2023
THÂN PHẬN TUỔI GIÀ TRONG KIẾP NHÂN SINH
THÂN PHẬN TUỔI GIÀ TRONG KIẾP NHÂN SINH
Trong vòng hai tháng vừa qua, tôi vinh dự nhận được hai tấm bằng chúc thọ bảy mươi tuổi, một từ hội Người Cao Tuổi cấp Phường/ Xã, hai là của hội Đồng Hương. Quả thực, bây giờ mình đã được người ta kính trọng gọi là “Cụ” rồi vì đã bước chân vào lớp tuổi xưa nay hiếm. Thất thập cổ lai hy! Chúng ta cũng biết rằng hàng năm người ta chọn ngày 01 tháng 10 để nhắc nhớ và tôn vinh người cao tuổi. “Ngày quốc tế người cao tuổi viết tắt IDOP (International Day of Older Persons) là một ngày hành động quốc tế do Liên Hiệp Quốc đặt ra nhằm tuyên truyền cổ động cho việc chăm sóc, bảo vệ các người cao tuổi trong mọi nước thành viên vào ngày 01 tháng 10 hàng năm”. (Theo Wikipedia)
Nhiều lúc mình tự hỏi, liệu bảy mươi đã là già chưa? Lấy gì làm tiêu chuẩn để đo cái già của mình bây giờ? Thời gian chỉ là một số đo ước lệ. Người ta thường nói, “càng già, càng dẻo, càng dai…” để ám chỉ rằng cái mà người ta tưởng “già-hết-đát” thì không hiển nhiên áp dụng cho hết mọi lão-nhân được. Trên thực tế, có nhiều người già mặc dù đã trên dưới một trăm tuổi nhưng có thể làm được những chuyện phi thường mà người trẻ không làm được, như khiêu vũ, chơi piano, nhảy dù, chạy ma-ra-tông, thực hành Yoga, lặn sâu dưới biển vv.
Có người đã nói, “Khi người ta 20-30 tuổi thì người ta còn quá trẻ, 30-40 tuổi thì đang trẻ, 40-50 tuổi hãy còn trẻ, 50-60 trẻ lạ lùng, 60-70 tuổi là trẻ không ngờ và sau 70 là trẻ vĩnh viễn…Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn cũng có ý kiến sau: ‘Nói với một người trẻ rằng tôi già rồi em ạ, là vô lễ. Không có già, không có trẻ’ “. [1]
Vậy thì chẳng có lý do gì phải bận tâm về cái “già” của mình cả. Cũng chẳng phải mặc cảm về cái tấm thân gầy héo hay mái tóc bạc phơ làm gì, chẳng qua đó chỉ là dấu ấn của thời gian mà thôi.
Quả thật, “Con người sinh ra, sống và phải già đi, đó là lẽ thường trong cuộc sống con người, nhưng tuổi già phải có một cái gì để lại. Vì thế George Granville nói: ‘Tuổi trẻ là mùa của yêu thương, tuổi già là mùa của đạo đức. Tuổi già có thể trở thành một giai đoạn quý nhất của cuộc đời. Có người nói: Chúa định cho sức mạnh và vẻ đẹp của tuổi trẻ là ở thể chất. Nhưng sức mạnh và vẻ đẹp của tuổi già là trong tâm linh’. Đức thánh GH Gioan Phaolô II, dù đã già nua nhưng người cũng vẫn là một thần tượng cho cả giới trẻ cũng như giới già. Vì thế, trong cuốn ‘Phẩm Giá của Người Già’ (The Dignity of Older People) có đoạn viết như sau: ‘Đức thánh GH Gioan Phaolô II sống tuổi già của người với sự tự nhiên thoải mái dễ chịu. Người không che giấu gì hết, mà còn biểu lộ ra cho mọi người biết. Với sự hết sức chân thành, người nói: ‘Tôi là một linh mục già yếu’. Người sống tuổi già của người trong niềm tin. Người không hề để người bị giới hạn bởi tuổi tác”. [2]
Con người, dù không muốn già, cũng phải gánh lấy tuổi già theo năm tháng của cuộc đời này. Tuổi già có những đặc điểm mà những lứa tuổi khác không có được. Đó vừa là niềm hạnh phúc an nhiên nhưng cũng là niềm khắc khoải âu lo, vì tuổi già vừa là ân huệ, đồng thời cũng là một thử thách đáng sợ. Như câu nói sau đây: “Tuổi già giống như một chiếc máy bay xuyên qua cơn bão. Nếu một lần bạn cất cánh thành công, thì không có điều gì là bạn không thể làm được” (Golda Meir).
TUỔI GIÀ TRONG TỨ KHỔ (SINH-BỆNH-LÃO-TỬ)
Khi nói đến tuổi già, người ta thường nhắc đến bốn cái khổ của kiếp làm người, đó là sinh, bệnh, lão, tử. Lão là một cái khổ mà bất cứ ai cũng cảm nhận rõ ràng nhất. Cái khổ của người già lại trở nên bi đát hơn khi nó gắn liền với hai cái khổ kia, đó là bệnh và tử. Nói về bệnh của người già, ta không thể không nói đến những căn bệnh thể xác và căn bệnh tâm thần.
Khi bắt đầu tuổi sáu mươi, cơ thể lão hóa dần dần, các bệnh tật ồ ạt kéo tới. Tuổi này bắt đầu gọi là tuổi già hay tuổi cao niên và khi qua đời người quá cố sẽ được phong cho hai chữ “Hưởng thọ”.
Thực vậy, “Ở tuổi này, cả cơ thể và tinh thần đều thay đổi, da nhăn, tóc bạc, đi đứng cũng chậm chạp, mắt mờ, tai lãng, sức yếu cùng với xuất hiện những tâm lý cô đơn, bi quan, nóng nảy, đa nghi… Những khủng hoảng tâm lý càng ngày càng tăng lên theo tuổi tác rõ nét nhất là khoảng 80 tuổi. Người về già cũng như một em bé, thân thể yếu đi, phản ứng chậm, người già cần một thời gian lâu để ghi nhớ dữ kiện, suy nghĩ và thời gian trả lời lâu hơn. Đặc biệt con người càng về già trí nhớ suy giảm rất hay quên, thiếu sự chú ý, dễ mắc hội chứng Alzheimer, không nhớ để đồ dùng ở đâu. Xương cốt yếu đi, hay đau nhức xương, đi đứng chậm chạp, dễ té ngã vì thế trong phòng tắm cần có biện pháp phòng ngừa trơn trợt” vv. [3]
Bệnh tật đối với người già thiết thân như bóng với hình. Mỗi khi gặp người lớn tuổi, ta chào hỏi, “Ông/ bà khỏe không?”, thì câu trả lời luôn là “Yếu lắm!”.
. Cái yếu nơi người già thấy rõ nhất là đi đứng khó khăn, vận động chậm chạp, không vững vàng như tuổi trẻ, nên nhiều trường hợp phải dùng đến cây gậy, như là cái chân thứ ba để trợ giúp.
. Cái yếu tiếp theo là về con mắt và lỗ tai. Nghe kém, nhìn kém. Trong nhiều trường hợp, các cụ phải dùng kính để xem cho rõ và dùng máy trợ thính để nghe rõ hơn. Thông thường thì cả thính lực và thị lực đều giảm sút đáng kể. Đó là cái bất tiện khá lớn của tuổi già.
. Cái yếu nữa là về giấc ngủ. Tuổi già sẽ không bao giờ ngủ sâu và ngủ lâu như tuổi trẻ. Thường thì có được giấc ngủ ngắn vào lúc khuya và chập chờn cho tới sáng. Các cụ ông lại phải chiến đấu với căn bệnh của tuyến tiền liệt, nên phải thức giấc để đi tiểu tiện nhiều lần trong đêm. Không gì cưỡng lại được. Dỗ được giấc ngủ đã khó, vậy mà hàng đêm cứ phải lóp ngóp dậy để đi vệ sinh năm ba lần, ôi thôi đâu còn ngủ nghê gì được nữa. Nhưng riết rồi cũng quen. Tất cả trở thành chuyện bình thường.
. Cái yếu đặc trưng của người già thuộc về trí nhớ. Dường như vấn đề trí nhớ của các cụ thường bị xuống cấp trầm trọng. Có cụ nói trước quên sau. Có cụ chuyện cũ xưa thì nhớ và kể lại vanh vách, còn chuyện mới xảy ra thì chẳng còn nhớ gì. Mới nghe xong mà cứ hỏi đi hỏi lại như chưa nói gì…Tất nhiên trong cuộc đối thoại, người nghe sẽ phải kiên nhẫn và thông cảm lắm, nếu không câu chuyện sẽ rơi vào bế tắc!
Có người đã chia sẻ kinh nghiệm bản thân, như sau: “Cảm nghiệm hiển nhiên về vấn đề này là người già bắt đầu quên, bắt đầu lẩm cẩm. Kinh nghiệm bản thân, có những lần rõ ràng khi ra khỏi nhà, đã khóa cửa cẩn thận, mà khi đã đi được một đoạn đường, sao tự nhiên mình quên hẳn không nhớ ra là đã khóa chưa; thế là buộc lòng phải quay trở lại… tôi có thể nghĩ khá lâu mới nhớ được tên một người bạn, quên ngay một việc mình định làm, tìm không thấy đồ vật mình vừa đặt xuống, không nhớ mình đã làm việc đó chưa, nhưng một lúc sau thì có thể nhớ lại”. [2]
. Còn cái yếu nữa của tuổi già không thể không nói tới. Đó là vấn đề ăn uống. Người già thường than thân trách phận là, lúc còn trẻ ăn được thì không được ăn, đến khi về già thì được ăn nhưng lại không ăn được. Đó là sự thật hiển nhiên. Vì khi đã lớn tuổi, việc ăn uống trở nên khó khăn. Răng thì rụng dần, nếu còn lại cái nào thì cũng lung lay, tê buốt. Có cụ không còn cái răng nào, gọi là móm, có cụ còn vài cái nhưng vấn đề nhai, nuốt trở nên khó khăn. Thậm chí việc uống nước hay các chất lỏng khác có khi cũng còn bị sặc. Do đó, người già thường ăn uống được ít, dẫn đến cơ thể suy kiệt và bệnh tật gia tăng.
