Aenean nec eros. Vestibulum ante ipsum primis in faucibus orci luctus et ultrices posuere cubilia curae. Suspendisse sollicitudin velit sed leo.

Chuyên mục
  • Bài giảng
  • blog
  • Các loại khác
  • Chia sẻ
  • Chưa phân loại
  • Computers, Games
  • Forex News
  • Games
  • GH Hoàn Vũ
  • GH Việt Nam
  • Giáo dục
  • Hạnh các Thánh
  • HĐGM Việt Nam
  • Kinh Thánh
  • Phim giáo dục
  • Phụng vụ
  • Public
  • Sách
  • Spellen
  • spielen
  • spile
  • spilen
  • Suy niệm Chúa nhật
  • Suy niệm hàng ngày
  • Tài liệu giáo dục
  • Tài liệu phụng vụ
  • Thần học
  • Thánh ca
  • Thánh lễ
  • Thánh lễ trực tuyến
  • Thư chung
  • Thư viện
  • Tin tức
  • Triết học
  • Tư liệu
  • UBGD Công giáo
  • uncategorized
  • Video
From Gallery
Stay Connected
UyBanGiaoDucHDGM.net
  • Trang chủ
  • Thư chung
    • HĐGM Việt Nam
    • UBGD Công giáo
  • Tin tức
    • GH Việt Nam
    • GH Hoàn Vũ
  • Phụng vụ
    • Thánh lễ
    • Thánh lễ trực tuyến
    • Suy niệm hàng ngày
    • Suy niệm Chúa nhật
    • Tài liệu phụng vụ
  • Giáo dục
    • Chia sẻ
    • Tài liệu giáo dục
  • Thư viện
    • Sách
      • Kinh Thánh
      • Triết học
      • Thần học
      • Các loại khác
    • Video
      • Bài giảng
      • Thánh ca
      • Phim giáo dục
      • Hạnh các Thánh
      • Tư liệu
  • Liên hệ
Give Online

Danh mục: Chia sẻ

Home / Giáo dục / Chia sẻ
01Tháng Chín
2023

Kinh nghiệm về Thiên Chúa hay chỉ là gặp gỡ chính mình?

01/09/2023
Anmai, CSsR
Chia sẻ, Giáo dục
0

Kinh nghiệm về Thiên Chúa hay chỉ là gặp gỡ chính mình?

Giới thiệu

Chúng ta tạm dừng “Những suy nghĩ tản mạn về đời sống và tác vụ linh mục”. Vào dịp thuận tiện, chúng ta sẽ quay trở lại. Ở đây, xin giới thiệu bài của cha Anselm Grun về sự phân định giữa kinh nghiệm gặp gỡ Thiên Chúa và sự gặp gỡ chính mình được phản chiếu qua hình ảnh Thiên Chúa mà ta tưởng là đã gặp. Sự phân định này rất cần cho đời sống thiêng liêng và hoạt động tông đồ của mọi người, đặc biệt là các linh mục trong các hoạt động mục vụ.

 

 

 

 

KINH NGHIỆM VỀ THIÊN CHÚA

HAY CHỈ LÀ GẶP GỠ CHÍNH MÌNH?[1]

 

Chúng ta chỉ có thể  có kinh nghiệm về Thiên Chúa trong lòng thế giới chúng ta đang sống. Thần học nói rằng, chúng ta chỉ gặp Người trong nội tại, chứ không bao giờ trong tính siêu việt tuyệt đối của Người. Vì thế, khi chúng ta trải qua một kinh nghiệm về Thiên Chúa, thì kinh nghiệm đó luôn bao gồm sự trộn lẫn giữa những hình ảnh, những khát vọng, những ước mơ, những ham muốn, những biểu thị của chúng ta về Thiên Chúa và thực tại siêu việt của Người. Chúng ta có thể tự hỏi cái mà chúng ta gọi là kinh nghiệm về Thiên Chúa đơn giản không phải là những gì của riêng chúng ta được phản chiếu lên Người sao. Tuy nhiên, vẫn có một kinh nghiệm đích thực về Thiên Chúa, trong đó, chính Người nói với chúng ta, trong đó, sự hiện diện của Người hiển nhiên đối với chúng ta, trong đó, tự đáy sâu tâm hồn, chúng ta biết rằng, chúng ta gặp gỡ chính Thiên Chúa.

 

Ngôn sứ Êlia, một bài học về sự gặp gỡ Thiên Chúa đích thực

Kinh nghiệm của Êlia ở núi Horeb là một ví dụ tuyệt vời về sự hoà trộn chặt chẽ giữa một kinh nghiệm gặp gỡ Thiên Chúa với cấu trúc tâm lý của con người.

 

Khi lửa từ trời xuống thiêu cháy của lễ hi sinh, Êlia đã cho bắt giữ và giết chết 450 thầy sãi Baal. Đó có phải là ý Chúa không? Hay chỉ là tính hung hăng của ông phản chiếu qua ý Chúa? Ai cũng nghĩ rằng sau chiến thắng oai hùng đó, Êlia đạt tới đỉnh cao của thành công và vinh quang. Nhưng điều hoàn toàn trái ngược lại xảy đến. Ông lâm vào hoàn cảnh thất vọng, tinh thần xuống dốc. Ông đã lẫn lộn giữa ý Chúa và ý riêng. Chẳng mấy chốc, ông hiểu rằng mình đã sai lầm, đã lạc hướng. Ông cảm thấy mình bị Thiên Chúa bỏ rơi, mặc kệ sống chết của ông. Ông không thể có một suy nghĩ, một cái nhìn tích cực về Chúa nữa: “Bây giờ, thì quá đủ rồi, Chúa ơi! Xin cho con chết cho rồi vì con không hơn gì cha ông của con”. (1 V 19,4). Chúa lại dạy bảo ông, cho ông biết thế nào là gặp gỡ Thiên Chúa cách đích thực. Ngài cho thiên thần đến giúp ông mạnh sức để đi đến núi của Chúa là Horeb. Đó là nơi ông sẽ gặp gỡ Ngài.

 

1. Trước hết, một cơn bão mạnh, xẻ núi non ập tới, nhưng Chúa không ở trong cơn bão (1 V 19,10)

Cơn bão tượng trưng cho lòng nhiệt thành. Thiên Chúa có thể hoàn toàn chiếm hữu một người và làm bùng phát nơi người đó một trận bão của nhiệt tâm. Nhưng nếu người đó lẫn lộn Chúa với những cảm xúc của mình thì chẳng bao lâu, sẽ nhận ra rằng Ngài đã không còn ở với mình nữa, mà đã rời đi nơi khác. Khi đồng hoá Chúa với những cảm xúc của mình, chúng ta đã sử dụng Chúa như một thứ thuốc phiện để tôn mình lên trên hết mọi sự. Khi đó, chúng ta không thực sự gặp gỡ Chúa mà là gặp lại chính những cảm xúc, những ảo tưởng của chúng ta. Hậu quả là chúng ta vẫn khép kín vào chính mình.

 

Những biểu thị Êlia có về Thiên Chúa không phải là sai lạc, chúng vẫn là thành phần của sự thật, nhưng chúng chỉ đơn phương, một chiều; và khi chúng ta gắn chặt Thiên Chúa vào một hình ảnh nào đó mà thôi, hình ảnh đó luôn đáng sợ[2].

 

2. Sau cơn bão là một trận động đất, nhưng Chúa không ở trong trận động đất (1 V19, 11)

Trận động đất tượng trưng cho việc coi Chúa là một thầy ma thuật, có thể làm được mọi sự. Chỉ cần tin tưởng vững chắc vào Thiên Chúa, thế là có thể chiến thắng mọi định luật tự nhiên. Ngài sẽ chữa lành mọi chứng bệnh nan y. Sức mạnh của Thần Khí Ngài sẽ lay chuyển mọi tâm hồn, giúp họ thây đổi hoàn toàn như một trận động đất biến đổi tất cả.

 

Sau khi tham dự một lễ nghi tôn giáo, một tuần tĩnh tâm đặc biệt cách hết sức tích cực, sống động, bỗng ta thấy mình hoàn toàn thay đổi, thoát khỏi sự lệ thuộc vào rượu chè hay cờ bạc… Ta coi đây là phép lạ Chúa làm. Nhưng có thực đúng như vậy không? Vì đôi khi sự lệ thuộc này lại được thay thế bởi một sự lệ thuộc khác. Ví dụ, một người được giải thoát khỏi tật nghiện rượu; từ đó trở đi, anh hết sức tin tưởng vào Chúa. Anh siêng năng tham dự hết lễ nghi ngày đến lễ nghi khác, và nuôi dưỡng ý định hoán cải mọi người xung quanh để họ biết “trận động đất” mà Chúa đã thực hiện nơi anh.

 

Người này không biết rằng minh chỉ đang đi tìm quyền lực, sự nhìn nhận và uy tín, được phản chiếu qua Thiên Chúa mà anh cho rằng mình đã gặp gỡ, chứ không phải là một kinh nghiệm gặp gỡ Thiên Chúa đích thực; vì Chúa không ở trong “trận động đất” của sự hoán cải dữ dội nơi anh; và dù anh không ngừng nói về Chúa, thì Chúa cũng không ở trong dòng chảy của những lời từ miệng anh tuôn ra.

