2023
Cám dỗ “thanh tẩy” người khác bằng định kiến của mình
Bài huấn dụ của Đức Thánh Cha
Anh chị em thân mến, chào anh chị em!
Tin Mừng hôm nay trình bày với chúng ta dụ ngôn lúa mì và cỏ lùng (xem Mt 13,24-43). Một người nông dân đã gieo hạt giống tốt trên cánh đồng của mình và phát hiện ra rằng kẻ thù đã gieo cỏ lùng, một loại cây trông rất giống lúa mì, nhưng là một cây gây hại.
Cánh đồng rộng lớn
Bằng cách này, Chúa Giêsu nói về thế giới của chúng ta, một thế giới thực sự giống như một cánh đồng rộng lớn, nơi Thiên Chúa gieo lúa mì và ma quỷ gieo cỏ dại, và do đó, thiện và ác cùng nhau lớn lên. Chúng ta thấy điều đó trong các tin tức, trong xã hội, cũng như trong gia đình và trong Giáo hội. Và khi cùng với những hạt tốt, chúng ta nhìn thấy những loại cỏ dại, chúng ta muốn nhổ chúng đi ngay lập tức, để “quét sạch” ngay lập tức. Nhưng hôm nay Chúa cảnh báo chúng ta rằng đó là một cám dỗ: chúng ta không thể tạo nên một thế giới hoàn hảo và không thể thực hiện điều tốt lành bằng cách vội vàng tiêu diệt những gì sai trái, bởi vì điều này mang lại những hậu quả tồi tệ hơn: như người ta nói, chúng ta sẽ “đổ bỏ luôn đứa bé cùng với nước dơ đã tắm cho nó”.
Cánh đồng trái tim
Tuy nhiên, có một cánh đồng thứ hai mà chúng ta có thể và phải làm sạch: đó là cánh đồng trái tim, cánh đồng tâm hồn của chúng ta, cánh đồng duy nhất mà chúng ta có thể can thiệp trực tiếp. Ở đó cũng có lúa mì và cỏ lùng, thực ra chính từ đó mà cả hai lúa mì và cỏ lùng đều lan rộng ra cánh đồng rộng lớn của thế giới. Thật vậy, trái tim của chúng ta là cánh đồng của tự do: nó không phải là một phòng thí nghiệm vô trùng, mà là một không gian mở và do đó dễ bị tổn thương. Để canh tác nó đúng cách, một mặt cần phải thường xuyên chăm sóc những chồi non tốt, mặt khác phải xác định và nhổ bỏ những cây gây hại, vào đúng thời điểm. Vì vậy, hãy nhìn vào nội tâm và xem xét những gì đang xảy ra trong lòng tôi, những điều tốt và xấu đang phát triển trong tôi. Có một phương pháp tốt để làm điều này: được gọi là xét mình, là nhìn xem điều gì đang xảy ra trong cuộc sống của tôi hôm nay, điều gì đã đánh động tâm hồn tôi, tôi đã có quyết định nào. Và việc này chính là để xác minh, dưới ánh sáng của Thiên Chúa, cỏ dại ở đây và hạt giống tốt ở đâu.
Cánh đồng người lân cận
Sau cánh đồng thế giới và cánh đồng trái tim, còn có một cánh đồng thứ ba. Chúng ta có thể gọi nó là cánh đồng người lân cận. Đó là những người chúng ta gặp gỡ hàng ngày và thường phán xét. Chúng ta dễ dàng nhận ra cỏ lùng của họ biết bao! Chúng ta thích phơi bày điều xấu của người khác biết bao! Và ngược lại, thật khó biết bao để có thể nhìn thấy hạt giống tốt mọc lên! Tuy nhiên, chúng ta hãy nhớ rằng nếu chúng ta muốn canh tác các cánh đồng của cuộc sống, thì điều quan trọng trước hết là tìm kiếm công việc của Chúa: học cách nhìn thấy nơi người khác, nơi thế giới và nơi chính chúng ta vẻ đẹp của những gì Chúa đã gieo, hạt lúa đón nắng với những bông lúa vàng. Chúng ta cầu xin ơn Chúa để có thể nhìn thấy nó trong chúng ta, nhưng cũng ở nơi những người khác, bắt đầu từ những người gần gũi với chúng ta. Đó không phải là một cái nhìn ngây thơ, nhưng là một cái nhìn đức tin, bởi vì Thiên Chúa, người nông dân của cánh đồng thế giới rộng lớn, thích nhìn thấy điều tốt lành và làm cho nó phát triển cho đến khi biến vụ thu hoạch thành lễ hội!
Vì vậy, hôm nay chúng ta cũng có thể tự hỏi mình một số câu hỏi. Suy nghĩ về cánh đồng thế giới: tôi có thể vượt qua cám dỗ “dẹp bỏ mọi thứ cỏ thành một đống”, quét sạch người khác bằng những phán đoán của mình không? Sau đó, nghĩ về cánh đồng trái tim: tôi có trung thực tìm kiếm những mầm mống xấu trong mình và quyết ném chúng vào ngọn lửa lòng thương xót của Chúa không? Và, nghĩ đến cánh đồng người lân cận: tôi có đủ khôn ngoan để nhìn ra điều tốt mà không nản lòng trước những hạn chế và chậm chạp của người khác không?
Xin Đức Trinh Nữ Maria giúp chúng ta biết kiên nhẫn gieo trồng những gì Chúa gieo trên các cánh đồng của cuộc đời, trên cánh đồng của tôi, trên cánh đồng của người lân cận, trên cánh đồng của tất cả.
2023
NỖI CÔ ĐƠN CỦA NGƯỜI GIÀ
NỖI CÔ ĐƠN CỦA NGƯỜI GIÀ
Những ai đã và đang bước vào tuồi già, khoảng từ 70 tuổi trở lên, thường phải đối mặt với một nỗi sợ khủng khiếp, đó là sự cô đơn của tuổi già. Cô đơn không hẳn là do không có người thân hay do hoàn cảnh neo đơn, mà là do những yếu tố rất đặc thù khiến người già phải rút lui vào thế giới riêng của mình. Ở thế giới đó họ phải chiến đấu với mọi thứ khó khăn như tâm trạng chán nản bi quan, nỗi buồn quạnh hiu, bệnh tật triền miên, sự xa cách của xã hội, sự thiếu thốn vật chất, phương tiện này nọ vv…
Do đó, thách thức lớn nhất của người già là phải đối diện với nỗi cô đơn của chính mình. Chúng ta biết rằng, khi tuổi già ập đến, bạn bè và người thân lần lượt ra đi, những người già dễ lâm vào cảnh muốn thu mình lại, ít tiếp xúc với thế giới xung quanh. Khả năng nghe-nhìn (thính lực, thị lực) và sự vận động trở nên sút kém và khó khăn nên càng khiến họ khó giao tiếp với xã hội hơn. Mặt khác, những người già cũng có xu hướng không muốn kết bạn mới. Chính điều này khiến cho tỉ lệ người cao tuổi cô đơn có xu hướng cao hơn những lứa tuổi khác.
Hiện nay, các nhà xã hội học và tâm lý học rất quan tâm tới giới già và những vấn đề riêng của họ. Người ta cũng cố gắng đưa ra những giải pháp thích hợp nhất nhằm giúp người già thoát cảnh cô đơn và lên tiếng khuyến cáo xã hội quan tâm và đầu tư nhiều hơn vào việc giúp người già được có cơ hội sống vui, sống khỏe và sống hạnh phúc.
1-Tình trạng cô đơn của người già tại VN và các nước trên thế giới
Theo kết quả điều tra quốc gia về người cao tuổi Việt Nam, dân số Việt Nam đang “già hóa”. Tỷ lệ người trên 60 tuổi dự báo sẽ chiếm 20,7% dân số vào năm 2040, so với 10,2% năm 2014. Bên cạnh đó, cấu trúc gia đình Việt Nam đang thay đổi rõ rệt, nếu năm 1993 có tới 80% người cao tuổi sống với con cái thì năm 2010, tỷ lệ này chỉ còn 69,5%. Đã có một nhóm người trẻ coi việc tách ra ở riêng khỏi cha mẹ sau 18 tuổi là chuyện bình thường. Điều đáng buồn là, ngay cả khi sống cùng với con cháu, nhiều người già vẫn cảm thấy cô đơn khi không nhận được sự quan tâm, chia sẻ thích đáng. Không ít người già đang bị bỏ rơi ngay chính trong ngôi nhà của mình, giữa người thân của mình. [1]
Chúng ta biết rằng, hàng năm có một ngày gọi là Ngày Quốc Tế Người Cao Tuổi viết tắt IDOP (International Day of Older Persons). Đó là một ngày hành động quốc tế do Liên Hiệp Quốc đặt ra nhằm tuyên truyền cổ động cho việc chăm sóc, bảo vệ các người cao tuổi trong mọi nước thành viên vào ngày 1 tháng 10 hàng năm. Việt Nam cũng tham gia ngày này và tại các địa phương đều có tổ chức phát quà mừng thọ quý cụ ông cụ bà trên 70 tuổi.
