thua kẻ thù của mình. Sự vâng phục là một dấu hiệu của thiên tính nơi Người. Chúng ta cũng vậy: nếu chúng ta hoàn toàn vâng phục Chúa Cha, chúng ta được biến đổi thành những người dự phần vào bản tính Thiên Chúa. Bởi vì sự hối cải, đức tin và phép rửa tội, ba công cụ giúp cho sự biến đổi đó, đều là những hình thức vâng phục. Chúng ta được truyền phải hối cải, tin tưởng và chịu phép rửa.

Hình thức thứ hai của “sự yếu đuối” chỉ dành riêng cho chúng ta, không phải cho Đức Kitô, nhưng hình thức thứ hai này cũng không phải để gây khó chịu. Đó là sự hữu hạn của chúng ta, là thuộc tính thọ tạo của chúng ta. Chúng ta được tạo dựng. Do đó, chúng ta phụ thuộc vào Thiên Chúa về mọi thứ, về chính sự tồn tại của chúng ta và tất cả những gì phát sinh từ đó. Không có gì chúng ta có là của riêng chúng ta bởi vì chính con người chúng ta không phải là của chúng ta. Thiên Chúa sở hữu chúng ta. (Vì vậy, tự tử là hành vi trộm cắp). Chúng ta không có quyền vượt lên trên Thiên Chúa. Không có tạo vật nào, kể cả tổng lãnh thiên thần vĩ đại nhất, vượt trên Thiên Chúa.

Không có thụ tạo nào là toàn năng, cũng không có thụ tạo nào hoàn toàn bất lực. Ngay cả một thiên thần cũng không thể tạo ra vũ trụ hay cứu rỗi một linh hồn, và ngay cả một hạt cát cũng có thể thể hiện Thiên Chúa, có thể chọc tức một ngón chân và một bộ não, và có thể quyết định một trận đánh và một cuộc chiến.

Ngay cả trong cõi vĩnh hằng không một thọ tạo nào có thể làm cạn kiệt và khám phá hết tình thương của Ngài. Thiên Chúa sẽ luôn luôn hơn nữa. Chúng ta sẽ không bao giờ mất đi niềm vui vô song do sự khiêm tốn, và do sự tôn sùng. Thật ngớ ngẩn làm sao khi lấy làm bực bội vì “sự yếu đuối” đó.

Và thật ngớ ngẩn khi oán trách cách Thiên Chúa và thiên nhiên bù đắp cho sự yếu đuối đó, bằng sự phụ thuộc lẫn nhau, liên đới, hợp tác, vị tha. Chúng ta mang gánh nặng cho nhau, như vậy là chu toàn luật Đức Kitô (Gl 6,2). Tôi nghĩ cụm từ “luật của Đức Kitô” có nghĩa lớn hơn tuân theo các lệnh truyền của Đức Kitô; tôi nghĩ nó có nghĩa là sống sự sống của Đức Kitô. Tôi nghĩ luật của Chúa Kitô giống như luật trọng lực hơn là luật của vùng đất này. Những quả táo rơi hoàn thành luật trọng lực, còn việc mang gánh nặng cho nhau hoàn thành luật của Đức Kitô.

Hôn nhân là ví dụ hàng đầu của việc mang gánh nặng cho nhau. Đàn ông cần đàn bà, như Thiên Chúa đã tuyên bố lúc tạo dựng: “Đàn ông ở một mình thì không tốt” (St 2,18). Còn đàn bà cần đàn ông. Ngày nay, cả đàn ông lẫn đàn bà thường hay oán ghét nhu cầu đó. Đó là sự nổi loạn chống lại luật của Đức Kitô, được ghi trong luật tự nhiên của con người. Chính hình ảnh của Thiên Chúa được minh định trong sách Sáng thế 2,27 là “người nam và người nữ”.

Cuối cùng, hình thức yếu đuối thứ ba mà người ta phải chống lại: sự yếu đuối do tội lỗi và những hậu quả của nó. Hữu hạn là tốt, nhưng sa ngã thì không. Tất cả chúng ta đều bất thường, không còn ở trạng thái tự nhiên. Ở đây, chúng ta cần nổi loạn chống lại con người của mình, vì con người của chúng ta đây không phải tự nhiên, không phải là cái do Chúa tạo thành. Việc chúng ta không hài lòng với sự yếu đuối về mặt luân lí và tâm linh của mình ngầm chứng tỏ rằng chúng ta biết một điều gì đó tốt hơn ‒ về một tiêu chuẩn mà chúng ta dùng để đo lường bản thân, cuộc sống và thế giới của mình, và thấy là chúng thiếu sót. Chính ký ức của chúng ta về vườn Địa đàng đã gây ra cuộc tranh cãi giữa người yêu hiện tại của chúng ta với thế giới, với vùng hoang địa “phía đông vườn Địa đàng” (St 3,24).

Chính bởi vì chúng ta yếu đuối về luân lí nên chúng ta được truyền phải cầu xin “chớ để chúng con sa chước cám dỗ”, nghĩa là, sa vào thử thách và khó khăn. Bởi vì tất cả chúng ta, đều có điểm giới hạn của mình. Nếu Thiên Chúa không rút ngắn những ngày Đại nạn, thì cả các thánh cũng không chịu nổi và được cứu rỗi (Mt 24,22).

Chúng ta không chỉ yếu đuối về luân lí mà còn yếu kém về mặt trí tuệ: dốt nát, khờ dại, ngu ngốc. Tội lỗi không đơn thuần là sự ngu xuẩn như Plato dạy, và chắc chắn nguyên nhân của nó không chỉ là sự thiếu hiểu biết như Plato dạy, mà vì sự thiếu hiểu biết không phải là nguyên nhân của tội lỗi, nó là hậu quả của tội lỗi.

Thân xác chúng ta cũng yếu đuối vì tội lỗi. Một khi linh hồn tuyên bố độc lập với Thiên Chúa, Đấng là nguồn gốc của mọi sự sống và sức mạnh, thì thể xác trở nên yếu đuối vì nó càng độc lập với linh hồn, là nguồn sự sống của nó. Do đó, sự chết là kết quả tất yếu của tội lỗi. Giống như nam châm. Thiên Chúa là nam châm giữ hai vòng sắt, thể xác và linh hồn, lại với nhau. Lấy nam châm ra và các vòng rơi ra. Một khi xa lìa Thiên Chúa, chúng ta làm được gì ngoài việc chịu chết? Và một khi chúng ta kết hợp với Thiên Chúa, chúng ta sẽ làm gì nếu không phải là sống đời đời?

Chúng ta nên chấp nhận vâng phục Đức Chúa Cha như là “điểm yếu” đầu tiên của chúng ta, và chúng ta nên nhận sự hữu hạn là “điểm yếu” thứ hai của mình, nhưng liệu chúng ta có nên chấp nhận “điểm yếu” thứ ba, tức là tội lỗi của chúng ta không? Có và không. Tội lỗi giống như bệnh ung thư. Khi mắc bệnh ung thư, chúng ta nên chấp nhận sự thật đó bằng trí tuệ chứ không phải bằng ý chí của chúng ta. Chúng ta nên chấp nhận sự thật, chứ không phải sự tốt đẹp của bệnh ung thư, bởi vì bệnh ung thư là không tốt. Hãy chấp nhận nó về mặt lí thuyết, nhưng không phải về mặt thực tế. Ở mức độ thực tế, chúng ta nên chống lại nó. Đối với tội lỗi cũng vậy.

Người ta thường nhầm lẫn về điểm đơn giản này. Ngay cả một tư tưởng vĩ đại như Carl Jung dường như cũng rơi vào sự nhầm lẫn chết người này khi ông bảo chúng ta “chấp nhận mặt tối của chính mình, bóng tối của chúng ta”. Không! Thiên Chúa đã phải chết và chịu đựng những sự khủng khiếp của hoả ngục để cứu chúng ta khỏi mặt tối đó. Làm sao chúng ta dám “chấp nhận” nó trong khi Đấng Thánh đã tuyên chiến vĩnh viễn với nó? Làm sao chúng ta dám trung lập khi Thiên Chúa chia phe hẳn hoi? Làm sao chúng ta dám đóng vai Chamberlain ở Munich trước những phát minh quái quỷ? [Hai thủ tướng Anh và Pháp là Neville Chamberlain và Edouard Daladier ký hoà ước Munich với lãnh đạo đảng Quốc xã Adolf Hitler ngày 30/9/1938. Thoả thuận này ngăn chặn chiến tranh nổ ra nhưng giao Czechoslovakia cho Đức chiếm đóng (ND)]. Chỉ có một số phận thích hợp cho sự yếu nhược tâm linh như vậy. Hãy tra trong sách Khải huyền 3,16. Đừng ai cố ăn thứ Thiên Chúa đã nôn ra.

Bây giờ tôi sẽ đi vào những lĩnh vực sâu hơn, gai góc hơn về vấn đề chúng ta đang suy gẫm.

Yếu đuối của chúng ta trở thành sức mạnh khi Thiên Chúa bước vào sự yếu đuối của chúng ta. Như bác sĩ gây mê bệnh nhân để bệnh nhân không còn là người khoẻ mà thành người bệnh, thành thụ động, để không nhảy dựng trên bàn mổ, Thiên Chúa làm chúng ta yếu đi để Ngài có thể thực hiện những ca phẫu thuật trên chúng ta, nếu không chúng ta không thể làm được.

Điều này đặc biệt đúng về cái chết. Cái chết là cuộc phẫu thuật triệt để, và chúng ta phải được gây mê cách triệt để hầu đón nhận nó. Thiên Chúa muốn thâm nhập vào trái tim của chúng ta, con người sâu thẳm nhất của chúng ta. Trái tim của chúng ta phải ngừng đập để hoạt động đó diễn ra.

Cũng nguyên tắc ấy hoạt động trong những cách thấp hơn trước cái chết, trong những cái chết nhỏ. Thiên Chúa phải đánh gục chúng ta trước để cứu chúng ta khỏi chết đuối, vì chúng ta vùng vẫy một cách ngu xuẩn. Ngài phải đập vỡ những món đồ chơi chúng ta đang cầm trên tay để lấp đầy bằng niềm vui của Ngài.

Đến đây là tốt rồi. Nguyên tắc đó khá nổi tiếng. Nhưng khi chúng ta tìm đến các nhà thần bí, và rồi khi chúng ta đọc thứ ngôn ngữ kì lạ của họ về việc “hóa ra không”, tuyệt đích của sự yếu đuối, chúng ta lắc đầu khó hiểu và nghi ngờ. Tuy nhiên, ý nghĩa về “sự hư vô” trước Thiên Chúa của các nhà thần bí không là gì khác hơn chính nguyên tắc được đưa đến kết luận hợp lí của nó. Nếu sức mạnh của Chúa lấp đầy chúng ta khi chúng ta yếu đuối, và sự vĩ đại của Chúa lấp đầy chúng ta khi chúng ta nhỏ bé, thì tất cả của Chúa sẽ lấp đầy chúng ta khi chúng ta không là gì cả.

Nhưng chúng ta phải phân biệt hai loại “không là gì”. Các nhà thần bí phương Đông dường như nói rằng linh hồn là “hư không” vì nó không có thật. Họ nhìn qua “ảo ảnh” về cá nhân. Họ dường như nói rằng chúng ta thực sự không phải là thụ tạo, trừ Thiên Chúa. Bởi vì tất cả đều là Thiên Chúa nếu bạn là một người tin vào thuyết phiếm thần. Điều đó đơn giản là sai, vì Thiên Chúa đã tạo ra chúng ta khác biệt với chính Ngài.

Thay vì vậy, “sự hư không” của các nhà thần bí Kitô giáo có nghĩa là không có ý riêng và không còn chú ý đến bản thân. “Đừng theo ý con, nhưng xin cho ý Cha thể hiện” là công thức cơ bản dành cho mọi sự thánh thiện, không chỉ dành cho các nhà thần bí. Trong đây không có gì đặc biệt là thần bí. Nhưng khi, được Thiên Chúa mê hoặc qua việc nếm trước cảnh tượng hạnh phúc của thiên đàng, nhà thần bí được ban ơn dường như mất hết ý thức về chính mình, ông dường như không là gì đối với chính mình, bởi vì ông không còn nhìn vào mình nữa, mà chỉ nhìn vào Thiên Chúa. Nhưng, tất nhiên, ông vẫn có đó, vì phải có một cái tôi để thực hiện hành động quên mình. Ai đang quên? Chắc chắn không phải Thiên Chúa, vì sự toàn tri thì không quên.