 

3. Sau trận động đất là lửa. Chúa cũng không ở trong lửa

Lửa là một biểu tượng rất phong phú. Lửa có thể tượng trưng cho đam mê, cho tình dục và cho bản năng. Trong khi nước vọt lên từ mặt đất thì lửa lại từ trời rơi xuống. Lửa có thể tượng trưng cho cơn giận của Thiên Chúa khi thiêu huỷ hai thành tràn ngập tội lỗi là Sôđôma và Gômôra.

 

Lửa cũng có thể tượng trưng cho tình yêu của Thiên Chúa. Tình yêu ấy thiêu huỷ hết những tội lỗi, những yếu đuối, những dơ nhớp trong tâm hồn chúng ta, biến đổi chúng ta thành một người hoàn hảo.

 

Có những người nghĩ rằng một khi đã gặp gỡ Chúa, tự khắc Ngài sẽ loại bỏ mọi khía cạnh tối tăm nơi mình. Điều đó không đúng. Chúng ta phải biết rằng là người phàm, chúng ta luôn có những thiếu sót và yếu đuối. Hình ảnh bụi gai ông Môsê gặp cho chúng ta thấy rõ điều đó. Bụi gai bốc cháy mà lửa không làm cho nó bị thiêu rụi. Nó vẫn khô khốc, với những cành trơ trụi, vô giá trị. Bụi gai đó là hình ảnh của những gì vô ích, hư hỏng, khô khan nơi mỗi người chúng ta. Thiên Chúa có thể tỏ lộ trong lửa, nhưng không phải là lửa mà Êlia đã thấy vì chính ông đã thất vọng, cạn kiệt sức lực trong lửa là tính hung hăng của ông. Ông đã nghĩ mình có thể dùng lửa thiêu huỷ mọi kẻ thù. Nhưng không như ông muốn, thay vào đó là hoàng hậu Giêzabel, người có thể huỷ diệt ông.

 

Vì lòng nhiệt thành với Thiên Chúa, mà một người nào đó, có tính hung hăng, muốn chống lại phần bóng tối của mình, và chống lại người khác, thì chỉ đánh thức nơi bản thân và nơi người khác một sự hung hăng còn dữ dội hơn nữa. Êlia đã không gặp gỡ Thiên Chúa trong cuộc chiến của ông chống lại các thầy sãi Baal. Đúng ra, trước hết, ông phải đi gặp một Thiên Chúa đích thực trong sa mạc. Chỉ vào lúc ấy, ông mới được biến đổi và thanh tẩy để nhận biết chính mình một cách chân thực. Giờ đây, sau cuộc hành trình trong sa mạc đến núi Horeb, ông mới trải qua kinh nghiệm gặp gỡ Thiên Chúa thực sự; để rồi, một lần nữa, ông lại vượt qua sa mạc, trở về Đamas hoàn thành sứ mạng của ông giữa mọi người.

 

4. Kinh nghiệm gặp gỡ Thiên Chúa trong thinh lặng

Sau lửa là một cơn gió hiu hiu. Vừa nghe tiếng gió, Êlia lấy áo choàng che mặt, đi ra và đứng ở cửa hang (1 V 19,12).

 

Trong tiếng động nhẹ của làn gió hiu hiu, trong tiếng thầm thì của một giọng nói giữa bầu khí thinh lặng, Êlia gặp gỡ Thiên Chúa. Chính Chúa là làn gió nhẹ này. Qua làn gió nhẹ, Ngài tới gặp Êlia, nhưng ông không nắm giữ được Ngài, ông đã lấy áo choàng che mặt. Ông không dám gắn chặt Chúa bằng đôi mắt của mình; trái lại, ông phải nhắm mắt để hoàn toàn ý thức về mình. Ông biết rằng chính Chúa đụng chạm đến ông qua làn gió nhẹ. Và về một Thiên Chúa dịu dàng như thế, ông không thể có một hình ảnh chắc chắn nào về Ngài, ông chỉ có thể cởi mở hết lòng để đón nhận những gì ông cảm thấy.

 

Với áo choàng che phủ khuôn mặt và cả thân thể, trong thinh lặng tuyệt đối, không một chút phân tâm, ông ý thức trọn vẹn về mình, về những gì cảm nhận được, về những gì ông lắng nghe. Tuy gặp gỡ Chúa đó, nhưng Ngài vẫn ở trong bóng tối, không thể nhìn thấy và cũng không thể diễn tả được.

 

Chúng ta không thể chắc chắn diễn tả trọn vẹn về Thiên Chúa mà Êlia gặp gỡ. Ở đây, chúng ta chỉ có thể nêu ra cách Chúa tỏ lộ cho Êlia. Đây là một tiêu chuẩn quan trọng để đánh giá một gặp gỡ đích thực với Thiên Chúa, một gặp gỡ diễn ra trong thinh lặng và chúng ta chỉ có thể rụt rè nói về nó.

 

Ai quá vội vàng cho người khác biết về kinh nghiệm gặp gỡ Chúa của mình, thường người đó đã dùng Chúa để phô trương. Êlia không thấy mình có nhu cầu phải khoe khoang về cuộc gặp gỡ này. Ông đã học được một bài học từ trường học của Chúa. Đối với ông, rõ ràng là Chúa không đến gặp ông ở nơi ông chờ đợi Ngài, nhưng ở trong tiếng thì thầm không thể cảm nhận được, cũng như không thể diễn tả được của cơn gió hiu hiu.

 

Truyền thống linh đạo rất coi trọng kinh nghiệm của Êlia. Truyền thống đó coi thinh lặng là nơi tuyệt hảo để gặp gỡ Chúa. Thinh lặng không chỉ làm cho những hỗn loạn trong tâm hồn tan biến, và thinh lặng không chỉ giúp ta thoát khỏi những lo lắng, những thăng trầm của đời ta, mà còn giúp ta ngừng suy tư về Thiên Chúa. Chỉ như vậy, ta mới có thể gặp gỡ Chúa. Nếu không, ta vẫn bị gắn chặt vào những tư tưởng, những hình ảnh định sẵn về Ngài.

 

Eckhart, một bậc thầy về linh đạo, đã nhận ra điều này nơi các đan sĩ đầu tiên của Giáo hội. Theo ông, thinh lặng là hành vi cao quí nhất của con người. Ở trọng tâm của thinh lặng; nơi mà không bao giờ có một tư tưởng nào tới được; nơi mà chúng ta ngừng suy nghĩ và ngừng soạn thảo những chương trình, những dự định; nơi mà chúng ta không còn nghĩ đến người khác để xét đoán họ; nơi mà chúng ta ngừng, không còn cho mình là quan trọng; chính ở nơi đó, Chúa sẽ sinh ra và ở với chúng ta.

 

Và rồi, chính trong gặp gỡ Thiên Chúa đích thực này, tôi có kinh nghiệm về cái TÔI đích thực của mình, vì Chúa giải thoăt tôi khỏi những hình ảnh về mình mà chính tôi đã vẽ ra. Ngài cho tôi biết hình ảnh không méo mó mà Ngài có về tôi, một hình ảnh chân thực, giải thoát tôi khỏi sự cần thiết phải chứng mình, phải biện hộ, phải giải thích cho mình. Như Êlia, tôi có thể che dấu mặt tôi trong Chúa. Tôi không còn nhu cầu phải biểu lộ mình cho người khác, cũng không cần giải thích tính đích thực của kinh nghiệm gặp gỡ Thiên Chúa của mình. Tôi tự che dấu để Thiên Chúa có thể biểu lộ nơi tôi. Tôi tự ẩn giấu mình trước người khác và trước những tư tưởng riêng của mình, để Thiên Chúa giúp tôi tham dự vào đời sống ẩn dấu của Ngài.

 

Tự vấn

Từ những suy tư trên của Anselm Grunt về kinh nghiệm gặp gỡ Thiên Chúa đích thực, anh em linh mục chúng ta hãy cố gắng suy nghĩ và xét mình về những điểm sau đây:

 

1. Hàng ngày, tôi có ưu tiên dành những giờ thinh lặng để cầu nguyện riêng không?

 

2. Linh mục là thầy dạy về đời sống thiêng liêng, vậy có bao giờ tôi gặp gỡ Thiên Chúa cách đích thực chưa? Nếu gặp rồi thì ở đâu, lúc nào, cách nào? Nếu chưa, thì tại sao?

 

3. Từ những gặp gỡ Chúa, tôi có biết về mình một cách thẳng thắn, trung thực với những thiếu sót, những tội lỗi, những ảo tưởng … không?

 

4. Những hoạt động mục vụ của tôi có thực sự làm theo ý Chúa để phục vụ, yêu thương hết mình như Chúa Giêsu, vị Mục tử nhân lành chưa? Hay tôi thường sử dụng Chúa như một cách để thoả mãn ý riêng là tỏ lộ quyền hành, là thuận lợi cho tôi vì lười biếng, vì muốn thoải mái, thảnh thơi, tự do cho mình?

