2023
Lời khuyên dành cho các linh mục trẻ từ một ‘người anh’
Lời khuyên dành cho các linh mục trẻ từ một ‘người anh’
Khi tua nhanh đến năm 2021, tôi nhận thấy có một Giáo Hội cùng với thiên chức linh mục đang phải đối mặt với những thách thức to lớn. Mặc dù mọi so sánh đều khập khiễng, nhưng tôi dám chắc rằng các linh mục ngày nay đang đứng trước nhiều thách thức chưa từng có. Những thách thức này bắt nguồn từ nền văn hóa và các vấn đề nội bộ trong đời sống Giáo Hội của chúng ta. Dù nguyên nhân của chúng là gì đi nữa, những thách thức này vẫn diễn ra trong đời sống của các linh mục.
Giáo Hội không chỉ là một tổ chức hay một cơ quan. Dĩ nhiên, đó là thân thể của Chúa Kitô và là dân Thiên Chúa được Chúa Thánh Thần quy tụ. Tuy nhiên, Giáo Hội cũng là một tổ chức, và đó là bộ mặt mà thế giới nhìn thấy trước tiên. Các linh mục không chỉ là những người đại diện cho tổ chức. Chúng ta là những người công bố Lời Chúa và là những người quản lý các mầu nhiệm của Thiên Chúa. Tuy nhiên, chúng ta cũng là những người đại diện và lãnh đạo của Giáo Hội trong tư cách là một thực thể có tổ chức. Và sự thật này trở thành một thách thức to lớn dành cho sứ vụ của chúng ta.
Trong nền văn hóa của chúng ta, tất cả các tổ chức (chẳng hạn như chính phủ, ngân hàng và giáo dục) đều bị nghi ngờ vì không cung cấp những thứ theo như mong đợi và vì thường xuyên làm tổn hại đến lợi ích chung. Trong tư duy của công chúng, Giáo Hội phải chịu một đánh giá tiêu cực đặc biệt khắt khe về mặt tổ chức. Vì một số thành kiến nhưng cũng vì một số sai lầm đáng buồn mà chính Giáo Hội đã mắc phải, nên việc giới thiệu công khai về Giáo Hội trên các phương tiện truyền thông gần như thường mang tính tiêu cực.
Giáo Hội thường bị mô tả là theo chủ nghĩa phân biệt chủng tộc trong lịch sử của mình, đồng lõa trong cuộc khai thác thuộc địa của các dân tộc bản xứ, theo chủ nghĩa kỳ thị nữ giới, kỳ thị đồng tính, nuôi dưỡng và tiếp tay cho việc lạm dụng trẻ em và thiếu niên, can dự một cách không thích đáng vào hoạt động chính trị của quốc gia, chỉ lo làm giàu, và nói chung là cố chấp và cứng rắn. Dưới hình thức cực đoan của họ, những chỉ trích chung chung như thế vốn không công bằng và thiếu chính xác. Tuy nhiên, chúng ta phải thẳng thắn thừa nhận rằng những chỉ trích như thế không phải là không có cơ sở. Chúng liên quan đến những gì một số người trong Giáo Hội đã làm hay đã không làm khi sống theo lý tưởng của Phúc Âm. Và vì vậy, các linh mục, những người đại diện cho Giáo Hội trong tư cách là một tổ chức, dường như phải đối mặt với một hoàn cảnh thực sự đáng buồn, mà trong đó họ phải cố gắng phục vụ và chu toàn sứ vụ của mình.
Một thách thức khác đối với các linh mục bắt nguồn từ những xu hướng lớn hơn trong đời sống Giáo Hội. Có những cộng đoàn đức tin sôi động và đáng hoan nghênh. Tuy nhiên, tổng số thành viên của Giáo Hội ở Hoa Kỳ và Châu Âu vẫn tiếp tục giảm sút. Không có lý do nào là duy nhất cho việc tại sao mọi người rời bỏ hay hờ hững với Giáo Hội, hay tại sao những người trẻ lại không gắn bó với Giáo Hội, hay tại sao việc lên kế hoạch của Giáo Hội cho tương lai lại chắc hẳn có nghĩa là lập kế hoạch cho những sự suy thoái – giống như việc cắt giảm và pha trộn mà chúng ta đang làm ở Chicago. Dường như không ai có cách khắc phục rõ ràng cho tình trạng này hay có được một cách hiệu quả để giải quyết nó. Và đó quả thực là một thách thức rất lớn đối với các linh mục.
Cuối cùng, có những điều mà tôi gọi là “những thách thức vĩnh viễn.” Xuyên suốt lịch sử, các linh mục đã phải đối mặt với tính quan quyền nơi Giáo Hội, với các giám mục thiếu đi sự thấu hiểu và đôi khi vô tình, với các linh mục khác cạnh tranh hơn là cộng tác, và với những giáo dân dường như luôn bất di bất dịch theo cách của họ. Và vì vậy, đó chính là vấn đề của ngày hôm nay.
Tổng hợp lại, những thách thức này tạo nên một bối cảnh rất ảm đạm cho sứ vụ linh mục của chúng ta. Nhưng những thách thức này có đồng nghĩa với việc tinh thần của các linh mục đang đi xuống hay không? Nghe có vẻ là như vậy. Nhưng đây là một bức tranh phức hợp.
Kể từ khi Công đồng Vaticanô II kết thúc, nhiều cuộc nghiên cứu về tinh thần của các linh mục nói chung đều đi đến cùng một kết luận: Các linh mục đã bày tỏ nhiều nỗi thất vọng và lời than phiền về cơ cấu Giáo Hội và về bối cảnh sứ vụ của họ. Họ nghĩ rằng các linh mục khác cũng có vấn đề về tinh thần như vậy. Nhưng khi đặt ra các câu hỏi trong phạm vi cá nhân – “Còn bạn thì sao? Bạn có hạnh phúc và mãn nguyện khi thi hành những gì mà linh mục phải làm không?” – thì các linh mục lại cho thấy mặt tích cực về sứ vụ cũng như về ý thức đối với sứ mạng và mục đích của họ. So với những nam lao động người Mỹ khác, thì các linh mục luôn có cảm giác hài lòng ở mức cao hơn trung bình khi thi hành những gì họ phải làm.