Nhà thần bí Kitô giáo trải nghiệm một niềm hạnh phúc trong sự yếu đuối hoàn toàn đến mức hư không này, vì đó là sự tin tưởng hoàn toàn, nghỉ ngơi hoàn toàn trong vòng tay của Chúa, được Cha ôm lấy. Do đó, tất cả lo lắng và sự quan tâm đến bản thân đều tan biến. Đây là sự khiêm tốn hoàn toàn. Vì kiêu ngạo là tội lỗi đầu tiên, tội lỗi của ma quỷ, nên khiêm nhường là nhân đức đầu tiên.

Kiêu ngạo không có nghĩa là quan điểm phóng đại về giá trị của bản thân; đó là sự phù phiếm. Kiêu ngạo nghĩa là đóng vai Thiên Chúa, đòi làm Thiên Chúa. “Thà cai trị địa ngục còn hơn phục vụ trên thiên đường,” đây là câu nói mà Satan dùng để biện minh cho sự nổi loạn của mình trong Paradise Lost [Thiên đàng đã mất] của Milton. Đó là công thức kiêu ngạo. Kiêu ngạo lúc nào cũng là “ý tôi thể hiện”.

Khiêm tốn là “ý Cha thể hiện”. Khiêm tốn là tập trung vào Thiên Chúa, chứ không vào bản thân. Khiêm tốn không phải là đánh giá quá thấp bản thân. Khiêm tốn là quên mình. Một người khiêm tốn không bao giờ nói với bạn rằng anh ta tệ như thế nào. Anh ấy bận nghĩ về bạn đến nỗi không thể nói về bản thân mình. Đó là lí do tại sao khiêm tốn là một niềm vui và rất gần với nhãn quan hạnh phúc, nơi mà chúng ta sẽ say mê Thiên Chúa đến nỗi chúng ta hoàn toàn quên mình, giống như các nhà thần bí. Khi kết hợp hai điều này – hoàn toàn muốn “không phải ý con mà là ý Cha được thực hiện” và biết hoàn toàn quên mình – có lẽ chúng ta có thể bắt đầu hiểu làm thế nào các nhà thần bí tìm thấy niềm vui vô song khi trở thành hư không. Đó là cảm giác hồi hộp bí ẩn mà chúng ta cảm thấy khi hát dâng Chúa Thánh Thần: “Hãy thổi, thổi, thổi cho đến khi tôi còn sống/ Nhưng đó là hơi thở của Chúa Thánh Thần thổi trong tôi”.

Rất khó để nói về việc này, về sự ngây ngất. Thi thoảng nghe chuyện đó có vẻ ngớ ngẩn. Nó rất dễ bị hiểu lầm. Nó không thể được giải thích bằng ngôn ngữ thông thường. Nó giống như đang yêu vậy. Nó đang yêu. Nó không phải một ý tưởng, cần giải thích. Đó là một trải nghiệm, để được sống, hoặc ít nhất để được đồng cảm, với tâm và trí mở rộng.

Thập giá liên quan đến điều này như thế nào? Ngoài việc cứu chúng ta khỏi tội lỗi, thập giá còn biểu lộ bản chất ngây ngất nơi Ba Ngôi Thiên Chúa, đó là Thần Khí của tình yêu tự hiến giữa Cha và Con, là chính bí mật của sự sống nội tại của Thiên Chúa. Thập giá, mà Đức Kitô đã cắm như một thanh gươm vào lòng đất trên đồi Canvê, được giữ bằng cán gươm trên thiên đàng. Thiên đàng đã rèn lưỡi kiếm đó. Thập giá đã gây chiến với tội lỗi và sự chết trong thời gian, nhưng nó bày tỏ sự bình an và sự sống trong cõi đời đời.

Xin cho “ý Cha, không phải ý con, được thể hiện” không chỉ là điều khó khăn nhất trong các việc chúng ta có thể làm (đó là điều mà tội lỗi đã làm cho chúng ta), nhưng còn là điều vui sướng và tự do nhất mà chúng ta có thể làm (đó là điều mà ân sủng đã ban tặng cho chúng ta). Có cả nghìn tỉ thí nghiệm đã chứng minh một điểm vượt qua tất cả nghi ngờ: rằng bất cứ khi nào chúng ta nhắm đến hạnh phúc như thể chúng ta là Thiên Chúa, bằng cách phát huy năng lực và sự kiểm soát của mình, chúng ta sẽ kết thúc trong bất hạnh, cho dù chúng ta có được thứ mình muốn hay không. Vì nếu có được nó, chúng ta đâm chán; và nếu không đạt được, chúng ta thất vọng. Nhưng bất cứ khi nào chúng ta trở thành hư không, trở nên hoàn toàn yếu đuối, bất cứ khi nào chúng ta nói và nói hoàn toàn thật lòng: “Xin đừng theo ý con, nhưng xin cho ý Cha được thể hiện”, chúng ta tìm thấy hạnh phúc, niềm vui và bình an lớn lao nhất có thể có trên thế giới này. Tuy nhiên, cho dù đã có hàng nghìn tỉ thực nghiệm xác nhận chân lí này, chúng ta vẫn tiếp tục thử những trải nghiệm khác để tìm kiếm hạnh phúc bên ngoài Thiên Chúa và bên ngoài sự phục tùng Thiên Chúa, do đó chúng ta liên tục bán đi quyền được hưởng niềm vui vốn có của mình. Nói cách khác, chúng ta bị điên. Tội lỗi là sự điên rồ.

Trọng tâm của Hồi giáo là sự thật mạnh mẽ mà chúng ta vừa thấy. “Hồi giáo” mang hai ý nghĩa: “phục tùng” và “bình an” (cùng nguồn gốc với từ “shalom” [trong tiếng Do Thái]). Quy phục Thượng đế (“Allah”, “Đấng”) là con đường dẫn đến hòa bình. Dante trình bày điều này chỉ bằng năm từ trong một dòng và được T.S. Eliot cho là hoàn hảo và sâu sắc nhất trong tất cả các áng văn chương: “Theo ý Chúa, ta bình an” (In his will, our peace).

Sự yếu đuối này chính là sức mạnh của Thiên Chúa, là bí mật về sự toàn năng của Thiên Chúa. Thiên Chúa toàn năng không phải vì Ngài có thể tạo ra vũ trụ hay làm các phép lạ. Thiên Chúa toàn năng vì Ngài là tình yêu, vì Ngài có thể khuất phục chính mình, vì Ngài có thể yếu đuối. Không một người hữu thần nào ngoại trừ Kitô hữu hiểu được bí mật sự toàn năng. Một Thiên Chúa mà chỉ có một mình thì không thể hoàn toàn toàn năng.

Chỉ có Thiên Chúa Ba Ngôi, chỉ có vị Thiên Chúa, Đấng có thể liên tục trút bỏ chính mình cho chính mình, mới có thể toàn năng.

Chúng ta thường nghĩ về Chúa Cha là nguồn sự toàn năng, nhưng thật ra cả ba ngôi vị đều cần thiết cho sự toàn năng. Sự toàn năng chỉ phát sinh khi chúng ta đến với Chúa Thánh Thần là tình yêu giữa Chúa Cha và Chúa Con dành cho nhau. Khi Thánh Thần được thổi vào trong chúng ta, thì cả Ba Ngôi vào trong chúng ta, và sống sự sống của Ngài trong và qua chúng ta. Thánh giá vinh quang của Chúa Ba Ngôi vĩnh cửu và thánh giá đẫm máu trên đồi Canvê hòa quyện trong tâm hồn và cuộc sống của chúng ta khi chúng ta tham dự vào niềm vui nơi tình yêu Thiên Chúa và vào sự đau khổ mang lại ơn cứu độ của Thiên Chúa.

Chuyển ngữ: Martin Lâm
(theo: peterkreeft.com)

Read More
20Tháng Năm
2023

Giáo hội tiếp cận với những vấn đề đang gây nhiễu trong không gian mạng dưới ánh sáng của các sứ điệp truyền thông

20/05/2023
Anmai
Giáo dục, Tài liệu giáo dục
0

 

1. GIỚI THIỆU
2. NHẬN DIỆN NHỮNG VẤN ĐỀ GÂY NHIỄU TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY
3. NHỮNG GIÁ TRỊ RÚT RA TỪ CÁC SỨ ĐIỆP NGÀY THẾ GIỚI TRUYỀN THÔNG
        3.1. Thiên Chúa: Cội nguồn của sự truyền thông
3.2. Khuôn mẫu truyền thông của Chúa Giêsu
3.3. Công nghệ truyền thông: Dấu ấn của một Thiên Chúa yêu thương
3.4. Làm chứng cho Sự thật: Con đường truyền thông của Giáo hội
3.5. Bảo vệ phẩm giá con người trong chiến lược truyền thông của Giáo hội
3.6. Loan báo Tin mừng trong thế giới kỹ thuật số
4. LẬP TRƯỜNG CỦA GIÁO HỘI TRƯỚC NHỮNG VẤN ĐỀ ĐANG GÂY NHIỄU TRONG KHÔNG GIAN MẠNG
4.1. Đức Kitô, trung tâm điểm cho mọi người trong không gian mạng quy hướng về
4.2. Chân lý và sự thật, thuốc giải độc cho sự dối trá
4.3. Phẩm giá con người cần được tôn trọng trong không gian mạng
4.4. Công nghệ truyền thông phục vụ cho việc loan báo Tin mừng
5. KẾT LUẬN

  1. GIỚI THIỆU

Ngày Thế giới Truyền thông do Công đồng Vaticanô II thiết lập vào ngày 4 tháng 12 năm 1963 trong sắc lệnh Inter Mirifica. Qua sắc lệnh này, Giáo hội mời gọi các Giáo phận trên khắp thế giới cử hành ngày này hằng năm nhằm kêu gọi các tín hữu ý thức hơn về các vấn đề liên quan đến lĩnh vực truyền thông và khuyến khích họ hiệp thông với Đức Thánh Cha ngang qua Sứ điệp Truyền thông hằng năm của ngài; đồng thời, mời gọi họ hợp ý cầu nguyện và đóng góp hỗ trợ cho những đề án của Giáo Hội trong lãnh vực truyền thông.[1] Mặc dù Giáo hội không phải là những chuyên viên trong lĩnh vực công nghệ truyền thông hiện đại, nhưng rõ ràng, với con tim và đôi mắt của người mục tử, Giáo hội tiên liệu tất cả những vấn đề sẽ xảy ra trong lĩnh vực công nghệ truyền thông vào mỗi thời điểm của lịch sử nhân loại.[2] Những thành tựu của công nghệ hiện đại đáng được trân trọng và những giá trị của nó nên được thừa nhận và ứng dụng vào đời sống của Giáo hội.