 

Những câu hỏi khác …

 

[1] Chuyển ý từ Anselm Grun, “Ouvre tes sens à Dieu”, Mediaspaul, Paris, 2006, tr. 45-54.

 

[2] Ví dụ, chúng ta chỉ gắn chặt Chúa vào hình ảnh một Thiên Chúa công minh, trừng phạt đích đáng tội nhân theo lẽ công bình, thì chúng ta đã làm méo mó hình ảnh về Thiên Chúa, Thiên Chúa trở nên một người đáng ghê sợ, mà quên Chúa còn là Đấng giầu lòng thương xót, chậm bất bình và hết mực khoan dung. (giải thích của người dịch).

Read More
01Tháng Chín
2023

Ý thức các đặc sủng của Thần Khí giúp củng cố sự hiệp thông

01/09/2023
Anmai, CSsR
Chia sẻ, Giáo dục
0

Ý thức các đặc sủng của Thần Khí giúp củng cố sự hiệp thông

 

Hội Thánh Công giáo Việt Nam đang trong thời gian thực hiện củng cố sự hiệp thông, việc huy động các phương thế là cần thiết, để đạt tới mục tiêu tham gia thực hành sứ vụ theo như chủ trương hiệp hành của Hội Thánh hoàn vũ. Thực ra, đối với Hội Thánh Công giáo, hiệp thông vốn như một nhu cầu tối thiết để xây dựng và phát triển. Từ khi có sự quy tụ các tín hữu để làm thành cộng đoàn, là đã cần có ngay sự hiệp thông, nhưng dưới dạng thức và danh xưng khác nhau. Ngay từ thuở sơ khai, sự hiệp thông đã thể hiện khi các tín hữu tân tòng quy tụ quanh các Tông đồ. Lối sống của các cộng đoàn tín hữu tiên khởi cho thấy có sự hòa hợp và liên kết chặt chẽ rất lý tưởng:

“Các tín hữu chuyên cần nghe các Tông đồ giảng dạy, luôn luôn hiệp thông với nhau, siêng năng tham dự lễ bẻ bánh, và cầu nguyện không ngừng. Mọi người đều kính sợ, vì các Tông Đồ làm nhiều điềm thiêng dấu lạ. Tất cả các tín hữu hiệp nhất với nhau, và để mọi sự làm của chung. Họ đem bán đất đai của cải, lấy tiền chia cho mỗi người tùy theo nhu cầu. Họ đồng tâm nhất trí, ngày ngày chuyên cần đến Đền Thờ. Khi làm lễ bẻ bánh tại tư gia, họ dùng bữa với lòng đơn sơ vui vẻ. Họ ca tụng Thiên Chúa và được toàn dân thương mến. Và Chúa cho cộng đoàn mỗi ngày có thêm người được cứu độ” ( Cv 2,42-46 )

HIỆP THÔNG VÀ THỬ THÁCH

Nếp sống đạo hạnh đầy tình thương gắn bó của các cộng đoàn tiên khởi diễn tiến theo thời gian. Khi số cộng đoàn càng ngày càng đông, và khi tâm tính của các tín hữu bộc lộ ngày càng nhiều, thì sinh hoạt của các cộng đoàn trở nên đa dạng. Tới thời kỳ thánh Phaolô trực tiếp tham gia hoạt động, ngài đã phải chứng kiến những khó khăn xảy ra, nơi một số cộng đoàn và giữa một số cộng đoàn với nhau. Thánh Phaolô đã phải dành khá nhiều công sức để làm công việc hòa giải, dàn xếp, củng cố, cả việc chỉnh đốn các lệch lạc xảy ra. Cũng do đó, mà thánh Phaolô đã có những bài giáo huấn rất thiết thực và phải kể là quý giá dành cho một số cộng đoàn. Các bài giáo huấn đó cũng lưu lại cho hậu thế và trở thành hữu ích lâu dài trong việc củng cố và xây dựng Hội Thánh.

Trong thư gởi giáo đoàn Êphêxô, thánh Phaolô viết: “Vậy, tôi là người đang bị tù vì Chúa, tôi khuyên nhủ anh em hãy ăn ở thật khiêm tốn, hiền từ và nhẫn nại; hãy lấy tình bác ái mà chịu đựng lẫn nhau; Anh em hãy thiết tha duy trì sự hiệp nhất mà Thần Khí đem lại, bằng cách ăn ở thuận hòa gắn bó với nhau. Chỉ có một thân thể, một Thần Khí, cũng như anh em đã được kêu gọi để chia sẻ cùng một niềm hy vọng. Chỉ có một Chúa, một niềm tin, một phép rửa. Chỉ có một Thiên Chúa, Cha của mọi người, Đấng ngự trên mọi người, qua mọi người và trong mọi người” (Ep 4,1-6).

Trong thư gửi giáo đoàn Galát, thánh Phaolô tha thiết kêu gọi các tín hữu sống theo thần khí: “Tôi xin nói với anh em là hãy sống theo Thần Khí, và như vậy, anh em sẽ không còn thỏa mãn đam mê của tính xác thịt nữa. Vì xác thịt thì ước muốn những điều trái ngược với Thần Khí, còn Thần Khí thì lại ước muốn những điều trái ngược với tính xác thịt, đôi bên kình địch nhau, khiến anh em không làm được điều anh em muốn” (Gl 5,16-17).

Thánh Phaolô nêu những nếp nghĩ, nếp sống đẹp gọi là “hoa quả của Thần Khí” để các tín hữu chuyên tâm thực hiện, đó là: bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tín, hiền hòa, tiết độ (x. Gl 5,22-23).

Thánh Phaolô còn nhấn mạnh: “Những ai thuộc về Đức Kitô Giêsu, thì đã đóng đinh tính xác thịt vào thập giá cùng với các dục vọng và đam mê” (Gl 5,24-26). “Nếu chúng ta sống nhờ Thần Khí, thì cũng hãy nhờ Thần Khí mà tiến bước. Chúng ta đừng có tìm hư danh, đừng khiêu khích nhau, đừng ganh tị nhau” (Gl 5,24-26)

Những lời hướng dẫn của Thánh Phaolô hết sức chân thành và cụ thể, vì đã có các trường hợp xảy ra và chính thánh nhân đã từng chứng kiến. Những nhược điểm như thế hoặc nhiều hơn thế đã xảy ra thời đó, các thời gian sau vẫn còn, và vẫn còn tiếp tục tới ngày nay, nên giáo huấn của thánh Phaolô vẫn còn có ý nghĩa và cần thiết.

HIỆP THÔNG VÀ CẦU NGUYỆN

Thông thường, khi nghĩ tới hiệp thông, các ý tưởng liên quan đến cơ cấu tổ chức, đến nhân sự, đến các phương thế thực hiện, đến các đúc kết, các ưu khuyết điểm, các báo cáo, phúc trình… Tất cả đều chính đáng. Nhưng còn một lãnh vực tối cần mà có khi thiếu hoặc ít quan tâm, đó là sự cầu nguyện.

Sự hiệp thông trong Hội Thánh phát xuất từ ơn Chúa. Chính các đặc sủng của Thần Khí dẫn đưa các tín hữu tới hoạt động, và có hoạt động giữa các tín hữu với nhau mới có hiệp thông. Mà ơn Chúa chỉ có khi được chính Thiên Chúa thông ban. Nhưng để có được ơn Chúa thông ban, cần có sự cầu nguyện là điều kiện tiên quyết.

Về phương thế cầu nguyện, thánh Phaolô đã chỉ dẫn cách cầu nguyện có hiệu quả, đó là cầu nguyện nhờ Thần Khí, khi hướng dẫn các tín hữu cầu nguyện trong khi mong chờ đạt được hiệu quả của ơn cứu độ, thánh Phaolô đã dạy các tín hữu cầu xin Thần Khí cầu thay nguyện giúp. Thánh Phaolô nói: “… có Thần Khí giúp đỡ chúng ta là những kẻ yếu hèn, vì chúng ta không biết cầu nguyện thế nào cho phải, nhưng chính Thần Khí cầu thay nguyện giúp chúng ta, bằng những tiếng kêu rên siết khôn tả. Và Thiên Chúa, Đấng thấu suốt tâm can, biết Thần Khí muốn nói gì, vì Thần Khí cầu thay nguyện giúp cho dân thánh theo đúng ý Thiên Chúa” (Rm 8,26-27). Đối với sự hiệp thông, nhu cầu cầu nguyện cũng cần như thế để đạt hiệu quả.

