2023
Chung thủy trong hôn nhân và độc thân vì Nước Trời
Chung thủy trong hôn nhân và độc thân vì Nước Trời (Mt 19, 1-12)
I. DẪN NHẬP
Nối tiếp chuyên mục “Học hỏi Tin Mừng theo thánh Mát-thêu” trong bài 28 với đoạn Mt 18, 15–35, chúng ta được mời gọi sống “Hoà giải và Tha thứ”. Hôm nay, mở đầu chương 19, chúng ta cùng nhau tìm hiểu chủ đề “Chung thủy trong hôn nhân và độc thân vì Nước Trời” (Mt 19, 1-12) với 4 câu hỏi căn bản như sau:
– Hôn nhân là gì?
– Có được phép ly dị không?
– Tại sao Môsê cho phép cấp chứng thư ly dị?
– Độc thân vì Nước Trời nghĩa là gì?
II. BỐ CỤC
Bản văn Mt 19,1-12 có thể được chia thành các phần như sau:
1. Hôn nhân (19,1-10)
a. Đặt vấn đề: Có được ly dị không? (19,1-4)
b. Giải quyết vấn đề: câu trả lời khôn khéo của Đức Giê-su (19,1-9)
2. Độc thân vì Nước Trời
a. Đặt vấn đề (19,10)
b. Giải quyết vấn đề: câu trả lời của Đức Giê-su (19,11-12)
Video bài học
Audio Lời Chúa (Mt 19, 1-12)
III. NỘI DUNG
1. Hôn nhân là gì?
Tác giả Tin Mừng Mát-thêu, qua việc trưng dẫn sách Sáng Thế, tái khẳng định ý nghĩa đích thực của hôn nhân. Hôn nhân, trước hết là sáng kiến của Thiên Chúa. Người là Đấng thiết lập giao ước hôn nhân. Người tạo dựng và kết hợp người nam và người nữ với nhau thông qua mối dây liên kết là tình yêu con người. “Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh mình, Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên Chúa, Thiên Chúa sáng tạo con người có nam có nữ” (St 1,27). “Bởi thế, người đàn ông lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai thành một xương một thịt” (St 2,24).
Do đó, ơn gọi hôn nhân đã được khắc ghi trong chính bản tính của người nam và người nữ, như chính họ phát xuất từ bàn tay Đấng Tạo Hóa. “Do giao ước hôn nhân, một người nam và một người nữ tạo thành một sự hiệp thông trọn cả cuộc sống; tự bản chất, giao ước ấy hướng về lợi ích của đôi bạn, cũng như đến việc sinh sản và giáo dục con cái; Đức Ki-tô đã nâng giao ước hôn nhân giữa hai người đã được rửa tội lên hàng bí tích.”[1]
2. Có được phép ly dị không?
Kinh Thánh đã khẳng định rằng, người nam và người nữ được tạo dựng cho nhau: “Con người ở một mình thì không tốt” (St. 2,18). Người nữ là “thịt bởi thịt” của người nam, nghĩa là bình đẳng với người nam, rất gần gũi với người nam, mà Thiên Chúa đã ban cho người nam với tư cách là “trợ tá”, như vậy, là người thay mặt Chúa để trợ giúp chúng ta. “Bởi thế, người đàn ông lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai thành một xương một thịt” (St 2,24).
Chính Đức Giê-su, trong khi Người rao giảng, đã dạy một cách rõ ràng về ý nghĩa nguyên thủy của sự kết hợp giữa người nam và người nữ, đúng như Đấng Tạo Hóa đã muốn ngay từ lúc khởi đầu. Sự kết hợp hôn nhân giữa người nam và người nữ là bất khả phân ly: Sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly (Mt 19,6).[2]
Đức Giê-su là nguồn ân sủng và mẫu gương trọn hảo của đời sống hôn nhân. Tông đồ Phao-lô làm sáng tỏ điều đó khi nói: “Người làm chồng hãy yêu thương vợ, như chính Đức Ki-tô yêu thương Hội Thánh và hiến mình vì Hội Thánh; như vậy, Người thánh hóa và thanh tẩy Hội Thánh” (Ep 5,25-26). Thánh nhân còn nói thêm: “Chính vì thế, người đàn ông sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai sẽ thành một xương một thịt. Mầu nhiệm này thật là cao cả. Tôi muốn nói về Đức Ki-tô và Hội Thánh” (Ep 5,31-32). Thánh Phao-lô cũng khuyên dạy rằng: “Còn với những người đã kết hôn, tôi ra lệnh này, không phải tôi, mà là Chúa: vợ không được bỏ chồng, mà nếu đã bỏ chồng, thì phải ở độc thân hoặc phải làm hòa với chồng; và chồng cũng không được rẫy vợ” (1 Cr 7,10-11).