Mục đích của bài viết không bàn đến những thành tựu đạt được của ngành truyền thông hiện đại cũng như những đóng góp của nó vào đời sống của Giáo hội. Mục tiêu chính ở đây nhắm đến những vấn đề đang gây nhiễu trong lĩnh vực truyền thông diễn ra trên không gian mạng hiện nay. Cụ thể hơn, những vấn đề mà con người ngày nay đang phải đối diện khi sống trong thời đại kỹ thuật số chi phối hầu hết mọi lĩnh vực của xã hội. Giáo hội không đứng ngoài lịch sử loài người, “Giáo hội không đứng xa cách hoặc cố gắng tự cô lập mình khỏi dòng chính của những sự kiện này.”[3] Vì thế, những vấn đề của con người cũng chính là những vấn đề của Giáo hội, bởi lẽ, trong tất cả mọi sự, Giáo hội phải trở thành những chứng tá cho chân lý và sự thật, vì chỉ có sự thật mới giải thoát chúng ta. (x. Ga 8,32)

Trong lĩnh vực truyền thông, Giáo hội không ngừng đưa ra những hướng dẫn nhằm trả lời cho những vấn đề của công nghệ kỹ thuật trong từng giai đoạn của lịch sử. Chúng ta có thể tìm thấy những định hướng của Giáo hội ngang qua những tài liệu chính thức được phát hành trong những dịp đặc biệt của Giáo hội. Bên cạnh đó, để đáp ứng nhu cầu cấp thiết trong từng vấn đề mang tính thời sự diễn ra trong xã hội, đặc biệt liên quan đến truyền thông xã hội, Giáo hội đã đóng vai trò đồng hành với con người thông qua các sứ điệp của Ngày Thế giới Truyền thông Xã hội hằng năm. Những sứ điệp này chất chứa những giá trị to lớn để hướng dẫn và giúp các tín hữu khơi lên mối quan tâm của họ trong lĩnh vực truyền thông xã hội rộng lớn tác động đến hầu hết mọi khía cạnh của cuộc sống con người. Những sứ điệp này không chỉ nói lên lập trường của Giáo hội về vấn đề truyền thông xã hội, nhưng nó còn là cách để Giáo hội đưa ra những định hướng cho các tín hữu, chủ yếu về khía cạnh thiêng liêng, giúp nuôi dưỡng đức tin và kiện cường khả năng làm chứng của họ.

Ngày nay, Internet và mạng xã hội nổi lên như một phương tiện mang đến cho con người nhiều hiệu quả trong việc kết nối với thế giới bên ngoài.[4] Nhưng rõ ràng, sức mạnh của nó thì không thể che khuất những vấn đề đang gây nhiễu trên không gian mạng, đến nỗi khi nhắc đến Internet, nhiều người cảm thấy như cơn ác mộng bởi những vấn đề và tác hại tiêu cực xảy ra tràn lan trên thế giới rộng lớn. Trước những vấn đề đó, đâu là thái độ và lập trường của Giáo hội? Khám phá những bản văn của Sứ điệp Ngày Thế giới Truyền thông Xã hội chắc chắn sẽ giúp chúng ta nhận ra những giá trị mà nó thực sự mang lại, đặc biệt có thể trả lời những vấn đề còn tồn đọng ngày nay trên thế giới Internet. Quan trọng nhất, những giá trị này sẽ cung cấp cho các tín hữu biết cách phải làm gì khi họ bước vào không gian mạng mà họ gần như không thể từ chối bởi chính họ là một thành viên trong môi trường số đó.


  1. NHẬN DIỆN NHỮNG VẤN ĐỀ GÂY NHIỄU TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY

Không có gì nghi ngờ khi nói rằng, “các công nghệ kỹ thuật số mới đang mang lại những thay đổi cơ bản trong các mô hình giao tiếp và các mối quan hệ giữa con người với nhau.”[5] Chúng ta không thể phủ nhận những lợi ích to lớn mà Internet và mạng xã hội đã mang đến cho con người từ khi nó ra đời vào những năm của thập niên 60. Không khó để nhận ra những ảnh hưởng tích cực của nó. “Mạng là một nguồn tài nguyên của thời đại chúng ta. Đó là một nguồn kiến thức và những mối quan hệ mà trước đây không thể tưởng tượng được.”[6] Chúng làm cho cuộc sống của con người ngày nay hiện đại hơn, phát triển hơn, thông minh hơn, tạo nên những kết nối giúp con người dễ dàng đến với nhau hơn, và đây cũng là kho tàng cung cấp tri thức của nhân loại trong thời đại kỹ thuật số.

Có thể nói, “Internet là sự sáng tạo phổ biến và sáng tạo nhất trong thế giới công nghệ.”[7] Con người ngày nay dường như đã trở nên phụ thuộc vào Internet do những lợi ích to lớn của nó. Tính đến ngày 06/05/2023, có hơn 5,6 tỷ người ở khắp nơi trên hành tinh của chúng ta hiện đang sử dụng Internet, như một bằng chứng xác thực về tính phổ biến và hữu ích của nó.[8] Nó mang một số dữ liệu về hầu hết mọi chủ đề và rất nhanh chóng trở thành một phần quan trọng trong cuộc sống của mọi tầng lớp xã hội. Do đó, “Internet là một trong những sáng tạo vĩ đại nhất và cung cấp cho mọi người quyền truy cập tức thì vào nguồn cung cấp kiến thức và giải trí vô tận.”[9]

Tuy nhiên, bên cạnh những ích lợi to lớn, Internet cũng gây ra nhiều tác hại cho con người, đặc biệt những người không biết cách hoặc không thể kiểm soát chúng. Mặc dù Internet là một trong những sáng tạo vĩ đại của con người qua mọi thời đại, nhưng nó cũng có những nhược điểm đang gây nhiễu cách nghiêm trọng đối với những người tham gia vào môi trường Internet. Nếu chúng ta dễ dàng nhận diện về những lợi ích của Internet thì chúng ta cũng không khó để nhận ra những tác hại tiêu cực mà Internet gây ra cho những người sử dụng chúng. Và “nếu Internet đại diện cho một khả năng tiếp cận kiến thức phi thường, thì cũng đúng rằng nó đã được chứng minh là một trong những lĩnh vực tiếp xúc nhiều nhất với thông tin sai lệch và sự bóp méo có chủ đích và có ý thức của các sự kiện và các mối quan hệ giữa các cá nhân, những thứ thường được sử dụng để làm mất uy tín.”[10] Bên cạnh đó, mạng xã hội như là một phần của Internet “có thể tạo điều kiện thuận lợi cho các mối quan hệ và thúc đẩy những điều tốt đẹp của xã hội, nhưng chúng cũng có thể dẫn đến sự phân cực và chia rẽ hơn nữa giữa các cá nhân và các nhóm.”[11] Có thể nói, thế giới kỹ thuật số là một quảng trường công cộng, một nơi gặp gỡ, nơi chúng ta có thể khuyến khích hoặc hạ bệ lẫn nhau, tham gia vào một cuộc thảo luận có ý nghĩa hoặc các cuộc tấn công không công bằng.

Một thực trạng khác diễn ra ngày nay trong thế giới truyền thông và hệ thống kỹ thuật số mà chúng ta đang phải chứng kiến đó là sự lan rộng của thứ được gọi là “tin tức giả mạo”. Nó đề cập đến việc lan truyền thông tin sai lệch trên mạng hoặc trên các phương tiện truyền thông hiện đại cũng như phương tiện truyền thống. Nó liên quan đến thông tin sai lệch dựa trên dữ liệu không tồn tại hoặc bị bóp méo nhằm đánh lừa và thao túng người đọc. Việc lan truyền tin tức giả mạo có thể phục vụ cho việc thúc đẩy các mục tiêu cụ thể, ảnh hưởng đến các quyết định chính trị và phục vụ lợi ích kinh tế. Có thể nói, “khả năng bóp méo sự thật là triệu chứng của tình trạng của chúng ta, cả với tư cách cá nhân và cộng đồng.”[12]

Bi kịch của thông tin sai lệch là nó làm mất uy tín của người khác, coi họ là kẻ thù, đến mức khiến họ trở nên quỷ dị và kích động xung đột. “Tin tức giả mạo là một dấu hiệu của thái độ không khoan dung và quá nhạy cảm, và chỉ dẫn đến sự lây lan của sự kiêu ngạo và thù hận. Đó là kết quả cuối cùng của sự không trung thực.”[13] Ngay cả một sự bóp méo dường như nhỏ của sự thật cũng có thể gây ra những tác động nguy hiểm đến phẩm giá của con người, cũng như cướp đoạt sự tự do nội tâm của con người.


  1. NHỮNG GIÁ TRỊ RÚT RA TỪ CÁC SỨ ĐIỆP NGÀY THẾ GIỚI TRUYỀN THÔNG

    3.1. Thiên Chúa: Cội nguồn của sự truyền thông

Trong lịch sử nhân loại, Thiên Chúa tỏ ra mình là một Thiên Chúa tự thông truyền chính mình. “Truyền thông được thiết lập trong Mầu nhiệm Thiên Chúa.”[14] Thiên Chúa không còn là Thiên Chúa nếu Ngài không tương quan với những Ngôi vị khác cũng như không giao tiếp với thụ tạo của Ngài. “Thông truyền là một phần trong kế hoạch của Thiên Chúa dành cho chúng ta và là một cách thiết yếu để trải nghiệm mối tương giao.”[15] Con người được ưu ái hơn trong số các loài thụ tạo khác. Họ được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa và giống Thiên Chúa nên họ được tiếp nhận khả năng giao tiếp từ Thiên Chúa. Đồng thời, họ cũng có khả năng cảm nhận và chia sẻ những nét đẹp, những gì là đúng, tốt và đẹp trong bất cứ môi trường mà họ thuộc về. Sự hiệp thông tình yêu giữa các Ngôi vị Thần linh chính là cội nguồn mà từ đó khả năng hiểu biết và giao tiếp giữa các thụ tạo được hình thành.[16] Điều đó cũng cho thấy rằng “Thiên Chúa không Đơn độc, nhưng Hiệp thông; Người là Tình yêu, vì thế nên có sự truyền thông, bởi vì tình yêu luôn truyền thông; thật vậy, tình yêu truyền thông chính mình để gặp người khác.”[17]


3.2. Khuôn mẫu truyền thông của Chúa Giêsu

Để hiểu về bản chất của một Thiên Chúa tự thông truyền chính mình, chúng ta không thể không nhắc đến khuôn mặt vĩ đại của Thiên Chúa, Chúa Giêsu Kitô. Người là nhà truyền thông hoàn hảo của Thiên Chúa được ban cho nhân loại, đồng thời Người cũng là khuôn mẫu cho tất cả chúng ta trong cách chúng ta giao tiếp với Thiên Chúa và với người khác. Đức tin Kitô giáo mời gọi các tín hữu, trong mọi hoàn cảnh, hãy tuyên xưng đức tin của mình vào Đức Kitô. “Ngài chính là Thiên Chúa, Đấng Cứu độ của nhân loại và của lịch sử, là Đấng mà mọi sự đều được viên mãn.”[18] Vì thế, trong Mạng xã hội, các Kitô hữu diễn tả niềm xác tín của họ ngang qua việc chia sẻ kinh nghiệm sâu xa về món quà đức tin và niềm hy vọng nơi Thiên Chúa của họ: “Đức tin nơi Thiên Chúa nhân từ và yêu thương được bày tỏ trong Chúa Giêsu Kitô.”[19]

Thông điệp của Chúa Giêsu thật rõ ràng được diễn tả trong những bài giáo huấn và việc làm của Người. Tiềm ẩn trong đó là cả một kho tàng về mối quan tâm và sự ưu ái dành cho người nghèo và những bất hạnh trong mạng lưới xã hội vào thời đó. Phẩm giá con người luôn hiện hữu trong mọi cách thức rao giảng và hoạt động của Người. Những giá trị của Tin mừng mà Chúa Giêsu loan báo không chỉ mặc khải về một Thiên Chúa là Cha giàu lòng thương xót, nhưng nó cũng là nền tảng để xây dựng mối tương quan giữa Thiên Chúa và con người, cũng như giữa con người với nhau.[20]
Chúa Giêsu là chân lý của Thiên Chúa. “Chân lý của Chúa Kitô là chân lý vĩnh cửu của Thiên Chúa, Đấng đã tỏ mình ra cho chúng ta không chỉ trong thế giới được tạo dựng mà còn qua Sách Thánh, và đặc biệt là trong và qua Con của Ngài, Chúa Giêsu Kitô, Ngôi Lời đã hóa thành xác phàm.”[21] Người đến để làm chứng cho sự thật, vì “Người là Đường, là Sự thật và là Sự sống.” (Ga 14, 1) “Đấng duy nhất thực sự đáng cậy trông và đáng tin cậy – Đấng mà chúng ta có thể tin cậy – là Thiên Chúa hằng sống. Do đó, Chúa Giêsu có thể nói: ‘Tôi là sự thật’ (Ga 14, 6).”[22] Chỉ trong Đức Kitô, chúng ta mới được giải thoát. (x. Ga 8, 32) “Chân lý của Chúa Giêsu Kitô là sự đáp ứng đầy đủ và xác thực cho mong muốn của con người về mối quan hệ, sự hiệp thông và ý nghĩa được phản ánh trong sự phổ biến rộng rãi của mạng xã hội.”[23] Do đó, cách thức truyền thông của Chúa Giêsu không phải là con đường của sự sợ hãi và thỏa hiệp, nhưng là con đường của việc thực thi thánh ý của Thiên Chúa Cha. Tuy nhiên, Chúa Giêsu không áp đặt sự dạy dỗ của Người cho bất cứ ai và cũng không loại trừ ai, đối với Người, những gì được Người tạo dựng là dành cho tất cả mọi người. Người chính là khuôn mẫu cho tất cả chúng ta.[24]