Vì vậy, tất cả những điều này đưa chúng ta đến đâu? Dù cho tất cả những thách thức không làm tổn hại đáng kể đến tinh thần của chúng ta, nhưng chúng vẫn làm chúng ta nản lòng. Chúng có thể gây khó chịu cho chúng ta và khiến chúng ta tự hỏi chính xác chúng ta nên định hình sứ vụ của mình như thế nào. Chúng ta có thể làm gì đây?
Bước đầu tiên là thành thật thừa nhận những thách thức mà chúng ta phải đối mặt. Chúng có thật, và chúng sẽ không biến mất. Sau đó, khi tiến hành phân định cá nhân về việc định hình và định hướng cho sứ vụ của mình trong bối cảnh phức tạp này, thì hơn bao giờ hết, chúng ta cần sử dụng các nguồn lực thiêng liêng đúng đắn có sẵn dành cho chúng ta, chẳng hạn như việc linh hướng, các nhóm cầu nguyện, các cuộc tĩnh tâm và những mối quan hệ bạn bè mang tính trợ lực. Sự ủng hộ về mặt tinh thần lúc này là cần thiết hơn bao giờ hết.
Các bước khác cũng có thể làm cho chúng ta tiến bộ. Đức Thánh Cha Phanxicô và những vị tiền nhiệm của ngài đã làm cho tôi phải nhìn đến sự đổi mới của Công đồng Vatican II. Hãy xem xét bốn bước và đường hướng sau đây, những điều vang vọng tiếng của Công đồng và các Đức Giáo Hoàng trong sáu thập kỷ đã qua.
![]() |
Đặt câu hỏi là một cách thức cần thiết để xây dựng sự gần gũi. Vì vậy, đây cũng là cách thức mà Chúa Giêsu đã dùng trong khi thi hành sứ vụ của mình. Người đặt ra nhiều câu hỏi: Anh muốn tôi làm gì cho anh? (Mc 10,51) Sao anh em lại sợ hãi? Làm sao mà anh em vẫn chưa có lòng tin? (Mc 4,40) Các anh tìm gì? (Ga 1,38) Cả anh em nữa, anh em cũng muốn bỏ đi hay sao? (Ga 6,67) Anh có yêu mến Thầy không? (Ga 21,17) Những câu hỏi của Chúa Giêsu cho phép Người kết nối với những người khác. Đây là một điểm trong cuốn sách xuất sắc của Michael Buckley, Các anh tìm gì? Những câu hỏi mang tính thử thách và hứa hẹn của Chúa Giêsu (What Do You Seek? The Questions of Jesus as Challenge and Promise).
Các câu hỏi thể hiện sự quan tâm của chúng ta đến những người khác và mong muốn làm quen với họ. Làm cách nào để bộc lộ những câu hỏi này cũng rất quan trọng. Đặt câu hỏi nhưng cũng phải lắng nghe cách cẩn thận. Dẫn dắt bằng những câu hỏi không chỉ để rút ra nỗi đau và sự giằng co mà còn là cả ân sủng và hy vọng.
2. Sau khi lắng nghe và đến gần, hãy rao giảng như Chúa Giêsu đã làm và dĩ nhiên, hãy rao giảng về Người.
Lời rao giảng của Chúa Giêsu bắt đầu bằng: “Nước Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng.” (Mc 1,15) Rao truyền về sự gần kề của Nước Thiên Chúa chính là việc tuyên bố rằng Thiên Chúa đang cải biến cái thế giới hư hoại này cùng với cuộc sống đau thương của chúng ta. Niềm hy vọng cần thiết này cho phép chúng ta điều hướng bất cứ điều gì xảy ra theo cách của chúng ta. Và kêu gọi mọi người sám hối có nghĩa là mời gọi họ đến với lời đầu tiên và cũng là lời cuối cùng của Thiên Chúa – chính là lòng thương xót. Nói một cách đơn giản, rao giảng như Chúa Giêsu đã làm nghĩa là rao truyền niềm hy vọng và lòng thương xót.
Chúng ta cũng phải rao giảng về Chúa Giêsu, không chỉ như một chủ đề khác. Chúa Giêsu, Đấng chịu đóng đinh và đã sống lại, chính là niềm hy vọng và lòng thương xót nhập thể dành cho chúng ta. Nhưng chúng ta thực hiện lời rao giảng này như thế nào? Tôi có thể chia sẻ kinh nghiệm của riêng tôi về điều này. Đó không phải là con đường duy nhất, nhưng tôi biết nó phù hợp với tôi.
Trước tiên, tôi cần phải đi vào Lời Chúa, ở lại đó và để cho sức mạnh của Lời Chúa hoạt động trên tôi. Sau đó, tôi có thể nói về Chúa Giêsu, Đấng của niềm hy vọng và lòng thương xót. Nếu tôi làm vậy, một quá trình sẽ bắt đầu vận hành. Tôi bắt đầu bộc lộ bản thân và thực sự chia sẻ trạng thái của tâm hồn mình. Nếu hiểu biết về con người là bước đầu tiên của sự gần gũi mục tử, thì việc rao giảng theo cách này là bước thứ hai.
Giáo dân có thể nhận thấy liệu rằng chúng ta có tin những gì chúng ta nói hay không. Họ cũng biết liệu rằng chúng ta có đang nói về Chúa Giêsu từ kinh nghiệm của mình hay không. Họ không bị lừa dối bởi những lời hùng biện hoa mỹ hay những câu chuyện khéo léo. Vậy bất cứ khi nào chúng ta rao giảng, chúng ta cần để tâm hồn mình mở ra với tất cả những nhược điểm của nó. Điều đó thật đáng sợ và nhạt nhẽo. Nhưng điều đó cũng khích lệ chúng ta thực sự dấn thân vào Lời Chúa trước khi cố gắng rao truyền những lời đó.
![]() |
Sự phục vụ của Chúa Giêsu không phải là để làm ơn cho người khác. Sự phục vụ của Chúa Giêsu là tình yêu tự hiến của Người để đưa chúng ta đến chỗ hiệp nhất với Thiên Chúa Ba Ngôi và với nhau. Bất cứ khi nào và theo bất kỳ cách nào mà chúng ta phục vụ, chúng ta đều có khuôn mẫu cho mình nơi Người.