3. Tại sao Mô-sê cho phép cấp chứng thư ly dị?
Theo luật của Mô-sê, “nếu một người đàn ông đã lấy vợ và đã ăn ở với nàng rồi, mà sau đó nàng không đẹp lòng người ấy nữa, vì người ấy thấy nơi nàng có điều gì chướng, thì sẽ viết cho nàng một chứng thư ly dị, trao tận tay và đuổi ra khỏi nhà” (Đnl 24,1). Việc ông Mô-sê cho phép rẫy vợ là một nhượng bộ trước lòng chai dạ đá. Tuy nhiên, khi cho phép cấp chứng thư ly dị, Mô-sê không nhằm giới thiệu việc ly dị như một đạo luật mới, mà nhằm kiểm soát ly dị. Mô-sê không thay đổi ý định của Thiên Chúa dành cho hôn nhân. Mô-sê dạy Thiên Chúa là Đấng thiết lập hôn nhân bền vững và chung thuỷ. Điều gì Thiên Chúa kết hợp loài người không được phân ly.
4. Độc thân vì Nước Trời nghĩa là gì?
Đức Ki-tô là trọng tâm của toàn bộ đời sống Ki-tô giáo. Dây liên kết với Người chiếm hữu vị trí hàng đầu so với mọi dây liên kết khác về gia đình hay xã hội. Ngay thủa ban đầu của Hội Thánh, đã có những người nam và người nữ từ bỏ lợi ích lớn lao của hôn nhân để theo Con Chiên đi bất cứ nơi nào Người đi, để chuyên lo việc của Chúa, tìm cách làm đẹp lòng Người, và đi đón Tân Lang đang đến. Chính Đức Ki-tô đã mời gọi một số người đi theo Người trong cách sống này, cách sống mà Người luôn là mẫu mực: “có những người tự ý không kết hôn vì Nước Trời” (x. Mt 19,12). Quả thực, độc thân vì Nước Trời là sự triển khai ân sủng Bí tích Rửa tội, là dấu chỉ nổi bật cho sự ưu tiên tuyệt đối của mối liên kết với Đức Ki-tô và cho sự sốt sắng mong chờ Người lại đến, và cũng là một dấu chỉ nhắc nhớ rằng hôn nhân là một thực tại của thế giới hiện tại đang qua đi.[3]
IV. SUY NIỆM VÀ THỰC HÀNH
Sau khi tìm hiểu chủ đề “Chung thủy trong hôn nhân và độc thân vì Nước Trời” trong đoạn Tin mừng Mt 19, 1-12, chúng ta dừng lại ở một vài điểm giúp ta suy niệm và thực hành:
1. Cả hai, Bí tích Hôn nhân và đời sống độc thân vì Nước Trời, đều phát xuất từ chính Chúa. Chính Ngài ban cho cả hai, ý nghĩa và ân sủng cần thiết để sống theo thánh ý Ngài. Ơn gọi độc thân vì Nước Trời và ơn gọi Hôn nhân không thể tách rời nhau mà luôn hỗ trợ cho nhau: “Ai hạ giá hôn nhân, thì người đó cũng hạ giá sự vinh quang của đức trinh khiết; ai ca ngợi hôn nhân, thì người đó càng khâm phục đức trinh khiết.”[4]
2. Sống chung thủy trong bậc sống hôn nhân cũng như độc thân vì Nước Trời của người Ki-tô hữu là phương thế tốt nhất nhắc tất cả mọi người trong thế giới hôm đang đối diện với sự khủng hoảng trong đời sống hôn nhân cũng như đời sống thánh hiến nhớ đến cuộc tình duyên tuyệt vời do Thiên Chúa khởi xướng và sẽ được tỏ hiện trọn vẹn ở đời sau, khi Giáo Hội kết hợp với Chúa Ki-tô là Đấng Phu Quân duy nhất của mình.