Tại châu Âu, theo thống kê, số người già cô đơn càng lúc càng nhiều, chiếm tới hơn 30% dân số. Tuổi thọ kéo dài một mặt thể hiện sự phát triển của quốc gia, mặt khác nó cũng mang lại nhiều vấn đề, đặc biệt là vấn nạn cô đơn của người già. Cô đơn là một trong những căn bệnh đáng sợ nhất mà người cao tuổi phải đối diện trên toàn cầu. Đến nỗi, có những cụ già ở Nhật cố tình ăn trộm để được vào tù sống cho đỡ buồn.
Chính phủ các nước phát triển đã tìm nhiều cách để người già được hưởng sự chăm sóc tốt nhất. Ở Vương quốc Anh có “Bộ Cô đơn”. Ở nhiều nước phát triển, các đường dây nóng mở ra chỉ để người già có nơi gọi điện tâm tình, hoặc có những phong trào tình nguyện khuyến khích thanh niên tới thăm hỏi người già, trò chuyện và đọc sách, ăn với họ bữa cơm. Có những nơi chính phủ khuyến khích con cái đón cha mẹ về sống chung. Bù lại, họ sẽ được giảm giờ làm, giảm thuế hoặc được hưởng thêm ưu đãi trong chăm sóc y tế, sức khỏe. [1]
Tại Anh quốc, các nhà vận động ước tính nước này đang có khoảng 1,2 triệu người cao tuổi phải sống trong cảnh cô đơn. Những cuộc điện thoại hay các cuộc viếng thăm định kỳ theo tuần của những người tình nguyện đang được xem là một phần giải pháp giúp tình hình trở nên dễ chịu hơn.
Theo tổ chức Phi Chính phủ có tên “Người-cao-tuổi” của Anh, ở nước này đang có khoảng 1,2 triệu người cao tuổi phải sống trong cảnh cô đơn “kinh niên”. Tình trạng này ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe cả về thể chất và tinh thần của người già. Bà Caroline Abrahams, giám đốc tổ chức “Người-cao-tuổi” của Anh cho biết: “Sự cô đơn có thể ảnh hưởng xấu đến sức khỏe và sự hạnh phúc của người già. Điều này có thể nhìn thấy rõ về mặt tinh thần khi tình trạng trầm cảm ở người già thường trở nên nghiêm trọng hơn vì cô đơn”.
Không chỉ dẫn tới những nguy cơ về sức khỏe tinh thần, tình trạng cô đơn còn liên quan chặt chẽ đến bệnh tật, thậm chí là tử vong ở người cao tuổi. Các nghiên cứu gần đây đã cho thấy những người già sống tách biệt với xã hội thường có sức khỏe kém hơn và tử vong sớm hơn so với những người duy trì được sự gắn kết chặt chẽ với xã hội dù mối quan hệ nhân quả giữa việc cô đơn và bệnh tật đến nay vẫn chưa được chứng minh rõ ràng. Theo các nhà nghiên cứu của trường Đại học Lancaster, sự cô đơn có thể tăng nguy cơ tử vong thêm 26%.
Cũng theo nghiên cứu của trường Đại học Lancaster, có một điều trớ trêu là khi sự liên lạc trở nên dễ dàng hơn thì sự cô lập và cô đơn cũng gia tăng nhanh chóng hơn, đặc biệt là ở người cao tuổi.
Ước tính, có đến 3,9 triệu người già ở Anh xem TV là “người bầu bạn” tuyệt vời nhất. Thách thức trong việc giải quyết tình trạng cô đơn ở người lớn tuổi ở Anh đang trở nên khó khăn hơn khi tuổi thọ của người dân ở nước này được cải thiện. Ước tính, trong vòng 20 năm tới, tổng số dân từ 85 tuổi trở lên ở Anh sẽ tăng lên từ khoảng gần 1,3 triệu người hiện nay lên thành 2,8 triệu người.
Số liệu thống kê của Cơ quan y tế quốc gia của Anh cho thấy tình trạng trầm cảm ảnh hưởng tới khoảng 22% đàn ông và 28% phụ nữ trên 65 tuổi ở Anh. Tuy nhiên, theo các nhà tâm lý học ở Viện tâm lý hoàng gia Anh, 85% những người già bị trầm cảm không nhận được sự giúp đỡ từ cơ quan y tế. Vấn đề càng trở nên khó xử trí hơn khi một nghiên cứu của một nhóm bao gồm 9 tổ chức hoạt động vì người già ở Anh chỉ ra rằng có đến hơn 1 nửa trong số những người từ 50 tuổi trở lên sử dụng mạng xã hội Gransnet cho biết họ chưa bao giờ kể với người khác về tình trạng đơn độc mà họ gặp phải. [2]
Tại Nhật Bản, theo số liệu thông kê đầu năm 2019, trong số những cụ ông cao tuổi sống một mình, chỉ có 15% thường xuyên nói chuyện với một người khoảng hai tuần một lần, trong khi đó khoảng 30% cảm thấy không thể nói chuyện với bất kỳ ai và không có người nào đáng tin cậy để họ có thể nhờ giúp đỡ như là thay bóng đèn…
Theo cuộc khảo sát của Viện nghiên cứu an sinh xã hội và dân số quốc gia Nhật Bản, dân số đang già hóa nhanh chóng, có 28% người Nhật ở trên độ tuổi 65, cao nhất thế giới, đặt ra nhiều thách thức cho các nhà hoạch định chính sách đặc biệt là sự cô lập xã hội là vấn đề khó giải quyết hơn cả.
Tỷ lệ những người phụ nữ trên 65 tuổi sống một mình đã tăng gấp đôi từ 11,2% năm 1980 lên 20,3% vào năm 2010, trong khi đó, tỷ lệ này ở nam giới là tăng từ 4,3% lên 11,1% so với cùng kỳ. Trước thực trạng những người cao tuổi ở Nhật Bản sống trong cô độc đã gây ra một hiện tượng xã hội có tên là Kodokushi, một bóng đen đang bao trùm lên Nhật Bản mà không thể nào tìm được lối thoát.
Kodokushi hay còn gọi là những cái chết cô đơn, phản ánh thực tế xã hội Nhật Bản, những người già sống cô độc, khi chết đi không một ai hay biết và thi thể của họ chỉ được phát hiện trong một thời gian dài sau đó. Tòa nhà chung cư Tokiwadaira tại Nhật Bản đã trở nên nổi tiếng vì những cái chết cô đơn của người già sinh sống nơi đây. [3]
2-Một vài giải pháp nhằm giúp người già bớt cô đơn và đỡ bệnh tật
Bà Caroline Abrahams, giám đốc tổ chức “Người-cao-tuổi” của Anh cho biết: “Sự cô đơn có thể ảnh hưởng xấu đến sức khỏe và sự hạnh phúc của người già. Điều này có thể nhìn thấy rõ về mặt tinh thần khi tình trạng trầm cảm ở người già thường trở nên nghiêm trọng hơn vì cô đơn”. Như vậy, sự cô đơn sẽ có nguy cơ đẩy người già vào tình trạng đau đớn cả thể xác lẫn tinh thần. Họ dễ mắc những chứng bệnh nguy hiểm về tim mạch, tiêu hóa, thần kinh, hô hấp. Các bệnh này thường trở nên mãn tính, khiến người già phải chịu đựng suốt đời.
Mặt khác, khi cô đơn trở thành tình trạng thường xuyên kéo dài, có thể khiến nhiều người già rơi vào tình trạng trầm cảm nặng nề. Trong một báo cáo tại Anh của chiến dịch kêu gọi chống lại trầm cảm Jo Cox Loneliness, chỉ riêng ở quốc gia này đã có tới 9 triệu người đang ngày ngày phải chịu cảm giác cô đơn và sự tách biệt với xã hội.