TUỔI GIÀ VÀ BỆNH TẬT
Nói về bệnh tật của người già sẽ không bao giờ là chuyện dư thừa, bởi bệnh tật luôn gắn với tuổi già. Quả vậy, “Riêng thực trạng sức khỏe và người cao tuổi ở nước ta luôn cần được quan tâm. Nghiên cứu cho thấy, trung bình mỗi người cao tuổi ở nước ta phải chịu đựng 14 năm bệnh tật hành hạ trong tổng số 73 năm của cuộc đời với ít nhất 3 bệnh cần điều trị và khoảng 2,4 ngày bệnh mỗi tháng. Trái ngược với con số 5,7% người lớn tuổi khỏe mạnh thì có đến 60% người già có sức khỏe yếu hoặc rất yếu cần được chăm sóc đặc biệt, hơn thế nữa, việc chữa trị không chỉ tốn kém, khó khăn mà có nhiều trường họp cần phải chạy chữa suốt đời”. (Nguồn: Internet)
Khi bước vào bệnh viện, ta thấy những khu vực khám – điều trị các bệnh tim mạch, hô hấp, tiêu hóa, cơ xương khớp, tiết niệu lúc nào cũng chật cứng người già. Điều này cũng không gì lạ cả, vì khi tuổi của chúng ta càng cao thì nhiều chức năng của cơ thể càng bị suy giảm, sức khỏe càng yếu dần. Chính vì thế, người lớn tuổi dễ mắc bệnh và bệnh mạn tính cũng thường hay bị tái phát.
Có thể tạm liệt kê như sau: [4]
Bệnh về hệ thần kinh trung ương: hầu hết người cao tuổi do hệ thần kinh trung ương bị lão hóa dần nên làm cho trí nhớ kém, hay quên, cá biệt mắc một số bệnh như: Parkinson hoặc Alzheimer.
Bệnh về hệ thống tuần hoàn: trong số các bệnh về tim mạch ở người cao tuổi thì bệnh xơ vữa động mạch, bệnh thiểu năng mạch vành, bệnh tăng huyết áp…chiếm một tỷ lệ đáng kể. Trong một số trường hợp, các loại bệnh này thường thấy ở những người béo phì, nghiện bia, rượu chiếm tỷ lệ cao hơn những người không nghiện bia rượu.
Bệnh về hệ hô hấp: bệnh viêm họng, viêm phế quản mạn tính, giãn phế quản, tâm phế mạn tính, hen phế quản, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính là những bệnh gặp khá nhiều ở người cao tuổi, nhất là ở những người có tiền sử hoặc đang hút thuốc lá, thuốc lào, những người sống trong tình trạng thiếu dưỡng khí như: nhà chật hẹp, thiếu ánh sáng, khói bếp nhiều…
Bệnh về hệ xương khớp: đau xương, khớp, thoái hóa khớp nhất là đốt sống thắt lưng, khớp gối hoặc bệnh gút làm cho người bệnh đau đớn, lo lắng, buồn chán, nhất là khi thay đổi thời thiết. Thoái hóa khớp gối, gây biến chứng cứng khớp gây đau khớp gối và vận động khó khăn mỗi buổi sáng lúc bắt đầu ngủ dậy. Triệu chứng đau nhức các khớp xương tương đối phổ biến ở người cao tuổi, đặc biệt là về đêm gây khó chịu ảnh hưởng đến sức khỏe và gây mất ngủ hoặc ngủ không sâu, không ngon giấc.
Bệnh về đường tiêu hóa: Người cao tuổi rất dễ mắc bệnh rối loạn tiêu hóa như: ăn không tiêu, đầy hơi, chướng bụng, táo bón hoặc tiêu chảy. Táo bón là một bệnh do nhiều lý do khác nhau nhưng trong đó có một lý do mà người cao tuổi hay gặp phải là ít vận động. Người cao tuổi thường ngồi một chỗ thêm vào đó ít ăn rau, uống ít nước cho nên phân ứ lại lâu ngày ở trực tràng làm cho các mạch máu trực tràng giãn ra gây nên bệnh trĩ. Người cao tuổi cũng có thể mắc bệnh viêm loét dạ dày-tá tràng, trào ngược thực quản hoặc viêm đại tràng mạn tính. Các loại bệnh dạng này thường làm cho người cao tuổi rất khó chịu, gây lo lắng, ăn không ngon, ngủ không ngon giấc hoặc kém ngủ, mất ngủ kéo dài. Mất ngủ lại làm cho nhiều bệnh tật phát sinh.
Bệnh về hệ tiết niệu – sinh dục: Người cao tuổi cũng rất dễ mắc các bệnh về hệ tiết niệu – sinh dục, đặc biệt là u xơ tiền liệt tuyến hoặc ung thư tiền liệt tuyến. Những bệnh về sinh dục – tiết niệu thường có hiện tượng đi tiểu nhiều lần, tiểu rắt, tiểu són, nhất là vào ban đêm gây nhiều phiền toái cho người già.
Ngoài ra, ở người cao tuổi cũng thường bị rối loạn một số chỉ số về mỡ máu (cholesterol, triglycerid), rối loạn về chức năng gan (SGOT, SGPT), đái tháo đường vv.
Như trên đã nói, bệnh tật đối với người lớn tuổi thiết thân như người bạn đời. Dù không muốn hay không thích, chúng ta cũng phải “sống chung với lũ”. Vì thế thái độ thích hợp nhất của người già là chấp nhận bệnh tật và sống lạc quan. Chẳng hạn có ý kiến sau đây:
“Khi nói về sức khỏe người già hay hạnh phúc của người già, các nghiên cứu tổng kết đã đưa ra những khái niệm như ‘sức khỏe tương đối’. Sức khỏe chỉ cần tương đối thôi chứ nếu như mình đã 60, 70 tuổi mà mình muốn khỏe như một chàng thanh niên 30 tuổi thì không được rồi, mình phải chấp nhận. Nếu mình 60 tuổi rồi mà cứ ngồi tiếc mãi hồi 45, rồi lúc 70 tuổi ngồi tiếc mãi hồi 60, rồi khi mình 75 lại tiếc mãi hồi 70 tuổi…thì thật không nên. Phải biết sống ‘ở đây và bây giờ’ thôi. Mình tiếc mãi rồi mình khổ mãi…Cho nên người ta nói mình ở tuổi nào thì tuổi đó là tuổi hạnh phúc nhất, tốt nhất, muốn nhỏ lại hay lớn lên đều không được. Mình phải thưởng thức ngay lúc đó, ngay tuổi đó thì mình mới có thể hạnh phúc”. [1]
Bên cạnh chuyện bệnh tật của người già, chúng ta không thể không nói tới những đặc điểm về tâm lý, tinh thần của người cao tuổi. Mỗi khi gặp người lớn tuổi, ta thường nghe lời than thở “Chán lắm!”. Chán đây là biểu lộ tâm trạng cô đơn, tinh thần bi quan, cùng với tâm lý buồn chán thất vọng.
. Chán trước hết là vì phần đông người già luôn cảm thấy cô đơn, bị bỏ rơi. Cô đơn là trạng thái tâm lý người lớn tuổi dễ mắc phải. Có người cô đơn vì hoàn cảnh riêng phải sống lủi thủi một mình, không người thân hay con cháu bên cạnh. Người ta gọi đó là tình trạng người già neo đơn.
Cũng có trường hợp, cha mẹ lớn tuổi có điều kiện ở chung với con cháu nhưng họ vẫn cảm thấy cô đơn, lạc lõng. Do hoàn cảnh kinh tế, xã hội, con cháu phải đi làm, thường xuyên vắng nhà, còn ông bà/ cha mẹ thì chỉ biết lủi thủi trong nhà, nên cảm thấy như bị bỏ rơi, bị giam lỏng. Những lúc gia đình đoàn tụ, như trong bữa cơm tối chẳng hạn, thì người trẻ say mê nói chuyện làm ăn, buôn bán, trong khi người già cảm thấy lạc lõng, dường như họ thuộc về một thế giới khác, khó hòa nhập được. Họ sống khép kín và thu mình. Từ đó phát sinh tâm trạng tủi thân, rồi cũng vì thế người già dễ dàng mắc chứng trầm cảm.
Tuy nhiên, nói về cuộc sống của người già, nhiều người đặt câu hỏi, vậy người già có thực sự cô đơn hay không? Thực ra, cô đơn hay không, cũng tùy từng người, từng hoàn cảnh và từng nếp sống. Tại VN ngày nay, ở thành thị cũng như nông thôn, người ta lập những câu lạc bộ giúp người già có điều kiện sinh hoạt, vui chơi giải trí như khiêu vũ, đánh cờ, tập dưỡng sinh, tập múa, tập hát, tập đàn, diễn văn nghệ vv.
Hiện nay, cũng có nhiều người già ham mê đọc sách, viết sách, nghiên cứu, học hỏi. Có cụ đã ngoài 70, 80 mà vẫn cắp sách tới giảng đường đại học. Mặt khác, cũng có nhiều người lớn tuổi khá hài lòng với cuộc sống lặng lẽ, êm đềm, thảnh thơi của họ. Họ dành thời gian đi thăm bạn bè già, chăm sóc cây cảnh, nuôi chim cảnh, cá cảnh vv. Ngoài ra, nhờ sự phát triển của cách mạng công nghệ khiến việc kết nối với xã hội trở nên đơn giản và gần gũi, người già có điều kiện sử dụng internet, tham gia mạng xã hội như facebook, nhờ đó cuộc sống trở nên phong phú, gần gũi và hấp dẫn không kém.
Một vài địa phương, chính quyền và các nhà hảo tâm có sáng kiến chung tay xây dựng các cơ sở nuôi dưỡng và chăm sóc người già. Các cụ đến đây sống và sinh hoạt như nhà của mình, nhờ đó họ thoát cảnh cô đơn lẻ loi.
. Chán vì mang mặc cảm tự ti, thiếu tự tin. Người lớn tuổi thường mang mang mặc cảm tự ti và tỏ ra thiếu tự tin là vì tuổi già sức yếu, họ không còn khả năng làm những việc mà khi còn trẻ họ đã làm một cách dễ dàng, hiệu quả. Chẳng hạn, khi trẻ họ có thể chạy xe gắn máy cả trăm cây số mà không mệt, bây giờ thì chào thua. Ngày trước, người ta có thể leo trèo, chạy bộ, lao động chân tay hàng giờ mà không mỏi mệt, nhưng bây giờ thì vô phương. Thậm chí đi lên xuống cầu thang trong nhà cũng phải đứng lại nghỉ mệt, hơi thở thì hổn hển.