Sự dữ to lớn đang hoạt động trong thế giới của chúng ta chính là sự chia rẽ vốn rõ ràng theo rất nhiều cách. Chúng ta thường bị chia rẽ và mâu thuẫn bên trong chính mình. Chúng ta cũng bị chia rẽ trong các mối tương quan gần gũi nhất của mình. Hãy nghĩ về Ađam và Êva, Cain và Aben. Các cộng đoàn có thể bị rạn nứt. Một thế giới tổng thể có thể xảy ra chiến tranh bên trong chính nó. Chúng ta cũng bị chia rẽ ngay cả với cái môi trường đang nâng đỡ chúng ta.
Điều này có nghĩa là bất kể hành động phục vụ cụ thể của chúng ta là gì đi nữa, thì chúng vẫn luôn luôn cần hướng đến sự hòa giải, thúc đẩy sự hiệp nhất và khám phá ra sự thật rằng chúng ta là fratelli tutti, tất cả đều là anh chị em của nhau.
![]() |
Chuyển cầu là đặt con người và hoàn cảnh vào tay Chúa. Chúng ta đón nhận những điều đó, cầm lấy chúng và giao phó chúng về cho Thiên Chúa. Và điều đó thật đặc biệt.
Cách đây một thời gian, tôi nhớ đã đọc một đoạn văn của Marguerite Yourcenar, một nhà văn người Pháp chuyên về một số ghi chép và không phải là một người theo tôn giáo riêng biệt nào cả. Tuy nhiên, cô ấy có một sự thấu hiểu thiêng liêng mà tôi chưa bao giờ có được. Cô ấy viết rằng nếu chúng ta cầu nguyện cho mọi người, thì theo thời gian, họ sẽ xuất hiện trước mắt chúng ta với một diện mạo khác. Cô ấy ngụ ý rằng chúng ta sẽ bắt đầu nhìn thấy họ như Thiên Chúa nhìn thấy.
Khi các linh mục chúng ta chuyển cầu cho con người và cho thế giới nói chung, khi chúng ta không ngừng đặt tất cả những điều đó vào trong tay Thiên Chúa, thì điều gì đó sẽ xảy đến đối với chúng ta. Chúng ta sẽ bắt đầu nhìn mọi người theo một cách khác biệt. Và khi suy xét về tất cả những thách thức mà chúng ta đã ghi nhận được, chúng ta cần có một tầm nhìn cao hơn, cái nhìn thánh thiêng sẽ cho phép chúng ta trở thành những người quản lý khôn ngoan.
Đây không phải là chuyện đơn giản. Nó là một cách để hiện diện, và theo lời của Mẹ Têrêsa, thì cuối cùng, chúng ta sẽ quan tâm đến việc trở nên trung thành, hơn là trở nên thành công. Điều đó không hề là chuyện nhỏ nhặt.
Tác giả: Lm. Louis Cameli* – Nguồn: National Catholic Reporter (25/9/2021)
Chuyển ngữ: Phil. M. Nguyễn Hoàng Nguyên
*Lm. Louis Cameli là đại diện của Đức Hồng y Blase Cupich về đào tạo và truyền giáo. Cha là một linh mục thuộc Tổng Giáo phận Chicago. Cha cũng là tác giả của một số đầu sách về thần học và thiêng liêng.
Tác giả bài viết: Phil. M. Nguyễn Hoàng Nguyên
2023
Đức khiêm nhường trong đời sống linh mục
Đức khiêm nhường trong đời sống linh mục
Kevin Vost
Giáo sư tâm lý học tại University of Illinois, Springfield;
Lincoln Land Community College, MacMurray College,
và Aquinas College, Nashville, Tennessee.
Ích lợi của đức khiêm nhường ngày càng được nhìn nhận ngay trong thế giới trần tục. Các nhà tâm lý học nổi tiếng như Christopher Peterson, Ph.D., và Martin Seligman, Ph.D., đã dành một chương nói sự khiêm tốn trong cuốn sách tâm lý được đón nhận nồng nhiệt vào năm 2004, cuốn Character strengths and virtues: A handbook and classification (American Psychological Association, Oxford University Press, 2004). Họ trình bày những quan niệm sai lầm phổ biến về sự khiêm tốn trong thế giới hiện đại của chúng ta. Họ nói rằng “sự khiêm tốn và giản dị rất dễ bị hiểu sai tại Hoa Kỳ, nơi chúng ta được khuyến khích lòng tự hào, tự cao và đánh giá cao tầm quan trọng của bản thân.” Thật vậy, họ cảm thấy cần phải làm rõ rằng “khiêm tốn và giản dị không có nghĩa là tự hạ thấp phẩm giá hay tự hạ mình,” và hơn nữa, “những đặc điểm này không là dấu hiệu của một người thua cuộc, hèn nhát, hay suy nhược”.
Các giáo sư môn kinh doanh là Edward Hess và Katherine Ludwig gọi đức khiêm tốn là “sự thông minh mới” trong sách của mình, Humility Is the New Smart: Rethinking Human Excellence in the Smart Machine Age (Berrett-Koehler Publishers, 2020). Họ cũng nói lên những quan niệm sai lạc điển hình về sự khiêm tốn trong nền văn hóa Hoa Kỳ hiện tại, cả ý tưởng cho rằng sự khiêm tốn là “nhu nhược hoặc bị khuất phục hoặc nghĩ rằng mình là người không xứng đáng”. Các tác giả tin rằng điều này là do những từ đồng nghĩa phổ biến là “sự thấp hèn, nhu nhược và phục tùng – những đặc tính này dường như là phản đề của thành đạt và thành công.”
Các nhà tâm lý học đã loại bỏ những quan niệm sai lầm này và giải thích rằng đặc điểm của sự khiêm tốn được đánh dấu bằng “sự trung thực và đúng đắn”, là “sự toàn vẹn” và “gắn kết với sự chấp nhận chính mình và đánh giá cao vị trí của một người trong thế giới rộng lớn hơn”. Nó “được đánh giá cao, nếu không phải luôn ở trong chính chúng ta thì chắc chắn là ở nơi những người khác,” và thực sự, “sức mạnh do tính cách này nâng những người khác lên”.