Cảm giác ấy khiến con người ta dễ trầm cảm hơn, và thường là lý do dẫn đến tình trạng tự sát. Những người cô đơn cũng có rủi ro mắc các bệnh liên quan đến khả năng nhận thức cao hơn tới 64%. Tác hại không chỉ dừng lại ở đó, cảm giác cô đơn làm tăng nguy cơ béo phì, cao huyết áp dẫn đến tử vong sớm lên tới 26%. Con số này cũng tương đương với rủi ro khi hút tới 15 điếu thuốc/ngày. Một số bác sĩ cũng đưa ra lời cảnh báo rằng, cảm giác cô đơn còn khiến con người ta “cố tình” mắc bệnh. Tức là, họ muốn đến gặp bác sĩ nhiều hơn để có cảm giác được quan tâm, chăm sóc, và điều này vô tình tạo áp lực cho ngành y. [4]
Thực vậy, cô đơn khiến người cao tuổi thêm bệnh. Ngày càng nhiều người đối mặt với sự cô đơn và sống trong tình trạng cô lập khi về già. Theo giáo sư John Cacioppo thuộc Đại học Chicago (Mỹ): Những người già cô đơn có mạch máu giòn hơn, điều này khiến họ dễ mắc bệnh tăng huyết áp, cơ thể viêm nhiễm cũng như suy giảm trí nhớ nhanh hơn với người bình thường.
Người già cô đơn sẽ mất tự tin nên sợ các hoạt động xã hội và do đó lại càng tự cô lập mình nhanh hơn. Nhiều nghiên cứu cho thấy số người chết vì cô đơn nhiều gấp đôi số người chết vì béo phì.
Đặc biệt, người cao tuổi sống một mình thường có nguy cơ mắc bệnh trầm cảm cao. Đối với người cao tuổi, trầm cảm có thể có biểu hiện triệu chứng và cấp độ khác nhau. Nhiều người già và gia đình họ không nhận ra các triệu chứng của bệnh trầm cảm, không biết rằng trầm cảm là một căn bệnh và không biết làm thế nào để xử lý được. Nhiều người thậm chí nhầm lẫn các triệu chứng của bệnh trầm cảm là dấu hiệu của sa sút trí tuệ, bệnh Alzeheimer, viêm khớp, ung thư, bệnh tim, parkinson, đột quỵ hay rối loạn tuyến giáp. Chính sự nhầm lẫn tai hại này khiến cho người già bị trầm cảm không được phát hiện và điều trị kịp thời.
Trên thực tế, ta thấy rằng, không phải bất kỳ người già nào cũng bị suy sụp trong thế giới riêng của mình, để rồi phải sống và chết trong sự cô đơn thảm thương của họ. Có người sống lạc quan yêu đời như lúc còn trẻ. Có người tập thích nghi dần dần với nỗi cô đơn “một mình ta với ta”. Có người rút lui sống xa cách thế giới ngoài mình để cho ngày tháng trôi đi một cách tuyệt vọng. Người già cô đơn nhiều hay ít là do thái độ chấp nhận của họ đối với hoàn cảnh sống đặc thù của mình.
Trước những thay đổi, người già cũng có những cách đón nhận khác nhau. Nhà tâm lý học E. Erikson đưa ra nhận xét về 3 cách thích nghi với tuổi già:
-Một số người chấp nhận bản thân một cách thực tế và đi vào tuổi già một cách suôn sẻ. Họ tìm được sự thỏa mãn trong cuộc sống và các quan hệ thường ngày. Họ cảm thấy họ đã sống có ích và có ý nghĩa, không có gì làm cho họ phải hối tiếc khi về già.
-Số khác chấp nhận tuổi già một cách thụ động và vui lòng đón nhận cơ hội nghỉ ngơi đối với gánh nặng trách nhiệm.
-Một số không ít người không thích nghi với tuổi già. Họ không chấp nhận đời sống thụ động hơn sự bất lực. [5]
Dù trong hoàn cảnh nào, người già vẫn luôn cần đến sự quan tâm và nâng đỡ của nhà nước, xã hội và các tôn giáo.
. Hãy đến với người già:
Đó là phương cách đơn giản nhất nhằm giảm bớt nỗi cô đơn thường xuyên gặm nhấm họ. Ngoại trừ trường hợp “cô đơn tự nguyện”, mọi người già cách chung cần sự hiện diện của một ai đó bên cạnh họ. Nếu là con cháu hay người thân trong gia đình, chúng ta nên thường xuyên lui tới thăm viếng, trò chuyện, an ủi, khích lệ ông bà cha mẹ già yếu của mình. Các ngài thích gì cung cấp cho các ngài cái đó. Có thể một cuốn sách, một bộ cờ tướng, một cái iPhone, một đôi giày hay một cái xe đạp thể thao, một cái TV nhỏ, một cái máy đo huyết áp điện tử, một cái thẻ bảo hiểm y tế và nhân thọ vv.
Sự yêu mến và quan tâm của chúng ta sẽ giúp người già trút bỏ được mặc cảm bị bỏ rơi xa cách, mặc cảm tự ti mình là người vô dụng, sống ngoài lề xã hội. Có người đã nói: “Cô độc thật sự đáng sợ đấy, nhưng không đáng sợ bằng việc cảm thấy cô đơn trong một mối quan hệ” (Amedia Earhart). Người già sẽ rất buồn tủi khi mọi người xung quanh, nhất là con cháu và người thân, vô tình hay hữu ý, tạo một bức tường ngăn cách khiến cho họ cảm thấy cô độc trong thế giới xung quanh họ.
. Hãy tạo cho người già có cơ hội làm mới cuộc đời:
Chúng ta biết rằng một trong những nét tâm lý đặc trưng của tuổi già đó là thường mắc “Hội chứng về hưu”, thường có những biểu hiện trống trải, buồn chán, cô đơn, dễ cáu gắt, thiếu tự tin, hay nghi ngờ. [5] Do đó, chúng ta nên tìm mọi cách để “làm mới” con người và cuộc sống của họ.
Thỉnh thoảng đó đây, người ta thấy nhiều người lớn tuổi, có khi trên 80, 90 tuổi, cũng tích cực tham gia vào các hoạt động ngoài xã hội như thể thao, văn hóa, nghệ thuật. Có cụ lập kỷ lục bằng cách nhảy dù từ trên cao. Có cụ dự thi bơi lội. Có cụ khác luyện tập thể hình. Có cụ tham gia biểu diễn một nhạc cụ nào đó. Có nhiều trường hợp, khi bước vào tuổi già, cao niên rồi người ta mới phát huy những tài năng bẩm sinh. Do đó, nếu xã hội quan tâm giúp đỡ thì người già cũng có thể trở thành nổi tiếng như bao nhiêu tài năng khác.
Ngày nay, chúng ta có thể chứng kiến nhiều người già cắp sách đến trường hay đến giảng đường đại học. Họ say mê học hỏi và đạt được thành tích học tập cao. Có người đã giành được mảnh bằng cử nhân, tiến sĩ giữa những người đồng môn trẻ tuổi đáng con cháu họ.
Chuyện người già làm nên kỳ tích không hiếm. Tại VN, ở Hà Nội có cụ bà 97 tuổi tên Thi nổi tiếng, được phong “sành sỏi Internet nhất Việt Nam”. Cụ từng nói rằng cụ từng bị ung thư 3 năm nay, nhưng còn sức thì còn học. Cụ Thi từng khẳng định mình thích thì mình học thôi, học là học chứ đâu cần biết học để làm gì. Được biết ngoài khả năng sử dụng laptop để viết lách, vụ còn say mê hội họa và đã từng vẽ những bức tranh được nhiều người khen ngợi.
Trong khi đó ở Saigon, ai cũng biết đến cụ Mạc Can một nghệ sĩ rất đa tài. Cụ tên thật Lê Trung Can sinh năm 1945 là một nghệ sĩ ảo thuật đồng thời cũng mới nổi lên nhờ tài viết văn, viết sách. Cụ đã từng tham gia vào nhiều lĩnh vực hoạt động nghệ thuật như đóng hài, đóng phim, biểu diễn ảo thuật và viết văn. Riêng trong lãnh vực viết văn, cụ là tác giả của tiểu thuyết nổi tiếng “Tấm ván phóng dao”. Được biết, cụ Can bắt đầu viết văn lúc tuổi sắp bước sang lục tuần. Nhưng nhờ đam mê, cụ đã thành công và nổi tiếng khắp nước.