V. GIỚI THIỆU BÀI MỚI
Chúng ta vừa tìm hiểu chủ đề: “Chung thủy trong hôn nhân và độc thân vì Nước Trời”. Trong tuần tới, xin mời cộng đoàn tiếp tục đến với chủ đề: “Của cải và Nước Trời”.
Xin cộng đoàn vui lòng đọc trước bản văn Tin Mừng Mt 19, 16-30.
Ban Biên soạn Giáo lý Kinh Thánh
Tổng Giáo phận Hà Nội
[1] Bộ Giáo Luật, điều 1055.1.
[2] GLHTCG, 1614.
[3] GLHTCG, 1619.
[4] ĐGH Gioan Phaolô II, Tông huấn Familiaris consortio, 67.
2023
Giáo Hội của người trẻ và cho người trẻ
Giáo Hội của người trẻ và cho người trẻ
Chúng ta hãy xin Chúa giải thoát Hội Thánh khỏi những kẻ muốn làm cho Hội Thánh già đi, giam hãm Hội Thánh trong quá khứ, kềm hãm hay làm cho Hội Thánh bị tê liệt.

Trong danh sách 21 Hồng y tân cử, một trong những khuôn mặt gây tranh cãi là Đức cha Americo Manuel Alves Aguiar, Giám mục phụ tá Tổng giáo phận Lisbon, Bồ Đào Nha. Gây tranh cãi không phải do ngài còn quá trẻ, mới 49 tuổi, vì có vị còn trẻ hơn. Cũng chẳng phải vì ngài mới là Giám mục phụ tá một Giáo phận, có các linh mục cũng được nâng lên Hồng y thì đã sao! Có lẽ lý do chính là vì Đức cha Aguiar là Giám mục phụ tá của Tổng giáo phận Lisbon và vị lãnh đạo của Giáo phận này đã là Hồng y rồi, Đức hồng y Manuel Clemente. Bây giờ lại thêm một Hồng y nữa trong cùng một Giáo phận. Và người ta đặt câu hỏi: Còn Paris, Milano thì sao? Chẳng lẽ những Giáo phận ấy không quan trọng bằng Lisbon sao? Tại sao chờ mãi vẫn không có Hồng y, đang khi Lisbon đã có thì lại cho thêm!

Để giải thích việc chọn lựa này, thiết nghĩ nên quan tâm đến một sự kiện khác: Đức cha Aguiar là người được trao trách nhiệm tổ chức và điều hành Đại hội giới trẻ thế giới, diễn ra từ 1-6/8 tại Lisbon. Và chính trong những ngày sát với Đại hội, vị giám mục này được nâng lên hàng hồng y, qua đó Đức Giáo hoàng Phanxicô muốn giới thiệu hình ảnh một Giáo hội của người trẻ và cho người trẻ, như ngài từng bày tỏ trong Tông huấn Christus vivit:
“Chúng ta hãy xin Chúa giải thoát Hội Thánh khỏi những kẻ muốn làm cho Hội Thánh già đi, giam hãm Hội Thánh trong quá khứ, kềm hãm hay làm cho Hội Thánh bị tê liệt. Chúng ta cũng hãy xin Chúa giải thoát Hội Thánh khỏi một cơn cám dỗ khác, là tin rằng mình trẻ trung vì đã chấp nhận tất cả những gì thế giới mời mọc, tin rằng mình đổi mới vì đã quên đi sứ điệp của mình mà bắt chước người khác. Không! Hội Thánh trẻ trung khi Hội Thánh là chính mình, khi Hội Thánh đón nhận sức mạnh luôn mới mẻ của Lời Chúa, của Thánh Thể, của sự hiện diện của Đức Kitô và sức mạnh Thánh Thần của Người mỗi ngày. Hội Thánh trẻ trung khi Hội Thánh có khả năng không ngừng trở về nguồn” (Christus vivit, 35).