BIẾT TÔN TRỌNG CÁC ĐẶC SỦNG CỦA THẦN KHÍ ĐỂ SỐNG HỢP NHẤT

Chính trong thời điểm một số cộng đoàn gặp thử thách, mà thánh Phaolô đã có những giáo huấn súc tích liên quan đến sự hợp nhất, trong đó có việc hướng dẫn các tín hữu về các đặc sủng của Thần Khí:

“Có nhiều đặc sủng khác nhau, nhưng chỉ có một Thần Khí. Có nhiều việc phục vụ khác nhau, nhưng chỉ có một Chúa. Có nhiều hoạt động khác nhau, nhưng chỉ có một Thiên Chúa, làm mọi sự trong mọi người. Thần Khí tỏ mình ra nơi mỗi người một cách, là vì ích chung. Người thì được Thần Khí ban cho ơn khôn ngoan để giảng dạy, người thì được ban cho ơn hiểu biết để trình bày. Kẻ thì được Thần Khí ban cho lòng tin, kẻ thì cũng được chính Thần Khí duy nhất ấy ban cho những đặc sủng để chữa bệnh. Người thì được ơn làm phép lạ, người thì được ơn nói tiên tri. Kẻ thì được ơn phân định Thần Khí; kẻ khác thì được ơn nói các thứ tiếng lạ; kẻ khác nữa lại được giải thích các tiếng lạ. Nhưng chính Thần Khí ấy làm ra tất cả những điều đó và phân chia cho mỗi người mỗi cách, tùy theo ý của Người” (1Cr 12,4-11)

Khi ý thức các đặc sủng của Thần Khí ban cho mỗi người, các tín hữu mới có sự tôn trọng đối với những ai được Thần Khí thương ban, và xem đó như là vinh dự cho cộng đoàn của mình. Bởi vì nhờ đó mà cộng đoàn có những nhân sự có khả năng vượt trội có thể giúp ích cho các nhu cầu. Khi cộng đoàn có được những nhân sự nói được, viết được, hướng dẫn được, thực hành được các ngành chuyên môn mà cộng đoàn rất cần, thì thật là rất hữu ích và giúp cho cộng đoàn ngày càng thêm phát triển. Sự tranh chấp ganh tị, hạ bệ nhau, loại bỏ nhau… sẽ nhường bước cho cuộc sống hòa hợp, yêu thương, xây dựng, và từ đó hiệp thông được thăng hoa.

 

 

Mt Từ Linh

Read More
28Tháng Tám
2023

Hiền mẫu, từ mẫu

28/08/2023
Anmai, CSsR
Chia sẻ, Giáo dục
0

“Từ mẫu thủ trung tuyến,
Du tử thân thượng y”

(Du tử ngâm)

 

Có người hỏi tôi “hiền mẫu” có đồng nghĩa với “từ mẫu” hay không, và để diễn tả tình mẹ thương con, nên nói “tình hiền mẫu” hay “tình mẫu tử”?
Thắc mắc này bao gồm hai câu hỏi, chúng tôi xin lần lượt trình bày như sau:

1. “Hiền mẫu” có đồng nghĩa với “từ mẫu” hay không?

1.1 Trước hết, chúng ta thử tìm hiểu nghĩa của các mục từ hiền, từ và mẫu:

1.1.1. Hiền. Có bốn chữ: 賢, 贒 (贤), 痃. Trong trường hợp này là chữ賢, nghĩa là: (dt.) (1) Người có đức hạnh tài năng cao, trung hiếu vẹn toàn: Thánh hiền; hiền lương (đàn ông đức độ); hiền huệ (đàn bà đức độ); nhậm nhân duy hiền (dùng người theo đức); kiến hiền tư tề (Thấy người có tài đức thì muốn theo gương[1]). (2) (Họ) Hiền. (tt.) (3) Lành, hoà thuận, không ưa đánh đập gây gổ (trái với dữ): Đứa trẻ hiền; tánh hiền. (4) Tốt, ăn ở phải đạo: Mẹ hiền; dâu hiền rể thảo. (5) Tốt, có đức hạnh tài năng cao, trung hiếu vẹn toàn: Hiền nhân quân tử; hiền sĩ. (6) Tốt, không có độc, không gây nguy hại cho con người, có nhiều chất bổ béo: Trái hiền; đất hiền. (7) Tiếng gọi cách tôn kính để tỏ lòng mến: Hiền huynh; hiền đệ; hiền tẩu. (đt.) (8) Tôn sùng: Hiền hiền dịch sắc[2] (Đổi lòng yêu sắc đẹp mà thân yêu người hiền). (9) Hơn: Bỉ hiền ư ngô viễn hỹ (Họ hiền hơn ta nhiều lắm vậy). (10) Nhọc nhằn. (đại từ) (11) Tiếng kính xưng (ngôi thứ hai): Ông, ngài, cũng như công 公, quân 君.

“Hiền” nói chung là có nghĩa tốt, nhưng “hiền quá” thường có nghĩa ngược lại, chỉ sự khiếm khuyết tài đức cần thiết, dùng để nhận định hay phê phán cách nhẹ nhàng, lịch sự, vì tôn trọng người bị phê phán, thay vì nói một cách sổ sàng là “nhút nhát” “ngu quá”, “dỡ tệ” hay “cù lần”. Ví dụ: “Bà ấy hiền quá nên bị ông chồng đánh đập mãi” (Ngụ ý nói: Bà ấy thiếu can đảm, nhu nhược!); “Ông ấy làm ăn mà hiền quá nên bị bạn bè lừa gạt” (Ông ấy thiếu sáng suốt, ngu!); “Thầy ấy hiền quá nên các học sinh ngày càng vô kỷ luật” (Thầy ấy thiếu trách nhiệm, cù lần!).

1.1.2. Từ: Có 12 chữ: 詞 (词), 徐, 祠, 慈, 辭 (辞), 辤, 磁, 瓷, 甆, 糍, 茲, 兹. Trường hợp từ mẫu là chữ慈, nghĩa là: (dt.) (1) Hiền lành, thương yêu rất mực: Hiền từ; nhân từ; từ bi; phụ mẫu uy nghiêm nhi hữu từ (Cha mẹ nghiêm nghị nhưng có lòng thương). (2) Mẹ, tiếng tôn xưng mẹ: Gia từ (mẹ tôi). (3) Vui mừng của chúng sinh (Phật giáo): Đại từ. (4) (Họ) Từ. (đt.) (5) Yêu thương, người trên yêu kẻ dưới cũng gọi là từ: Từ ái (có lòng thương yêu); từ ấu (thương trẻ nhỏ). (6) Hiếu thảo: Từ hiếu. (7) Chu cấp cứu giúp cho kẻ túng thiếu khốn cùng gọi là từ thiện sự nghiệp.

1.1.3. Mẫu. Có 9 chữ này: 母, 畝, 畆, 畞, 畮, 亩, 牡, 拇, 鉧, trường hợp hiền mẫu là chữ母, nghĩa là: (dt.) (1) Mẹ: Mẫu thân. (2) Người đàn bà bằng vai với mẹ trong thân thuộc: Cô mẫu (cô); cữu mẫu (mợ); thẩm mẫu (thím); bá mẫu (bác gái). (3) Tiếng tôn xưng các bà trưởng bối hay bậc nữ thánh: Lão mẫu; thánh mẫu; mẫu nghi; mẫu hệ. (4) Phàm vật gì làm cốt để sinh ra các cái đều gọi là mẫu hay mẹ (chỉ căn nguyên): Mẫu tài (tiền vốn); thất bại thị thành công chi mẫu (thất bại là mẹ thành công). (5) Lỗ ốc vít, bộ phận có khía đường xoắn ốc để vặn đinh ốc: Loa ti mẫu (đai ốc). (6) (Họ) Mẫu. (tt.) (7) Mẹ, cái, gốc: Mẫu thuyền (tàu mẹ); mẫu hiệu (trường mẹ); cơ mẫu (máy cái); mẫu giáo; mẫu âm; mẫu số. (8) Mái, cái, chỉ giống cái: Mẫu kê (gà mái); mẫu ngưu (bò cái); mẫu trệ (lợn sề).

 

1.2 Nghĩa của hiền mẫu và từ mẫu.

1.2.1. Hiền mẫu: Đơn giản có nghĩa là “mẹ hiền”, chữ hiền ở đây vừa có thể hiểu theo nghĩa (7) của mục từ mẫu, tức là “tiếng gọi cách tôn kính để tỏ lòng mến” vừa có thể hiểu theo nghĩa (4) của mục từ mẫu, tức là bà mẹ “tốt, ăn ở phải đạo”. Xa hơn nữa, có thể hiểu theo nghĩa (5) của mục từ mẫu, tức là người mẹ “tốt, có đức hạnh tài năng cao, trung hiếu vẹn toàn”, như trong trường hợp người Công Giáo dùng tôn xưng Đức Mẹ Maria.

1.2.2. Từ mẫu: Nhiều người lầm tưởng “từ mẫu” đương nhiên là người mẹ hiền, mẹ nhân từ. Nhưng thời xưa “từ mẫu” có nghĩa khác, hoàn toàn không có liên hệ gì với hiền lành hay nhân từ gì cả.