Quả đúng như câu nói, “Lực bất tòng tâm”. Ngạn ngữ Pháp cũng có câu nói tỏ ra tiếc nuối cho tuổi già, nói lên sự bất lực của tuổi già,“Si jeunesse savait, Si vieillesse pouvait!” (Nghĩa là: Ước gì tuổi trẻ giàu kiến thức và ước gì tuổi già giàu năng lực). Đúng thế, tuổi trẻ thiếu kinh nghiệm, non kiến thức và tuổi già thừa kinh nghiệm, giàu hiểu biết, nhưng sức lực thì đã quá hư hao theo ngày tháng phôi pha. “Than ôi, thời oanh liệt nay còn đâu!”. (Nguồn: Internet)
. Chán vì thường xuyên lo sợ và lo lắng. Có thể nói, lo lắng và lo sợ là dấu hiệu đặc trưng của tuổi già. Khi còn trẻ người ta vô tư trước mọi biến chuyển, mọi thay đổi, mọi khó khăn trong cuộc sống. Nhưng về già, xem ra cái gì chúng ta cũng sợ hãi, lo lắng. Lo lắng chuyện mưa nắng, giông bão, lũ lụt. Lo lắng chuyện cơm ăn áo mặc. Lo lắng chuyện ốm đau, bệnh tật. Lo lắng chuyện của con cháu. Lo lắng chuyện thời thế, chính trị vv.
Bên cạnh tâm trạng lo lắng linh tinh, người già còn dễ rơi vào tình trạng lo sợ vu vơ nữa. Lo sợ đi máy bay vì máy bay rớt. Lo sợ đi xe đò vì có thể bị đụng xe. Lo sợ đi một mình vì lạc. Lo sợ nhiều nhất vẫn là lo cho sức khỏe của mình vì cảm thấy gần đất xa trời. Thường xuyên bị ám ảnh bởi cái chết, người già thường sống trong bất an. Phải chăng thân phận của lứa tuổi gần đất xa trời là như vậy!?
. . . . . . . . . . . . . . . .
Thực ra, nếu nhìn tuổi già trong toàn cảnh cuộc đời thì ta sẽ thấy rằng chính giai đoạn tuổi cao niên, con người mới thực sự là chính họ. Họ hiểu chính bản thân họ với thân phận làm người trong kiếp sống ngắn ngủi. Họ hiểu giá trị cuộc đời hơn. Họ hiểu hạnh phúc là gì và đến từ đâu. Họ biết trân trọng những biến cố vui buồn trong cuộc sống, bởi đó chính là nét đẹp đa sắc màu của kiếp nhân sinh. Có câu nói sau: “Hãy có thời gian cho cả công việc và hưởng thụ; khiến mỗi ngày vừa hữu ích vừa thoải mái, và chứng tỏ rằng bạn hiểu giá trị của thời gian bằng cách sử dụng nó thật tốt. Và rồi tuổi trẻ sẽ tươi vui, và tuổi già không có nhiều hối tiếc, và cuộc đời sẽ là một thành công tươi đẹp” (Louisa May Alcott).
ĐTC Bê-nê-đic-tô XVI cũng đã nhắn nhủ người già là đừng nhìn lại quá khứ để thương tiếc trong sự sầu muộn, để rồi coi giai đoạn sống hiện nay như thời xế chiều. Ngài nhấn mạnh rằng: “Thật là đẹp ở trong tuổi già! Trong mỗi lứa tuổi, ta cần biết khám phá sự hiện diện và phúc lành của Chúa và những phong phú mà lứa tuổi ấy chứa đựng. Đừng bao giờ để cho mình bị khép kín trong sầu muộn! Chúng ta đã lãnh nhận hồng ân sống lâu. Sống, thật là điều tốt đẹp, kể cả với lứa tuổi chúng ta, mặc dù có một số khó khăn và giới hạn. Ước gì trên khuôn mặt chúng ta, luôn có niềm vui vì cảm thấy mình được Thiên Chúa yêu thương và không bao giờ buồn sầu”./. [2]
Aug. Trần Cao Khải
_____________
[1] x. BS Đỗ Hồng Ngọc – Nếp sống an lạc – NXB Văn hóa Văn nghệ TP. HCM năm 2016
[2] Vũ Huy Thiện – Tuổi già – Nguồn: gpcantho.com
[3] Tâm lí người già bạn nên biết – Nguồn: Internet
[4] Người cao tuổi thường mắc những bệnh gì? Nguồn: http://soyte.namdinh.gov.vn
2023
Cám dỗ “thanh tẩy” người khác bằng định kiến của mình
Bài huấn dụ của Đức Thánh Cha
Anh chị em thân mến, chào anh chị em!
Tin Mừng hôm nay trình bày với chúng ta dụ ngôn lúa mì và cỏ lùng (xem Mt 13,24-43). Một người nông dân đã gieo hạt giống tốt trên cánh đồng của mình và phát hiện ra rằng kẻ thù đã gieo cỏ lùng, một loại cây trông rất giống lúa mì, nhưng là một cây gây hại.
Cánh đồng rộng lớn
Bằng cách này, Chúa Giêsu nói về thế giới của chúng ta, một thế giới thực sự giống như một cánh đồng rộng lớn, nơi Thiên Chúa gieo lúa mì và ma quỷ gieo cỏ dại, và do đó, thiện và ác cùng nhau lớn lên. Chúng ta thấy điều đó trong các tin tức, trong xã hội, cũng như trong gia đình và trong Giáo hội. Và khi cùng với những hạt tốt, chúng ta nhìn thấy những loại cỏ dại, chúng ta muốn nhổ chúng đi ngay lập tức, để “quét sạch” ngay lập tức. Nhưng hôm nay Chúa cảnh báo chúng ta rằng đó là một cám dỗ: chúng ta không thể tạo nên một thế giới hoàn hảo và không thể thực hiện điều tốt lành bằng cách vội vàng tiêu diệt những gì sai trái, bởi vì điều này mang lại những hậu quả tồi tệ hơn: như người ta nói, chúng ta sẽ “đổ bỏ luôn đứa bé cùng với nước dơ đã tắm cho nó”.
Cánh đồng trái tim
Tuy nhiên, có một cánh đồng thứ hai mà chúng ta có thể và phải làm sạch: đó là cánh đồng trái tim, cánh đồng tâm hồn của chúng ta, cánh đồng duy nhất mà chúng ta có thể can thiệp trực tiếp. Ở đó cũng có lúa mì và cỏ lùng, thực ra chính từ đó mà cả hai lúa mì và cỏ lùng đều lan rộng ra cánh đồng rộng lớn của thế giới. Thật vậy, trái tim của chúng ta là cánh đồng của tự do: nó không phải là một phòng thí nghiệm vô trùng, mà là một không gian mở và do đó dễ bị tổn thương. Để canh tác nó đúng cách, một mặt cần phải thường xuyên chăm sóc những chồi non tốt, mặt khác phải xác định và nhổ bỏ những cây gây hại, vào đúng thời điểm. Vì vậy, hãy nhìn vào nội tâm và xem xét những gì đang xảy ra trong lòng tôi, những điều tốt và xấu đang phát triển trong tôi. Có một phương pháp tốt để làm điều này: được gọi là xét mình, là nhìn xem điều gì đang xảy ra trong cuộc sống của tôi hôm nay, điều gì đã đánh động tâm hồn tôi, tôi đã có quyết định nào. Và việc này chính là để xác minh, dưới ánh sáng của Thiên Chúa, cỏ dại ở đây và hạt giống tốt ở đâu.
Cánh đồng người lân cận
Sau cánh đồng thế giới và cánh đồng trái tim, còn có một cánh đồng thứ ba. Chúng ta có thể gọi nó là cánh đồng người lân cận. Đó là những người chúng ta gặp gỡ hàng ngày và thường phán xét. Chúng ta dễ dàng nhận ra cỏ lùng của họ biết bao! Chúng ta thích phơi bày điều xấu của người khác biết bao! Và ngược lại, thật khó biết bao để có thể nhìn thấy hạt giống tốt mọc lên! Tuy nhiên, chúng ta hãy nhớ rằng nếu chúng ta muốn canh tác các cánh đồng của cuộc sống, thì điều quan trọng trước hết là tìm kiếm công việc của Chúa: học cách nhìn thấy nơi người khác, nơi thế giới và nơi chính chúng ta vẻ đẹp của những gì Chúa đã gieo, hạt lúa đón nắng với những bông lúa vàng. Chúng ta cầu xin ơn Chúa để có thể nhìn thấy nó trong chúng ta, nhưng cũng ở nơi những người khác, bắt đầu từ những người gần gũi với chúng ta. Đó không phải là một cái nhìn ngây thơ, nhưng là một cái nhìn đức tin, bởi vì Thiên Chúa, người nông dân của cánh đồng thế giới rộng lớn, thích nhìn thấy điều tốt lành và làm cho nó phát triển cho đến khi biến vụ thu hoạch thành lễ hội!
Vì vậy, hôm nay chúng ta cũng có thể tự hỏi mình một số câu hỏi. Suy nghĩ về cánh đồng thế giới: tôi có thể vượt qua cám dỗ “dẹp bỏ mọi thứ cỏ thành một đống”, quét sạch người khác bằng những phán đoán của mình không? Sau đó, nghĩ về cánh đồng trái tim: tôi có trung thực tìm kiếm những mầm mống xấu trong mình và quyết ném chúng vào ngọn lửa lòng thương xót của Chúa không? Và, nghĩ đến cánh đồng người lân cận: tôi có đủ khôn ngoan để nhìn ra điều tốt mà không nản lòng trước những hạn chế và chậm chạp của người khác không?
Xin Đức Trinh Nữ Maria giúp chúng ta biết kiên nhẫn gieo trồng những gì Chúa gieo trên các cánh đồng của cuộc đời, trên cánh đồng của tôi, trên cánh đồng của người lân cận, trên cánh đồng của tất cả.