Các chuyên gia kinh doanh đã viết rằng sự khiêm tốn là “người hùng” trong câu chuyện của họ về cách thành công trong thế giới kinh doanh điện tử đang thay đổi nhanh chóng, đã gọi sự khiêm tốn là “cửa ngõ dẫn đến sự xuất sắc của con người”.
Người khiêm nhường không ngủ quên trên vinh quang khi thế giới lướt qua họ. Đúng hơn, họ luôn sẵn sàng học điều mới từ người khác, những cách nhìn mới về sự vật và những cách mới để làm công việc mới. Sự khiêm nhường như thế không chỉ dẫn đến những lợi ích trần gian cho chính người khiêm nhường, mà còn giúp họ vươn lên và làm điều tốt cho những người họ yêu thương.
Những lý do Nước Trời
Trước hết, chúng ta nên xem xét bản tính của sự khiêm nhường. Khiêm nhường là đức tính gắn bó mật thiết với chân lý và thực tại. Theo Thánh Thomas Aquinas, con người trải nghiệm chân lý khi những quan niệm hoặc niềm tin của chúng ta về thực tại tương thích hay phù hợp với chính thực tại. Một người thực sự khiêm nhường chắc chắn sẽ không quá tin vào những khả năng mà mình không có, nhưng họ cũng sẽ không thiếu tin tưởng vào những tài năng Chúa ban cho mà mình thực sự có được – và đã siêng năng vun vén theo thời gian (vì thực hành là cần thiết để hoàn thiện bất kỳ đức tính nào).
Một trong những vai trò cơ bản nhất của đức khiêm nhường theo nghĩa đen là “chạm đất” – trong tiếng Anh là “ground”, có nghĩa là ở trên mặt đất, bén rễ trong đất. Đức khiêm nhường trong tiếng Anh là humility, có nguồn gốc từ tiếng Latinh là humilitas, và chính từ này có liên hệ với từ humus, có nghĩa là đất cát, nền đất, mảnh đất hay đất đai. Do đó, ý nghĩa hạ mình của sự khiêm nhượng khá là chính xác – theo một nghĩa nào đó, khiêm nhượng là hạ thấp như đất dưới chân ta! Vậy thì, làm thế nào mà đức khiêm nhường “thấp kém” như thế lại được xếp vào một trong những đức tính quan trọng và đáng ao ước nhất trong tất cả các đức tính của con người? Câu hỏi hay đấy và đây là nỗ lực đầu tiên để trả lời.
Khi hành động cách khiêm nhường, thể hiện sự khiêm tốn, chúng ta nhận ra vị trí thực sự của mình trong phẩm trật vũ trụ của Thiên Chúa. Khi nhớ lại rằng từ “khiêm nhường” (humility) có liên quan đến bùn đất (humus), thì chúng ta cũng xem xét rằng chính từ con người (human) cũng liên quan đến từ đó! Thật vậy, mặc dù chúng ta được tạo thành từ bùn đất thấp hèn, song được nâng cao hơn tất cả động vật và thực vật trên trái đất. Tuy được tạo dựng thấp hơn các thiên thần “một chút” (Tv 8, 6), song chúng ta thấp kém vô cùng so với Thiên Chúa, Đấng đã dựng nên tất cả chúng ta.
Sự khiêm nhượng được gọi là nền tảng của mọi nhân đức, vì khi nhận ra thực tế là trong khi chúng ta ít có thể tự mình làm được việc gì, chúng ta vẫn ở vị trí tốt nhất để xin và nhận được ân sủng của Thiên Chúa như Thánh Phaolô đã nói: “Với Đấng ban sức mạnh cho tôi, tôi chịu được hết” (Pl 4, 13).
Chúng ta thấy rằng sự khiêm nhường, mặc dù thấp hèn và nhu mì song không hề yếu đuối – một vị thần Atlas thực sự không chỉ nâng đỡ trái đất mà còn giúp chúng ta nắm lấy “cánh tay uy quyền mạnh mẽ” của Thiên Chúa (Tv 136, 11) khiến mọi gánh nặng trở nên nhẹ nhàng. Sự khiêm nhường sẽ không khiến chúng ta chôn vùi tài năng của mình dưới đất, nhưng sẽ làm chúng ta nhân lên bất cứ tài năng nào mà Chúa đã ban cho chúng. Khiêm tốn không chống lại tính cao thượng (sự cao cả của tâm hồn) mà nâng đỡ nó. Khiêm tốn nhìn nhận sự yếu đuối tự nhiên của chúng ta, cũng như tính cao thượng nhận ra tiềm năng của mình để có được sức mạnh vô biên từ Thượng Đế. Đúng ra, không phải sự khiêm tốn, mà là sự nhu nhược, sụ nhát đảm của tâm hồn, đã chôn vùi tài năng và làm mờ đi ánh sáng của chúng ta.
Trong tác phẩm vĩ đại của mình về sự khiêm nhường, cha Cajetan Mary da Bergamo đã viết: “Ở thiên đàng, có nhiều vị thánh không bao giờ bố thí trên trái đất: sự nghèo khó đã biện minh cho họ. Có nhiều vị thánh chưa bao giờ hành xác bằng cách ăn chay hoặc mặc áo nhặm: những bệnh tật về thể xác đã biện minh cho họ. Cũng có nhiều vị thánh không khiết trinh: ơn gọi của họ thì khác. Nhưng trên thiên đàng thì chẳng có vị thánh nào mà không khiêm nhường”.
Đức khiêm nhường sẵn sàng mở cánh cổng ngọc trai trên thiên đàng cho các linh mục và mọi giáo dân dưới sự chăm sóc của họ, những người sẵn sàng canh tác đất đai trần thế. Và hẳn nhiên, chính Đức Giêsu đã kêu gọi chúng ta tham gia vào việc canh tác ấy như ngài đã làm.