Có thể nói, ngày nay nhờ mạng xã hội phát triển nên các cụ có cơ hội tiếp cận với văn minh nhân loại, đồng thời có điều kiện tương tác với mọi người, mọi lớp tuổi, mọi đất nước trên toàn cầu.
Nghiên cứu từ Kaspersky Lab và B2B International cho thấy, trên toàn cầu, số lượng người già truy cập internet đang tăng khá nhanh. 84% người dùng ở tuổi 55 trở lên thường truy cập internet tại nhà nhiều lần trong ngày và 44% dành ít nhất 20 tiếng mỗi tuần cho internet. Tại Anh, tỷ lệ người từ 65 đến 74 tuổi sử dụng internet đã tăng từ 52% vào năm 2011 lên 80% vào năm 2018.
Trong khi đó nghiên cứu từ Đại học Michigan (Mỹ) cho thấy, 95% người cao tuổi cảm thấy từ hài lòng đến rất hài lòng với việc công nghệ giúp cuộc sống của họ bớt cô đơn hơn vào lúc xế chiều. Ngoài ra, người lớn tuổi có khả năng chia sẻ tin tức giả gấp gần 7 lần so với thế hệ trẻ.
Như vậy, ta thấy rằng người già không hẳn là những người bỏ đi, trái lại nếu họ có cơ hội và có đất để phát huy sở trường thì chắc chắn tài năng của họ sẽ lộ diện và điều đó cũng có nghĩa là họ vẫn có thể giúp ích cho xã hội mặc dù tuổi tác đã xế chiều.
. Hãy kính trọng, yêu thương họ thay vì hất hủi, khinh chê họ:
Mọi người đều biết rằng, trong việc chăm sóc người lớn tuổi, điều cần thiết nhất là yêu thương và kính trọng các ngài. Người ta thường nói, “tuổi già như là một bệnh viện, họ phải nhận đủ thứ bệnh!”. Chính vì vậy người già cần được yêu thương chăm sóc một cách hết sức đặc biệt. Khi thực hiện việc chăm sóc ông bà, bố mẹ lúc tuổi già, chúng ta lưu ý mấy điều sau:
a- Thuốc thang đầy đủ lúc cha mẹ già ốm đau;
b- Chăm sóc các người cao tuổi một cách thành tâm, chân thực đúng với tấm lòng kính trọng “uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ kẻ trồng cây”. Con cái cần chú ý tạo điều kiện cho người cao tuổi tham gia một số công việc lặt vặt trong gia đình đặc biệt là chăm sóc dạy dỗ các cháu nhỏ. Làm như vậy các cụ cảm thấy vui và không có mặc cảm mình là người vô dụng.
Về khía cạnh mục vụ người già, tác giả Millibald Demal, OSBDD, trong cuốn “Practical Pastoral Psychology” đã viết như sau: “Ðiều tối quan trọng là tỏ ra kính trọng những người già, kiên nhẫn chịu đựng những yếu đuối của họ, chuẩn bị cho họ chết lành qua việc đền tội, ăn năn tội, cầu xin cho được ơn bền đỗ và lòng kiên vững. Họ đặc biệt biết ơn ta nếu ta chỉ cho họ thấy những hạnh phúc đời sống vĩnh cửu, ơn sủng của Thiên Chúa và giá trị lớn lao trong khi chịu đựng những đau khổ một cách nhẫn nại. Họ sẽ rất sẵn sàng nhận lãnh các bí tích thường xuyên hơn, kính mến Ðức Mẹ và Thánh Giuse và cầu nguyện cho các đẳng linh hồn nơi luyện ngục”./. [5]
Aug. Trần Cao Khải
______________
[1]https://vnexpress.net/goc-nhin/nguoi-gia-co-don-3798019.html
[2]https://baomoi.com/ca-trieu-nguoi-cao-tuoi-heo-hon-vi-co-don
[4]https://www.phunuonline.com.vn/nguoi-gia-so-co-don-vo-dung-a1394427.html
[5]http://www.cgvdt.vn/cong-giao-viet-nam/tim-mot-duong-huong-muc-vu-cho-nguoi-cao-tuoi_a3848
2023
Nguyên tắc Tham Gia
Nicolas Masson
Nguyên tắc tham gia có phải là người bà con nghèo nàn với các nguyên tắc của Học thuyết Xã hội (HTXH) của Giáo hội không? Sau những nguyên tắc tượng đài như công ích, liên đới hay bổ trợ, nó có thể mang lại điều gì hơn nữa? Vả lại, so với các nguyên tắc khác, nó chỉ có ba đoạn trong cuốn Tóm lược HTXH của Giáo hội Công giáo. Tuy nhiên, nguyên tắc “nhỏ” này là rất quan trọng. Khi nhắc lại trách nhiệm của mỗi người, nó mang lại tất cả sự năng động cho việc thực hiện HTXH của Giáo hội. Quả thế, liệu một gia đình, một hiệp hội, một doanh nghiệp hay một quốc gia có thể sống và phát triển mà không có sự tham gia của các thành viên của mình? Liệu nó có thể liên đới, tôn trọng công ích và bổ trợ mà không có sự tham gia của họ?
Qua nguyên tắc tham gia, cuốn Tóm lược nhắc nhớ rằng mỗi người phải đóng góp “vào đời sống văn hóa, kinh tế, xã hội và chính trị của cộng đồng dân sự mà họ thuộc về. Tham gia là một bổn phận mà tất cả mọi người đều phải thực hiện một cách có ý thức, một cách có trách nhiệm và vì công ích”[1].
Trước hết, mỗi người được mời gọi đảm trách những lãnh vực mà bản thân mình chịu trách nhiệm (gia đình của mình, công việc của mình). Họ cũng được yêu cầu, càng nhiều càng tốt, tích cực cởi mở với đời sống công cộng[2] và vượt trên vai trò công dân của mình, tham gia vào đời sống xã hội.
Bằng cách tham gia vào công ích như thế, con người đáp lại ơn gọi làm người của mình, được tạo dựng để yêu thương và được yêu thương. Bởi vì nó được tạo dựng theo hình ảnh của Thiên Chúa. “Con người, thụ tạo duy nhất trên trần gian mà Thiên Chúa muốn vì chính nó, chỉ có thể tìm thấy chính mình một cách trọn vẹn qua việc trao ban chính mình cách vô vị lợi”[3].
Việc thực hiện HTXH của Giáo hội ngang qua hành động tự do của con người mà sự dấn thân “tự nguyện và quảng đại”[4] của họ nhằm phục vụ công ích là cần thiết “mỗi người tùy theo đại vị và vai trò của họ”[5]. Sự tham gia là nền tảng của bác ái xã hội và chính trị (FT 173). Khi hiến mình phục vụ anh chị em của mình, con người xây dựng nền văn minh tình yêu (Cv 33; FT 183).
Do đó, theo thứ tự hành động, sự tham gia chẳng phải là hàng đầu hay sao? Khi một cộng đồng được tạo ra hay trải qua một cuộc khủng hoảng to lớn, có lúc đã không có sự tổ chức hữu hiệu. Vì vậy, sự tham gia của ít nhất một số người là cần thiết để tạo ra hoặc tái tạo cộng đồng. Sự tham gia của tất cả mọi người sẽ được yêu cầu để cộng đồng sống cách trọn vẹn.
Nếu con người nhận được “nghĩa vụ” tham gia, thì nghĩa vụ này chỉ có ý nghĩa nếu con người cũng nhận được các phương tiện và quyền lợi tương ứng. Họ nhận được chúng từ những người khác. Sự tham gia phải được hiểu trong một luồng chuyển động. Bài viết này muốn cho thấy tính trung tâm của nguyên tắc “nhỏ” này.
- Cội nguồn Thánh Kinh
Trong Thánh Kinh, từ “tham gia” không xuất hiện một cách rõ ràng. Cũng không có truyền thống Thánh Kinh rõ ràng nào về chủ đề này. Tuy nhiên, từ sách Sáng Thế ký, các bản văn thánh mời gọi con người dấn thân phụng sự Thiên Chúa, anh chị em mình và toàn thể công trình tạo dựng. Toàn bộ giao ước giữa Thiên Chúa và con người ngụ ý sự dấn thân và trách nhiệm của tất cả mọi người, vượt trên những khác biệt.