2023
NỖI CÔ ĐƠN CỦA NGƯỜI GIÀ
NỖI CÔ ĐƠN CỦA NGƯỜI GIÀ
Những ai đã và đang bước vào tuồi già, khoảng từ 70 tuổi trở lên, thường phải đối mặt với một nỗi sợ khủng khiếp, đó là sự cô đơn của tuổi già. Cô đơn không hẳn là do không có người thân hay do hoàn cảnh neo đơn, mà là do những yếu tố rất đặc thù khiến người già phải rút lui vào thế giới riêng của mình. Ở thế giới đó họ phải chiến đấu với mọi thứ khó khăn như tâm trạng chán nản bi quan, nỗi buồn quạnh hiu, bệnh tật triền miên, sự xa cách của xã hội, sự thiếu thốn vật chất, phương tiện này nọ vv…
Do đó, thách thức lớn nhất của người già là phải đối diện với nỗi cô đơn của chính mình. Chúng ta biết rằng, khi tuổi già ập đến, bạn bè và người thân lần lượt ra đi, những người già dễ lâm vào cảnh muốn thu mình lại, ít tiếp xúc với thế giới xung quanh. Khả năng nghe-nhìn (thính lực, thị lực) và sự vận động trở nên sút kém và khó khăn nên càng khiến họ khó giao tiếp với xã hội hơn. Mặt khác, những người già cũng có xu hướng không muốn kết bạn mới. Chính điều này khiến cho tỉ lệ người cao tuổi cô đơn có xu hướng cao hơn những lứa tuổi khác.
Hiện nay, các nhà xã hội học và tâm lý học rất quan tâm tới giới già và những vấn đề riêng của họ. Người ta cũng cố gắng đưa ra những giải pháp thích hợp nhất nhằm giúp người già thoát cảnh cô đơn và lên tiếng khuyến cáo xã hội quan tâm và đầu tư nhiều hơn vào việc giúp người già được có cơ hội sống vui, sống khỏe và sống hạnh phúc.
1-Tình trạng cô đơn của người già tại VN và các nước trên thế giới
Theo kết quả điều tra quốc gia về người cao tuổi Việt Nam, dân số Việt Nam đang “già hóa”. Tỷ lệ người trên 60 tuổi dự báo sẽ chiếm 20,7% dân số vào năm 2040, so với 10,2% năm 2014. Bên cạnh đó, cấu trúc gia đình Việt Nam đang thay đổi rõ rệt, nếu năm 1993 có tới 80% người cao tuổi sống với con cái thì năm 2010, tỷ lệ này chỉ còn 69,5%. Đã có một nhóm người trẻ coi việc tách ra ở riêng khỏi cha mẹ sau 18 tuổi là chuyện bình thường. Điều đáng buồn là, ngay cả khi sống cùng với con cháu, nhiều người già vẫn cảm thấy cô đơn khi không nhận được sự quan tâm, chia sẻ thích đáng. Không ít người già đang bị bỏ rơi ngay chính trong ngôi nhà của mình, giữa người thân của mình. [1]
Chúng ta biết rằng, hàng năm có một ngày gọi là Ngày Quốc Tế Người Cao Tuổi viết tắt IDOP (International Day of Older Persons). Đó là một ngày hành động quốc tế do Liên Hiệp Quốc đặt ra nhằm tuyên truyền cổ động cho việc chăm sóc, bảo vệ các người cao tuổi trong mọi nước thành viên vào ngày 1 tháng 10 hàng năm. Việt Nam cũng tham gia ngày này và tại các địa phương đều có tổ chức phát quà mừng thọ quý cụ ông cụ bà trên 70 tuổi.
Tại châu Âu, theo thống kê, số người già cô đơn càng lúc càng nhiều, chiếm tới hơn 30% dân số. Tuổi thọ kéo dài một mặt thể hiện sự phát triển của quốc gia, mặt khác nó cũng mang lại nhiều vấn đề, đặc biệt là vấn nạn cô đơn của người già. Cô đơn là một trong những căn bệnh đáng sợ nhất mà người cao tuổi phải đối diện trên toàn cầu. Đến nỗi, có những cụ già ở Nhật cố tình ăn trộm để được vào tù sống cho đỡ buồn.
Chính phủ các nước phát triển đã tìm nhiều cách để người già được hưởng sự chăm sóc tốt nhất. Ở Vương quốc Anh có “Bộ Cô đơn”. Ở nhiều nước phát triển, các đường dây nóng mở ra chỉ để người già có nơi gọi điện tâm tình, hoặc có những phong trào tình nguyện khuyến khích thanh niên tới thăm hỏi người già, trò chuyện và đọc sách, ăn với họ bữa cơm. Có những nơi chính phủ khuyến khích con cái đón cha mẹ về sống chung. Bù lại, họ sẽ được giảm giờ làm, giảm thuế hoặc được hưởng thêm ưu đãi trong chăm sóc y tế, sức khỏe. [1]
Tại Anh quốc, các nhà vận động ước tính nước này đang có khoảng 1,2 triệu người cao tuổi phải sống trong cảnh cô đơn. Những cuộc điện thoại hay các cuộc viếng thăm định kỳ theo tuần của những người tình nguyện đang được xem là một phần giải pháp giúp tình hình trở nên dễ chịu hơn.
Theo tổ chức Phi Chính phủ có tên “Người-cao-tuổi” của Anh, ở nước này đang có khoảng 1,2 triệu người cao tuổi phải sống trong cảnh cô đơn “kinh niên”. Tình trạng này ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe cả về thể chất và tinh thần của người già. Bà Caroline Abrahams, giám đốc tổ chức “Người-cao-tuổi” của Anh cho biết: “Sự cô đơn có thể ảnh hưởng xấu đến sức khỏe và sự hạnh phúc của người già. Điều này có thể nhìn thấy rõ về mặt tinh thần khi tình trạng trầm cảm ở người già thường trở nên nghiêm trọng hơn vì cô đơn”.
Không chỉ dẫn tới những nguy cơ về sức khỏe tinh thần, tình trạng cô đơn còn liên quan chặt chẽ đến bệnh tật, thậm chí là tử vong ở người cao tuổi. Các nghiên cứu gần đây đã cho thấy những người già sống tách biệt với xã hội thường có sức khỏe kém hơn và tử vong sớm hơn so với những người duy trì được sự gắn kết chặt chẽ với xã hội dù mối quan hệ nhân quả giữa việc cô đơn và bệnh tật đến nay vẫn chưa được chứng minh rõ ràng. Theo các nhà nghiên cứu của trường Đại học Lancaster, sự cô đơn có thể tăng nguy cơ tử vong thêm 26%.
Cũng theo nghiên cứu của trường Đại học Lancaster, có một điều trớ trêu là khi sự liên lạc trở nên dễ dàng hơn thì sự cô lập và cô đơn cũng gia tăng nhanh chóng hơn, đặc biệt là ở người cao tuổi.
Ước tính, có đến 3,9 triệu người già ở Anh xem TV là “người bầu bạn” tuyệt vời nhất. Thách thức trong việc giải quyết tình trạng cô đơn ở người lớn tuổi ở Anh đang trở nên khó khăn hơn khi tuổi thọ của người dân ở nước này được cải thiện. Ước tính, trong vòng 20 năm tới, tổng số dân từ 85 tuổi trở lên ở Anh sẽ tăng lên từ khoảng gần 1,3 triệu người hiện nay lên thành 2,8 triệu người.
Số liệu thống kê của Cơ quan y tế quốc gia của Anh cho thấy tình trạng trầm cảm ảnh hưởng tới khoảng 22% đàn ông và 28% phụ nữ trên 65 tuổi ở Anh. Tuy nhiên, theo các nhà tâm lý học ở Viện tâm lý hoàng gia Anh, 85% những người già bị trầm cảm không nhận được sự giúp đỡ từ cơ quan y tế. Vấn đề càng trở nên khó xử trí hơn khi một nghiên cứu của một nhóm bao gồm 9 tổ chức hoạt động vì người già ở Anh chỉ ra rằng có đến hơn 1 nửa trong số những người từ 50 tuổi trở lên sử dụng mạng xã hội Gransnet cho biết họ chưa bao giờ kể với người khác về tình trạng đơn độc mà họ gặp phải. [2]
Tại Nhật Bản, theo số liệu thông kê đầu năm 2019, trong số những cụ ông cao tuổi sống một mình, chỉ có 15% thường xuyên nói chuyện với một người khoảng hai tuần một lần, trong khi đó khoảng 30% cảm thấy không thể nói chuyện với bất kỳ ai và không có người nào đáng tin cậy để họ có thể nhờ giúp đỡ như là thay bóng đèn…
Theo cuộc khảo sát của Viện nghiên cứu an sinh xã hội và dân số quốc gia Nhật Bản, dân số đang già hóa nhanh chóng, có 28% người Nhật ở trên độ tuổi 65, cao nhất thế giới, đặt ra nhiều thách thức cho các nhà hoạch định chính sách đặc biệt là sự cô lập xã hội là vấn đề khó giải quyết hơn cả.
Tỷ lệ những người phụ nữ trên 65 tuổi sống một mình đã tăng gấp đôi từ 11,2% năm 1980 lên 20,3% vào năm 2010, trong khi đó, tỷ lệ này ở nam giới là tăng từ 4,3% lên 11,1% so với cùng kỳ. Trước thực trạng những người cao tuổi ở Nhật Bản sống trong cô độc đã gây ra một hiện tượng xã hội có tên là Kodokushi, một bóng đen đang bao trùm lên Nhật Bản mà không thể nào tìm được lối thoát.
Kodokushi hay còn gọi là những cái chết cô đơn, phản ánh thực tế xã hội Nhật Bản, những người già sống cô độc, khi chết đi không một ai hay biết và thi thể của họ chỉ được phát hiện trong một thời gian dài sau đó. Tòa nhà chung cư Tokiwadaira tại Nhật Bản đã trở nên nổi tiếng vì những cái chết cô đơn của người già sinh sống nơi đây. [3]
2-Một vài giải pháp nhằm giúp người già bớt cô đơn và đỡ bệnh tật
Bà Caroline Abrahams, giám đốc tổ chức “Người-cao-tuổi” của Anh cho biết: “Sự cô đơn có thể ảnh hưởng xấu đến sức khỏe và sự hạnh phúc của người già. Điều này có thể nhìn thấy rõ về mặt tinh thần khi tình trạng trầm cảm ở người già thường trở nên nghiêm trọng hơn vì cô đơn”. Như vậy, sự cô đơn sẽ có nguy cơ đẩy người già vào tình trạng đau đớn cả thể xác lẫn tinh thần. Họ dễ mắc những chứng bệnh nguy hiểm về tim mạch, tiêu hóa, thần kinh, hô hấp. Các bệnh này thường trở nên mãn tính, khiến người già phải chịu đựng suốt đời.