Đức khiêm nhường và tình yêu cùng chung ách với Đức Kitô
Cha Reginald Garrigou-Lagrange theo chủ nghĩa Tôma ở thế kỷ XX đã phác ra một bức tranh mô tả hình ảnh đền thờ thiêng liêng được xây dựng trên tảng đá vững chắc là Đức Giêsu Kitô. Nó mô tả sự khiêm nhường như nền móng của đền thờ. Đức khiêm tốn là nền tảng cho các nhân đức luân lý, đặc biệt bốn nhân đức chính (cardinal virtues) là khôn ngoan, công bằng, dũng cảm và tiết độ, giúp giữ vững các cánh cửa (cardo trong tiếng Latinh có nghĩa là “bản lề”) dẫn đến một loạt các nhân đức và ân sủng khác của Chúa Thánh Thần. Thật vậy, sự khiêm nhường cũng là nền tảng mà trụ cột các đức tính cao cả nhất dựa vào, các nhân đức đối thần được Thiên Chúa phú bẩm như đức tin và đức cậy, với đức ái (hay đức mến) là đức tính cao cả nhất và trường tồn nhất, như mái vòm bao phủ lên trên.
Hãy lưu ý ngôi đền đức hạnh thiêng liêng này được xây dựng trên sự khiêm nhường và đỉnh cao là đức ái. Khi được hỏi điều răn nào lớn nhất, Đức Giêsu trả lời: “Ngươi phải yêu mến Ðức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi. Ðó là điều răn trọng nhất và điều răn đứng đầu. Còn điều răn thứ hai, cũng giống điều răn ấy, là: ngươi phải yêu người thân cận như chính mình” (Mt 22, 34-40). Đây là những giới răn bác ái yêu thương từ chính Thiên Chúa, Đấng “là tình yêu” (1 Ga 4, 8).
Đức Giêsu cũng nói với chúng ta: “Anh em hãy mang lấy ách của tôi, và hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng. Vì ách tôi êm ái, và gánh tôi nhẹ nhàng” (Mt 11, 29-30). Đây là lời mời gọi để chúng ta lớn lên trong sự khiêm nhường giống như Đức Kitô.
Trong số chú giải yêu thích của tôi về văn bản này là nhận xét ngắn gọn của tu viện trưởng dòng Xitô, Thánh Aelred of Rievaulx: “Vâng, ách của ngài êm ái và gánh của ngài nhẹ nhàng; do đó bạn sẽ tìm thấy nơi nghỉ ngơi cho linh hồn mình. Cái ách này không áp bức nhưng kết nối; gánh nặng này có đôi cánh, không trọng lượng. Ách này là đức ái. Gánh nặng này là tình đệ huynh”.
In Persona Christi
Thật là một vinh dự cao cả và trách nhiệm lớn lao khi mỗi linh mục được thụ phong được hành động nhân danh Chúa Kitô bằng cách trao Mình, Máu, Linh hồn và Thần tính của chính Chúa Giêsu Kitô trong Bí tích Thánh Thể cho chính mình và đoàn chiên của mình. Thật là một vinh dự cao cả và trách nhiệm lớn lao để ngày qua ngày phản ánh tình yêu và sự khiêm nhường của Đức Kitô trong những tương tác trần thế với tha nhân. Theo cái nhìn của giáo dân, các linh mục đáng được tôn kính và tôn trọng, khi chúng ta sử dụng các danh hiệu đáng kính như “Reverend” hoặc “Your Excellency” cho các linh mục hoặc giám mục, và bằng cách sử dụng các tước vị tỏ lòng quý mến, có thể nói được như vậy, như “Cha” và “Đức giám mục”, [1] người chăm sóc và bảo vệ chúng ta.
May mắn được biết nhiều linh mục khiêm nhường, tôi xin đưa ra một gợi ý, đặc biệt là với các tân linh mục, đừng để sự khiêm nhường hạ thấp tác động tiềm ẩn của lời nói và hành vi của bạn đối với giáo dân. Có lẽ đôi mắt của một số giáo dân sẽ lờ đờ khi bạn giảng lễ. (Tôi nhớ lại nhà giảng thuyết Tin lành Norman Vincent Peale nói rằng ông ấy không phiền lòng khi thấy ai đó ngủ trong khi giảng, mà ông rất vui khi họ có thể thư giãn và thoải mái khi có mặt ông ấy!) Tuy nhiên, bạn có thể yên tâm khi biết rằng những tương tác trực tiếp nhỏ nhặt nhất lại có ý nghĩa rất lớn đối với hầu hết giáo dân, vì vậy xin đừng nghĩ rằng việc chẳng có gì khác biệt khi bạn tiếp cận, chào hỏi và chia sẻ vài câu với một giáo dân nhút nhát hoặc cô đơn.
Trong cuốn Humble Strength: The Eye-Opening Benefits of Humility (Kevin Vost, Ascension Press, 2022), tôi kết luận với 50 gợi ý rất đơn giản, thu thập được từ sự khôn ngoan của Giáo Hội để trưởng thành hơn trong sự khiêm nhường khi chia sẻ tình yêu thương của Đức Kitô với người khác. Đây là những hành vi có ý nghĩa khi đến từ bất kỳ ai đó, và khi đến từ một linh mục, việc thể hiện sự khiêm nhường và tình yêu của Chúa Kitô là cách đơn giản nhất. Tôi kết luận với năm gợi ý:
• Nếu không biết thì sẵn sàng nói “Tôi không biết,” ngay cả khi được hỏi về điều gì đó mà bạn được coi là chuyên gia. (Và đối với các linh mục, điều này cũng đòi buộc phải tìm ra câu trả lời, nếu được hỏi về giáo huấn của Giáo hội!). Đừng “nổ” về những kiến thức chuyên môn mà bạn chưa một ngày nào học về nó!
• Trau dồi tính dễ bảo bằng cách nhận ra rằng hầu như mọi người bạn gặp đều có thể có những bài học hay dạy bạn về sự khiêm tốn và những điều quan trọng khác trong đời.
• Nhìn nhận phẩm giá Chúa ban cho mỗi người bạn gặp tình cờ, dù ngoài đường hay trong cửa hàng tạp hóa. Chỉ một lời chào hoặc thậm chí một nụ cười để người đó biết rằng bạn thấy họ quan trọng (và điều này có thể đặc biệt có giá trị khi đến từ một linh mục). Với giáo dân, thể hiện sự tôn trọng qua cách xưng hô!