Như thế, từ đầu sách Sáng Thế ký, Thiên Chúa đã trao phó cho người công trình tạo dựng của Ngài và tất cả những ai cư ngụ trong đó. “Đức Chúa là Thiên Chúa đem con người đặt vào vườn Ê-đen, để cày cấy và canh giữ đất đai”[6]. Theo lệnh truyền này, Thiên Chúa trao phó cho con người khu vườn và cư dân của mình. Nó phải hành động sao cho khu vườn đơm hoa kết trái và hữu ích cho mọi người.
Giao ước đòi hỏi sự tham gia chủ động của dân Ngài, nhưng Thiên Chúa không bao giờ đặt. Ngài bảo vệ dân Israel với điều kiện họ giữ giao ước của Ngài. “Môisê lấy cuốn sách Giao ước đọc cho dân nghe. Họ thưa: “Tất cả những gì Đức Chúa đã phán, chúng tôi sẽ thi hành và tuân theo”[7]. Về sau, trong sách Samuel, khi dân tuyên bố muốn có một vị vua, Thiên Chúa đã cảnh báo họ[8] nhưng tôn trọng ý muốn của dân: “Hãy nghe theo tiếng chúng, và hãy đặt một vua cai trị chúng”[9].
Trong Tin Mừng theo thánh Mátthêu, mỗi người được mời gọi tham gia. Chẳng hạn, trong dụ ngôn thợ làm vườn nho[10], tất cả mọi người, bất kể họ được thuê vào giờ nào, đều được mời gọi làm việc trong vườn nho của ông chủ. Không ai bị loại trừ, ngay cả những trẻ nhỏ: “Cứ để trẻ em đến với Thầy, đừng ngăn cấm chúng, vì Nước Trời là của những ai giống như chúng”[11] như những người mong manh nhất.
Mỗi người đều là thừa tác viên của ân sủng của Chúa. Mọi người đều có trách nhiệm với người anh em của mình. Điều này đặc biệt rõ ràng trong dụ ngôn về sự phán xét cuối cùng của Mátthêu: “Ta bảo thật các ngươi: mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy”[12]. Nơi Luca, người Samaritanô nhân hậu giúp đỡ người lữ khách bị thương, và nói rộng hơn: “Khi ông đãi tiệc, hãy mời những người nghèo khó, tàn tật, què quặt, đui mù”[13]. Trong bốn sách Tin Mừng, Chúa Giêsu nói với các môn đệ: “Các con hãy cho họ ăn”[14].
Thư thứ nhất gởi tín hữu Côrintô dạy chúng ta rằng Thiên Chúa “…muốn rằng không có chia rẽ trong thân thể, trái lại các bộ phận đều lo lắng cho nhau”[15]. Việc xây dựng Giáo hội đòi hỏi sự tham gia của tất cả mọi người, mỗi người mang đến những món quà của mình theo cách bổ sung cho việc phục vụ xây dựng cộng đồng. Giáo huấn của thánh Phaolô có thể soi sáng không chỉ cho các Giáo hội mà còn cả xã hội.
- Xuất hiện trong học thuyết xã hội
Các dòng tu và đan tu tìm cách sống Tin Mừng một cách triệt để sẽ đẩy nguyên tắc tham gia xa hơn[16]. Mỗi người đều có “quyền tham gia vào các quyết định liên quan đến họ” và vào việc chọn người “được mời gọi quản trị”. Trong Tu Luật của thánh Biển Đức, nếu viện phụ thực thi quyền bính, thì “ngài không bao giờ là nguồn gốc của luật” . Chỉ hội đồng mới có thể lập pháp trong các giới hạn mà tu luật trao cho ngài. Cũng chính hội đồng bầu chọn viện phụ. Các quy luật này sẽ tham gia gián tiếp vào quá trình thử nghiệm các quy luật dân chủ hiện đại[17].
Trong cùng một chuyển động, thánh Catarina Siêna, trong khi mạo muội chất vấn Đức Giáo hoàng, đã không ngần ngại viết trong các cuộc đối thoại của mình: “Cha cũng không cho mỗi người tất cả các nhân đức…Có một số nhân đức mà Cha phân phát theo cách như vậy, đôi khi cho người này, đôi khi cho người kia…Đối với người này, đó là bác ái; đối với người kia, đó là công bằng; với người này là lòng khiêm tốn; với người kia là một đức tin sống động…Đối với của cải vật chất, đối với những thứ cần thiết cho cuộc sống con người, Cha đã phân phát chúng với sự bất bình đẳng lớn[18], và Cha không muốn mỗi người sở hữu tất cả những gì cần thiết cho mình để mọi người có cơ hội, khi cần thiết, thực hành lòng bác ái đối với nhau…Cha muốn họ cần nhau và trở thành thừa tác viên của Cha để phân phát những ân sủng và những món quà hậu hĩ mà họ nhận được từ Cha”[19].
Ngay từ những bản văn đầu tiên của HTXH của Giáo hội, vấn đề tham gia đã hiện diện. Thông điệp Rerum Novarum (Tân Sự) tố giác việc, một mặt, triệt để loại trừ con người khỏi việc chia sẻ của cải và việc phục tùng nô lệ của họ với công việc sản xuất phi nhân. Rerum Novarum đặt nền móng cho nguyên tắc tham gia mà không nêu rõ tên rõ ràng: “Mọi công dân, không có ngoại lệ, phải mang lại phần của mình vào khối lượng của cải chung mà, vả lại, bằng sự hoàn trả tự nhiên, được phân phối lại giữa các cá nhân. Tuy nhiên, những đóng góp của riêng mỗi người không thể giống nhau và cũng không thể ở mức độ ngang nhau”[20].
Trong Rerum Novarum, thuật ngữ “tham gia” được dành riêng cho việc tham gia vào quyền sở hữu. Chỉ trong các thông điệp tiếp theo mà nó sẽ mang một ý nghĩa rộng lớn hơn. Chẳng hạn, sự tham gia liên quan đến tất cả các chiều kích của con trong lao động: bản thân lao động là ”sự tham gia vào công trình của Thiên Chúa”[21], nhưng cũng liên quan đến tất cả những ai làm việc để “phục vụ anh em của mình, một sự đóng góp cá nhân vào việc thực hiện kế hoạch quan phòng trong lịch sử”[22]. Tiếp đến qua “sự tham gia tích cực của tất cả mọi người vào việc quản lý doanh nghiệp”[23] và cuối cùng qua việc tham gia vào những thành quả của lao động và tài sản.
Trong đường hướng của Rerum Novarum, các Đức Giáo hoàng đã đưa ra những định hướng tổng quát hơn về việc tổ chức xã hội bằng cách dựa vào nguyên tắc bổ trợ. Trong Thông điệp Quadragesimo Anno (Tứ Thập Niên), Đức Piô XI đưa ra một định nghĩa tiêu cực đầu tiên, như một điều kiện để mỗi người tham gia. Ngài nhắc lại rằng thật bất công khi lấy đi của “các cá nhân (…) những quyền hạn mà họ có khả năng thực hiện theo sáng kiến của riêng họ và bằng phương tiện riêng của họ”[24]. Đức Bênêđíctô XVI sẽ nêu lên một định nghĩa tích cực: “Nguyên tắc bổ trợ trước hết là sự giúp đỡ nhân vị, thông qua quyền tự quản của các cơ quan trung gian. Sự giúp đỡ này được đề nghị khi nhân vị và các tác nhân xã hội không thể tự mình làm những gì thuộc trách nhiệm của mình và nó luôn ngụ ý rằng chúng ta có một mục tiêu giải phóng vốn thúc đẩy tự do và sự tham gia như là tinh thần trách nhiệm. Nguyên tắc bổ trợ tôn trọng phẩm giá của nhân vị mà nó nhìn thấy nơi nhân vị một chủ thể luôn có khả năng cống hiến điều gì đó cho người khác”[25]. Đức Phanxicô sẽ củng cố vấn đề: “Như thế, nguyên tắc bổ trợ trở thành một thực tại cụ thể bảo đảm sự tham gia và hoạt động của các cộng đồng và các tổ chức cấp dưới bổ sung cho hoạt động của Nhà nước”[26].