Mặt khác, khi cô đơn trở thành tình trạng thường xuyên kéo dài, có thể khiến nhiều người già rơi vào tình trạng trầm cảm nặng nề. Trong một báo cáo tại Anh của chiến dịch kêu gọi chống lại trầm cảm Jo Cox Loneliness, chỉ riêng ở quốc gia này đã có tới 9 triệu người đang ngày ngày phải chịu cảm giác cô đơn và sự tách biệt với xã hội.
Cảm giác ấy khiến con người ta dễ trầm cảm hơn, và thường là lý do dẫn đến tình trạng tự sát. Những người cô đơn cũng có rủi ro mắc các bệnh liên quan đến khả năng nhận thức cao hơn tới 64%. Tác hại không chỉ dừng lại ở đó, cảm giác cô đơn làm tăng nguy cơ béo phì, cao huyết áp dẫn đến tử vong sớm lên tới 26%. Con số này cũng tương đương với rủi ro khi hút tới 15 điếu thuốc/ngày. Một số bác sĩ cũng đưa ra lời cảnh báo rằng, cảm giác cô đơn còn khiến con người ta “cố tình” mắc bệnh. Tức là, họ muốn đến gặp bác sĩ nhiều hơn để có cảm giác được quan tâm, chăm sóc, và điều này vô tình tạo áp lực cho ngành y. [4]
Thực vậy, cô đơn khiến người cao tuổi thêm bệnh. Ngày càng nhiều người đối mặt với sự cô đơn và sống trong tình trạng cô lập khi về già. Theo giáo sư John Cacioppo thuộc Đại học Chicago (Mỹ): Những người già cô đơn có mạch máu giòn hơn, điều này khiến họ dễ mắc bệnh tăng huyết áp, cơ thể viêm nhiễm cũng như suy giảm trí nhớ nhanh hơn với người bình thường.
Người già cô đơn sẽ mất tự tin nên sợ các hoạt động xã hội và do đó lại càng tự cô lập mình nhanh hơn. Nhiều nghiên cứu cho thấy số người chết vì cô đơn nhiều gấp đôi số người chết vì béo phì.
Đặc biệt, người cao tuổi sống một mình thường có nguy cơ mắc bệnh trầm cảm cao. Đối với người cao tuổi, trầm cảm có thể có biểu hiện triệu chứng và cấp độ khác nhau. Nhiều người già và gia đình họ không nhận ra các triệu chứng của bệnh trầm cảm, không biết rằng trầm cảm là một căn bệnh và không biết làm thế nào để xử lý được. Nhiều người thậm chí nhầm lẫn các triệu chứng của bệnh trầm cảm là dấu hiệu của sa sút trí tuệ, bệnh Alzeheimer, viêm khớp, ung thư, bệnh tim, parkinson, đột quỵ hay rối loạn tuyến giáp. Chính sự nhầm lẫn tai hại này khiến cho người già bị trầm cảm không được phát hiện và điều trị kịp thời.
Trên thực tế, ta thấy rằng, không phải bất kỳ người già nào cũng bị suy sụp trong thế giới riêng của mình, để rồi phải sống và chết trong sự cô đơn thảm thương của họ. Có người sống lạc quan yêu đời như lúc còn trẻ. Có người tập thích nghi dần dần với nỗi cô đơn “một mình ta với ta”. Có người rút lui sống xa cách thế giới ngoài mình để cho ngày tháng trôi đi một cách tuyệt vọng. Người già cô đơn nhiều hay ít là do thái độ chấp nhận của họ đối với hoàn cảnh sống đặc thù của mình.
Trước những thay đổi, người già cũng có những cách đón nhận khác nhau. Nhà tâm lý học E. Erikson đưa ra nhận xét về 3 cách thích nghi với tuổi già:
-Một số người chấp nhận bản thân một cách thực tế và đi vào tuổi già một cách suôn sẻ. Họ tìm được sự thỏa mãn trong cuộc sống và các quan hệ thường ngày. Họ cảm thấy họ đã sống có ích và có ý nghĩa, không có gì làm cho họ phải hối tiếc khi về già.
-Số khác chấp nhận tuổi già một cách thụ động và vui lòng đón nhận cơ hội nghỉ ngơi đối với gánh nặng trách nhiệm.
-Một số không ít người không thích nghi với tuổi già. Họ không chấp nhận đời sống thụ động hơn sự bất lực. [5]
Dù trong hoàn cảnh nào, người già vẫn luôn cần đến sự quan tâm và nâng đỡ của nhà nước, xã hội và các tôn giáo.
. Hãy đến với người già:
Đó là phương cách đơn giản nhất nhằm giảm bớt nỗi cô đơn thường xuyên gặm nhấm họ. Ngoại trừ trường hợp “cô đơn tự nguyện”, mọi người già cách chung cần sự hiện diện của một ai đó bên cạnh họ. Nếu là con cháu hay người thân trong gia đình, chúng ta nên thường xuyên lui tới thăm viếng, trò chuyện, an ủi, khích lệ ông bà cha mẹ già yếu của mình. Các ngài thích gì cung cấp cho các ngài cái đó. Có thể một cuốn sách, một bộ cờ tướng, một cái iPhone, một đôi giày hay một cái xe đạp thể thao, một cái TV nhỏ, một cái máy đo huyết áp điện tử, một cái thẻ bảo hiểm y tế và nhân thọ vv.
Sự yêu mến và quan tâm của chúng ta sẽ giúp người già trút bỏ được mặc cảm bị bỏ rơi xa cách, mặc cảm tự ti mình là người vô dụng, sống ngoài lề xã hội. Có người đã nói: “Cô độc thật sự đáng sợ đấy, nhưng không đáng sợ bằng việc cảm thấy cô đơn trong một mối quan hệ” (Amedia Earhart). Người già sẽ rất buồn tủi khi mọi người xung quanh, nhất là con cháu và người thân, vô tình hay hữu ý, tạo một bức tường ngăn cách khiến cho họ cảm thấy cô độc trong thế giới xung quanh họ.
. Hãy tạo cho người già có cơ hội làm mới cuộc đời:
Chúng ta biết rằng một trong những nét tâm lý đặc trưng của tuổi già đó là thường mắc “Hội chứng về hưu”, thường có những biểu hiện trống trải, buồn chán, cô đơn, dễ cáu gắt, thiếu tự tin, hay nghi ngờ. [5] Do đó, chúng ta nên tìm mọi cách để “làm mới” con người và cuộc sống của họ.
Thỉnh thoảng đó đây, người ta thấy nhiều người lớn tuổi, có khi trên 80, 90 tuổi, cũng tích cực tham gia vào các hoạt động ngoài xã hội như thể thao, văn hóa, nghệ thuật. Có cụ lập kỷ lục bằng cách nhảy dù từ trên cao. Có cụ dự thi bơi lội. Có cụ khác luyện tập thể hình. Có cụ tham gia biểu diễn một nhạc cụ nào đó. Có nhiều trường hợp, khi bước vào tuổi già, cao niên rồi người ta mới phát huy những tài năng bẩm sinh. Do đó, nếu xã hội quan tâm giúp đỡ thì người già cũng có thể trở thành nổi tiếng như bao nhiêu tài năng khác.
Ngày nay, chúng ta có thể chứng kiến nhiều người già cắp sách đến trường hay đến giảng đường đại học. Họ say mê học hỏi và đạt được thành tích học tập cao. Có người đã giành được mảnh bằng cử nhân, tiến sĩ giữa những người đồng môn trẻ tuổi đáng con cháu họ.
Chuyện người già làm nên kỳ tích không hiếm. Tại VN, ở Hà Nội có cụ bà 97 tuổi tên Thi nổi tiếng, được phong “sành sỏi Internet nhất Việt Nam”. Cụ từng nói rằng cụ từng bị ung thư 3 năm nay, nhưng còn sức thì còn học. Cụ Thi từng khẳng định mình thích thì mình học thôi, học là học chứ đâu cần biết học để làm gì. Được biết ngoài khả năng sử dụng laptop để viết lách, vụ còn say mê hội họa và đã từng vẽ những bức tranh được nhiều người khen ngợi.
Trong khi đó ở Saigon, ai cũng biết đến cụ Mạc Can một nghệ sĩ rất đa tài. Cụ tên thật Lê Trung Can sinh năm 1945 là một nghệ sĩ ảo thuật đồng thời cũng mới nổi lên nhờ tài viết văn, viết sách. Cụ đã từng tham gia vào nhiều lĩnh vực hoạt động nghệ thuật như đóng hài, đóng phim, biểu diễn ảo thuật và viết văn. Riêng trong lãnh vực viết văn, cụ là tác giả của tiểu thuyết nổi tiếng “Tấm ván phóng dao”. Được biết, cụ Can bắt đầu viết văn lúc tuổi sắp bước sang lục tuần. Nhưng nhờ đam mê, cụ đã thành công và nổi tiếng khắp nước.
Có thể nói, ngày nay nhờ mạng xã hội phát triển nên các cụ có cơ hội tiếp cận với văn minh nhân loại, đồng thời có điều kiện tương tác với mọi người, mọi lớp tuổi, mọi đất nước trên toàn cầu.
Nghiên cứu từ Kaspersky Lab và B2B International cho thấy, trên toàn cầu, số lượng người già truy cập internet đang tăng khá nhanh. 84% người dùng ở tuổi 55 trở lên thường truy cập internet tại nhà nhiều lần trong ngày và 44% dành ít nhất 20 tiếng mỗi tuần cho internet. Tại Anh, tỷ lệ người từ 65 đến 74 tuổi sử dụng internet đã tăng từ 52% vào năm 2011 lên 80% vào năm 2018.
Trong khi đó nghiên cứu từ Đại học Michigan (Mỹ) cho thấy, 95% người cao tuổi cảm thấy từ hài lòng đến rất hài lòng với việc công nghệ giúp cuộc sống của họ bớt cô đơn hơn vào lúc xế chiều. Ngoài ra, người lớn tuổi có khả năng chia sẻ tin tức giả gấp gần 7 lần so với thế hệ trẻ.
Như vậy, ta thấy rằng người già không hẳn là những người bỏ đi, trái lại nếu họ có cơ hội và có đất để phát huy sở trường thì chắc chắn tài năng của họ sẽ lộ diện và điều đó cũng có nghĩa là họ vẫn có thể giúp ích cho xã hội mặc dù tuổi tác đã xế chiều.