3.3. Công nghệ truyền thông: Dấu ấn của một Thiên Chúa yêu thương

Truyền thông là những cuộc gặp gỡ. Dù diễn ra ở bất cứ đâu và thế nào, truyền thông vẫn mở ra tầm nhìn rộng lớn cho nhiều người. Đây là món quà của Thiên Chúa, vì nó mang dấu ấn của Thiên Chúa tình thương. “Một món quà có ý nghĩa to lớn đối với giai đoạn lịch sử loài người mà chúng ta đang sống, món quà của tất cả những phương tiện kỹ thuật tạo điều kiện, nâng cao và làm phong phú thêm sự giao tiếp giữa con người với nhau.”[25] Điều này tạo nên một mối tương quan khắng khít giữa truyền thông và lòng thương xót của Thiên Chúa. Những gì chúng ta truyền thông và cách thức chúng ta truyền thông phải bày tỏ lòng trắc ẩn, sự dịu dàng và sự tha thứ của Thiên Chúa dành cho nhân loại. Tình yêu của Thiên Chúa, theo bản tính của nó, chính là sự giao tiếp; nó dẫn đến sự cởi mở và chia sẻ.[26] Sau tất cả, chúng ta nhận ra những giá trị to lớn của những kỳ quan còn tuyệt vời hơn nữa: “Những kỳ quan của công nghệ mà Thiên Chúa đã định sẵn cho thiên tài con người khám phá ra.”[27] Và đương nhiên, tất cả chúng đều mang dấu ấn của một vị Thiên Chúa đầy sáng tạo và trung tín với dân của Ngài.


3.4. Làm chứng cho Sự thật: Con đường truyền thông của Giáo hội

Vì là Thân thể Mầu nhiệm của Đức Kitô, nên Giáo hội được chia sẻ sứ mệnh tự thông truyền chính mình từ Thiên Chúa. “Giáo hội hy vọng và tự tin quay lại khi tìm cách công bố sứ điệp của Đức Kitô dưới một hình thức thích ứng với các công cụ hiện đang theo ý của mình và trong ngôn ngữ dễ hiểu đối với nền văn hóa có điều kiện truyền thông trên toàn thế giới mà nó phải được giải quyết.”[28] Tuy nhiên, trong tất cả những cơ hội và thách đố hiện nay, Giáo hội được mời gọi trung thành với con đường và cách thức truyền thông của Thiên Chúa. Điều này cũng diễn tả trong hướng đi của Giáo hội, đó là làm chứng cho sự thật.

Bước theo Đức Kitô và bắt chước mọi sự nơi cuộc sống của Ngài là mối quan tâm ưu tiên của các tín hữu. Và vì “Đức Kitô là sự thật” (Ga 14, 6), nên các tín hữu được mời gọi để bước theo Ngài trong con đường chân lý và làm chứng cho sự thật. “Sự thật là thứ bạn có thể dựa vào để không gục ngã.”[29] Vì thế, con đường của Giáo hội không thể vắng bóng khuôn mặt của Thiên Chúa hằng sống và chân thực. Đi trên con đường mang tên Giêsu, “chúng ta khám phá và tái khám phá sự thật khi chúng ta kinh nghiệm nó trong chính mình với lòng trung thành và đáng tin cậy của Đấng yêu thương chúng ta.”[30] Trong tương quan này với Thiên Chúa, con người được giải thoát nhờ sự thật và nhờ Đấng là cội nguồn của sự sống và chân lý. (x. Ga 5:26; 8: 32; 10:10, 28) Nhờ đó, chiến lược truyền thông của người Kitô hữu được đặt nền tảng trên sự thật và đạt đến chân lý là chính Thiên Chúa.


3.5. Bảo vệ phẩm giá con người trong chiến lược truyền thông của Giáo hội

Vì nền tảng truyền thông của Kitô giáo được xuất phát từ Thiên Chúa, nên nó cũng phải truyền đạt và phục vụ những gì thuộc về Thiên Chúa. Nói khác đi, việc bảo vệ những giá trị đến từ Thiên Chúa là sứ mệnh mà Giáo hội được Ngài ủy thác. “Giáo hội sẽ cảm thấy mình có lỗi trước Thiên Chúa nếu không tận dụng những công cụ mạnh mẽ mà kỹ năng của con người không ngừng phát triển và hoàn thiện.”[31]

Trong bất cứ thời kỳ nào của lịch sử nhân loại, phẩm giá của con người luôn có nguy cơ bị chà đạp. Điều đó cũng không ngoại lệ trong thời đại kỹ thuật số và trong không gian mạng. Thực tế cho thấy rằng con người được hưởng lợi nhiều từ khi Internet ra đời, nhưng trong không gian rộng lớn của mạng lưới toàn cầu đó, nó cũng tiềm ẩn những nguy cơ làm tổn hại đến những giá trị của con người. Qua đó, nó chỉ cung cấp những kiến thức sâu rộng nhưng không dạy các giá trị; và khi các giá trị bị coi thường, chính con người sẽ bị hạ thấp và con người dễ dàng đánh mất phẩm giá siêu việt của mình. Trong bối cảnh như vậy, chiến lược truyền thông của Giáo hội phải bộc lộ rõ mục đích của nó, nghĩa là phải tìm cách nuôi dưỡng sự khôn ngoan không chỉ đến từ thông tin và từ cái nhìn sâu sắc, sự khôn ngoan hiểu được sự khác biệt giữa đúng và sai, và duy trì quy mô của các giá trị đến từ sự khác biệt giữa người với người.[32] Vì thế, việc khuyến khích mọi người có thiện chí đang hoạt động trong môi trường công nghệ mới của truyền thông kỹ thuật số cam kết thúc đẩy văn hóa tôn trọng, đối thoại và hữu nghị. “Cuộc sống không chỉ là một chuỗi liên tiếp của các sự kiện hoặc các kinh nghiệm: nó là một cuộc tìm kiếm chân, thiện và mỹ.”[33]


3.6. Loan báo Tin mừng trong thế giới kỹ thuật số

Tìm kiếm những giá trị đến từ Thiên Chúa là sự đòi hỏi liên lỉ và kiên trì. Và khi những giá trị đó được hiện thực nơi những người khao khát đi tìm kiếm chân lý, một khát vọng khác sẽ được khơi dậy trong cõi lòng của họ, khát vọng được loan báo những giá trị từ niềm vui Tin mừng.[34] Nói khác đi, món quà được biết Tin mừng mà họ nhận được từ Thiên Chúa phải được diễn tả và loan báo trong bất cứ môi trường và hoàn cảnh họ đang sống và được sai đến.

Các Kitô hữu ngày nay vẫn tiếp tục sứ mệnh được trao phó từ thời các Tông đồ ra đi để rao giảng Tin mừng của Chúa Kitô. Họ được mời gọi để thực hiện sứ mệnh được Đức Kitô ủy thác cho các tông đồ. (x. Mt 28, 19-20) Tuy nhiên, việc truyền giáo không phải là vấn đề mở rộng địa lý, “vì Giáo hội còn phải vượt qua nhiều ngưỡng văn hóa, mỗi ngưỡng đều đòi hỏi năng lượng và trí tưởng tượng mới mẻ trong việc loan báo một Tin Mừng của Chúa Giêsu Kitô.”[35] Thời đại ngày nay luôn đòi hỏi những hình thức truyền giáo mới. Do đó, với cuộc cách mạng truyền thông và thông tin đang diễn ra sôi nổi, cơ hội loan báo Tin mừng dường như đang nằm trong tầm tay của Giáo hội. Vì thế, Giáo hội cần phải tận dụng những nguồn tài nguyên mới được cung cấp bởi sự khám phá của con người trong công nghệ máy tính và vệ tinh cho nhiệm vụ truyền giáo luôn được khuyến khích tận dụng cách hiệu quả nhất. Sứ điệp quan trọng và khẩn cấp nhất của Giáo hội liên quan đến sự hiểu biết về Đấng Kitô và con đường cứu rỗi mà Ngài đề xuất. Đây là điều mà Giáo hội cần phải đặt ra trước mọi người ở mọi thời đại, mời gọi họ đón nhận Phúc Âm trong tình yêu thương, và luôn tâm niệm rằng “chân lý không thể tự áp đặt ngoại trừ nhờ chân lý của chính nó, chân lý chiến thắng tâm trí bằng cả sự dịu dàng và quyền năng.”[36]

Nhờ đó mà khuôn mặt của Đức Kitô được xuất hiện trong không gian rộng lớn của mạng lưới toàn cầu. Đó không còn là không gian ảo và trống rỗng, nhưng là khung trời của hạnh phúc và vui mừng của ơn cứu độ của nhân loại hiện hữu. Nó trở thành không gian đích thực của con người, “vì nếu không có chỗ cho Đức Kitô, thì không có chỗ cho con người.”[37] Vì thế, vượt qua ngưỡng cửa mới của thời đại và dám dấn thân cho việc loan báo khuôn mặt Đức Kitô trong mạng lưới rộng lớn ngày nay chính là cách làm cho vinh quang Thiên Chúa trên khuôn mặt Đức Kitô được biểu lộ một cách rõ nét và mạnh mẽ. (2Cr 4, 6)


  1. LẬP TRƯỜNG CỦA GIÁO HỘI TRƯỚC NHỮNG VẤN ĐỀ ĐANG GÂY NHIỄU TRONG KHÔNG GIAN MẠNG

Thực trạng hiện nay trong xã hội luôn có tính hai chiều được biểu hiện một cách rõ nét ngang qua những phương tiện truyền thông xã hội. Những lợi thế và đóng góp của nó được bộc lộ rõ hơn những hậu quả và nguy cơ tiềm ẩn trong hầu hết mọi phương tiện truyền thông mà con người đang sử dụng. Ngay từ những ngày đầu diễn ra Công đồng Vatican II, các nghị phụ đã nhìn thấy trước về tương lai và cố gắng phân biệt bối cảnh mà Giáo hội được kêu gọi thực hiện sứ mệnh của mình. Qua đó, họ giúp các tín hữu nhận thức rõ rằng “sự tiến bộ của công nghệ đã biến đổi bộ mặt của trái đất và thậm chí vươn tới ra ngoài để chinh phục không gian. Họ cũng nhận ra rằng những phát triển trong công nghệ truyền thông, đặc biệt, có khả năng gây ra những phản ứng dây chuyền với những hậu quả không lường trước được.”[38]

Trong bối cảnh đó, Giáo hội không tách rời khỏi xã hội hoặc cố gắng tự cô lập mình khỏi dòng chính của những sự kiện, nhưng đúng hơn, Giáo hội nhận ra mình đang ở giữa sự tiến bộ của nhân loại và cam kết dấn thân một cách tích cực, chia sẻ kinh nghiệm của phần còn lại của nhân loại, tìm cách hiểu chúng và giải thích chúng bằng ánh sáng của đức tin. “Những người trung thành của Thiên Chúa đã sử dụng một cách sáng tạo những khám phá và công nghệ mới vì lợi ích của nhân loại và thực hiện kế hoạch của Thiên Chúa dành cho thế giới.”[39] Vì thế, Giáo hội luôn có bổn phận loan báo cho thế giới về niềm tin của mình và sẵn sàng giải thích lý do cho lập trường của Giáo hội đối với bất kỳ vấn đề hoặc sự kiện cụ thể nào. Giáo hội luôn có khả năng để lắng nghe tiếng nói của dư luận và tham gia vào cuộc thảo luận liên tục với thế giới xung quanh Giáo hội; và vì thế, Giáo hội tham gia ngay lập tức vào việc tìm kiếm chung các giải pháp cho nhiều vấn đề cấp bách của nhân loại hiện nay.[40]