Đức Hồng y tân cử Aguiar xem ra là người có khả năng quy tụ giới trẻ, lắng nghe và làm việc chung với họ, đồng thời có tầm nhìn mở về Giáo hội. Một vài phát biểu của ngài gần đây thể hiện phần nào quan điểm trên. Khi được hỏi Giáo hội phải làm gì để các bạn trẻ ở lại với Giáo hội sau những ngày đại hội, ngài trả lời:
“Einstein nói rằng cứ đòi hỏi người ta phải làm cùng một việc đang khi mong chờ những kết quả khác thì quả là không lành mạnh. Đôi khi tôi có cảm giác là trong Giáo hội, chúng ta thường nghĩ ‘điều này đã là như thế cả hai ngàn năm rồi, cho nên không cần phải thay đổi gì hết’. Một trong những điều làm tôi khó chịu nhất là đang khi chúng ta cố gắng tìm cách giải quyết vấn đề thì lại nghe ai đó nói, ‘Theo truyền thống thì phải thế này, thế kia!… Lập luận như thế là thứ mục vụ bảo quản! Cứ như thế đi cho đến lúc nó không còn như thế nữa vì chẳng có ai lo việc bảo quản nữa.”
Khi được hỏi về mong ước của ngài đối với Đại hội giới trẻ tại Lisbon, ngài nói: “Ước mơ của tôi là các bạn trẻ đến Lisbon sẽ trở về quê hương mình với ước muốn sống tốt hơn, dù họ theo tôn giáo nào. Bởi lẽ ở Lisbon này họ gặp được cả người da trắng cũng như da màu, cao lớn hay thấp bé, từ Nam hay Bắc bán cầu, giàu hay nghèo, Hồi giáo hay Do thái giáo hay các tôn giáo khác, và họ khám phá ra rằng sự khác biệt ấy làm nên sự phong phú. Và như thế mọi khác biệt giữa các anh chị em trở thành cơ may cho chúng ta” (National Catholic Register, 19/07/2023).
Những phát biểu trên lại chẳng phản ánh tinh thần Tông huấn Christus vivit (Chúa Kitô đang sống) và Thông điệp Fratelli tutti (Tất cả là anh em) đó sao? Và phải chăng Đức giáo hoàng mong muốn có một hồng y như thế để hướng dẫn giới trẻ xây dựng một thế giới mới, thế giới của tình huynh đệ: “Các con phải là những người có khả năng tạo ra tình bằng hữu trong xã hội” (Christus vivit, số 169)?
2023
Hai từ cần nhớ khi bạn cảm thấy lo lắng
Hai từ cần nhớ khi bạn cảm thấy lo lắng
| Có những lúc cũng cần ghi nhớ những điều căn bản trong sứ điệp của Chúa Kitô, điều đó đủ cho chúng ta sức mạnh vượt qua những thử thách đớn đau và những thời khắc đầy khó khăn.Đối với một số người, những bấp bênh xảy ra liên tục trong cuộc sống có thể là nguồn gốc của sự lo lắng sâu xa và lâu dài. Ngày càng có nhiều người mắc chứng rối loạn lo âu, đó là hậu quả của cuộc sống căng thẳng trong một xã hội siêu kết nối, chủ nghĩa cá nhân lên ngôi, nơi mọi thứ phải diễn ra nhanh chóng và cũng là nơi có nhiều nguyên nhân dẫn đến căng thẳng. Đối mặt với những tình huống căng thẳng, mọi người đều biết cách khéo léo duy trì sự kiểm soát càng nhiều càng tốt, xua đuổi những cảm giác lo âu đang chế ngự tâm hồn mình: đi chơi với bạn bè, lên danh sách những việc cần làm, chạy bộ… Nhưng hiếm khi chúng ta cầu xin Chúa, Đấng có thể giúp đỡ chúng ta. Để giúp bạn kiểm soát được những cảm xúc, căng thẳng và chấp nhận những điều chưa biết, bạn có thể lặp lại liên tục hai từ dưới đây trong những lúc sợ hãi: “kiên nhẫn” và “niềm tin”. Kiên nhẫn nghĩa là không phải tất cả chúng ta đều có nhịp sống giống nhau. Theo Chúa Kitô, mọi người phải dành thời gian để dõi theo cách sống của mình, theo nhịp độ của riêng mình và cũng có thể Chúa đã đặt ra khung thời gian riêng cho con đường của Ngài trong cuộc đời. Việc lặp lại từ “niềm tin” cho phép chúng ta nhớ rằng dù bất cứ điều gì xảy ra Chúa Kitô vẫn hiện diện và yêu thương chúng ta vô bờ. Việc lặp đi lặp lại này có thể làm dịu bớt căng thẳng và giúp bạn bình tâm trước những khoảnh khắc sợ hãi. Và những từ này càng được lặp lại nhiều lần thì càng có thể hiểu được ý nghĩa thực sự của nó và mang lại cho bạn hy vọng rằng điều tồi tệ vẫn chưa xảy ra.