. Hãy kính trọng, yêu thương họ thay vì hất hủi, khinh chê họ:
Mọi người đều biết rằng, trong việc chăm sóc người lớn tuổi, điều cần thiết nhất là yêu thương và kính trọng các ngài. Người ta thường nói, “tuổi già như là một bệnh viện, họ phải nhận đủ thứ bệnh!”. Chính vì vậy người già cần được yêu thương chăm sóc một cách hết sức đặc biệt. Khi thực hiện việc chăm sóc ông bà, bố mẹ lúc tuổi già, chúng ta lưu ý mấy điều sau:
a- Thuốc thang đầy đủ lúc cha mẹ già ốm đau;
b- Chăm sóc các người cao tuổi một cách thành tâm, chân thực đúng với tấm lòng kính trọng “uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ kẻ trồng cây”. Con cái cần chú ý tạo điều kiện cho người cao tuổi tham gia một số công việc lặt vặt trong gia đình đặc biệt là chăm sóc dạy dỗ các cháu nhỏ. Làm như vậy các cụ cảm thấy vui và không có mặc cảm mình là người vô dụng.
Về khía cạnh mục vụ người già, tác giả Millibald Demal, OSBDD, trong cuốn “Practical Pastoral Psychology” đã viết như sau: “Ðiều tối quan trọng là tỏ ra kính trọng những người già, kiên nhẫn chịu đựng những yếu đuối của họ, chuẩn bị cho họ chết lành qua việc đền tội, ăn năn tội, cầu xin cho được ơn bền đỗ và lòng kiên vững. Họ đặc biệt biết ơn ta nếu ta chỉ cho họ thấy những hạnh phúc đời sống vĩnh cửu, ơn sủng của Thiên Chúa và giá trị lớn lao trong khi chịu đựng những đau khổ một cách nhẫn nại. Họ sẽ rất sẵn sàng nhận lãnh các bí tích thường xuyên hơn, kính mến Ðức Mẹ và Thánh Giuse và cầu nguyện cho các đẳng linh hồn nơi luyện ngục”./. [5]
Aug. Trần Cao Khải
______________
[1]https://vnexpress.net/goc-nhin/nguoi-gia-co-don-3798019.html
[2]https://baomoi.com/ca-trieu-nguoi-cao-tuoi-heo-hon-vi-co-don
[4]https://www.phunuonline.com.vn/nguoi-gia-so-co-don-vo-dung-a1394427.html
[5]http://www.cgvdt.vn/cong-giao-viet-nam/tim-mot-duong-huong-muc-vu-cho-nguoi-cao-tuoi_a3848
2023
Nguyên tắc Tham Gia
Nicolas Masson
Nguyên tắc tham gia có phải là người bà con nghèo nàn với các nguyên tắc của Học thuyết Xã hội (HTXH) của Giáo hội không? Sau những nguyên tắc tượng đài như công ích, liên đới hay bổ trợ, nó có thể mang lại điều gì hơn nữa? Vả lại, so với các nguyên tắc khác, nó chỉ có ba đoạn trong cuốn Tóm lược HTXH của Giáo hội Công giáo. Tuy nhiên, nguyên tắc “nhỏ” này là rất quan trọng. Khi nhắc lại trách nhiệm của mỗi người, nó mang lại tất cả sự năng động cho việc thực hiện HTXH của Giáo hội. Quả thế, liệu một gia đình, một hiệp hội, một doanh nghiệp hay một quốc gia có thể sống và phát triển mà không có sự tham gia của các thành viên của mình? Liệu nó có thể liên đới, tôn trọng công ích và bổ trợ mà không có sự tham gia của họ?
Qua nguyên tắc tham gia, cuốn Tóm lược nhắc nhớ rằng mỗi người phải đóng góp “vào đời sống văn hóa, kinh tế, xã hội và chính trị của cộng đồng dân sự mà họ thuộc về. Tham gia là một bổn phận mà tất cả mọi người đều phải thực hiện một cách có ý thức, một cách có trách nhiệm và vì công ích”[1].
Trước hết, mỗi người được mời gọi đảm trách những lãnh vực mà bản thân mình chịu trách nhiệm (gia đình của mình, công việc của mình). Họ cũng được yêu cầu, càng nhiều càng tốt, tích cực cởi mở với đời sống công cộng[2] và vượt trên vai trò công dân của mình, tham gia vào đời sống xã hội.
Bằng cách tham gia vào công ích như thế, con người đáp lại ơn gọi làm người của mình, được tạo dựng để yêu thương và được yêu thương. Bởi vì nó được tạo dựng theo hình ảnh của Thiên Chúa. “Con người, thụ tạo duy nhất trên trần gian mà Thiên Chúa muốn vì chính nó, chỉ có thể tìm thấy chính mình một cách trọn vẹn qua việc trao ban chính mình cách vô vị lợi”[3].
Việc thực hiện HTXH của Giáo hội ngang qua hành động tự do của con người mà sự dấn thân “tự nguyện và quảng đại”[4] của họ nhằm phục vụ công ích là cần thiết “mỗi người tùy theo đại vị và vai trò của họ”[5]. Sự tham gia là nền tảng của bác ái xã hội và chính trị (FT 173). Khi hiến mình phục vụ anh chị em của mình, con người xây dựng nền văn minh tình yêu (Cv 33; FT 183).
Do đó, theo thứ tự hành động, sự tham gia chẳng phải là hàng đầu hay sao? Khi một cộng đồng được tạo ra hay trải qua một cuộc khủng hoảng to lớn, có lúc đã không có sự tổ chức hữu hiệu. Vì vậy, sự tham gia của ít nhất một số người là cần thiết để tạo ra hoặc tái tạo cộng đồng. Sự tham gia của tất cả mọi người sẽ được yêu cầu để cộng đồng sống cách trọn vẹn.
Nếu con người nhận được “nghĩa vụ” tham gia, thì nghĩa vụ này chỉ có ý nghĩa nếu con người cũng nhận được các phương tiện và quyền lợi tương ứng. Họ nhận được chúng từ những người khác. Sự tham gia phải được hiểu trong một luồng chuyển động. Bài viết này muốn cho thấy tính trung tâm của nguyên tắc “nhỏ” này.
- Cội nguồn Thánh Kinh
Trong Thánh Kinh, từ “tham gia” không xuất hiện một cách rõ ràng. Cũng không có truyền thống Thánh Kinh rõ ràng nào về chủ đề này. Tuy nhiên, từ sách Sáng Thế ký, các bản văn thánh mời gọi con người dấn thân phụng sự Thiên Chúa, anh chị em mình và toàn thể công trình tạo dựng. Toàn bộ giao ước giữa Thiên Chúa và con người ngụ ý sự dấn thân và trách nhiệm của tất cả mọi người, vượt trên những khác biệt.
Như thế, từ đầu sách Sáng Thế ký, Thiên Chúa đã trao phó cho người công trình tạo dựng của Ngài và tất cả những ai cư ngụ trong đó. “Đức Chúa là Thiên Chúa đem con người đặt vào vườn Ê-đen, để cày cấy và canh giữ đất đai”[6]. Theo lệnh truyền này, Thiên Chúa trao phó cho con người khu vườn và cư dân của mình. Nó phải hành động sao cho khu vườn đơm hoa kết trái và hữu ích cho mọi người.
Giao ước đòi hỏi sự tham gia chủ động của dân Ngài, nhưng Thiên Chúa không bao giờ đặt. Ngài bảo vệ dân Israel với điều kiện họ giữ giao ước của Ngài. “Môisê lấy cuốn sách Giao ước đọc cho dân nghe. Họ thưa: “Tất cả những gì Đức Chúa đã phán, chúng tôi sẽ thi hành và tuân theo”[7]. Về sau, trong sách Samuel, khi dân tuyên bố muốn có một vị vua, Thiên Chúa đã cảnh báo họ[8] nhưng tôn trọng ý muốn của dân: “Hãy nghe theo tiếng chúng, và hãy đặt một vua cai trị chúng”[9].
Trong Tin Mừng theo thánh Mátthêu, mỗi người được mời gọi tham gia. Chẳng hạn, trong dụ ngôn thợ làm vườn nho[10], tất cả mọi người, bất kể họ được thuê vào giờ nào, đều được mời gọi làm việc trong vườn nho của ông chủ. Không ai bị loại trừ, ngay cả những trẻ nhỏ: “Cứ để trẻ em đến với Thầy, đừng ngăn cấm chúng, vì Nước Trời là của những ai giống như chúng”[11] như những người mong manh nhất.
Mỗi người đều là thừa tác viên của ân sủng của Chúa. Mọi người đều có trách nhiệm với người anh em của mình. Điều này đặc biệt rõ ràng trong dụ ngôn về sự phán xét cuối cùng của Mátthêu: “Ta bảo thật các ngươi: mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy”[12]. Nơi Luca, người Samaritanô nhân hậu giúp đỡ người lữ khách bị thương, và nói rộng hơn: “Khi ông đãi tiệc, hãy mời những người nghèo khó, tàn tật, què quặt, đui mù”[13]. Trong bốn sách Tin Mừng, Chúa Giêsu nói với các môn đệ: “Các con hãy cho họ ăn”[14].
Thư thứ nhất gởi tín hữu Côrintô dạy chúng ta rằng Thiên Chúa “…muốn rằng không có chia rẽ trong thân thể, trái lại các bộ phận đều lo lắng cho nhau”[15]. Việc xây dựng Giáo hội đòi hỏi sự tham gia của tất cả mọi người, mỗi người mang đến những món quà của mình theo cách bổ sung cho việc phục vụ xây dựng cộng đồng. Giáo huấn của thánh Phaolô có thể soi sáng không chỉ cho các Giáo hội mà còn cả xã hội.
- Xuất hiện trong học thuyết xã hội
Các dòng tu và đan tu tìm cách sống Tin Mừng một cách triệt để sẽ đẩy nguyên tắc tham gia xa hơn[16]. Mỗi người đều có “quyền tham gia vào các quyết định liên quan đến họ” và vào việc chọn người “được mời gọi quản trị”. Trong Tu Luật của thánh Biển Đức, nếu viện phụ thực thi quyền bính, thì “ngài không bao giờ là nguồn gốc của luật” . Chỉ hội đồng mới có thể lập pháp trong các giới hạn mà tu luật trao cho ngài. Cũng chính hội đồng bầu chọn viện phụ. Các quy luật này sẽ tham gia gián tiếp vào quá trình thử nghiệm các quy luật dân chủ hiện đại[17].