Luật nhà Thanh của Trung Quốc cũng như Thọ Mai gia lễ[3] của người Việt đã phân biệt “tam phụ, bát mẫu” để quy định tang phục, tang chế cho người con hoặc người được coi là con. Trong đó “bát mẫu” (tám bà mẹ) là: (1) Đích mẫu (嫡母): Vợ cả (vợ chính thất) của cha (nếu mình không phải là con của người ấy, thì gọi người ấy là “đích mẫu” (Hán Việt) hay “mẹ già” (Nôm). (2) Nhũ mẫu (乳母): Mẹ cho bú, bà vú nuôi mình từ bé. (3) Dưỡng mẫu (養母): Mẹ nuôi. (4) Thứ mẫu (庶母): Vợ lẽ của cha (ngay cả khi mẹ ruột còn sống hoặc còn ở với cha). Theo tục xưa, mẹ đẻ ra mình, nếu là vợ lẽ của cha, không được gọi là “mẹ”, mà gọi là “đẻ”. (5) Kế mẫu (繼母): Mẹ kế, do cha cưới về sau khi vợ cả đã qua đời hoặc không còn ở với cha. Ngày nay người ta vẫn nói kế mẫu thay vì thứ mẫu. (6) Từ mẫu (慈母): Vợ lẽ của cha, có công thay người mẹ quá cố, nhận nuôi mình từ bé như con ruột theo ý cha; (đây không phải là “mẹ hiền”). (7) Giá mẫu (嫁母): Mẹ ruột, nhưng đã lấy chồng khác sau khi cha mất. (8) Xuất mẫu (出母): Mẹ ruột, nhưng đã ly hôn với cha (mẹ bỏ nhà đi hoặc bị đuổi ra khỏi nhà).

Theo sách Nghi lễ[4]: “Truyện viết: Từ mẫu giả hà dã? Truyện viết: Thiếp chi vô tử giả, thiếp tử chi vô mẫu giả, phụ mệnh thiếp viết: Nhữ dĩ vi tử; mệnh tử viết: Nhữ dĩ vi mẫu: Truyện kể: Từ mẫu là người thế nào? Truyện kể: Người vợ lẽ không có con, con của (một) người vợ lẽ (khác) không (còn) mẹ, người chồng dặn người vợ lẽ (rằng): Nàng hãy nhận đứa bé này làm con; lại dặn đứa con (rằng): Con hãy nhận (người đó) làm mẹ”.

Vậy “từ mẫu” không phải là bà mẹ ruột mà là mẹ nuôi, và điều kiện bắt buộc phải có để được gọi là “từ mẫu” (mẹ nuôi) ở đây là: (1) Phải là vợ lẽ; (2) Người vợ lẽ này không có con hoặc không có khả năng sinh con, ít nhất cũng là không sinh được con trai; (3) Quan trọng hơn nữa là người chồng còn phải có một người vợ lẽ khác mà người vợ lẽ này khi qua đời có để lại một đứa con trai. Khi đã đủ những điều kiện đó rồi, lại còn cần (4) người chồng giao trách nhiệm nuôi con cho người vợ lẽ kia và (5) bảo đứa con nhận người đó làm mẹ.

Như vậy “từ mẫu” có nghĩa là mẹ nuôi. Trải qua thời gian lâu đời, bên Trung Hoa, thuật từ “từ mẫu” đã mất đi ý nghĩa ban đầu, hiện giờ người Hoa hiểu là người mẹ “hiền lành, rất mực thương yêu con cái”, đó là nghĩa phổ biến hiện nay trong cách hiểu cũng như trong các từ điển của người Việt và Trung Quốc.

Bên người Hoa khi nói mẹ hiền thường dùng chữ từ mẫu, ít khi dùng hiền mẫu, điều này khác với người Việt. Người Việt thường dùng chữ hiền mẫu hay mẹ hiền, ít khi nói từ mẫu, càng không ai nói “mẹ từ”, khi người ta nói “lương y như từ mẫu” rõ ràng là chịu ảnh hưởng của người Hoa rồi.

 

2. Để diễn tả tình mẹ thương con, nên nói “tình hiền mẫu” hay “tình mẫu tử”?

2.1 Tình hiền mẫu.

“Tình” là danh từ chính; “hiền” là tĩnh từ, “mẫu” là danh từ. “Hiền” dùng để diễn tả “mẫu”, nghĩa là người mẹ hiền lành. Tình hiền mẫu là lòng thương của mẹ hiền.

Tình hiền mẫu chỉ nói về lòng mẹ, tình thương của mẹ, dành cho con cái, mà không màng đến tình cảm con cái đối với mẹ. Đây là thuật từ ngợi khen người mẹ.

Một trong những bài thơ mà tôi ưa thích là bài “Du tử ngâm”[5]: “Từ mẫu thủ trung tuyến, Du tử thân thượng y. Lâm hành mật mật phùng, Ý khủng trì trì quy. Thuỳ ngôn thốn thảo tâm, Báo đắc tam xuân huy[6]: Sợi chỉ trong tay mẹ hiền, nay đang ở trên áo người đi xa. Lúc sắp lên đường, mẹ khâu kỹ càng, có ý sợ con chậm trễ trở về. Ai dám nói rằng tấm lòng của con chỉ như tấc cỏ lại có thể báo đáp được ánh nắng ấm áp của ba tháng mùa xuân?” Đây chính là ý nghĩa của tình hiền mẫu. Người mẹ chín tháng cưu mang, chịu đựng biết bao khó nhọc, nhưng vẫn phải giữ gìn sức khoẻ chỉ vì con. Tình thương mẹ dành cho con không có giới hạn. Điều ước mong của mẹ là con được trưởng thành cách mạnh khoẻ, bình an và hạnh phúc. Dù bị con chê ghét, mẹ vẫn hết lòng che chở con. Người mẹ như ngọn nến thiêu đốt chính mình để soi đường cho con đi. Vậy người mẹ muốn con mình gặp điều tốt nhất, đó chính là tình hiền mẫu.

2.2 Tình mẫu tử. “Tình” là danh từ chính; “mẫu” và “tử” là hai danh từ bình đẳng nhau. Mẫu là mẹ, tử là con, mẫu tử là mẹ và con.

Tình mẫu tử nghĩa là tình thương giữa mẹ và con. Đây là một tình cảm hỗ tương, tình cảm giữa hai bên, có qua có lại. Mẹ thương yêu con và con hiếu thảo với mẹ. Nên không có nghĩa chỉ nói về mẹ, không phải là thuật từ chỉ ngợi khen mẹ.

Kết luận.

Cả hai từ hiền mẫu và từ mẫu đều chỉ về người mẹ tốt lành đáng tôn kính và quý trọng. Nhưng từ hiền mẫu có tính thụ động, nói lên tài năng và đức hạnh của mẹ; còn từ mẫu có tính tích cực hơn, diễn tả lòng nhân từ, yêu thương của mẹ dành cho con cái.

Tình hiền mẫu và tình mẫu tử có nghĩa hoàn toàn khác nhau. Tình hiền mẫu là lòng mẹ yêu thương con. Khi dâng lời kinh với Đức Mẹ Maria, muốn ngợi khen Đức Mẹ, thì phải dùng từ tình hiền mẫu. Còn khi nói về tình càm giữa mẹ và con thì dùng từ tình mẫu tử. Tương tự, khi diễn tả lòng cha thương con thì dùng tình hiền phụ,  muốn nói đến tình cảm giữa cha và con thì dùng tình phụ tử.


Lm. Huỳnh Trụ
Nguồn: https://gpcantho.com/

—-

[1] Nhà thờ Tư Tề lấy từ thành ngữ này.

[2] Luận ngữ論語

[3] Thọ Mai gia lễ của Hồ Sỹ Tân (1690-1760) có dựa theo Chu Công gia lễ tức gia lễ thời xưa của Trung Quốc và có trích dẫn một phần của Hồ Thượng thư gia lễ của Hồ Sỹ Dương (1621-1681).

[4] Viết ở thời nhà Tần (221-207 TCN).

[5] Của thi sĩ Mạnh Giao (751-814) nhà thơ ưu tú trong số nhà thơ thời Trung Đường

[6] Bản dịch của Trần Minh Tú: “Mẹ hiền sợi chỉ trong tay, Đi xa hãy mặc áo này mẹ khâu. Đường kim mãi miết âu sầu, Sợ con chậm trễ kịp đâu ngày về. Tấc lòng ngọn cỏ bờ đê, Báo sao ân nghĩa nắng về ba xuân”.

Read More
28Tháng Tám
2023

Từ sự phát triển Con Người Toàn Diện đến nền Sinh Thái Toàn Diện

28/08/2023
Anmai, CSsR
Chia sẻ, Giáo dục
0

 

Grégoire Catta, S.J.