Như thế, nguyên tắc tham gia sẽ dần dần được mở rộng sang các lĩnh vực khác của xã hội: đời sống chính trị, văn hóa, tôn giáo, việc thực hiện bổn phận này đòi hỏi nhiều quyền hơn. Liên quan đến lĩnh vực duy nhất của doanh nghiệp, Đức Gioan XXIII trong Thông điệp Mater et Magistra (Mẹ và Thầy), nhấn mạnh đến sự cần thiết phải “giảm bớt hợp đồng lao động bằng các yếu tố vay mượn từ hợp đồng xã hội” , để “công nhân và nhân viên được mời gọi tham gia một cách nào đó vào quyền sở hữu doanh nghiệp, vào việc quản lý nó hay những lợi nhuận mà nó mang lại”[27]. Đức Gioan-Phaolô II nêu rõ rằng mỗi người phải “ (…) ý thức rằng, ngay cả khi mình làm việc trong một sở hữu tập thể, họ cũng đồng thời làm việc vì lợi ích của chính họ”.
Mỗi người đều được mời gọi hành động trong lãnh vực trách nhiệm trực tiếp của mình bởi vì như thánh Gioan-Phaolô II nhắc nhở chung ta về vai trò của giáo dân: “Không có chỗ cho sự thờ ơ, khi có rất nhiều công việc đang chờ đợi tất cả chúng ta trong vườn nho của Chúa”[28]. Quả thế, ngày nay hơn bao giờ hết, tầm quan trọng của các vấn đề xã hội, kinh tế, văn hóa, chính trị và sinh thái chứng tỏ rằng “không ai được phép ngồi yên không làm gì”[29].
- Quyền lợi và bổn phận tham gia
Nguyên tắc tham gia, giống như nguyên tắc bổ trợ, thống nhất quyền lợi và bổn phận nhưng theo cách khác nhau. Bởi vì nguyên tắc bổ trợ giả thiết một tổ chức có phẩm trật, nên nó đưa ra một phẩm trật về các quyền lợi và bổn phận và bảo vệ nhân vị khỏi bị tước đoạt quyền lực từ bên trên. Nguyên tắc tham gia, bởi vì nó khởi đi từ nhân vị, nên mang lại một cái nhìn ngang bằng hơn nhưng cũng giả thiết sự cân bằng giữa quyền lợi và bổn phận. Đức Gioan XXIII nhắc nhở chúng ta: “Trong đời sống xã hội, bất kỳ quyền lợi nào được ban cho một người theo bản nhiên đều tạo ra nơi người khác một bổn phận, bổn phận nhìn nhận và tôn trọng quyền lợi này. Quả thế, mọi quyền thiết yếu của con người đều vay mượn sức mạnh bắt buộc của nó từ luật bản nhiên vốn ban nó và áp đặt nghĩa vụ tương ứng. Trong khi đòi hỏi quyền lợi của mình, những ai quên đi bổn phận của họ hay chỉ chu toàn chúng một cách bất toàn đều có nguy cơ phá hủy bằng tay này những gì họ xây dựng bằng tay kia”[30]. S. Weil giúp chúng ta tiến xa hơn khi bà viết: “Khái niệm “nghĩa vụ” vượt trội hơn hơn khái niệm “quyền lợi”, vốn phụ thuộc và liên quan đến nó. (…). Một người đơn độc trong vũ trụ sẽ không có bất kỳ quyền lợi nào, nhưng người đó sẽ có các nghĩa vụ”[31].
Khi hoạt động chính trị được suy nghĩ từ quyền lợi, điều đó dẫn đến các phương thức vận hành chia nhỏ xã hội. “Tôi có quyền. Đâu là những chiến lược để khiến người ta công nhận chúng?” chứ không phải “Tôi có nghĩa vụ. Chúng phải bàn đến đến điều gì? Ai phải được hưởng lợi chúng?”. Những câu hỏi sau cùng này có nhiều hơn trong cuốn sổ tình yêu. Ai yêu thương thì tự cho mình nghĩa vụ phục vụ người mình yêu thương. Trong Thông điệp Fratelli Tutti (Tất cả đều là anh em), khi giải thích dụ ngôn người Samaritanô nhân hậu, Đức Thánh Cha Phanxicô đã hướng sự tham gia vào việc phục vụ tha nhân. “Câu kết luận của Chúa Giêsu là một lời yêu cầu: “Ông hãy đi và làm như thế” (Lc 10, 37). Nói cách khác, Ngài thúc giục chúng ta gạt bỏ mọi khác biệt và, trước nỗi đau khổ, hãy trở nên gần gũi với mọi người. Vì thế, tôi không còn nói rằng tôi có “những người thân cận” mà tôi phải giúp đỡ, nhưng đúng hơn tôi cảm thấy được kêu gọi trở nên người thân cận đối với những người khác”[32].
- Mọi người, không trừ ai, đều được mời gọi tham gia
Tất cả mọi người đều được mời gọi tham gia tích cực vào đời sống xã hội và chính trị. Các phương thức có thể đa dạng nhưng phẩm chất của một xã hội hay một cộng đồng có thể được đánh giá bằng khả năng thu hút sự tham gia của tất cả các thành viên của mình và đặc biệt là những người nghèo khổ nhất. Đối với Hannah Arendt[33], người nghèo là người “không có quyền để có quyền” . Đó là người không thể bằng bất cứ cách nào quyết định cuộc sống của mình và đóng góp vào đời sống của nhóm. Như thế, người nghèo bị tước mất một nhu cầu cốt yếu của tâm hồn: cảm thấy mình hữu ích và thậm chí không thể thiếu.
Vì thế, làm cho người nghèo tham gia, trước hết đó là cho phép họ, càng nhiều càng tốt, xác định và trở thành tác nhân của sự phát triển của chính họ. “Chúng ta không thể đối mặt với tai tiếng về nghèo đói bằng cách thúc đẩy các chiến lược kiểm soát vốn chỉ làm cho yên tâm và biến người nghèo thành những con người thuần hóa và vô hại. Thật buồn biết bao khi thấy rằng, đằng sau những việc làm được cho là vị tha, chúng ta giảm thiểu người khác thành thụ động”[34].
Đó cũng chính là làm sao để họ góp phần vào sự phát triển của xã hội. Từ hơn 50 năm qua, phong trào ATD Quart Monde ( Agir tous pour la dignité Quart Monde / Mọi người hành động vì phẩm giá Thế giới thứ tư)[35] nhắc nhở chúng ta rằng không có người nghèo nào mà không thể cho đi. Mời gọi con người cho đi, trong chừng mực những gì họ đã nhận được, đó là nhìn nhận sự cao cả của họ. Để giải thích lại Hannah Arendt, đó là trao cho họ quyền có bổn phận tham gia vào việc xây dựng thành đô.
Đối với các tổ chức, điều đó có nghĩa là họ không chỉ phải ý thức rằng mọi người đều có giá trị màm còn phải xác tín rằng mỗi người đều có thể mang lại điều gì đó độc đáo. Do đó, phát triển sự tham gia, đó là xây dựng một trong những cơ cấu đổi mới vốn tin tưởng hết sức có thể vào mỗi người và cho phép họ hành động theo tài năng của mình.
- Những thể chế chất lượng tạo điều kiện cho sự tham gia
Các thể chế mang lại một khuôn khổ cho sự tham gia của các thành viên của mình: các mục đích theo đuổi; các hình thái chỉ định quyền bính, phân bổ quyền hạn và trách nhiệm, các phương thức quyết định và kiểm soát. Một số thể chế tạo điều kiện cho ý thức trách nhiệm, sáng kiến, thấm chí chấp nhận rủi ro, những tương quan tốt giữa mọi người, sự trợ giúp lẫn nhau… Trái lại, các thể chế khác có xu hương ấu trĩ hóa bằng cách ra lệnh phải làm gì, bằng cách kiểm soát, bằng cách chống đối…[36].
Khả năng dấn thân và hành động cá nhân nhằm phục vụ công ích tùy thuộc vào chất lượng của các thể chế. Trong Thông điệp Caritas in Veritate (Bác ái trong Chân lý), Đức Bênêđíctô XVI rút ra những hệ quả về tầm quan trọng của chúng: “Hành động vì công ích một mặt có nghĩa là chăm sóc, và mặt khác sử dụng toàn thể các thể chế vốn cấu trúc đời sống xã hội, về mặt thể chế, dân sự và văn hóa, một đời sống xã hội mang hình thức của “polis”, của thành đô”[37].