Trong cùng một chuyển động, thánh Catarina Siêna, trong khi mạo muội chất vấn Đức Giáo hoàng, đã không ngần ngại viết trong các cuộc đối thoại của mình: “Cha cũng không cho mỗi người tất cả các nhân đức…Có một số nhân đức mà Cha phân phát theo cách như vậy, đôi khi cho người này, đôi khi cho người kia…Đối với người này, đó là bác ái; đối với người kia, đó là công bằng; với người này là lòng khiêm tốn; với người kia là một đức tin sống động…Đối với của cải vật chất, đối với những thứ cần thiết cho cuộc sống con người, Cha đã phân phát chúng với sự bất bình đẳng lớn[18], và Cha không muốn mỗi người sở hữu tất cả những gì cần thiết cho mình để mọi người có cơ hội, khi cần thiết, thực hành lòng bác ái đối với nhau…Cha muốn họ cần nhau và trở thành thừa tác viên của Cha để phân phát những ân sủng và những món quà hậu hĩ mà họ nhận được từ Cha”[19].
Ngay từ những bản văn đầu tiên của HTXH của Giáo hội, vấn đề tham gia đã hiện diện. Thông điệp Rerum Novarum (Tân Sự) tố giác việc, một mặt, triệt để loại trừ con người khỏi việc chia sẻ của cải và việc phục tùng nô lệ của họ với công việc sản xuất phi nhân. Rerum Novarum đặt nền móng cho nguyên tắc tham gia mà không nêu rõ tên rõ ràng: “Mọi công dân, không có ngoại lệ, phải mang lại phần của mình vào khối lượng của cải chung mà, vả lại, bằng sự hoàn trả tự nhiên, được phân phối lại giữa các cá nhân. Tuy nhiên, những đóng góp của riêng mỗi người không thể giống nhau và cũng không thể ở mức độ ngang nhau”[20].
Trong Rerum Novarum, thuật ngữ “tham gia” được dành riêng cho việc tham gia vào quyền sở hữu. Chỉ trong các thông điệp tiếp theo mà nó sẽ mang một ý nghĩa rộng lớn hơn. Chẳng hạn, sự tham gia liên quan đến tất cả các chiều kích của con trong lao động: bản thân lao động là ”sự tham gia vào công trình của Thiên Chúa”[21], nhưng cũng liên quan đến tất cả những ai làm việc để “phục vụ anh em của mình, một sự đóng góp cá nhân vào việc thực hiện kế hoạch quan phòng trong lịch sử”[22]. Tiếp đến qua “sự tham gia tích cực của tất cả mọi người vào việc quản lý doanh nghiệp”[23] và cuối cùng qua việc tham gia vào những thành quả của lao động và tài sản.
Trong đường hướng của Rerum Novarum, các Đức Giáo hoàng đã đưa ra những định hướng tổng quát hơn về việc tổ chức xã hội bằng cách dựa vào nguyên tắc bổ trợ. Trong Thông điệp Quadragesimo Anno (Tứ Thập Niên), Đức Piô XI đưa ra một định nghĩa tiêu cực đầu tiên, như một điều kiện để mỗi người tham gia. Ngài nhắc lại rằng thật bất công khi lấy đi của “các cá nhân (…) những quyền hạn mà họ có khả năng thực hiện theo sáng kiến của riêng họ và bằng phương tiện riêng của họ”[24]. Đức Bênêđíctô XVI sẽ nêu lên một định nghĩa tích cực: “Nguyên tắc bổ trợ trước hết là sự giúp đỡ nhân vị, thông qua quyền tự quản của các cơ quan trung gian. Sự giúp đỡ này được đề nghị khi nhân vị và các tác nhân xã hội không thể tự mình làm những gì thuộc trách nhiệm của mình và nó luôn ngụ ý rằng chúng ta có một mục tiêu giải phóng vốn thúc đẩy tự do và sự tham gia như là tinh thần trách nhiệm. Nguyên tắc bổ trợ tôn trọng phẩm giá của nhân vị mà nó nhìn thấy nơi nhân vị một chủ thể luôn có khả năng cống hiến điều gì đó cho người khác”[25]. Đức Phanxicô sẽ củng cố vấn đề: “Như thế, nguyên tắc bổ trợ trở thành một thực tại cụ thể bảo đảm sự tham gia và hoạt động của các cộng đồng và các tổ chức cấp dưới bổ sung cho hoạt động của Nhà nước”[26].
Như thế, nguyên tắc tham gia sẽ dần dần được mở rộng sang các lĩnh vực khác của xã hội: đời sống chính trị, văn hóa, tôn giáo, việc thực hiện bổn phận này đòi hỏi nhiều quyền hơn. Liên quan đến lĩnh vực duy nhất của doanh nghiệp, Đức Gioan XXIII trong Thông điệp Mater et Magistra (Mẹ và Thầy), nhấn mạnh đến sự cần thiết phải “giảm bớt hợp đồng lao động bằng các yếu tố vay mượn từ hợp đồng xã hội” , để “công nhân và nhân viên được mời gọi tham gia một cách nào đó vào quyền sở hữu doanh nghiệp, vào việc quản lý nó hay những lợi nhuận mà nó mang lại”[27]. Đức Gioan-Phaolô II nêu rõ rằng mỗi người phải “ (…) ý thức rằng, ngay cả khi mình làm việc trong một sở hữu tập thể, họ cũng đồng thời làm việc vì lợi ích của chính họ”.
Mỗi người đều được mời gọi hành động trong lãnh vực trách nhiệm trực tiếp của mình bởi vì như thánh Gioan-Phaolô II nhắc nhở chung ta về vai trò của giáo dân: “Không có chỗ cho sự thờ ơ, khi có rất nhiều công việc đang chờ đợi tất cả chúng ta trong vườn nho của Chúa”[28]. Quả thế, ngày nay hơn bao giờ hết, tầm quan trọng của các vấn đề xã hội, kinh tế, văn hóa, chính trị và sinh thái chứng tỏ rằng “không ai được phép ngồi yên không làm gì”[29].
- Quyền lợi và bổn phận tham gia
Nguyên tắc tham gia, giống như nguyên tắc bổ trợ, thống nhất quyền lợi và bổn phận nhưng theo cách khác nhau. Bởi vì nguyên tắc bổ trợ giả thiết một tổ chức có phẩm trật, nên nó đưa ra một phẩm trật về các quyền lợi và bổn phận và bảo vệ nhân vị khỏi bị tước đoạt quyền lực từ bên trên. Nguyên tắc tham gia, bởi vì nó khởi đi từ nhân vị, nên mang lại một cái nhìn ngang bằng hơn nhưng cũng giả thiết sự cân bằng giữa quyền lợi và bổn phận. Đức Gioan XXIII nhắc nhở chúng ta: “Trong đời sống xã hội, bất kỳ quyền lợi nào được ban cho một người theo bản nhiên đều tạo ra nơi người khác một bổn phận, bổn phận nhìn nhận và tôn trọng quyền lợi này. Quả thế, mọi quyền thiết yếu của con người đều vay mượn sức mạnh bắt buộc của nó từ luật bản nhiên vốn ban nó và áp đặt nghĩa vụ tương ứng. Trong khi đòi hỏi quyền lợi của mình, những ai quên đi bổn phận của họ hay chỉ chu toàn chúng một cách bất toàn đều có nguy cơ phá hủy bằng tay này những gì họ xây dựng bằng tay kia”[30]. S. Weil giúp chúng ta tiến xa hơn khi bà viết: “Khái niệm “nghĩa vụ” vượt trội hơn hơn khái niệm “quyền lợi”, vốn phụ thuộc và liên quan đến nó. (…). Một người đơn độc trong vũ trụ sẽ không có bất kỳ quyền lợi nào, nhưng người đó sẽ có các nghĩa vụ”[31].
Khi hoạt động chính trị được suy nghĩ từ quyền lợi, điều đó dẫn đến các phương thức vận hành chia nhỏ xã hội. “Tôi có quyền. Đâu là những chiến lược để khiến người ta công nhận chúng?” chứ không phải “Tôi có nghĩa vụ. Chúng phải bàn đến đến điều gì? Ai phải được hưởng lợi chúng?”. Những câu hỏi sau cùng này có nhiều hơn trong cuốn sổ tình yêu. Ai yêu thương thì tự cho mình nghĩa vụ phục vụ người mình yêu thương. Trong Thông điệp Fratelli Tutti (Tất cả đều là anh em), khi giải thích dụ ngôn người Samaritanô nhân hậu, Đức Thánh Cha Phanxicô đã hướng sự tham gia vào việc phục vụ tha nhân. “Câu kết luận của Chúa Giêsu là một lời yêu cầu: “Ông hãy đi và làm như thế” (Lc 10, 37). Nói cách khác, Ngài thúc giục chúng ta gạt bỏ mọi khác biệt và, trước nỗi đau khổ, hãy trở nên gần gũi với mọi người. Vì thế, tôi không còn nói rằng tôi có “những người thân cận” mà tôi phải giúp đỡ, nhưng đúng hơn tôi cảm thấy được kêu gọi trở nên người thân cận đối với những người khác”[32].
- Mọi người, không trừ ai, đều được mời gọi tham gia
Tất cả mọi người đều được mời gọi tham gia tích cực vào đời sống xã hội và chính trị. Các phương thức có thể đa dạng nhưng phẩm chất của một xã hội hay một cộng đồng có thể được đánh giá bằng khả năng thu hút sự tham gia của tất cả các thành viên của mình và đặc biệt là những người nghèo khổ nhất. Đối với Hannah Arendt[33], người nghèo là người “không có quyền để có quyền” . Đó là người không thể bằng bất cứ cách nào quyết định cuộc sống của mình và đóng góp vào đời sống của nhóm. Như thế, người nghèo bị tước mất một nhu cầu cốt yếu của tâm hồn: cảm thấy mình hữu ích và thậm chí không thể thiếu.
Vì thế, làm cho người nghèo tham gia, trước hết đó là cho phép họ, càng nhiều càng tốt, xác định và trở thành tác nhân của sự phát triển của chính họ. “Chúng ta không thể đối mặt với tai tiếng về nghèo đói bằng cách thúc đẩy các chiến lược kiểm soát vốn chỉ làm cho yên tâm và biến người nghèo thành những con người thuần hóa và vô hại. Thật buồn biết bao khi thấy rằng, đằng sau những việc làm được cho là vị tha, chúng ta giảm thiểu người khác thành thụ động”[34].