• Ngay cả khi bạn lớn tuổi, hãy học một bài học từ Chân Phước Pier Giorgio Frassati,[2] 24 tuổi. Khi bạn đến một buổi họp mặt xã hội, hãy để mắt đến một người có vẻ cô đơn hoặc buồn bã, hãy đến đó, bắt chuyện và đối xử với người đó một cách nhẹ nhàng và khiêm nhường như Đức Kitô (và đừng ngần ngại chia sẻ một hoặc hai tiếng cười vui vẻ vừa phải)
• Đây là điều khó kết luận: khi một người xúc phạm hoặc làm hại bạn, hãy nghĩ cách nào đó để bạn có thể thực hiện một chút hành động tử tế đối với họ, ngay cả khi bạn làm điều đó một cách ẩn danh. Dù sao đi nữa, bạn có thể chắc chắn rằng Thánh Martin de Porres[3] sẽ nhìn bạn và mỉm cười.
Tạ ơn Chúa vì các linh mục khiêm nhường và biết yêu thương!
[1] “Bishop” trong tiếng Anh có gốc từ tiếng Latinh là episcopus, và chính từ này lại xuất phát từ episkopos (ἐπίσκοπος) trong tiếng Hy Lạp, có nghĩa là người giám sát, trông nom. episkopos gồm hai từ là epi ( bên trên, over) + skopos (người giám sát, chăm sóc, bảo vệ – one that watches, one that looks after; a guardian, protector”. Tiếng Việt dịch là “Giám mục” theo Hán tự 監牧. Theo Từ điển Thiều Chửu, 監: Soi xét, coi sóc; 牧: Kẻ chăn giống muông.
[2] Pier Giorgio Frassati (6/4/1901 – 4/7/1925) là nhà hoạt động Công giáo người Ý và là thành viên của Dòng Ba Đaminh. Ngài dấn thân vào các vấn đề công bình xã hội, gia nhập các tổ chức bác ái để giúp đỡ người nghèo, kém may mắn. Sau chuyến đi với các bạn, ngài trở về nhà và lâm bệnh nặng ngày 30 tháng 6 năm 1925. Cùng ngày hôm ấy, bà ngoại của ngài qua đời. Vì sự khiêm nhường, ngài hối gia đình đừng lo cho mình mà hãy lo cho bà. Đức Gioan Phaolô II đã đặt ngài làm bổn mạng của Ngày giới trẻ thế giới, gọi ngài là “người của các mối phúc” khi thể hiện các mối phúc này qua đời sống hằng ngày. Đức Phanxicô liệt kê ngài trong số 12 gương mẫu tiêu biểu cho giới trẻ trong Tông huấn Christus Vivit (số 60), “những người tận hiến đời mình cho Đức Kitô… là những suy tư quý giá về chàng trai trẻ Kitô; chứng nhân của họ khích lệ và đánh thức chúng ta khỏi cơn mê ngủ”(CV 49).
[3] Martín de Porres Velázquez, OP (9/12/1579 – 3/11/1639) là vị thánh da màu, gốc Peru. Ngài là bổn mạng của những người lai và tất cả những người tìm kiếm sự hòa hợp sắc tộc. Do nguồn gốc của mình, ngài phải chịu nhiều đối xử bất công lúc sinh thời.
https://www.thepriest.com/2023/03/15/humility-in-the-life-of-the-priest/
Tác giả bài viết: Lm. Phaolô Nguyễn Minh Chính chuyển ngữ
2023
Chung thủy trong hôn nhân và độc thân vì Nước Trời
Chung thủy trong hôn nhân và độc thân vì Nước Trời (Mt 19, 1-12)
I. DẪN NHẬP
Nối tiếp chuyên mục “Học hỏi Tin Mừng theo thánh Mát-thêu” trong bài 28 với đoạn Mt 18, 15–35, chúng ta được mời gọi sống “Hoà giải và Tha thứ”. Hôm nay, mở đầu chương 19, chúng ta cùng nhau tìm hiểu chủ đề “Chung thủy trong hôn nhân và độc thân vì Nước Trời” (Mt 19, 1-12) với 4 câu hỏi căn bản như sau:
– Hôn nhân là gì?
– Có được phép ly dị không?
– Tại sao Môsê cho phép cấp chứng thư ly dị?
– Độc thân vì Nước Trời nghĩa là gì?
II. BỐ CỤC
Bản văn Mt 19,1-12 có thể được chia thành các phần như sau:
1. Hôn nhân (19,1-10)
a. Đặt vấn đề: Có được ly dị không? (19,1-4)
b. Giải quyết vấn đề: câu trả lời khôn khéo của Đức Giê-su (19,1-9)
2. Độc thân vì Nước Trời
a. Đặt vấn đề (19,10)
b. Giải quyết vấn đề: câu trả lời của Đức Giê-su (19,11-12)
Video bài học
Audio Lời Chúa (Mt 19, 1-12)
III. NỘI DUNG
1. Hôn nhân là gì?
Tác giả Tin Mừng Mát-thêu, qua việc trưng dẫn sách Sáng Thế, tái khẳng định ý nghĩa đích thực của hôn nhân. Hôn nhân, trước hết là sáng kiến của Thiên Chúa. Người là Đấng thiết lập giao ước hôn nhân. Người tạo dựng và kết hợp người nam và người nữ với nhau thông qua mối dây liên kết là tình yêu con người. “Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh mình, Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên Chúa, Thiên Chúa sáng tạo con người có nam có nữ” (St 1,27). “Bởi thế, người đàn ông lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai thành một xương một thịt” (St 2,24).