|
| Chuyển ngữ: Võ Tá Hoàng Từ: https://fr.aleteia.org |
2023
Những người vợ về nguồn trong đời sống hôn nhân gia đình
Những người vợ về nguồn trong đời sống hôn nhân gia đình
Nếu có dịp đọc tác phẩm “The Surrendered Wife” (Người Vợ Về Nguồn) của Laura Doyle [1], thì cũng giống như phần lớn các độc giả, bạn sẽ bị thu hút vào một cuộc tranh chấp nội tâm: tán thành hoặc phản đối nội dung và triết lý được tác giả trình bày trong đó.
Trong khi cao trào về nam nữ bình quyền, về nữ quyền đang được đề cao mà có ai đó nói rằng đã đến lúc chị em phụ nữ cần dừng lại để xem xét lại những gì mình đã làm, đã đòi hỏi liệu có đem lại hạnh phúc hôn nhân cho mình, cho người phối ngẫu, và cho gia đình hay không thì chắc chắn sẽ bị nhiều người lên tiếng phản đối, và cho rằng đó là một hình thức tụt hậu, một sự quay về với quá khứ thiệt thòi và thua lỗ của phụ nữ. Nhưng một ý tưởng về nguồn trong vai trò làm vợ và làm mẹ của người phụ nữ với ý nghĩa trung thực và trưởng thành có phải là điều nên làm hay không?
Trong quá khứ với quan niệm “chồng chúa vợ tôi”, quan niệm “trai năm thê bảy thiếp, gái chính chuyên một chồng”, hoặc “nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô” không phải chỉ là một sự thua thiệt, tủi hổ cho giới phụ nữ, mà đúng hơn, đó là một sự xỉ nhục và đáng xấu hổ của những đầu óc thủ cựu và những cái tôi vô lý của giới đàn ông nữa, vì họ đã tự cho mình quyền được sai khiến, khống chế, và làm chủ phụ nữ. Nhưng tất cả đã là quá khứ, những quan niệm và lối sống ấy họa chăng chỉ còn tồn tại ở các nước kém mở mang, những nước còn đang bị cai trị bởi những đầu óc nặng về giáo điều như ở một số quốc gia mà nơi đó phụ nữ không được đi học, không được lái xe, không được đi ra đường một mình, hoặc phải trùm đầu, phủ kín mặt. Hồ Xuân Hương (胡春香,1772 – 1822) là một thi sĩ sống ở cuối thế kỷ XVIII và đầu thế kỷ XIX dưới thời Hậu Lê, một người có tư tưởng nữ quyền. Bà đã dùng thơ văn để diễn tả sự bất bình đẳng thuộc xã hội bấy giờ. Chúng ta có thể tìm được tư tưởng này qua hai câu thơ:
“Kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng
Chém cha cái kiếp lấy chồng chung.” (Lấy Chồng Chung- Hồ Xuân Hương)
Tuy nhiên, nhìn vào những phong trào bình quyền và những gì mà giới nữ quyền ngày nay đang đòi hỏi và tranh đấu, vô tình đã cho thế giới biết họ chính là những phụ nữ đáng thương nhất. Bởi vì họ đã vứt bỏ những phẩm giá đáng cao quí của mình, để chạy tìm những hình ảnh về một người phụ nữ trong ảo tưởng, ảo giác. Một trong những phụ nữ ấy đã dám ngừng bước để đối diện với mình và tìm về nguồn đích thực của nữ giới là Laura Doyle.