Đó cũng chính là làm sao để họ góp phần vào sự phát triển của xã hội. Từ hơn 50 năm qua, phong trào ATD Quart Monde ( Agir tous pour la dignité Quart Monde / Mọi người hành động vì phẩm giá Thế giới thứ tư)[35] nhắc nhở chúng ta rằng không có người nghèo nào mà không thể cho đi. Mời gọi con người cho đi, trong chừng mực những gì họ đã nhận được, đó là nhìn nhận sự cao cả của họ. Để giải thích lại Hannah Arendt, đó là trao cho họ quyền có bổn phận tham gia vào việc xây dựng thành đô.
Đối với các tổ chức, điều đó có nghĩa là họ không chỉ phải ý thức rằng mọi người đều có giá trị màm còn phải xác tín rằng mỗi người đều có thể mang lại điều gì đó độc đáo. Do đó, phát triển sự tham gia, đó là xây dựng một trong những cơ cấu đổi mới vốn tin tưởng hết sức có thể vào mỗi người và cho phép họ hành động theo tài năng của mình.
- Những thể chế chất lượng tạo điều kiện cho sự tham gia
Các thể chế mang lại một khuôn khổ cho sự tham gia của các thành viên của mình: các mục đích theo đuổi; các hình thái chỉ định quyền bính, phân bổ quyền hạn và trách nhiệm, các phương thức quyết định và kiểm soát. Một số thể chế tạo điều kiện cho ý thức trách nhiệm, sáng kiến, thấm chí chấp nhận rủi ro, những tương quan tốt giữa mọi người, sự trợ giúp lẫn nhau… Trái lại, các thể chế khác có xu hương ấu trĩ hóa bằng cách ra lệnh phải làm gì, bằng cách kiểm soát, bằng cách chống đối…[36].
Khả năng dấn thân và hành động cá nhân nhằm phục vụ công ích tùy thuộc vào chất lượng của các thể chế. Trong Thông điệp Caritas in Veritate (Bác ái trong Chân lý), Đức Bênêđíctô XVI rút ra những hệ quả về tầm quan trọng của chúng: “Hành động vì công ích một mặt có nghĩa là chăm sóc, và mặt khác sử dụng toàn thể các thể chế vốn cấu trúc đời sống xã hội, về mặt thể chế, dân sự và văn hóa, một đời sống xã hội mang hình thức của “polis”, của thành đô”[37].
Chăm sóc các thể chế, trước tiên đó là sử dụng chúng. Bằng cách thực hiện quyền biểu quyết của mình khi có quyền này và bằng cách đóng góp vào các cuộc tranh luận. Sự tồn tại của các cuộc tranh luận là thiết yếu đối với đời sống của các thể chế. Chúng có chát lượng khi có sự tôn trọng mỗi người, ý thức về số phận chung và mong muốn chung tiến tới. Không có sự tìm kiếm chung về điều thiện này, các cuộc tranh luận có thể tạo ra ảo tưởng khi chúng không phải là những mưu mẹo để thông qua một cuộc cải cách hay trở thành một nơi mà mỗi người tìm cách áp đặt cho người khác sự công nhận chỉ những lợi ích cá nhân của mình.
Tiếp đến, đó là dấn thân phục vụ chúng. Bằng cách tham gia vào một đô thị, một phòng ban, một nghiệp đoàn hay một hiệp hội, mỗi người đều có thể, tùy theo khả năng, thời gian và sở thích của mình, tham gia và hành động nhằm phục vụ công ích. Cũng chính trong các cơ quan trung gian mà các quan điểm của các công dân được cấu trúc.
Sau cùng, đó là bảo vệ và chăm lo cho sức khỏe của các thể chế. Đó là bảo vệ sự tham gia thông qua các quy tắc và mục tiêu. Điều đó đặt ra vấn đề về quy mô của các tổ chức và sự gia tăng sức nặng của các quy định vốn hạn chế sáng kiến của các nhóm đến nỗi chúng buộc họ phải khiếu nại lên cấp cao hơn và do đó tìm kiếm sự tuân thủ nhiều hơn là khả năng thực hiện các sáng kiến.
- Giáo dục trách nhiệm và phát triển tình yêu đối với công ích
Các thể chế không thể hoạt động mà không có những người thúc đẩy chúng. Các thể chế, bất kể chất lượng của chúng, không thể tồn tại nếu không có những người được thúc đẩy bởi một ý thức sâu xa về trách nhiệm và ý thức về công ích. Một cách hỗ tương, các thể chế chất lượng đào tạo những người có trách nhiệm, những người mà tiếp đến làm cho chúng sống và tiến bộ.
Giáo dục ý thức trách nhiệm và tình yêu đối với công ích bắt đầu từ các gia đình, vốn “tạo nên nơi chốn đầu tiên trong đó các giá trị về tình yêu và tình huynh đệ, về sự chung sống và chia sẻ, về sự quan tâm và chăm sóc tha nhân được sống và truyền lại”[38]. Các trường học, hiệp hội và doanh nghiệp đều có thể là nơi học tập. Việc giáo dục này là cấp bách. Quả thế, xã hội cảu chúng ta thúc đẩy chủ nghĩa cá nhân. Vấn đề này xứng đáng có một bài viết riêng. Không khai triển mọi thứ, chúng ta chỉ cần lưu ý rằng tiến bộ kỹ thuật thúc đẩy ảo tưởng rằng mỗi người đếu có thể tự xoay xở một mình.
- Kết luận
Nguyên tắc tham gia kêu gọi những gì tốt nhất của con người, sự tự do và tính sáng tạo của họ. Nó sẽ luôn là một hành động cá nhân mà chúng ta thực hiện với và cho người khác. “Phẩm giá của nhân vị đòi hỏi mỗi người phải hành động theo một quyết tâm có ý thức và tự do. Trong đời sống xã hội, đặc biệt chính từ các quyết định cá nhân mà chúng ta phải mong đợi sự tôn trọng các quyền lợi, việc thực hiện các bổn phẩn, sự cộng tác vào nhiều hoạt động. Cá nhân sẽ phải trưởng thành ở đó bằng xác tín cá nhân; bằng sáng kiến của mình, bằng ý thức của mình về các trách nhiệm chứ không phải dưới tác động của những cưỡng bức hay áp lực bên ngoài”[39].
Tý Linh
(theo: https://www.doctrine-sociale-catholique.fr/les-principes/216-participation)
Nguồn: xuanbichvietnam.net (22.07.2023)
[1] Tóm lược HTXH của Giáo hội §189.
[2] Sách Giáo lý của Giáo hội Công giáo 1914, 1915, 1916.
[3] Hiến chế Gaudium et spes, GS 24.3
[4] Sách Giáo lý của Giáo hội Công giáo – 1913.
[5] Sách Giáo lý của Giáo hội Công giáo – 1913.
[6] Stk 2, 15.
[7] Xh 24, 7.
[8] 1Sm 8, 11-18.
[9] 1Sm 8, 22.
[10] Mt 20
[11] Mt 19, 14.
[12] Mt 25, 40.
[13] Lc 14, 13.
[14] Lc 9, 13. Chúa Giêsu sẽ sai các môn đệ đi truyền giáo từng hai người một (Lc 10, 1) và trong những lời cuối cùng của mình, Ngài sẽ yêu cầu các ông làm chứng cho Ngài (Lc 24, 48).
[15] 1Cr 12, 25
[16] Cf. Leo Moulin, “le pouvoir dans les ordres religieux” dans “Pouvoir” n°17, 1981.
[17] Leo Moulin khai triển ý tưởng rằng các dòng đan tu cũng như Hy Lạp Cổ đại là mô hình của nền dân chủ phương Tây. “Les origines religieuses des technique électorales et délibératives moderne”, Politix. Revue des sciences sociales du politique Année 1998 43 pp. 117-162
[18] Khi nói điều đó, thánh Catarina Siêna đặt vấn đề về mục đích phổ quát của của cải và việc sử dụng quyền tư hữu.
[19] S. Catherine de Sienne, Dial. 1, 6
[28] Christifideles Laici §5
[29] Christifideles Laici §2 dựa vào Mt 20, 6-7. Xem thêm trong Laudato Si: “Đặc biệt, các Kitô hữu biết rằng bổn phận của họ ở trong công trình tạo dựng và bổn phận của họ đối với thiên nhiên và Đấng Tạo Hòa là một phần không thể thiếu trong đức tin của họ”.
[31] Simone Weill, L’enracinement, 1943. Trong phần dẫn nhập, bà nhắc nhở chúng ta rằng các quyền lợi không tự tồn tại. “Việc thực hiện hiệu quả một quyền lợi không đến từ người sở hữu nó nhưng từ những người khác, những người nhận ra mình có nghĩa vụ về điều gì đó đối với người ấy. Vì thế, nghĩa vụ có hiệu lực ngay khi nó được nhìn nhận”. Như thế, “khái niệm nghĩa vụ trỗi vượt hơn khái niệm quyền lợi vốn phụ thuộc và liên quan đến nó. Một quyền lợi không có hiệu lực nơi chính nó, nhưng chỉ thông qua nghĩa vụ tương ứng với nó”.
[33] Hannah Arendt, les origines du totalitarisme, 1951
[35] Được thành lập vào năm 1957 bởi Cha Joseph Wresinski, nó đặc biệt dựa vào di sản giáo dục phổ thông do Paulo Freire phát triển.
[36] Cf. Diễn văn của Đức Piô XII nhân kỷ niệm 50 năm Rerum Novarum: “Sự thiện và sự dữ của các linh hồn tùy thuộc và được xâm nhập từ hình thức được trao cho xã hội, hòa hợp hay không với các lề luật của Thiên Chúa”.
[37] Caritas In Veritate, CV 7. Do đó, Đức Thánh Cha Phanxicô sẽ nói về nền sinh thái xã hội. “Nền sinh thái xã hội nhất thiết mang tính thể chế và dần dần đạt đến các chiều kích khác nhau vốn đi từ nhóm xã hội cơ bản là gia đình, ngang qua cộng đồng địa phương và Quốc gia, cho đến đời sống quốc tế. Trong mỗi cấp độ xã hội và giữa chúng, được phát triển các thể chế vốn điều chỉnh các mối tương quan nhân loại. Tất cả những gì gây hại cho chúng đều có tác hại, chẳng hạn như mất tự do, bất công và bạo lực”.(Laudato Si’, § 139)
[39] Gioan XXIII, Pacem in terris, PT 34