Chăm sóc các thể chế, trước tiên đó là sử dụng chúng. Bằng cách thực hiện quyền biểu quyết của mình khi có quyền này và bằng cách đóng góp vào các cuộc tranh luận. Sự tồn tại của các cuộc tranh luận là thiết yếu đối với đời sống của các thể chế. Chúng có chát lượng khi có sự tôn trọng mỗi người, ý thức về số phận chung và mong muốn chung tiến tới. Không có sự tìm kiếm chung về điều thiện này, các cuộc tranh luận có thể tạo ra ảo tưởng khi chúng không phải là những mưu mẹo để thông qua một cuộc cải cách hay trở thành một nơi mà mỗi người tìm cách áp đặt cho người khác sự công nhận chỉ những lợi ích cá nhân của mình.
Tiếp đến, đó là dấn thân phục vụ chúng. Bằng cách tham gia vào một đô thị, một phòng ban, một nghiệp đoàn hay một hiệp hội, mỗi người đều có thể, tùy theo khả năng, thời gian và sở thích của mình, tham gia và hành động nhằm phục vụ công ích. Cũng chính trong các cơ quan trung gian mà các quan điểm của các công dân được cấu trúc.
Sau cùng, đó là bảo vệ và chăm lo cho sức khỏe của các thể chế. Đó là bảo vệ sự tham gia thông qua các quy tắc và mục tiêu. Điều đó đặt ra vấn đề về quy mô của các tổ chức và sự gia tăng sức nặng của các quy định vốn hạn chế sáng kiến của các nhóm đến nỗi chúng buộc họ phải khiếu nại lên cấp cao hơn và do đó tìm kiếm sự tuân thủ nhiều hơn là khả năng thực hiện các sáng kiến.
- Giáo dục trách nhiệm và phát triển tình yêu đối với công ích
Các thể chế không thể hoạt động mà không có những người thúc đẩy chúng. Các thể chế, bất kể chất lượng của chúng, không thể tồn tại nếu không có những người được thúc đẩy bởi một ý thức sâu xa về trách nhiệm và ý thức về công ích. Một cách hỗ tương, các thể chế chất lượng đào tạo những người có trách nhiệm, những người mà tiếp đến làm cho chúng sống và tiến bộ.
Giáo dục ý thức trách nhiệm và tình yêu đối với công ích bắt đầu từ các gia đình, vốn “tạo nên nơi chốn đầu tiên trong đó các giá trị về tình yêu và tình huynh đệ, về sự chung sống và chia sẻ, về sự quan tâm và chăm sóc tha nhân được sống và truyền lại”[38]. Các trường học, hiệp hội và doanh nghiệp đều có thể là nơi học tập. Việc giáo dục này là cấp bách. Quả thế, xã hội cảu chúng ta thúc đẩy chủ nghĩa cá nhân. Vấn đề này xứng đáng có một bài viết riêng. Không khai triển mọi thứ, chúng ta chỉ cần lưu ý rằng tiến bộ kỹ thuật thúc đẩy ảo tưởng rằng mỗi người đếu có thể tự xoay xở một mình.
- Kết luận
Nguyên tắc tham gia kêu gọi những gì tốt nhất của con người, sự tự do và tính sáng tạo của họ. Nó sẽ luôn là một hành động cá nhân mà chúng ta thực hiện với và cho người khác. “Phẩm giá của nhân vị đòi hỏi mỗi người phải hành động theo một quyết tâm có ý thức và tự do. Trong đời sống xã hội, đặc biệt chính từ các quyết định cá nhân mà chúng ta phải mong đợi sự tôn trọng các quyền lợi, việc thực hiện các bổn phẩn, sự cộng tác vào nhiều hoạt động. Cá nhân sẽ phải trưởng thành ở đó bằng xác tín cá nhân; bằng sáng kiến của mình, bằng ý thức của mình về các trách nhiệm chứ không phải dưới tác động của những cưỡng bức hay áp lực bên ngoài”[39].
Tý Linh
(theo: https://www.doctrine-sociale-catholique.fr/les-principes/216-participation)
Nguồn: xuanbichvietnam.net (22.07.2023)
[1] Tóm lược HTXH của Giáo hội §189.
[2] Sách Giáo lý của Giáo hội Công giáo 1914, 1915, 1916.
[3] Hiến chế Gaudium et spes, GS 24.3
[4] Sách Giáo lý của Giáo hội Công giáo – 1913.
[5] Sách Giáo lý của Giáo hội Công giáo – 1913.
[6] Stk 2, 15.
[7] Xh 24, 7.
[8] 1Sm 8, 11-18.
[9] 1Sm 8, 22.
[10] Mt 20
[11] Mt 19, 14.
[12] Mt 25, 40.
[13] Lc 14, 13.
[14] Lc 9, 13. Chúa Giêsu sẽ sai các môn đệ đi truyền giáo từng hai người một (Lc 10, 1) và trong những lời cuối cùng của mình, Ngài sẽ yêu cầu các ông làm chứng cho Ngài (Lc 24, 48).
[15] 1Cr 12, 25
[16] Cf. Leo Moulin, “le pouvoir dans les ordres religieux” dans “Pouvoir” n°17, 1981.
[17] Leo Moulin khai triển ý tưởng rằng các dòng đan tu cũng như Hy Lạp Cổ đại là mô hình của nền dân chủ phương Tây. “Les origines religieuses des technique électorales et délibératives moderne”, Politix. Revue des sciences sociales du politique Année 1998 43 pp. 117-162
[18] Khi nói điều đó, thánh Catarina Siêna đặt vấn đề về mục đích phổ quát của của cải và việc sử dụng quyền tư hữu.
[19] S. Catherine de Sienne, Dial. 1, 6
[28] Christifideles Laici §5
[29] Christifideles Laici §2 dựa vào Mt 20, 6-7. Xem thêm trong Laudato Si: “Đặc biệt, các Kitô hữu biết rằng bổn phận của họ ở trong công trình tạo dựng và bổn phận của họ đối với thiên nhiên và Đấng Tạo Hòa là một phần không thể thiếu trong đức tin của họ”.
[31] Simone Weill, L’enracinement, 1943. Trong phần dẫn nhập, bà nhắc nhở chúng ta rằng các quyền lợi không tự tồn tại. “Việc thực hiện hiệu quả một quyền lợi không đến từ người sở hữu nó nhưng từ những người khác, những người nhận ra mình có nghĩa vụ về điều gì đó đối với người ấy. Vì thế, nghĩa vụ có hiệu lực ngay khi nó được nhìn nhận”. Như thế, “khái niệm nghĩa vụ trỗi vượt hơn khái niệm quyền lợi vốn phụ thuộc và liên quan đến nó. Một quyền lợi không có hiệu lực nơi chính nó, nhưng chỉ thông qua nghĩa vụ tương ứng với nó”.
[33] Hannah Arendt, les origines du totalitarisme, 1951
[35] Được thành lập vào năm 1957 bởi Cha Joseph Wresinski, nó đặc biệt dựa vào di sản giáo dục phổ thông do Paulo Freire phát triển.
[36] Cf. Diễn văn của Đức Piô XII nhân kỷ niệm 50 năm Rerum Novarum: “Sự thiện và sự dữ của các linh hồn tùy thuộc và được xâm nhập từ hình thức được trao cho xã hội, hòa hợp hay không với các lề luật của Thiên Chúa”.
[37] Caritas In Veritate, CV 7. Do đó, Đức Thánh Cha Phanxicô sẽ nói về nền sinh thái xã hội. “Nền sinh thái xã hội nhất thiết mang tính thể chế và dần dần đạt đến các chiều kích khác nhau vốn đi từ nhóm xã hội cơ bản là gia đình, ngang qua cộng đồng địa phương và Quốc gia, cho đến đời sống quốc tế. Trong mỗi cấp độ xã hội và giữa chúng, được phát triển các thể chế vốn điều chỉnh các mối tương quan nhân loại. Tất cả những gì gây hại cho chúng đều có tác hại, chẳng hạn như mất tự do, bất công và bạo lực”.(Laudato Si’, § 139)
[39] Gioan XXIII, Pacem in terris, PT 34
2023
Trẻ cảm thấy thế nào khi cha mẹ cãi nhau?
Trẻ cảm thấy thế nào khi cha mẹ cãi nhau?
Có ai trong chúng ta được sinh ra và lớn lên trong một gia đình chưa từng có những mâu thuẫn, xung đột? Có ai trong chúng ta chưa từng trải nghiệm, dưới nhiều hình thức, những khác biệt, và thậm chí những bất đồng giữa cha mẹ? Những lúc đó, chúng ta cảm thấy như thế nào?