Là một nhà nữ quyền (feminist), và đồng thời cũng là một nhà tâm lý học tại Nam California, bà đã trình bày lý do cũng như triết lý “về nguồn” qua tác phẩm gây tranh cãi The Surrendered Wife. Nội dung của tác phẩm nêu lên quan điểm của tác giả nhằm bảo vệ hạnh phúc hôn nhân, vì theo tác giả, phải chăng cuộc chiến bình quyền đến đây đã tới một khúc quanh mà người trong cuộc nên dừng lại suy nghĩ để tìm những giải pháp khả dĩ mang lại hạnh phúc cho cuộc đời hôn nhân của mình.
Từ một phụ nữ cấp tiến, say mê điên cuồng chủ nghĩa nữ quyền. Bà thú nhận là từ khi lấy chồng năm 22 tuổi, bà không ngớt chỉ trích, gắt gỏng, xỏ xiên, bươi móc, hạ nhục chồng về bất cứ sơ xuất nào. Bà thích chỉ huy, kiểm soát, khống chế, sai khiến chồng, xem chồng như tấm thảm chùi chân. Nhưng cuối cùng bà đã nhận ra rằng càng ngày chồng bà càng có khuynh hướng tách rời ra xa bà. Vợ chồng mất dần đi sự đồng cảm của buổi ban đầu. Tình yêu phai nhạt. Cay đắng chán chường chồng chất thêm lên mãi từ cả hai phía. Viễn ảnh ly dị đang ngấp nghé ngoài cửa… Để cứu vãn hạnh phúc quá mong manh, bà cố tìm hiểu, học hỏi kinh nghiệm từ những cặp vợ chồng thật sự gắn bó yêu thương nhau và đang có cuộc sống hạnh phúc. Từ những kinh nghiệm quý báu của họ, bà đem áp dụng cho trường hợp của bà. Bà đã ngộ ra chân lý: phải tự mình thay đổi chính bản thân mình chớ không phải mong đợi sự thay đổi ở phía người khác. Sau đó một thời gian, chồng bà trở nên vui vẻ trở lại, tự tin hơn và bắt đầu quan tâm đến trách nhiệm gia đình. Phần bà thì cũng cảm thấy thanh thản, hạnh phúc hơn xưa nhiều. Tình yêu vợ chồng đã được hàn gắn trở lại nhờ bà đã biết thay đổi suy nghĩ, thái độ và cách ứng xử với chồng. Bà đã trở nên một người vợ về nguồn và quyết định viết sách chia sẻ kinh nghiệm của mình với các chị em phụ nữ.
Ngoài ra bà còn đi khắp nước Mỹ tổ chức những buổi hội thảo, thuyết trình, và gặp gỡ những người vợ có cùng quan điểm, trao đổi kinh nghiệm và học hỏi lẫn nhau nhằm bảo vệ hạnh phúc hôn nhân và gia đình. Phong Trào “Những Người Vợ Về Nguồn” (The “Surrendered Wives” movement) đặt căn bản trên 6 nguyên tắc: [2]
1.Chấm dứt việc kiểm soát chồng những điều không thích đáng.
2.Tôn trọng những suy nghĩ của chồng.
3.Biểu lộ lòng biết ơn và cám ơn những gì chồng làm cho mình.
4.Bày tỏ những gì mình muốn nhưng không áp đặt chồng.
5.Tin tưởng chồng trong việc giải quyết những khó khăn tài chính của gia đình.
6.Chú tâm vào việc săn sóc và hoàn tất những công việc của mình.
Tóm lại, để sống với thiên chức làm vợ của mình, người phụ nữ cần nên:
– Tế nhị thay vì cằn nhằn.
– Thoải mái thay vì kiểm soát.
– Tôn trọng thay vì miệt thị.
– Biết ơn thay vì coi thường.
-Tin tưởng thay vì nghi ngờ.