Trong sự khôn ngoan và hiểu biết sâu sắc của mình, Giáo hội liên tục đưa ra những định hướng và hướng dẫn cụ thể để trình bày những giá trị của Thiên Chúa cho thế giới trong việc tiếp cận nền văn hóa mạng ngày nay. Nói khác đi, Giáo hội không chỉ giúp con người chỉ ra những lỗ hổng trong nền công nghệ tiên tiến và đưa ra những chỉ dẫn giúp cân bằng trong nhiều khía cạnh khác nhau của cuộc sống liên quan đến đạo đức và luân lý, nhưng đúng hơn, Giáo hội muốn giới thiệu và đưa sứ điệp quan trọng và khẩn thiết nhất của mình liên quan đến sự hiểu biết về Đức Kitô và con đường cứu rỗi mà Người đề xuất. Ý thức sống động này luôn hiện hữu trong lập trường của Giáo hội. Vì thế, những luận điểm rõ ràng và vững chắc của Giáo hội khi đối diện với một vài vấn đề gây nhiễu trong không gian mạng sẽ được trình bày qua một vài điểm cụ thể sau:


4.1. Đức Kitô, trung tâm điểm cho mọi người trong không gian mạng quy hướng về

Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI khơi lên một ý tưởng quan trọng trong Sứ điệp Ngày Thế giới Truyền thông Xã hội năm 2011 rằng, hiện tượng đặc trưng của thời đại chúng ta chính là sự xuất hiện của Internet như một mạng lưới truyền thông. Vì thế, Internet không chỉ thay đổi cách chúng ta giao tiếp mà còn thay đổi bản thân sự giao tiếp, đến mức có thể nói rằng chúng ta đang sống qua một thời kỳ biến đổi văn hóa rộng lớn.[41] Các công nghệ mới cung cấp cho chúng ta những cơ hội lớn nhưng nó cũng đòi hỏi sự quan tâm và nhận thức sâu sắc hơn về những rủi ro có thể xảy ra. Nó có nguy cơ bị phân tâm nhiều hơn vì sự chú ý của chúng ta bị phân tán và bị tập trung vào một thế giới “khác” với thế giới mà chúng ta đang sống. Chúng ta cũng có nguy cơ đánh mất khả năng xây dựng những mối tương quan với những người chúng ta gặp gỡ trong cuộc sống. Con người dường như xao nhãng bổn phận của mình cho những việc không quan trọng và thứ yếu.

Người ta luôn đề cập hậu quả của việc nghiện Internet đó là giảm khả năng tập trung của con người. Thật dễ để nói rằng, công nghệ đang giết chết khả năng tập trung của con người. Họ dễ dàng bị chi phối và chia trí khi làm việc trực tiếp với máy tính được kết nối Internet. Điều này khiến cho những công việc không thể theo tiến độ như kế hoạch đã được đề ra. Tuy nhiên, cái đáng sợ nhất mà sự xao nhãng gây ra không chỉ dừng lại ở khía cạnh bổn phận và trách nhiệm trong công việc, nhưng đúng hơn, nó khiến cho con người bị phân tán và tách rời khỏi một cộng đồng ngay khi đang ở trong một mạng lưới xã hội rộng lớn. Dường như ai cũng có khả năng trở thành “hàng xóm” của tôi trong thế giới mới, nhưng đó cũng có thể trở thành tình trạng trống rỗng của tâm hồn khi họ không thực sự cảm nghiệm được sự hiện diện đích thực của một ai đó. Vì thế, họ nhận ra rằng, “tiếp xúc ảo không thể và không được thay thế cho tiếp xúc trực tiếp của con người với mọi người ở mọi cấp độ trong cuộc sống của chúng ta.”[42]

“Truyền thông về Chúa Giêsu: Đường, Sự thật và Sự sống.” (x. Ga 14, 6) Chỉ một mình Chúa Giêsu mới có thể lấp đầy những khoảng trống do thế giới ảo tạo ra nơi tâm hồn của con người, cũng như chỉ có ngài mới gắn kết những mối tương quan rạn nứt giữa người với người, và chỉ có ngài mới có thể quy tụ mọi sự về cho Thiên Chúa Cha. “‘Con đường’ của Đức Kitô là con đường của một đời sống nhân đức, kết quả và bình an như con cái Thiên Chúa và như anh chị em trong cùng một gia đình nhân loại; ‘chân lý’ của Đức Kitô là chân lý vĩnh cửu của Thiên Chúa, Đấng đã tỏ mình ra cho chúng ta không chỉ trong thế giới được tạo dựng mà còn qua Sách Thánh, và đặc biệt là trong và qua Con của Người, Chúa Giêsu Kitô, Ngôi Lời đã hóa thành xác phàm; và ‘sự sống’ của Đức Kitô là sự sống của ân điển, món quà miễn phí của Thiên Chúa là phần được tạo dựng trong sự sống của chính Ngài và giúp chúng ta có thể sống mãi mãi trong tình yêu của Ngài.”[43] Quả thật, khi những người tham gia vào mạng lưới toàn cầu xác tín về điều này, cuộc đời của họ sẽ biến đổi. Sự biến đổi này không những giúp cho các cá nhân biết cách tập trung vào những điều cốt lõi của cuộc sống trong môi trường Internet, mà còn mang lại cho họ khả năng truyền thông cách tập trung vào đức tin sống động vào Chúa Giêsu và những giá trị tốt đẹp đem lại những lợi ích thiêng liêng cho con người.
Hơn nữa, những vấn đề không thể vắng mặt trên không trên mạng xã hội liên quan đến tình yêu, sự thật, hạnh phúc và ý nghĩa cuộc sống chỉ có thể được tìm thấy nơi con người Chúa Giêsu. Người Kitô hữu luôn được mời gọi để chia sẻ đức tin của họ trong diễn đàn kỹ thuật số. Tuy nhiên, “nếu những nỗ lực của chúng ta trong việc chia sẻ Phúc Âm mang lại kết quả tốt đẹp, thì điều đó luôn luôn là nhờ quyền năng của chính Lời Chúa có thể chạm đến trái tim, trước bất kỳ nỗ lực nào của chúng ta. Sự tin cậy vào quyền năng của công việc Thiên Chúa phải luôn luôn lớn hơn bất kỳ sự tin tưởng nào mà chúng ta đặt vào các phương tiện của con người.”[44] Bởi vì Chúa Giêsu không những là “đường đi, sự thật và sự sống”, Người cũng là “ánh sáng thế gian” – ánh sáng để soi đường dẫn lối cho chúng ta, ánh sáng giúp chúng ta nhận thức được chân lý, ánh sáng của Chúa Giêsu, Đấng ban cho chúng ta cuộc sống siêu nhiên lúc này và mai sau.


4.2. Chân lý và sự thật, thuốc giải độc cho sự dối trá

Giáo hội khẳng định rõ về niềm tin của mình khi nói rất rõ rằng, “Được tạo ra theo hình ảnh và sự giống của Đấng Tạo hóa của chúng ta, chúng ta có thể thể hiện và chia sẻ tất cả những gì đúng, tốt và đẹp.”[45] Nói khác đi, chúng ta được chia sẻ khả năng truyền thông của Thiên Chúa. Tuy nhiên, dấu vết của sự kiêu ngạo và ích kỷ đã làm sai lệch cách sử dụng khả năng thông truyền của chúng ta. Con người có xu hướng thích nghe những điều dối trá hơn là sự thật. Có thể nói rằng, “khả năng bóp méo sự thật là triệu chứng của tình trạng của chúng ta, cả với tư cách cá nhân và cộng đồng.”[46]

Trong thế giới truyền thông và hệ thống kỹ thuật số đang thay đổi nhanh chóng ngày nay, chúng ta phải đối diện với sự lây lan không ngừng của “tin tức giả mạo” mỗi ngày như một loại vi-rút mới và đầy nguy hiểm. Giáo hội luôn nhắc nhớ chúng ta về giá trị của sự thật và việc làm chứng cho sự thật, nên truyền thông xã hội cũng phải phục vụ sự thật.[47] Do đó, việc ngăn chặn những thông tin giả mạo và tái khám phá phẩm giá của báo chí trong việc truyền đạt sự thật là một đòi hỏi cấp thiết ngày nay trong không gian kỹ thuật số.

Thông tin giả mạo gây ra cho con người những tác hại rất lớn. Hậu quả của thông tin sai lệch làm mất uy tín của người khác, coi họ là kẻ thù, đến mức khiến họ trở nên những người tích cực tham gia mù quáng vào các cuộc xung đột hoặc trở thành tác nhân chính trong các cuộc xung đột. “Tin tức giả mạo là một dấu hiệu của thái độ không khoan dung và quá nhạy cảm, và chỉ dẫn đến sự lây lan của sự kiêu ngạo và thù hận. Đó là kết quả cuối cùng của sự không trung thực.”[48] Vì thế, không ai trong chúng ta được miễn trách nhiệm chống lại những điều gian dối này. Đây không phải là một nhiệm vụ dễ dàng. Nó đòi hỏi sự nỗ lực của nhiều tổ chức và cá nhân để giải thích và đáng giá thông tin do các phương tiện truyền thông cung cấp, đồng thời giáo dục và khuyến khích họ tham gia tích cực vào việc vạch mặt những điều sai trái, thay vì góp phần vào việc lan truyền thông tin sai lệch.

Việc vạch mặt và xác định cách thức hoạt động của thông tin sai lệch cũng đòi hỏi một quá trình phân định sâu sắc và cẩn thận. Cội nguồn của tất cả mọi sự dối trá là ma quỷ. (Mt 5,37) Chiến lược của nó là bắt chước một cách chính xác, hình thức dụ dỗ ranh mãnh và nguy hiểm đó đi sâu vào lòng người bằng những lý lẽ sai lầm và lôi cuốn, đến nỗi chúng ta có thể nói rằng, “không có cái gọi là thông tin sai lệch vô hại; trái lại, tin tưởng vào sự giả dối có thể gây ra hậu quả thảm khốc. Ngay cả một sự bóp méo dường như nhỏ của sự thật cũng có thể gây ra những tác động nguy hiểm.”[49] Do đó, việc giáo dục chân lý sẽ giúp mọi người biết cách phân định, đánh giá và hiểu những mong muốn và khuynh hướng sâu xa nhất của con người, kẻo chúng ta đánh mất điều tốt và khuất phục trước mọi cám dỗ.

Bên cạnh đó, sự ô nhiễm liên tục bởi ngôn ngữ lừa dối có thể khiến đời sống nội tâm của chúng ta bị đen tối. Vì thế, chúng ta phải có trách nhiệm và bổn phận tự bảo vệ chính mình bằng nhiều cách khác nhau. Tuy nhiên, “thuốc giải độc triệt để nhất cho vi-rút của sự giả dối là thanh lọc bằng sự thật.”[50] Trong cách hiểu của Kitô giáo, sự thật không phải là một thực tại khái niệm liên quan đến cách thức chúng ta đánh giá mọi thứ, xác định chúng là đúng hay sai. Sự thật không chỉ đưa ra ánh sáng những điều bị che giấu có thể khiến chúng ta tin tưởng. Nhưng “sự thật liên quan đến toàn bộ cuộc sống của chúng ta.”[51] Vì thế, sự thật là thứ bạn có thể dựa vào để không gục ngã. Trong ý nghĩa đó, chúng ta có thể khẳng định rằng, Đấng duy nhất thực sự đáng tin cậy và cậy trông – Đấng mà chúng ta có thể tin cậy – là Thiên Chúa hằng sống. Chính Chúa Giêsu Kitô là sự thật và chân lý của Thiên Chúa. Do đó, “chúng ta khám phá và tái khám phá sự thật khi chúng ta kinh nghiệm nó trong chính mình với lòng trung thành và đáng tin cậy của Đấng yêu thương chúng ta. Chỉ điều này thôi cũng có thể giải phóng chúng ta: Sự thật sẽ giải thoát anh em.”[52] Kết quả là, chúng ta trở nên những con người thực sự tự do để không lệ thuộc vào những gì là dối trá và sẵn sàng xây dựng một mối quan hệ dựa trên sự tin tưởng và sự thật. Tìm kiếm mối tương quan với tình huynh đệ, sự hiệp thông và lắng nghe nhau sẽ giúp chân lý được thực thi. Và khi sự thật được tìm kiếm liên lỉ sẽ giúp đẩy xa những gì là dối trá khỏi những suy nghĩ và tâm hồn của chúng ta.