Là bậc cha mẹ, chúng ta đã bao giờ tự vấn xem con cái mình sẽ cảm thấy thế nào khi chứng kiến sự cãi vã của người lớn? Đây thực sự là một vấn đề cần được quan tâm một cách nghiêm túc, với ý hướng, giúp chúng ta học cách xử lý những bất đồng sao cho vẫn bảo vệ những ranh giới nhất định và nhu cầu của các thành viên khác trong gia đình.
Trẻ cảm thấy thế nào khi chứng kiến xung đột giữa cha mẹ?
Cô đơn và bất lực
Một cậu bé 7 tuổi đang trong tiến trình điều trị đã đưa cho bác sĩ trị liệu của mình một mảnh giấy trong đó có ghi: “Cháu khóc suốt đêm. Nước mắt là người bạn duy nhất của cháu. Cháu cảm thấy cô đơn. Bố mẹ cháu cãi nhau cả đêm”.
Cô đơn là một cảm giác nổi bật trong tình huống như vậy. Khi người lớn chìm đắm trong cảm xúc (kể cả sự hung hăng), con cái họ không có ai để nương tựa. Bậc cha mẹ phải duy trì sự cân bằng cảm xúc để trẻ cảm thấy an toàn, dù đó là trẻ mới biết đi hay đang ở độ tuổi thanh thiếu niên.
Chỉ những người bình tĩnh, những người nhận ra và quản lý cảm xúc của bản thân mới có thể mang lại nền tảng an toàn giúp trẻ nhận thức được rằng thế giới là một nơi được mong đợi. Do đó, khi người lớn phát cáu, bắt đầu la hét và xúc phạm nhau, mọi nền tảng bảo vệ trong thế giới nội tâm của trẻ bị sụp đổ một cách nhanh chóng.
Trẻ chẳng có ai để cậy dựa. Trẻ cảm thấy sợ hãi (chẳng hạn, gia đình sẽ tan vỡ hoặc ai đó sẽ bị tổn thương), tức giận và buồn bã (vì cha mẹ mình có vẻ như không yêu thương nhau). Trong tình huống như vậy, trẻ cảm thấy dường như chỉ có một mình mình trên thế giới này.
Gánh nặng của người lớn trở thành gánh nặng của trẻ em
Ranh giới của trẻ bị vi phạm khi nội dung không phù hợp với tâm trí trẻ em lọt vào tai chúng. Bằng việc quyết định “ai có lỗi” hoặc “ai đúng”, bằng việc nói một cách thô lỗ về những vấn đề của người lớn, chúng ta kéo trẻ vào cuộc và trẻ phải chịu những gánh nặng của mối tương quan của chúng ta. Dù muốn hay không, trẻ bắt đầu chịu đựng những vấn đề chưa được giải quyết của người lớn như một gánh nặng quá tải.
Trẻ trở thành người bạn tâm giao trong nỗi sợ hãi của chúng ta về vấn đề tài chính gia đình, là nhân chứng cho cuộc cãi vã xem ai là người làm nhiều hơn cho gia đình, ai quan tâm đến mối tương quan nhiều hơn, và ai làm tổn thương ai và mức độ ra sao. Trẻ có thể nghe thấy những lời nhục mạ hoặc ác ý, vốn là những điều mà đối với người lớn, đã là nặng nề huống hồ là đối với một đứa trẻ.
Chọn Cha hay Mẹ?
Nhu cầu tự nhiên của trẻ em hoặc thiếu niên là có thể yêu thương cả cha lẫn mẹ. Những cuộc cãi vã buộc trẻ phải chọn người mà chúng sẽ đồng ý với và người mà chúng sẽ bảo vệ. Khi làm như vậy, trẻ cũng cảm thấy rằng chúng đang phản bội một trong hai người, vốn là cha mẹ của mình. Bởi vì, suy cho cùng, con cái phải hiếu thảo với cả Cha và Mẹ.
Thật là một tình huống bi thảm khi cha mẹ kéo con cái vào một cuộc tranh cãi chỉ để chúng quyết định xem bên nào là hợp lý. Thậm chí còn tồi tệ hơn khi người cha/ mẹ lập “hiệp ước” với trẻ chống lại người kia, giải thích lý do tại sao “không thể sống với cha/mẹ”. Điều tai hại đó chính là lạm dụng tình cảm và là điều rất nghiêm trọng.
Gạt nhu cầu của trẻ sang một bên
Khi cha mẹ cãi nhau, trẻ cảm thấy mình hoàn toàn chẳng là gì đối với cha mẹ cả. Và theo một cách nào đó, trẻ đã đúng: cha mẹ đang coi thường cảm xúc của trẻ, không quan tâm gì đến cảm xúc đó gây ra cho trẻ.
Trong một gia đình đầy những xung đột, sẽ không có chỗ cho nhu cầu của trẻ. Trẻ sẽ bắt đầu đẩy nhu cầu của mình lại phía sau. Trẻ cũng có thể cảm thấy có lỗi vì bố mẹ không hòa thuận với nhau. Trẻ có thể bắt đầu nghĩ rằng nếu chúng cư xử tốt hơn, học hành giỏi hơn, hoặc ăn uống dễ dàng hơn thì có lẽ cha mẹ chúng sẽ hạnh phúc hơn.
Trong những gia đình mà cha mẹ thường xuyên cãi vã, trẻ em cũng có thể mắc các bệnh về tâm thần. Rốt cuộc, trẻ mang nơi mình một gánh nặng căng thẳng to lớn. Vô hình chung, trẻ bị biến thành những người gìn giữ hòa bình bất đắc dĩ. Trẻ có thể nghĩ rằng mình có thể làm điều gì đó để tránh cuộc cãi vã, chẳng hạn như đùa giỡn, làm cha mẹ mất tập trung hoặc đóng vai trò là người hòa giải. Trẻ sẵn sàng xoa dịu ngay cả những điềm báo nhỏ nhất về xung đột.
Hơn nữa, sự sợ xung đột này đôi khi trở thành một phần thường trực trong thế giới nội tâm của trẻ. Trẻ biết được những mặt tồi tệ nhất của cha mẹ mình, mà không biết rằng hai người có thể khác nhau mà vẫn có thể bình tĩnh nói chuyện với nhau.
Hạnh phúc của trẻ so với lợi ích của hôn nhân
Là bậc cha mẹ thì điều này có ý nghĩa gì đối với chúng ta? Trước hết, đó là lời mời gọi để giữ lại các cuộc trao đổi của người lớn khi không có mặt trẻ. Nhưng đó cũng là lời kêu gọi giải quyết vấn đề sớm, tốt nhất là ngay khi chúng phát sinh. Việc trì hoãn vô thời hạn có thể khiến những vấn đề ngày càng lớn thêm giống như một tảng băng trôi.
Người ta thường nói rằng mối tương quan hôn nhân phải được đặt lên hàng đầu, bởi vì con cái cần tình yêu thương của cha mẹ. Nhưng tôi nhấn mạnh rằng, chúng ta phải đặt lợi ích của trẻ em lên trên hết, tạo cơ hội để trẻ có mối tương quan sâu sắc và đáng tin với người lớn.
Có được như vậy, chúng ta sẽ dễ dàng tìm thấy động lực để vượt qua những giai đoạn khó khăn trong hôn nhân theo cách có thể cứu vãn tâm hồn mong manh của một đứa trẻ 2 tuổi, 7 tuổi, hoặc một thiếu niên.
Nhưng nếu chúng ta thất bại thì sao? Điều quan trọng nhất là xin lỗi và giải thích rằng những gì đã xảy ra không phải là lỗi của trẻ. Chúng ta muốn mọi người trong gia đình mình cảm thấy quan trọng và cần thiết.
***
Ngoài ra, là những gia đình Công giáo, chúng ta có mẫu gương tuyệt vời của Thánh gia. Rõ ràng là, Thánh Giuse, Mẹ Maria và trẻ Giuse không thể không trải nghiệm những khó khăn, thách đố trong đời sống gia đình, nhưng các ngài luôn đối diện và cùng nhau giải quyết những tình huống như thế với tình yêu thương, khiêm tốn, lắng nghe, và tôn trọng nhau. Và trên tất cả, các ngài luôn tìm kiếm để cả gia đình cùng thi hành ý muốn của Thiên Chúa, cách trọn vẹn nhất.
Małgorzata Rybak
Nt. Anna Ngọc Diệp, OP
Dòng Đa Minh Thánh Tâm