Tư tưởng xã hội của Giáo hội về sự phát triển

Toàn thể Giáo hội bước vào cuộc tranh luận về sự phát triển vào những năm 1960 bằng cách triển khai cái nhìn của mình về “sự phát triển con người toàn diện”. Thông điệp Populorum Progressio (PP) của Đức Phaolô VI là cách diễn đạt mạnh mẽ nhất về điều này. Được công bố vào năm 1967, nó đã truyền cảm hứng cho nhiều tổ chức Giáo hội mà, một cách nào đó, nó là hiến chương: Ủy ban Công lý và Hòa bình, các tổ chức hỗ trợ phát triển như CCFD (Ủy ban Công giáo chống nạn đói và vì sự phát triển) hay DCC (Phái đoàn Công giáo hợp tác) được thành lập cùng năm đó. Trong những thập kỷ sau đó, nó ngày càng trở nên phong phú hơn, dấn thân vào các cuộc tranh luận ý thức hệ và kỹ thuật diễn ra giữa các cơ quan của Liên hiệp quốc và các bên tham gia trong lĩnh vực này. Năm 2015, trong thông điệp Laudato si’ về việc bảo vệ ngôi nhà chung, Đức Thánh Cha Phanxicô đã thúc đẩy điều mà ngài gọi là “một nền sinh thái toàn diện” Gần đây hơn, bằng cách tổ chức lại các các bộ của Vatican, ngài đã thiết lập một cơ quan mới mà ngài gọi là “Bộ phục vụ sự phát triển con người toàn diện”. Bộ này chịu trách nhiệm về tất cả các vấn đề liên quan đến công lý, hòa bình, di cư, sinh thái, việc làm, sức khỏe… Trong khi từ ngữ phát triển thường xuyên bị tranh cãi, tại sao lại phải lấy lại nó? Chắc chắn bởi vì từ chỉ phẩm chất “toàn diện”, mà người ta cũng tìm thấy trong “nền sinh thái toàn diện”, mang lại cho nó ý nghĩa thực sự của nó và cho phép nó ngày nay, cũng như những năm 1960, trở thành lời phê bình đối với các cách tiếp cận khác.

“Để trở nên đích thực, sự phát triển phải mang tính toàn diện, nghĩa là thăng tiến mọi người và toàn thể con người” (PP 15). Một cách tiếp cận chỉ giới hạn ở những cân nhắc thuần túy về vật chất và kinh tế, hoặc chính trị và thậm chí cả văn hóa, mà không bao gồm tất cả chúng và đồng thời không mở ra một chiều kích tâm linh sẽ là không đủ. Cũng giống như một cách tiếp cận không tính đến toàn thể mọi người và toàn thể các dân tộc hoặc – được nhận thức cao hơn trong thời gian gần đây – sẽ vẫn mù quáng trước việc quan tâm đến môi trường. Quả thế, bén rễ từ truyền thống đức tin của mình, Giáo hội không ngừng tái khẳng định sự cao cả của ơn gọi của tất cả mọi người, được tạo dựng theo hình ảnh và giống Thiên Chúa, hoàn toàn liên đới với toàn thể công trình tạo dựng, và được mời gọi hình thành một gia đình thông qua ơn cứu độ được ban tặng trong Chúa Giêsu Kitô. Bằng cách xem xét một số bản văn quan trọng theo thứ tự thời gian, chúng ta hiểu rõ hơn tính đặc thù của cách tiếp cận này do Giáo hội đề xuất về sự phát triển, cũng như chiều hướng tiến triển tất yếu của nó, bởi vì không còn có thể nói về sự phát triển toàn diện theo cùng một thuật ngữ vào năm 2017 như vào năm 1967.

Đức Gioan XXIII

Chính từ các thông điệp của Đức Gioan XXIII vào đầu những năm sáu mươi – Mater et magistra năm 1961 (MM) và Pacem in terris năm 1963 (PT) – mà vấn đề phát triển đã đi vào diễn ngôn của Giáo hội. Nó cũng được đề cập tại Công đồng Vatican II trong Hiến chế Gaudium et spes (1965) (GS). Nhận thấy rằng vấn đề xã hội từ nay có chiều kích toàn cầu, được chứng minh bằng sự bất bình đẳng giữa các nước đã phát triển về kinh tế và các nước đang phát triển (MM 157), Giáo hội đề xuất trong ba văn kiện này một số nguyên tắc chính. Sự phát triển của các dân tộc là một quyền (PT 86) và do đó các nước được gọi là “đã phát triển” có nghĩa vụ đóng góp vào đó chứ không chỉ là một lựa chọn do lợi ích hoàn cảnh quyết định (MM 159, MM 160; GS 86 ) . Tuy nhiên, chính các cá nhân và chính các dân tộc mới là tác nhân chính trong sự phát triển của họ. Do đó, mối nguy hiểm là sử dụng các hình thức viện trợ khác nhau làm công cụ méo mó thống trị chính trị, kinh tế và xã hội và thiếu tôn trọng phẩm giá của các cá nhân và các dân tộc (MM 171; PT 121; GS 85). Cuối cùng, sự phát triển phải mang tính toàn diện, việc cải thiện các điều kiện xã hội đi kèm với tăng trưởng kinh tế (MM 68): mục tiêu là “sự triển nở nhân vị trọn vẹn” của mọi công dân, bao gồm cả việc quan tâm đến chiều kích tâm linh (GS 86).

Đức Phaolô VI

Trong Populorum Progressio, tất cả những yếu tố này sẽ được lấy lại và trình bày một cách có hệ thống hơn. Thông điệp dựa trên kinh nghiệm của những người Công giáo tham gia vào các cuộc tranh luận và hành động ủng hộ sự phát triển. Trong số đó, cha Louis-Joseph Lebret đóng vai trò quan trọng. Là người sáng lập hiệp hội « Kinh tế và Chủ nghĩa nhân văn » vào năm 1941, nhằm tìm cách thúc đẩy một nền kinh tế phục vụ con người, bản thân ngài đã từng là cố vấn cho các chính phủ ở Châu Mỹ Latinh, Châu Phi và Châu Á. Chúng ta nợ ngài khái niệm phát triển toàn diện “của toàn thể con người và của tất cả mọi người”. Thông điệp này nằm trong đường hướng phân định các dấu chỉ của thời đại được khởi xướng tại Vatican II. Dấu hiệu chính được nêu bật ở đây là tiếng kêu của “các dân tộc đói khổ ngày nay đang chất vấn cách thảm thương các dân tộc giàu có” (PP 3) và buộc phải đọc lại Tin Mừng.

Sự phát triển mang tính cá nhân – “mỗi con người được mời gọi phát triển vì mọi sự sống đều là một ơn gọi” trong kế hoạch của Thiên Chúa (PP 15) – nhưng cũng mang tính cộng đồng, bởi vì mỗi con người “thuộc về toàn thể nhân loại” (PP 16 ) và “ sự phát triển toàn diện của con người không thể diễn ra nếu không có sự phát triển mang tính liên đới của nhân loại” (PP 43). Do đó, nó đòi hỏi nghĩa vụ liên đới giữa các dân tộc và các nhân vị nhưng cũng phải tôn trọng sâu sắc khả năng quyết định và hành động của chính họ. Sự phát triển được trình bày như con đường chắc chắn nhất dẫn đến hòa bình: đó là “tên gọi mới của hòa bình” (PP 76-80). Khái niệm này không có tham vọng đưa ra một lý thuyết duy nhất hay giải pháp kỹ thuật cho những thách thức do vấn đề phát triển đặt ra, nhưng là một tiêu chí đánh giá và phân định, là nguồn cảm hứng cho hành động. Sự phát triển “thực sự” là sự chuyển đổi từ những điều kiện ít nhân bản hơn sang những điều kiện có tính nhân bản hơn:

“Ít nhân bản hơn: những thiếu thốn về vật chất của những người bị tước đoạt mức sống tối thiểu và những thiếu sót về đạo đức của những người bị hủy hoại bởi lòng ích kỷ. Ít nhân bản hơn: các cơ cấu áp bức, dù chúng phát sinh từ việc lạm dụng quyền sở hữu hay lạm dụng quyền lực, từ việc bóc lột công nhân hoặc từ sự bất công trong giao dịch. Nhân bản hơn: sự gia tăng khốn khổ hướng tới việc sở hữu những nhu cầu thiết yếu, chiến thắng các tệ nạn xã hội, mở rộng kiến thức, tiếp thu văn hóa. Cũng nhân bản hơn: tăng cường quan tâm đến phẩm giá của người khác, hướng tới tinh thần nghèo khó, hợp tác vì công ích, ước muốn hòa bình. Còn nhân bản hơn nữa, sự thừa nhận của con người về những giá trị tối cao và về Thiên Chúa, Đấng là cội nguồn và là cùng đích của mình. Cuối cùng và trên hết, nhân bản hơn: đức tin, hồng ân của Thiên Chúa được đón nhận bởi thiện chí của con người và sự hiệp nhất trong tình bác ái của Chúa Kitô, Đấng kêu gọi tất cả chúng ta tham gia như những người con vào sự sống của Thiên Chúa hằng sống, là Cha của mọi người” (PP 21).