4.3. Phẩm giá con người cần được tôn trọng trong không gian mạng

Trong môi trường Internet, những tác hại lớn lao liên quan đến con người được xem như là những điều ảnh hưởng đến phẩm giá của con người hơn hết. Phương tiện truyền thông mang đến nhưng sự thay đổi cơ bản trong các mô hình giao tiếp và các mối quan hệ giữa con người với nhau, trong đó phải kể đến những ảnh hưởng tiêu cực mà nó gây ra. Trên thực tế, Internet có thể giúp chúng ta trở thành những công dân tốt nhưng kèm theo đó phải là trách nhiệm của chúng ta trong việc tôn trọng phẩm giá của người khác. Dù chúng ta không nhìn thấy họ nhưng dù sao cũng là người có thật và có phẩm giá cần được tôn trọng. “Internet có thể được sử dụng một cách khôn ngoan để xây dựng một xã hội lành mạnh và cởi mở để chia sẻ.”[53] Điều này cũng có nghĩa là những người sử dụng Internet hoặc đang hoạt động trong môi trường mới nổi của truyền thông kỹ thuật số được khuyến khích thúc đẩy văn hóa tôn trọng, tương giao và đối thoại.[54]

Những công nghệ này thực sự là một món quà cho nhân loại và chúng ta phải nỗ lực để đảm bảo rằng những lợi ích mà chúng mang lại được phục vụ cho tất cả các cá nhân và cộng đồng con người, đặc biệt là những người thiệt thòi và dễ bị tổn thương nhất.[55] Do vậy, “những người đang hoạt động trong việc sản xuất và phổ biến nội dung truyền thông mới nên cố gắng tôn trọng phẩm giá và giá trị của con người.”[56] Mục đích tốt đẹp ban đầu của các phát minh trong lĩnh vực công nghệ nên được nhắc lại liên tục trong suốt quá trình phục vụ con người của nó. Ý thức được điều này, “tất cả chúng ta sẽ tránh chia sẻ những từ ngữ và hình ảnh làm suy đồi con người, thúc đẩy sự thù hận và không khoan dung, làm giảm đi sự tốt đẹp và thân mật của tình dục con người hoặc lợi dụng những người yếu đuối và dễ bị tổn thương.”[57]

Các công nghệ truyền thông hiện đại cũng đã mở ra con đường đối thoại trong nhiều lĩnh vực khác nhau giữa những tổ chức và con người từ các quốc gia, nền văn hóa và tôn giáo khác nhau. Không gian mạng trở thành một trung tâm cho phép diễn ra những cuộc gặp gỡ, học hỏi và trao đổi về những truyền thống và giá trị của nhau. Nó tạo nên một diễn đàn của những người yêu thích công nghệ mới và ứng dụng nó vào trong cuộc gặp gỡ có tính tương tác đa chiều. Trong những cuộc gặp gỡ này, “nếu muốn có kết quả, cần có những hình thức thể hiện trung thực và thích hợp cùng với sự lắng nghe chăm chú và tôn trọng.”[58] Bản chất của những cuộc đối thoại là cùng nhau tìm kiếm chân lý một cách chân chính và lẫn nhau. “Sau khi lắng nghe người khác bằng con tim trong sáng, chúng ta cũng có thể nói theo sự thật trong tình yêu.”[59] Nhưng cuộc gặp gỡ chỉ có thể đạt được mục đích sâu xa khi nó nhận ra được tiềm năng của nó để thúc đẩy sự phát triển trong hiểu biết và khoan dung. Vì thế, chúng ta cần khẳng định lại một cách chắc chắn lần nữa rằng, “cuộc sống của con người không chỉ là một chuỗi liên tiếp của các sự kiện hoặc các kinh nghiệm: nó là một cuộc tìm kiếm chân, thiện và mỹ.”[60]

Điều này chỉ có thể đạt được mục đích của nó nơi Chúa Giêsu. Chỉ có chân lý của Chúa Giêsu Kitô mới có thể đáp ứng đầy đủ và xác thực cho mong muốn của con người về mối quan hệ, sự hiệp thông và ý nghĩa được phản ánh trong sự phổ biến rộng rãi của mạng xã hội. Những đòi hỏi này bắt đầu từ những người tin vào Chúa Giêsu. Họ được mời gọi làm chứng cho niềm tin sâu sắc nhất của họ trong việc ngăn chặn những trang web đóng vai trò như một công cụ hạ thấp cá nhân con người, cố gắng thao túng con người về mặt cảm xúc hoặc những trang web cho phép những người có quyền lực độc quyền ý kiến của người khác. Bên cạnh đó, người Kitô hữu nên khuyến khích mọi người tiếp tục sống những câu hỏi vĩnh cửu của con người, những câu hỏi làm chứng cho ước muốn siêu việt và khao khát của chúng ta về những hình thức đích thực, thực sự đáng được sống. Sự khao khát thiêng liêng này chắc chắn sẽ truyền cảm hứng cho việc chúng ta ngày nay tìm kiếm sự thật và sự hiệp thông và thúc đẩy chúng ta giao tiếp với sự chính trực và trung thực.[61]


4.4. Công nghệ truyền thông phục vụ cho việc loan báo Tin mừng

Các công nghệ kỹ thuật số mới đang mang lại cho con người những sự thay đổi thực sự trong cuộc sống. Điều này cho thấy tiềm năng rất lớn của công nghệ truyền thông hiện đại trong mọi hoạt động của Giáo hội và xã hội. Nếu chúng ta biết cách sử dụng chúng một cách hiệu quả, chúng sẽ trở thành một tác nhân mạnh mẽ để thúc đẩy việc loan báo Tin mừng ngày nay. “Những công nghệ này thực sự là một món quà cho nhân loại và chúng ta phải nỗ lực để đảm bảo rằng những lợi ích mà chúng mang lại được phục vụ cho tất cả các cá nhân và cộng đồng con người, đặc biệt là những người thiệt thòi và dễ bị tổn thương nhất.”[62] Bên cạnh đó, Giáo hội cũng phải tận dụng những nguồn lực tài nguyên mới được cung cấp bởi sự khám phá của con người trong công nghệ máy tính và trí tuệ nhân tạo cho sứ vụ truyền giáo luôn cấp bách của mình. “Sứ điệp quan trọng và khẩn cấp nhất của Giáo hội liên quan đến sự hiểu biết về Đấng Kitô và con đường cứu rỗi mà Ngài đưa ra. Đây là điều mà Giáo hội phải đặt ra trước mọi người ở mọi thời đại, mời gọi họ đón nhận Phúc Âm trong tình yêu thương.”[63]

Phương tiện truyền thông luôn có sẵn và sẵn sàng phục vụ cho việc loan báo Tin mừng. Điều quan trọng của người Kitô hữu chính là khả năng sử dụng các ngôn ngữ mới của máy tính, không chỉ để theo kịp thời đại, nhưng đúng hơn là để cho phép sự phong phú vô hạn của Tin mừng được diễn đạt, và có thể chạm đến tâm trí và trái tim của tất cả mọi người. Đối với Giáo hội, “thế giới không gian mạng mới là một lời triệu tập cho cuộc phiêu lưu vĩ đại của việc sử dụng tiềm năng của nó để loan báo sứ điệp Tin Mừng.”[64] Vì thế, ý thức tầm quan trọng của việc loan báo Tin mừng và những ngôn ngữ mới để phục vụ cho việc truyền giáo cách hiệu quả, chúng ta cần chú ý cẩn thận đến việc hiểu biết văn hóa và phong tục của những người chưa nhận biết Thiên Chúa để chân lý của Tin mừng có thể chạm đến trái tim và tâm trí của họ. “Trái tim nói với trái tim.” (Thánh John Henry Newman) Do đó, “việc công bố Đức Kitô trong thế giới công nghệ mới đòi hỏi phải có kiến thức sâu rộng về thế giới này nếu các công nghệ đó phục vụ đầy đủ cho sứ mệnh của chúng ta.”[65] Đặc biệt, Giáo hội nên khuyến khích những người trẻ, những người có khả năng tiếp cận dễ dàng với những phương tiện truyền thông mới, đảm nhận trách nhiệm truyền bá Tin mừng hóa trong “lục địa kỹ thuật số” này.

Bên cạnh đó, mạng xã hội cũng là một phương tiện truyền bá Phúc âm, đồng thời cũng là một yếu tố trong sự phát triển của con người. Mạng xã hội cũng sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc chia sẻ các nguồn tài nguyên tinh thần và phụng vụ, giúp mọi người cầu nguyện với cảm giác gần gũi hơn với những người có cùng đức tin. Nó cũng tạo nên một sự tương tác chân thực và hiệu quả giữa những người Kitô hữu có đức tin vững mạnh với những ai đang hoài nghi hoặc xa rời đức tin Kitô giáo, giúp họ nuôi dưỡng đức tin của họ bằng lời cầu nguyện và suy tư về sự hiện diện của Thiên Chúa trong cuộc sống của họ. Món quà lớn nhất mà những người Kitô hữu có thể chia sẻ với mọi người trong không gian mạng lưới toàn cầu đó là Tin mừng về một Thiên Chúa đã trở thành người, Đấng chịu đau khổ, đã chết và đã sống lại để cứu tất cả mọi người. “Trái tim con người đang khao khát một thế giới mà tình yêu thương trường tồn, nơi những món quà được chia sẻ, nơi sự hiệp nhất được xây dựng, nơi tự do tìm thấy ý nghĩa trong sự thật và nơi bản sắc được tìm thấy trong sự hiệp thông tôn trọng.”[66]


  1. KẾT LUẬN

Để kết luận, chúng ta không thể không nhắc lại sự thay đổi vĩ đại mà Internet đã mang lại cho nhân loại trong những thập niên gần đây. Nếu cuộc cách mạng công nghiệp đã mang lại một sự biến đổi sâu sắc trong xã hội nhờ những sửa đổi mà nó đưa vào chu trình sản xuất và đời sống của người lao động, thì những thay đổi căn bản đang diễn ra trong công nghệ truyền thông hiện đại đang hướng dẫn những phát triển quan trọng trong các nền văn hóa và xã hội.[67] Thiên niên kỷ thứ 3 được xem là thời kỳ biến đổi văn hóa rộng lớn ngang qua sự xuất hiện của những công nghệ truyền thông mới. Nó tạo nên một lối suy nghĩ và nghiên cứu mới, cùng với những cơ hội chưa từng có để thiết lập các mối quan hệ và xây dựng mối tương quan hỗ tương.