Do đó, ơn gọi hôn nhân đã được khắc ghi trong chính bản tính của người nam và người nữ, như chính họ phát xuất từ bàn tay Đấng Tạo Hóa. “Do giao ước hôn nhân, một người nam và một người nữ tạo thành một sự hiệp thông trọn cả cuộc sống; tự bản chất, giao ước ấy hướng về lợi ích của đôi bạn, cũng như đến việc sinh sản và giáo dục con cái; Đức Ki-tô đã nâng giao ước hôn nhân giữa hai người đã được rửa tội lên hàng bí tích.”[1]
2. Có được phép ly dị không?
Kinh Thánh đã khẳng định rằng, người nam và người nữ được tạo dựng cho nhau: “Con người ở một mình thì không tốt” (St. 2,18). Người nữ là “thịt bởi thịt” của người nam, nghĩa là bình đẳng với người nam, rất gần gũi với người nam, mà Thiên Chúa đã ban cho người nam với tư cách là “trợ tá”, như vậy, là người thay mặt Chúa để trợ giúp chúng ta. “Bởi thế, người đàn ông lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai thành một xương một thịt” (St 2,24).
Chính Đức Giê-su, trong khi Người rao giảng, đã dạy một cách rõ ràng về ý nghĩa nguyên thủy của sự kết hợp giữa người nam và người nữ, đúng như Đấng Tạo Hóa đã muốn ngay từ lúc khởi đầu. Sự kết hợp hôn nhân giữa người nam và người nữ là bất khả phân ly: Sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly (Mt 19,6).[2]
Đức Giê-su là nguồn ân sủng và mẫu gương trọn hảo của đời sống hôn nhân. Tông đồ Phao-lô làm sáng tỏ điều đó khi nói: “Người làm chồng hãy yêu thương vợ, như chính Đức Ki-tô yêu thương Hội Thánh và hiến mình vì Hội Thánh; như vậy, Người thánh hóa và thanh tẩy Hội Thánh” (Ep 5,25-26). Thánh nhân còn nói thêm: “Chính vì thế, người đàn ông sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai sẽ thành một xương một thịt. Mầu nhiệm này thật là cao cả. Tôi muốn nói về Đức Ki-tô và Hội Thánh” (Ep 5,31-32). Thánh Phao-lô cũng khuyên dạy rằng: “Còn với những người đã kết hôn, tôi ra lệnh này, không phải tôi, mà là Chúa: vợ không được bỏ chồng, mà nếu đã bỏ chồng, thì phải ở độc thân hoặc phải làm hòa với chồng; và chồng cũng không được rẫy vợ” (1 Cr 7,10-11).
3. Tại sao Mô-sê cho phép cấp chứng thư ly dị?
Theo luật của Mô-sê, “nếu một người đàn ông đã lấy vợ và đã ăn ở với nàng rồi, mà sau đó nàng không đẹp lòng người ấy nữa, vì người ấy thấy nơi nàng có điều gì chướng, thì sẽ viết cho nàng một chứng thư ly dị, trao tận tay và đuổi ra khỏi nhà” (Đnl 24,1). Việc ông Mô-sê cho phép rẫy vợ là một nhượng bộ trước lòng chai dạ đá. Tuy nhiên, khi cho phép cấp chứng thư ly dị, Mô-sê không nhằm giới thiệu việc ly dị như một đạo luật mới, mà nhằm kiểm soát ly dị. Mô-sê không thay đổi ý định của Thiên Chúa dành cho hôn nhân. Mô-sê dạy Thiên Chúa là Đấng thiết lập hôn nhân bền vững và chung thuỷ. Điều gì Thiên Chúa kết hợp loài người không được phân ly.
4. Độc thân vì Nước Trời nghĩa là gì?
Đức Ki-tô là trọng tâm của toàn bộ đời sống Ki-tô giáo. Dây liên kết với Người chiếm hữu vị trí hàng đầu so với mọi dây liên kết khác về gia đình hay xã hội. Ngay thủa ban đầu của Hội Thánh, đã có những người nam và người nữ từ bỏ lợi ích lớn lao của hôn nhân để theo Con Chiên đi bất cứ nơi nào Người đi, để chuyên lo việc của Chúa, tìm cách làm đẹp lòng Người, và đi đón Tân Lang đang đến. Chính Đức Ki-tô đã mời gọi một số người đi theo Người trong cách sống này, cách sống mà Người luôn là mẫu mực: “có những người tự ý không kết hôn vì Nước Trời” (x. Mt 19,12). Quả thực, độc thân vì Nước Trời là sự triển khai ân sủng Bí tích Rửa tội, là dấu chỉ nổi bật cho sự ưu tiên tuyệt đối của mối liên kết với Đức Ki-tô và cho sự sốt sắng mong chờ Người lại đến, và cũng là một dấu chỉ nhắc nhớ rằng hôn nhân là một thực tại của thế giới hiện tại đang qua đi.[3]
IV. SUY NIỆM VÀ THỰC HÀNH
Sau khi tìm hiểu chủ đề “Chung thủy trong hôn nhân và độc thân vì Nước Trời” trong đoạn Tin mừng Mt 19, 1-12, chúng ta dừng lại ở một vài điểm giúp ta suy niệm và thực hành:
1. Cả hai, Bí tích Hôn nhân và đời sống độc thân vì Nước Trời, đều phát xuất từ chính Chúa. Chính Ngài ban cho cả hai, ý nghĩa và ân sủng cần thiết để sống theo thánh ý Ngài. Ơn gọi độc thân vì Nước Trời và ơn gọi Hôn nhân không thể tách rời nhau mà luôn hỗ trợ cho nhau: “Ai hạ giá hôn nhân, thì người đó cũng hạ giá sự vinh quang của đức trinh khiết; ai ca ngợi hôn nhân, thì người đó càng khâm phục đức trinh khiết.”[4]
2. Sống chung thủy trong bậc sống hôn nhân cũng như độc thân vì Nước Trời của người Ki-tô hữu là phương thế tốt nhất nhắc tất cả mọi người trong thế giới hôm đang đối diện với sự khủng hoảng trong đời sống hôn nhân cũng như đời sống thánh hiến nhớ đến cuộc tình duyên tuyệt vời do Thiên Chúa khởi xướng và sẽ được tỏ hiện trọn vẹn ở đời sau, khi Giáo Hội kết hợp với Chúa Ki-tô là Đấng Phu Quân duy nhất của mình.
V. GIỚI THIỆU BÀI MỚI
Chúng ta vừa tìm hiểu chủ đề: “Chung thủy trong hôn nhân và độc thân vì Nước Trời”. Trong tuần tới, xin mời cộng đoàn tiếp tục đến với chủ đề: “Của cải và Nước Trời”.