 Trong bối cảnh của những năm sáu mươi, thông điệp đưa ra một số khuyến nghị cụ thể để thực hiện đoạn văn này. Cải cách nông nghiệp là cần thiết ở nhiều vùng nơi có lượng lớn dân cư làm nông nghiệp đang sống trong cảnh khốn cùng vì họ không có đất để canh tác trong khi các điền trang lớn vẫn chưa được khai thác (PP 24). Công nghiệp hóa được coi là một hiện tượng tích cực với điều kiện là nó không chỉ được định hướng bởi việc thu hút lợi nhuận (PP 25). Tính cấp bách của hoàn cảnh đòi hỏi các cơ quan chính phủ phải có hành động lập kế hoạch ngay lập tức cũng như các sáng kiến tư nhân và hành động của các cơ quan trung gian (PP 33). Thương mại quốc tế đòi hỏi những cải cách sâu sắc, bởi vì sự bất bình đẳng không thể được khắc phục chỉ bằng cơ chế thị trường tự do (PP 58). Cuối cùng, thông điệp khuyến khích việc thành lập một quỹ phát triển quốc tế (PP 51).

Thông qua những khuyến nghị này, Giáo hội nằm trong trào lưu cải cách theo chủ nghĩa quốc tế, được đại diện đặc biệt trong những thập niên sau chiến tranh bởi Ủy ban Kinh tế Liên Hợp Quốc về Châu Mỹ Latinh và Tổng Thư ký của nó là Raúl Prebisch. Ngược lại với các lý thuyết về hiện đại hóa coi tình trạng kém phát triển là một sự chậm trễ đơn giản trong một quá trình không thể tránh khỏi mà đơn giản cần phải sửa chữa bằng sự đóng góp của vốn bên ngoài, trào lưu “cơ cấu” này muốn cải cách cơ cấu liên kết các nước phát triển quá mức của phía Bắc và các nước kém phát triển của phía Nam. Chẳng hạn, điều này ngụ ý hành động tuân theo các quy tắc thương mại quốc tế, tăng cường lập kế hoạch ở các nước đang phát triển, từ chối phân chia lao động theo đó một số quốc gia vẫn đơn giản là nhà sản xuất nguyên liệu thô trong khi các quốc gia khác sẽ chịu trách nhiệm về công nghiệp chế biến. Khi đưa ra những quan điểm gần gũi với những người theo chủ nghĩa cơ cấu, Đức Phaolô VI không có tham vọng đồng hóa tầm nhìn của Giáo hội với lý thuyết này một cách dứt khoát[1], ngài lặp lại một cách tiếp cận mà, trong thời kỳ này, thể hiện tầm nhìn về sự phát triển con người toàn diện.

Hội đồng Giám mục châu Mỹ Latinh

Nhân danh tầm nhìn này, các Giám mục Châu Mỹ Latinh, họp tại Medellín, đã chấp nhận một quan điểm triệt để hơn vào năm 1968. Bị chất vấn bởi tai tiếng về nghèo đói và sự bất bình đẳng ngày càng gia tăng trên lục địa của mình, các ngài tố cáo tình trạng phụ thuộc về kinh tế và chính trị đặc biệt vào Hoa Kỳ và kêu gọi hành động chống lại các hình thức chủ nghĩa thực dân mới[2]. Các yếu tố của cách tiếp cận này đã được huấn quyền Rôma lấy lại, đặc biệt trong tài liệu chung cuộc của Thượng Hội đồng Giám mục năm 1971, Justitia in mundo (JM), và trong tông huấn hậu thượng hội đồng của Đức Phaolô VI năm 1975, Evangelii Nuntiandi (EN) . Rõ ràng lưu ý đến các tình trạng “chủ nghĩa thực dân mới”, do đó Giáo hội liên kết sự phát triển con người toàn diện với khái niệm giải phóng: “Nếu các quốc gia và khu vực đang phát triển thất bại trong việc giải phóng họ thông qua sự phát triển, thì có một mối nguy hiểm thực sự là tình hình của họ, đặc biệt được tạo ra bởi sự thống trị của thực dân, sẽ phát triển thành chủ nghĩa thực dân mới, trong đó các quốc gia đang phát triển sẽ là nạn nhân của trò chơi của các sức mạnh kinh tế quốc tế” (JM 16). Tuy nhiên, nhân danh nguyên tắc về một nhân loại được xem xét một cách toàn diện, lời kêu gọi giải phóng được kết hợp với việc tiên thiên từ chối bạo lực và bởi sự cổ vũ việc hợp tác và tham gia.

Đức Gioan-Phaolô II

Hai mươi năm sau Populorum Progressio, đến lượt Đức Gioan Phaolô II đã lấy sự phát triển làm chủ đề trọng tâm trong thông điệp thứ hai của ngài, Sollicitudo rei socialis (SRS), vào năm 1987. Ngài nhấn mạnh đến chiều kích luân lý của nó: đó không phải là vấn đề thuần túy kỹ thuật mà là một thực tại liên quan đến những lựa chọn của con người, được đánh giá theo sự đóng góp của họ hay không cho công ích. Trong bối cảnh luôn hiện diện của chiến tranh lạnh và sự đối lập giữa các ý thức hệ tư bản và cộng sản, ngài tái khẳng định rằng sự phát triển đích thực không thể bị nhầm lẫn với huyền thoại về sự tiến bộ vô tận, cũng không thể nhầm lẫn với sự mở rộng đơn giản của cải vật chất. Các hình thức “phát triển quá mức” ở các nước giàu thậm chí còn bị tố giác (SRS 28). Sự phát triển là cách diễn đạt hiện đại về ơn gọi của con người – theo hình ảnh và giống như Thiên Chúa Tạo Hóa. Và chính bằng cách suy niệm về hình ảnh Chúa Kitô Đấng Cứu Chuộc con người và thực hiện đầy đủ ơn gọi này mà Giáo hội bén rễ sự dấn thân của mình cho sự phát triển (SRS 30-31). Bằng cái nhìn thần học về những trở ngại cho sự phát triển, Đức Gioan-Phaolô II tố cáo như là các cơ cấu tội lỗi cái lôgíc của các khối và một trật tự kinh tế thế giới bị làm sai lệch bởi lòng ham muốn lợi nhuận và sự khao khát quyền lực “bằng bất cứ giá nào”. Sự phát triển đích thực ngang qua việc thăng tiến tình liên đới, vốn “không phải là một cảm giác trắc ẩn mơ hồ” mà là “quyết tâm vững chắc và kiên trì để làm việc vì công ích […] bởi vì tất cả chúng ta đều có trách nhiệm với tất cả mọi người” (SRS 38). Hơn nữa, thông điệp nhấn mạnh rằng sự phát triển đích thực phải tính đến sự tôn trọng môi trường và tính chất hạn chế của các nguồn tài nguyên thiên nhiên không thể tái tạo. Đây là một bước tiến triển đáng kể so với các tài liệu trước đây. Tuy nhiên, trong cùng năm 1987, báo cáo được gọi là “Bruntland” của Liên hiệp quốc đã định nghĩa phát triển bền vững là hình thức phát triển đáp ứng nhu cầu của các thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến nhu cầu của các thế hệ tương lai[3], diễn ngôn của Giáo hội vẫn khá kín đáo về thách thức sinh thái.

Trái lại, tầm nhìn về sự phát triển con người toàn diện do Giáo hội Công giáo thúc đẩy đã tìm thấy tiếng vang có sức nặng trong bước ngoặt do PNUD (Chương trình Phát triển của Liên hiệp quốc) thực hiện vào năm 1990. Dưới sự thúc đẩy của các nhà kinh tế Mahbud Ul Haq và Amartya Sen , tổ chức Liên hiệp quốc này thúc đẩy sự phát triển như là “tiến trình mở rộng phạm vi khả năng được cung cấp cho các cá nhân” và thiết lập Chỉ số Phát triển Con người (IDH) vốn không còn bằng lòng, như PIB (Tổng sản phẩm quốc nội), đo lường sự giàu có của một quốc gia về mặt của cải có thể định lượng bằng tiền được tạo ra nhưng có tính đến các yếu tố khác như tuổi thọ trung bình và trình độ học vấn[4]. Vài năm sau, mục tiêu phát triển thiên niên kỷ được thúc đẩy: giảm nghèo cùng cực, đảm bảo giáo dục tiểu học cho tất cả mọi người, thúc đẩy bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ, giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh, cải thiện sức khỏe bà mẹ, chống VIH/Sida, sốt rét và các bệnh khác, bảo vệ môi trường , thiết lập quan hệ đối tác toàn cầu để phát triển. Danh sách các chủ đề này gợi nhớ đến danh sách các đoạn văn về các điều kiện ít nhân bản hơn đến các điều kiện nhân bản hơn trong Populorum Progressio. Ở đó chúng ta thấy tầm nhìn về một sự phát triển không giới hạn ở các tiêu chí kinh tế nhưng tìm cách đặt người nam và người nữ vào trung tâm và tính đến tất cả các chiều kích nhân tính của họ. Do đó, không có gì đáng ngạc nhiên khi các tổ chức Công giáo như Caritas Quốc tế hay ở Pháp, tổ chức CCFD-Terre solidaire đã dấn thân mạnh mẽ với các mục tiêu thiên niên kỷ này.