Rõ ràng, chân trời mới hiện nay mở ra tầm nhìn rộng lớn khiến con người phải ngạc nhiên về những gì nó đóng góp và cung ứng cho con người từ những phát minh vĩ đại của nó. Đồng thời, nó cũng thách thức khả năng nhận diện vấn đề đang gây nhiễu trong mạng lưới rộng lớn đó, đặc biệt là thúc đẩy con người ngày nay cam kết và dấn thân mạnh mẽ hơn trong việc suy tư cách nghiêm túc về tầm quan trọng của truyền thông xã hội trong thời đại kỹ thuật số hiện nay. Nghĩa là họ phải luôn sẵn sàng trong tư thế tỉnh táo và tỉnh thức để đối diện với những tiềm năng phi thường của Internet và sự phức tạp trong quá trình sử dụng chúng. Internet giống như một biên giới mới mở ra trong kỷ nguyên mới này. Giống như những biên giới mới của những thời đại khác, “biên giới này cũng đầy rẫy sự đan xen của nguy hiểm và hứa hẹn.”[68] Đối với Giáo hội, thế giới không gian mạng mới là một lời triệu tập cho cuộc phiêu lưu vĩ đại của việc sử dụng tiềm năng của nó để loan báo sứ điệp Tin Mừng và tân Phúc âm hóa. Cũng như mọi thành quả khác của sự khéo léo của con người, các công nghệ truyền thông mới phải được đặt để phục vụ lợi ích toàn diện của cá nhân và toàn thể nhân loại. Nếu được sử dụng một cách khôn ngoan, chúng có thể góp phần thỏa mãn khát vọng về ý nghĩa, chân lý và sự thống nhất vốn vẫn là khát vọng sâu xa nhất của mỗi con người.[69]

Mặc dù Internet không bao giờ có thể thay thế được kinh nghiệm sâu sắc về Thiên Chúa mà chỉ đời sống sinh hoạt, phụng vụ và bí tích của Giáo hội mới có thể cung cấp, nhưng nó chắc chắn có thể đóng góp một sự bổ sung và hỗ trợ độc đáo trong cả việc chuẩn bị cho cuộc gặp gỡ với Chúa Kitô trong cộng đồng, và nâng đỡ người mới tin trong cuộc hành trình đức tin đầy thách đố và cam go sau này của họ. Do đó, các tín hữu được khuyến khích để tiếp tục suy tư và sống những câu hỏi vĩnh cửu của con người, những câu hỏi làm chứng cho ước muốn siêu việt và khao khát của chúng ta về những hình thức sống đích thực, thực sự đáng được sống. Chính sự khao khát thiêng liêng duy nhất của con người này đã truyền cảm hứng cho việc chúng ta tìm kiếm sự thật và sự hiệp thông và thúc đẩy chúng ta truyền thông với sự chính trực và trung thực. Khi chúng ta trung tín với kế hoạch của Thiên Chúa, kết quả là, việc truyền thông sẽ trở thành một biểu hiện hữu hiệu của chúng ta trong việc tìm kiếm lẽ thật và theo đuổi điều thiện có trách nhiệm.
Linh mục Micae Rua Trần Phạm Hoàng Gia Thi SDB
WHĐ (18.05.2023)

 

 

[1] x. Phaolô VI. Inter Mirifica: Sắc Lệnh về Các Phương Tiện Truyền Thông Xã Hội (04/12/1963). Số 18.

[2] x. Gioan Phaolô II. Sứ điệp Ngày Thế giới Truyền thông lần thứ 24 (27/05/1990).

[3] Bđd,.

[4] x. Bênêđictô XVI. Sứ điệp Ngày Thế giới Truyền thông lần thứ 47 (12/05/2013), tại https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/-su-diep-cua-duc-thanh-cha-benedicto-xvi-nhan-ngay-the-gioi-truyen-thong-xa-hoi-lan-thu-47-17831

[5] Phanxicô. Sứ điệp Ngày Thế giới Truyền thông lần thứ 53 (24/01/2019), tại https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/su-diep-cua-duc-thanh-cha-phanxico-cho-ngay-the-gioi-truyen-thong-xa-hoi-lan-thu-53-nam-2019–34731

[6] Bđd,.

[7] Pulkitagarwal03pulkit. Ưu và nhược điểm của Internet (Cập nhật: 28/06/2022). Trích dẫn từ: https://www.geeksforgeeks.org/advantages-and-disadvantages-of-internet/

[8] Matt Ahlgren. Hơn 100 thống kê, sự kiện và xu hướng Internet cho năm 2023. Trích dẫn từ: https://www.websiterating.com/vi/research/internet-statistics-facts/

[9] Computer Hope. Những lợi thế của Internet là gì? (Cập nhật: 12/01/2019). Trích dẫn từ: https://www.computerhope.com/issues/ch001808.htm

[10] Phanxicô. Sứ điệp Ngày Thế giới Truyền thông lần thứ 53 (24/01/2019), tại https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/su-diep-cua-duc-thanh-cha-phanxico-cho-ngay-the-gioi-truyen-thong-xa-hoi-lan-thu-53-nam-2019–34731

[11] Bênêđictô XVI. Sứ điệp Ngày Thế giới Truyền thông lần thứ 47 (12/05/2013), tại https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/-su-diep-cua-duc-thanh-cha-benedicto-xvi-nhan-ngay-the-gioi-truyen-thong-xa-hoi-lan-thu-47-17831

[12] Phanxicô. Sứ điệp Ngày Thế giới Truyền thông lần thứ 52 (24/01/2018), tại: https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/su-diep-ngay-the-gioi-truyen-thong-xa-hoi-thu-52-2018–32294

[13] Bđd,.

[14] Eiler, Franz-Josef. Communicating in Ministry and Mission: An Introduction to Pastoral and Evangelizing Communication. Fourth Updated Edition Manila: Logos, 2018. p. 26.

[15] Phanxicô. Sứ điệp Ngày Thế giới Truyền thông lần thứ 52 (24/01/2018), tại https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/su-diep-ngay-the-gioi-truyen-thong-xa-hoi-thu-52-2018–32294

[16] x. Phanxicô. Phanxicô. Sứ điệp Ngày Thế giới Truyền thông lần thứ 53 (24/01/2019), tại https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/su-diep-cua-duc-thanh-cha-phanxico-cho-ngay-the-gioi-truyen-thong-xa-hoi-lan-thu-53-nam-2019–34731

[17] Bđd,.

[18] Bênêđictô XVI. Sứ điệp Ngày Thế giới Truyền thông lần thứ 47 (24/01/2013), tại https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/-su-diep-cua-duc-thanh-cha-benedicto-xvi-nhan-ngay-the-gioi-truyen-thong-xa-hoi-lan-thu-47-17831

[19] Bênêđictô XVI. Sứ điệp Ngày Thế giới Truyền thông lần thứ 45 (24/01/2011), tại https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/su-diep-cua-duc-thanh-cha-benedicto-xvi-nhan-ngay-the-gioi-truyen-thong-xa-hoi-lan-thu-45-17762

[20] x. Bênêđictô XVI. Sứ điệp Ngày Thế giới Truyền thông lần thứ 47 (24/01/2013), tại https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/-su-diep-cua-duc-thanh-cha-benedicto-xvi-nhan-ngay-the-gioi-truyen-thong-xa-hoi-lan-thu-47-17831

[21] Gioan Phaolô II. Sứ điệp Ngày Thế giới Truyền thông lần thứ 31(11/05/1997).

[22] Phanxicô. Sứ điệp Ngày Thế giới Truyền thông lần thứ 52 (24/01/2018), tại https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/su-diep-ngay-the-gioi-truyen-thong-xa-hoi-thu-52-2018–32294

[23] Bđd,.

[24] x. Gioan Phaolô II. Sứ điệp Ngày Thế giới Truyền thông lần thứ 26 (31/05/1992).

[25] Bđd,.

[26] x. Phanxicô. Sứ điệp Ngày Thế giới Truyền thông lần thứ 50 (24/01/2016), tại

[27] Phaolô VI. Inter Mirifica: Sắc Lệnh về Các Phương Tiện Truyền Thông Xã Hội (04/12/1963). Số 1.

[28] Gioan Phaolô II. Sứ điệp Ngày Thế giới Truyền thông lần thứ 26 (31/05/1992).

[29] Phanxicô. Sứ điệp Ngày Thế giới Truyền thông lần thứ 52 (24/01/2018), tại https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/su-diep-ngay-the-gioi-truyen-thong-xa-hoi-thu-52-2018–32294

[30] Bđd,.

[31] Phaolô VI. Tông huấn Evangelii Nuntiandi. Số 45.

[32] x. Gioan Phaolô II. Sứ điệp Ngày Thế giới Truyền thông lần thứ 36 (11/05/1997).

[33] Bênêđictô XVI. Sứ điệp Ngày Thế giới Truyền thông lần thứ 43 (24/05/2009), tại https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/su-diep-cua-duc-thanh-cha-benedicto-xvi-nhan-ngay-quoc-te-truyen-thong-xa-hoi-lan-thu-43-24-05-2009-17705

[34] x. Phanxicô. Tông huấn Evangelii Gaudium (24/11/2013). Số 1, tại https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/tong-huan-niem-vui-cua-tin-mung-evangelii-gaudium-46656

[35] Gioan Phaolô II. Sứ điệp Ngày Thế giới Truyền thông lần thứ 36 (12/05/2002).

[36] Phaolô VI. Tuyên ngôn về Tự do Tôn giáo Dignitatis Humanae (07/12/1965). Số 1.

[37] Gioan Phaolô II. Sứ điệp Ngày Thế giới Truyền thông lần thứ 36 (12/05/2002).

[38] Gioan Phaolô II. Sứ điệp Ngày Thế giới Truyền thông lần thứ 24 (27/05/1990).

[39] Bđd,.

[40] x. Vatican. Huấn thị Communio và Progressio (23/05/1971). Số 114.

[41] x. Bênêđictô XVI. Sứ điệp Ngày Thế giới Truyền thông lần thứ 45 (05/06/2011), tại https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/su-diep-cua-duc-thanh-cha-benedicto-xvi-nhan-ngay-the-gioi-truyen-thong-xa-hoi-lan-thu-45-17762

[42] Bđd,.

[43] Phanxicô. Sứ điệp Ngày Thế giới Truyền thông lần thứ 52 (24/01/2018), tại https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/su-diep-ngay-the-gioi-truyen-thong-xa-hoi-thu-52-2018–32294

[44] Bênêđictô XVI. Sứ điệp Ngày Thế giới Truyền thông lần thứ 47 (24/01/2013), tại https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/-su-diep-cua-duc-thanh-cha-benedicto-xvi-nhan-ngay-the-gioi-truyen-thong-xa-hoi-lan-thu-47-17831

[45] Phanxicô. Sứ điệp Ngày Thế giới Truyền thông lần thứ 52 (24/01/2018), tại https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/su-diep-ngay-the-gioi-truyen-thong-xa-hoi-thu-52-2018–32294

[46] Bdđ,.

[47] x. Phaolô VI. Sứ điệp Ngày Thế giới Truyền thông lần thứ 6 (21/04/1972).

[48] Phanxicô. Sứ điệp Ngày Thế giới Truyền thông lần thứ 52 (24/01/2018), tại https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/su-diep-ngay-the-gioi-truyen-thong-xa-hoi-thu-52-2018–32294

[49] Bđd,.

[50] Bđd,.

[51] Phanxicô. Sứ điệp Ngày Thế giới Truyền thông lần thứ 53 (24/01/2019), tại https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/su-diep-cua-duc-thanh-cha-phanxico-cho-ngay-the-gioi-truyen-thong-xa-hoi-lan-thu-53-nam-2019–34731

[52] Phanxicô. Sứ điệp Ngày Thế giới Truyền thông lần thứ 52 (24/01/2018), tại https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/su-diep-ngay-the-gioi-truyen-thong-xa-hoi-thu-52-2018–32294

[53] Phanxicô. Sứ điệp Ngày Thế giới Truyền thông lần thứ 50 (24/01/2016), tại https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/su-diep-cua-duc-thanh-cha-phanxico-cho-ngay-the-gioi-truyen-thong-xa-hoi-lan-thu-50-17903

[54] x. Bênêđictô XVI. Sứ điệp Ngày Thế giới Truyền thông lần thứ 43 (24/05/2009), tại https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/su-diep-cua-duc-thanh-cha-benedicto-xvi-nhan-ngay-quoc-te-truyen-thong-xa-hoi-lan-thu-43-24-05-2009-17705

[55] Bđd,.

[56] Bđd,.

[57] Bđd,.

[58] Bđd,.