Xin cộng đoàn vui lòng đọc trước bản văn Tin Mừng Mt 19, 16-30.
Ban Biên soạn Giáo lý Kinh Thánh
Tổng Giáo phận Hà Nội
[1] Bộ Giáo Luật, điều 1055.1.
[2] GLHTCG, 1614.
[3] GLHTCG, 1619.
[4] ĐGH Gioan Phaolô II, Tông huấn Familiaris consortio, 67.
2023
Giáo Hội của người trẻ và cho người trẻ
Giáo Hội của người trẻ và cho người trẻ
Chúng ta hãy xin Chúa giải thoát Hội Thánh khỏi những kẻ muốn làm cho Hội Thánh già đi, giam hãm Hội Thánh trong quá khứ, kềm hãm hay làm cho Hội Thánh bị tê liệt.

Trong danh sách 21 Hồng y tân cử, một trong những khuôn mặt gây tranh cãi là Đức cha Americo Manuel Alves Aguiar, Giám mục phụ tá Tổng giáo phận Lisbon, Bồ Đào Nha. Gây tranh cãi không phải do ngài còn quá trẻ, mới 49 tuổi, vì có vị còn trẻ hơn. Cũng chẳng phải vì ngài mới là Giám mục phụ tá một Giáo phận, có các linh mục cũng được nâng lên Hồng y thì đã sao! Có lẽ lý do chính là vì Đức cha Aguiar là Giám mục phụ tá của Tổng giáo phận Lisbon và vị lãnh đạo của Giáo phận này đã là Hồng y rồi, Đức hồng y Manuel Clemente. Bây giờ lại thêm một Hồng y nữa trong cùng một Giáo phận. Và người ta đặt câu hỏi: Còn Paris, Milano thì sao? Chẳng lẽ những Giáo phận ấy không quan trọng bằng Lisbon sao? Tại sao chờ mãi vẫn không có Hồng y, đang khi Lisbon đã có thì lại cho thêm!

Để giải thích việc chọn lựa này, thiết nghĩ nên quan tâm đến một sự kiện khác: Đức cha Aguiar là người được trao trách nhiệm tổ chức và điều hành Đại hội giới trẻ thế giới, diễn ra từ 1-6/8 tại Lisbon. Và chính trong những ngày sát với Đại hội, vị giám mục này được nâng lên hàng hồng y, qua đó Đức Giáo hoàng Phanxicô muốn giới thiệu hình ảnh một Giáo hội của người trẻ và cho người trẻ, như ngài từng bày tỏ trong Tông huấn Christus vivit:
“Chúng ta hãy xin Chúa giải thoát Hội Thánh khỏi những kẻ muốn làm cho Hội Thánh già đi, giam hãm Hội Thánh trong quá khứ, kềm hãm hay làm cho Hội Thánh bị tê liệt. Chúng ta cũng hãy xin Chúa giải thoát Hội Thánh khỏi một cơn cám dỗ khác, là tin rằng mình trẻ trung vì đã chấp nhận tất cả những gì thế giới mời mọc, tin rằng mình đổi mới vì đã quên đi sứ điệp của mình mà bắt chước người khác. Không! Hội Thánh trẻ trung khi Hội Thánh là chính mình, khi Hội Thánh đón nhận sức mạnh luôn mới mẻ của Lời Chúa, của Thánh Thể, của sự hiện diện của Đức Kitô và sức mạnh Thánh Thần của Người mỗi ngày. Hội Thánh trẻ trung khi Hội Thánh có khả năng không ngừng trở về nguồn” (Christus vivit, 35).
Đức Hồng y tân cử Aguiar xem ra là người có khả năng quy tụ giới trẻ, lắng nghe và làm việc chung với họ, đồng thời có tầm nhìn mở về Giáo hội. Một vài phát biểu của ngài gần đây thể hiện phần nào quan điểm trên. Khi được hỏi Giáo hội phải làm gì để các bạn trẻ ở lại với Giáo hội sau những ngày đại hội, ngài trả lời:
“Einstein nói rằng cứ đòi hỏi người ta phải làm cùng một việc đang khi mong chờ những kết quả khác thì quả là không lành mạnh. Đôi khi tôi có cảm giác là trong Giáo hội, chúng ta thường nghĩ ‘điều này đã là như thế cả hai ngàn năm rồi, cho nên không cần phải thay đổi gì hết’. Một trong những điều làm tôi khó chịu nhất là đang khi chúng ta cố gắng tìm cách giải quyết vấn đề thì lại nghe ai đó nói, ‘Theo truyền thống thì phải thế này, thế kia!… Lập luận như thế là thứ mục vụ bảo quản! Cứ như thế đi cho đến lúc nó không còn như thế nữa vì chẳng có ai lo việc bảo quản nữa.”
Khi được hỏi về mong ước của ngài đối với Đại hội giới trẻ tại Lisbon, ngài nói: “Ước mơ của tôi là các bạn trẻ đến Lisbon sẽ trở về quê hương mình với ước muốn sống tốt hơn, dù họ theo tôn giáo nào. Bởi lẽ ở Lisbon này họ gặp được cả người da trắng cũng như da màu, cao lớn hay thấp bé, từ Nam hay Bắc bán cầu, giàu hay nghèo, Hồi giáo hay Do thái giáo hay các tôn giáo khác, và họ khám phá ra rằng sự khác biệt ấy làm nên sự phong phú. Và như thế mọi khác biệt giữa các anh chị em trở thành cơ may cho chúng ta” (National Catholic Register, 19/07/2023).
Những phát biểu trên lại chẳng phản ánh tinh thần Tông huấn Christus vivit (Chúa Kitô đang sống) và Thông điệp Fratelli tutti (Tất cả là anh em) đó sao? Và phải chăng Đức giáo hoàng mong muốn có một hồng y như thế để hướng dẫn giới trẻ xây dựng một thế giới mới, thế giới của tình huynh đệ: “Các con phải là những người có khả năng tạo ra tình bằng hữu trong xã hội” (Christus vivit, số 169)?