Phong trào Những Người Vợ Về Nguồn hiện lan rộng ra khắp thế giới, có mặt tại nhiều quốc gia như Canada, Anh Quốc, Úc Châu, Norway, Finland, Singapore, Nhật Bản…
Tác phẩm cũng như những việc làm của bà đã tạo một chấn động mạnh mẽ trong xã hội Hoa Kỳ và nhiều nơi, thành công ngoài sức tưởng tượng. Tuy nhiên, kẻ khen, người chê cũng từ đó nổi lên. Nhiều phê bình trái chiều mà tựu trung cũng chỉ là đối với những phụ nữ theo chủ thuyết bình quyền cực đoan, và những nhóm ủng hộ nữ quyền. Họ cho rằng việc trở về nguồn với trách nhiệm làm vợ và làm mẹ theo Laura Doyle như vậy sẽ đi ngược lại hoàn toàn với những gì mà họ mong đợi, phá vỡ những gì mà họ đã mất bao công sức để có được, hướng dẫn giới phụ nữ trở về với xuất xứ nô lệ cho đàn ông, và tạo cơ hội cho phía đàn ông phủ nhận, coi thường việc thể hiện sự bình đẳng, tài năng và vai trò của giới phụ nữ.
Thực tế thì để tạo điều kiện cho việc trở về nguồn, và để chinh phục được người vợ, vẫn theo Laura Doyle, những người chồng ấy phải là những người:
– Không vũ phu, hành hung, đánh đập vợ.
– Không bạo hành con cái.
– Không bê tha rượu chè, cờ bạc, nghiện hút.
– Không trăng hoa, ngoại tình. [3]
Đó gọi là có đi, có lại. Một người người chồng, người cha có trách nhiệm, có tư cách và có bổn phận với vợ con, với gia đình, đương nhiên xứng đáng có một người vợ hiền đức và biết yêu thương.
Phụ nữ ngày nay không phải thuộc kiểu “tam tòng, tứ đức” một cách máy móc. Họ cũng không thuộc thành phần “nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô”, nên việc họ đòi hỏi những gì chính đáng thuộc phẩm giá và tư cách con người của họ là điều chính đáng. Tuy nhiên, trong việc tranh đấu, đòi hỏi ấy, giới phụ nữ cũng cần phải tôn trọng, tế nhị với những đối thủ mà họ vẫn cho rằng đã làm họ phải thiệt thòi, đã khống chế, hoặc coi thường họ.
Thật ra, cả nam cũng như nữ cần phải trở về với con người, phẩm cách, và đặc thù riêng biệt của phái tính mình để thể hiện trách nhiệm, tình cảm, và tình yêu trong đời sống hôn nhân và gia đình. Đi đâu thì đi, làm gì thì làm khi về đến nhà vai trò và vị trí cao quí nhất, đặc biệt nhất của người phụ nữ vẫn là vai trò và địa vị làm mẹ và làm vợ. Đây cũng là kinh nghiệm thực tế trong cuộc sống của một nhà tâm lý học. Thời còn là sinh viên, khi học môn tâm lý phụ nữ, vị nữ giáo sư của tôi đã có lần nói với các sinh viên của bà là ở nhà, mỗi khi bà dùng kiến thức và địa vị xã hội để cư xử với chồng hoặc con cái bà đều thất bại. Nhưng ngược lại, mỗi khi bà dùng tâm tình và tư cách của một người vợ và người mẹ thì mọi chuyện đều trở nên tốt đẹp.
Thượng Đế ngay từ ban đầu đã biết rằng “Đàn ông sống một mình không tốt”, và vì thế Ngài đã phải “Tạo cho hắn một người phụ giúp xứng với hắn” (Genesis 2:18). Người đó, Adam gọi là “xương của xương tôi, thịt của thịt tôi” (Genesis 2: 23). Người mà vì người ấy, “người nam sẽ từ bỏ cha mẹ mình và kết hợp với vợ nó, và cả hai trở nên một xương một thịt” (24). Đây chính là ý nghĩa cuối cùng của tình yêu, của hôn nhân, và của gia đình. Và đây cũng chính là lý do về nguồn của nữ giới theo sau những ồn ào, kiếm tìm, đòi hỏi, và tranh đấu cho những gì không thiết thực về một hôn nhân và gia đình hạnh phúc.
______________________
Tài liệu tham khảo:
1. Simon & Schuster 2001.
2 & 3. https://lauradoyle.org/surrendered-wife-sample-chapter/ Ts. Trần Mỹ Duyệt