[59] Phanxicô, Sứ điệp Ngày Thế giới Truyền thông lần thứ 57 (24/01/2023), tại https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/su-diep-cua-duc-giao-hoang-phanxico-nhan-ngay-the-gioi-truyen-thong-xa-hoi-lan-thu-57-50274

[60] Bênêđictô XVI. Sứ điệp Ngày Thế giới Truyền thông lần thứ 43 (24/05/2009), tại https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/su-diep-cua-duc-thanh-cha-benedicto-xvi-nhan-ngay-quoc-te-truyen-thong-xa-hoi-lan-thu-43-24-05-2009-17705

[61] x. Bđd,.

[62] Bđd,.

[63] Bđd,.

[64] Gioan Phaolô II. Sứ điệp Ngày Thế giới Truyền thông lần thứ 36 (12/05/2002).

[65] Bđd,.

[66] Bênêđictô XVI. Sứ điệp Ngày Thế giới Truyền thông lần thứ 47 (12/05/2013), tại https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/-su-diep-cua-duc-thanh-cha-benedicto-xvi-nhan-ngay-the-gioi-truyen-thong-xa-hoi-lan-thu-47-17831

[67] x. Bênêđictô XVI. Sứ điệp Ngày Thế giới Truyền thông lần thứ 45 (05/06/2011), tại https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/su-diep-cua-duc-thanh-cha-benedicto-xvi-nhan-ngay-the-gioi-truyen-thong-xa-hoi-lan-thu-45-17762

[68] Gioan Phaolô II. Sứ điệp Ngày Thế giới Truyền thông lần thứ 36 (12/05/2002).

[69] x. Bênêđictô XVI. Sứ điệp Ngày Thế giới Truyền thông lần thứ 45 (05/06/2011), https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/su-diep-cua-duc-thanh-cha-benedicto-xvi-nhan-ngay-the-gioi-truyen-thong-xa-hoi-lan-thu-45-17762

Read More
18Tháng Năm
2023

Lần theo cuốn sách nổi tiếng của Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận

18/05/2023
Anmai
Chia sẻ, Giáo dục
0

Lần theo cuốn sách nổi tiếng của Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận

Trong thời gian Đức Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận bị quản thúc tại Nhà thờ Giang Xá thuộc TGP Hà Nội, 1978-1982, ông T.L, một giáo dân thuộc Giáo xứ Chính tòa Hà Nội có dịp tiếp xúc nhiều với Ngài. Chúng tôi đến gặp ông để nghe lại những câu chuyện xưa.

Đức Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận

Chính trong thời gian ở tại Giang Xá, Đức Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận đã viết hai cuốn sách nổi tiếng là Đường Hy vọng dưới ánh sáng lời Chúa và Công đồng Vaticano II và cuốn Những người lữ hành trên Đường Hy
vọng
.

Tôi theo chân ông T.L lên cầu thang gỗ dựng đứng trong căn nhà nhỏ tại phố cổ Hà Nội. Trên những kệ đầy sách, ông rút ra cuốn Đường Hy vọng đã bám màu thời gian, phủ đầy những kỷ niệm về Đức Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận. Đôi tay hơi run, ông lật giở từng trang để chỉ cho tôi thấy và kể cho tôi nghe những câu chuyện về Đấng Đáng kính.

Đạp xe 20 cây số để gặp Đức Hồng y

Từ năm 1978 đến 1982 Đức Hồng y ở tại nhà thờ Giang Xá thuộc Tổng Giáo phận Hà Nội. “Khi đó ở Hà Nội, một số tín hữu đã bắt gặp được nhiều tư tưởng mới của Ngài về đời sống đức tin dưới ánh sáng Công đồng Vaticano II. Nhóm chúng tôi chừng 4, 5 người thường đạp xe đến Giang Xá, cách trung tâm Hà Nội gần 20 km để có thể gặp gỡ Ngài. Mối thân tình cha con bắt đầu từ đó và càng gần gũi hơn khi Ngài ở tại Tòa Tổng Giám mục Hà Nội những năm 1988 trở đi”, ông T.L kể.

“Ngài bình dị lắm!”, đôi mắt trầm ngâm của ông T.L khép lại để truy hồi về một thời được cận kề bên Đức Hồng y. “Lúc đó, rất ít giáo dân được tiếp xúc với Ngài vì đang trong thời gian quản thúc. Căn phòng nhỏ của Ngài đơn giản hết mức có thể với bộ tràng kỷ cũ, chiếc giường cùng vật dụng cá nhân”.

Về cuốn sách Đường Hy vọng dưới ánh sáng Lời Chúa và Công đồng dày 533 trang, để trong tấm bìa da xanh sẫm, khổ nhỏ bằng n a tờ A4, ông kể: “Hôm đó tôi cùng bà xã qua thăm Đức Hồng y để trò chuyện. Ngài chia sẻ với chúng tôi rất nhiều trăn trở về đời sống đức tin của giáo dân Việt Nam hiện tại.

Sau đó, Ngài lấy ra cuốn sách kèm tập tranh màu nho nhỏ đem từ Roma về. Đó là những bức tranh về các loài hoa kèm những câu trích thiêng liêng bằng tiếng Ý. Do vợ chồng tôi không thông thạo ngoại ngữ nên Ngài vừa dán ảnh vào những khoảng trống ở đầu các chuyên mục vừa ân cần giải nghĩa cho chúng tôi. Ngài còn tự tay viết những câu trích dẫn trong tranh bằng tiếng Việt ngay bên cạnh. Cả thảy có sáu bức như thế!”.

Tấm hình nhỏ do chính tay ĐHY Nguyễn Văn Thuận dán và dòng bút tích của Ngài.

Nhiều người lo ngại vì sức ảnh hưởng của cuốn sách

Lúc đó, điều kiện in ấn hết sức khó khăn. Giấy dùng để in khi ấy là giấy ngả vàng thời bao cấp, số lượng phát hành sách của Đức Hồng y cũng chỉ tới trăm cuốn là cùng.

Vì vậy, những cuốn sách “đời đầu” này cực kỳ hiếm và ít ai có được. “Gia đình tôi thì coi đó như một kỷ vật quý giá, một dấu ấn khó phai với cố Đức Hồng y. Không chỉ thế, nó còn là những tư tưởng, ánh sáng dẫn đường cho đời sống của nhà tôi. Chính vợ tôi đã ghi lại những dòng chữ ở đầu cuốn sách để có thể ngừng lại, ngẫm suy về những điều Đức Hồng y viết”.

Những dòng chữ bà viết lại mờ mờ theo cái lướt đi của thời gian nhưng vẫn còn đậm suy tư: “Những khi quá mất mát đắng cay/ Những lúc gần gục ngã trong cuộc sống/ Con lại đọc sách này/ Để tâm hồn náo nức mê say/ Từng giờ từng phút từng giây”.

Theo ông T.L, cuốn sách Đường Hy vọng làm cho nhiều người lo ngại vì sức ảnh hưởng của nó. Thêm nữa, Tu hội Hy vọng do chính ngài lập ra cũng hoạt động khá mạnh mẽ giữa thời thế nhiều biến đổi. Chính những ý tưởng Hy vọng của Ngài đã làm thức tỉnh, truyền cảm hứng cho giáo dân trong đời sống đức tin cũng như thường nhật. Ba bộ vãn dâng hoa kính Đức Mẹ tại Tổng Giáo phận Hà Nội lần lượt được viết trong thời gian đó cũng đượm tinh thần Hy vọng của Đức Hồng y!

Một tình yêu với Huế qua những điều nhỏ nhặt

“Cha đã đi một quãng đường/ Hân hoan có, gian khổ có nhưng luôn tràn trào hy vọng”. Đó là lời mà Đức Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận nói về Ngài và quả thực cuộc sống của Ngài đã như những gì Ngài nói.

Ông T.L tiếp tục nhặt nhạnh tiếp trong ký ức của mình về những hình ảnh một người Cha hy vọng luôn luôn trong đời sống vốn nhiều trúc trắc.

“Ngài có một tình yêu đối với Huế của mình qua những điều nhỏ nhặt. Có lần tôi gặp Ngài, Ngài kể nhiều về món tré của người cố đô với tình yêu dung dị”. Trong thời gian Ngài ở gần chỗ Công viên Thống Nhất hiện nay, thấy mấy anh công an canh giữ ngài đang đọc, viết gì đó, Ngài hỏi: “Các anh học gì đấy?”. Họ đáp: “Chúng cháu học ngoại ngữ chuyên ngành”. Khi đấy, Ngài bảo các anh đưa giấy, bút và những từ cần phiên dịch. Ngài đã viết mấy ngàn từ chuyên ngành với nhiều thứ tiếng, từ Việt, Anh, Pháp, Nga.

“Có lẽ kể về Đức Hồng y mãi thì chẳng hết được vì nhiều lắm!”, ông T.L trầm tư. Đức Hồng y bình dị trong những công việc nhỏ bé mà lại có những cái nhìn rất xa cho tương lai Giáo hội. Nhiều lần Ngài chia sẻ tâm nguyện mua một miếng đất bên sông Hồng để xây một ngôi nhà thờ kính các thánh tử đạo Việt Nam.

Những lo lắng của Ngài về chủng sinh, linh mục với trăn trở “khi ở Chủng viện thì các thầy theo luật của Chủng viện, còn khi làm cha rồi thì theo luật của mình”. Ngài còn lo xa cho hàng giáo phẩm tại miền Bắc sau này vì nhân sự còn quá yếu.

“Chấm này nối tiếp chấm kia, ngàn vạn chấm thành một đường dài. Phút này nối tiếp phút kia, muôn triệu phút thành một đời sống. Chấm mỗi chấm cho đúng, đường sẽ đẹp. Sống mỗi phút cho tốt, đời sẽ thánh”. Mượn câu trích trong Đường Hy vọng của cố Đức Hồng y để tạm khép cuốn sách kỷ niệm về Ngài, về những câu chuyện vắn vỏi của Ngài tại Hà Nội.

Những ý tưởng đó sẽ mãi vương vấn, nảy mầm trong mưa hồng ân của Thiên Chúa. Và rồi, mỗi chấm, mỗi phết qua đi trong cuộc đời đều là mỗi phết, mỗi chấm của Hy Vọng.

Ngày 4-5-2017, Ủy ban Hồng Y và Giám mục thuộc Bộ Tuyên Thánh tại Vatican đã biểu quyết đồng loạt chấp nhận án tuyên thánh của tôi tớ Chúa Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận. Với bước ngoặt quan trọng này, Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận sẽ tiến gần hơn đến việc được phong Chân Phước và cuối cùng là được tuyên Hiển Thánh.

AN DUYÊN

Read More

Điều hướng bài viết

  • Previous page
  • Page 1
  • …
  • Page 25
  • Page 26
  • Page 27
  • …
  • Page 152
  • Next page
Bài viết mới nhất
THƯ GỬI SINH VIÊN, HỌC SINH CÔNG GIÁO NHÂN DỊP MỪNG XUÂN BÍNH NGỌ
11/02/2026
THƯ GỬI SINH VIÊN, HỌC SINH CÔNG GIÁO NHÂN DỊP MỪNG LỄ CHÚA GIÁNG SINH 2025
20/12/2025
THƯ GỬI ANH CHỊ EM GIÁO CHỨC CÔNG GIÁO NHÂN NGÀY NHÀ GIÁO VIỆT NAM 20.11.2025  
17/11/2025
Video nổi bật
https://www.youtube.com/watch?v=Td144YDsaGo
Sự kiện sắp tới

There are no upcoming events at this time.

Ủy ban Giáo dục Công giáo – Trực thuộc Hội Đồng Giám Mục Việt Nam.

Liên hệ

72/12 Trần Quốc Toản, Phường 8, Quận 3, TP.HCM Get Directions

Phone: +84 931 436 131

Email: [email protected]

Ban chuyên môn
  • Ban Tài liệu và Truyền thông
  • Ban Giáo chức
  • Ban Kỹ năng và Giá trị sống
  • Ban Khuyến học
  • Ban Học viện Thần học
  • Ban Hội Học sinh – Sinh viên
Chuyên mục
  • Tin tức
  • Thư chung
  • Giáo dục
  • Phụng vụ
  • Thư viện
Bản quyền © 2020 thuộc về Ủy Ban Giáo Dục HĐGM VN. Design by JT.