Ở bước ngoặt năm 2000, chiến dịch toàn cầu nhằm xóa nợ cho các quốc gia nghèo nhất cũng nhận được sự ủng hộ rộng rãi trong các tổ chức này và trong diễn ngôn xã hội chính thức của Giáo hội. Như Đức Gioan-Phaolô II đã chỉ ra trong thông điệp của ngài (SRS 19), vấn đề nợ nần quá mức của một số quốc gia đang phát triển là một vấn đề đạo đức liên quan đến sự tương tùy và tình liên đới giữa các dân tộc chứ không phải là một vấn đề thuần túy kinh tế[5]. Tầm nhìn về sự phát triển toàn diện của con người tìm thấy ở đây một nơi áp dụng cụ thể.

 Đức Bênêđíctô XVI

Hai thập niên sau thông điệp của Đức Gioan-Phaolô II, chính tình hình toàn cầu hóa phức tạp hơn bao giờ hết và tình trạng thế tục hóa ngày càng gia tăng, đặc biệt ở châu Âu, đã kích thích Đức Bênêđíctô XVI tái áp dụng chủ đề phát triển vào năm 2009. Trong thông điệp Caritas in veritate (CV), ngài nhấn mạnh đến sự mở ra cho siêu việt như một thành phần quan trọng của sự phát triển con người toàn diện. Một chủ nghĩa nhân bản loại trừ hoàn toàn sự cởi mở đối với Thiên Chúa thì không thể là một chủ nghĩa nhân bản đích thực (CV 78). Nhiều cuộc khủng hoảng mà nhân loại đang trải qua vào đầu thiên niên kỷ thứ ba, các cuộc khủng hoảng tài chính và kinh tế, các cuộc khủng hoảng năng lượng và môi trường, các cuộc khủng hoảng xã hội và chính trị, là cơ hội đào sâu sự phân định và đưa ra những lựa chọn nhắm đến một tương lai tốt hơn bén rễ sâu trên những giá trị căn bản của con người trong một “tổng hợp nhân bản mới” (CV 21). Chiều kích của quà tặng và sự nhưng không, chẳng hạn, được thể hiện trong các hình thức sáng tạo của nền kinh tế liên đới (CV 34), là một phần của sự tổng hợp này nhằm tái khẳng định nhu cầu hợp tác và các mối quan hệ liên vị trong các xã hội ngày càng bị đánh dấu bởi sự cô lập và chủ nghĩa cá nhân (CV. 53). Trong bối cảnh quá trình tài chính hóa nền kinh tế ngày càng gia tăng mà những tác động tàn phá của nó đang được cảm nhận một cách tàn khốc cùng với tác động toàn cầu của cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 đối với nền kinh tế thực, Đức Bênêđíctô XVI mạnh mẽ nhắc lại sự cần thiết phải đưa nền kinh tế trở lại phục vụ sự phát triển con người và công ích (CV 36). Ngài cũng nhấn mạnh đến việc bảo vệ các giá trị sự sống và gia đình, những giá trị mà ngài coi là hàng đầu cho sự phát triển đích thực của con người (CV 44).

Với Đức Bênêđíctô XVI và thông điệp Caritas in Veritate, chủ đề phát triển giờ đây được liên kết chặt chẽ hơn với chủ đề về mối quan hệ của con người với môi trường (CV 48). Nhận thức về giới hạn của một số tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là năng lượng, và về những thiệt hại thường không thể khắc phục được gây ra cho môi trường do sự phát triển công nghiệp vô trách nhiệm đang ngày càng mạnh mẽ ở nhiều xã hội. Giáo hội Công giáo, từng có vẻ khá ngại ngùng về vấn đề này, lại đang lên tiếng nhiều hơn. Trách nhiệm của mỗi người đối với người nghèo và các thế hệ tương lai được Đức Thánh Cha nhắc nhở mạnh mẽ, ngài kêu gọi cải cách lối sống để phản ứng đặc biệt với chủ nghĩa tiêu dùng của các xã hội giàu có (CV 48-51). Nhưng mối quan tâm đến một tình liên đới mới mẻ giữa các thế hệ cũng như mối quan tâm đến những người mong manh nhất mời gọi tiếp tục nói về “sự phát triển”, theo nghĩa là sự phát triển của nhân loại trong tình liên đới. Mối quan tâm đến việc bảo vệ môi trường và mối quan tâm đến công lý đối với những người mong manh nhất ngày nay luôn song hành với nhau, điều này đã được phê chuẩn hoàn toàn bởi thông điệp xã hội mới nhất của Đức Thánh Cha Phanxicô, Laudato si’ (LS).

Đức Phanxicô và nền sinh thái toàn diện

Thông điệp xã hội của Đức Phanxicô được xuất bản chỉ vài tháng trước khi, một mặt, Đại hội đồng Liên hiệp quốc thông qua các mục tiêu mới cho sự phát triển bền vững và, mặt khác, hội nghị Paris về biến đổi khí hậu. Đối với Đức Thánh Cha, mối quan tâm đến sự phát triển con người toàn diện bao gồm sự quan tâm không thể thiếu đến môi trường tự nhiên, vốn đang bị hủy hoại bởi tiến bộ kỹ thuật và một kiểu phát triển vật chất làm cạn kiệt các nguồn tài nguyên và quên mất rằng chúng có những giới hạn. Thông điệp Laudato si’ nhắc nhở chúng ta rằng mọi thứ đều liên kết với nhau: cách đối xử với người khác, cách đối xử với chính mình, cách đối xử với công trình tạo dựng và liên hệ với Đấng Tạo Hóa (LS 49, LS 66, LS 237). “Ngày nay, chúng ta không thể không nhận ra rằng một cách tiếp cận sinh thái đích thực luôn biến thành một cách tiếp cận xã hội, vốn phải sáp nhập công lý vào các cuộc thảo luận về môi trường, để lắng nghe tiếng kêu của trái đất cũng như tiếng kêu của người nghèo” (LS 49).

Đức Phanxicô đề xuất con đường của một nền sinh thái toàn diện, với cả các thành phần con người, xã hội và môi trường, để không còn chỉ thúc đẩy sự phát triển đích thực của con người mà còn chính xác hơn là “chuyển đổi mô hình phát triển toàn cầu” và “xác định lại sự tiến bộ” (LS 194). Đó là vấn đề thoát ra khỏi lôgíc sản xuất và tiêu dùng vốn làm cạn kiệt tài nguyên, thoát khỏi nền văn hóa lãng phí vốn biến mọi thứ, các sự vật cũng như con người, thành những đồ vật “dùng một lần rồi vứt bỏ” và chấp nhận một sự suy giảm nào đó ở một số bộ phận của thế giới (đặc biệt là ở phương Tây) để mọi người có thể sống trong phẩm giá và hành tinh này có thể tiếp tục có thể sinh sống được (LS 193). Con đường sinh thái toàn diện đòi hỏi những biến đổi sâu xa ở bình diện kinh tế, nhưng cũng cả chính trị, xã hội và văn hóa, để phá vỡ sự thống trị của kinh tế đối với chính trị, xã hội và văn hóa. Nó ngang qua việc thiết lập các cơ cấu hợp tác quốc tế và một “quyền bính chính trị toàn cầu” thực sự cũng như thúc đẩy nhiều sáng kiến địa phương, nơi sự sáng tạo của con người được triển khai với mối quan tâm thường xuyên đối thoại nhằm hướng tới công ích (Cf. LS 137-162).

Với Laudato si’, một lộ trình phát triển toàn diện mới được đưa ra cho Giáo hội và “mỗi người sống trên hành tinh này” (LS 3), gần năm mươi năm sau Populorum Progressio. Vấn đề không còn chỉ là vấn đề phân phối của cải tốt hơn mà chúng ta vô thức nghĩ rằng nó có thể gia tăng vô tận, mà là vấn đề chăm sóc ngôi nhà chung của chúng ta bằng cách chăm sóc những cư dân mong manh nhất trong đó. Đức Thánh Cha Phanxicô kêu gọi một sự hoán cải sâu sắc trong lối sống, cả cá nhân lẫn tập thể, nhưng ngài cũng chỉ ra rằng đó cũng là một sự hoán cải thiêng liêng: “cuộc khủng hoảng sinh thái là một lời kêu gọi hoán cải nội tâm sâu xa” (LS 217).

Như vậy, trong hơn nửa thế kỷ, trong nhiều hoàn cảnh và tranh luận khác nhau xung quanh vấn đề phát triển, khái niệm phát triển con người toàn diện, mà ngày nay trở thành nền sinh thái toàn diện, đã được đưa ra như một tiêu chí trung tâm để lượng giá phê bình các lựa chọn chính trị, kinh tế hay xã hội, trên bình diện cá nhân cũng như tập thể. Nhưng hơn cả một tiêu chí, nó còn là một nguồn lực để hành động. Quan tâm đến tất cả mọi người cũng như mọi chiều kích của nhân vị trong tính năng động của ơn gọi và trong mối liên kết chặt chẽ của họ với toàn thể công trình tạo dựng, đó là thách thức đối với Giáo hội Công giáo trong việc thúc đẩy sự phát triển bất kể hình thức cụ thể nào. 

Ban Gia đình và Xã hội toàn quốc của Hội đồng Giám mục Pháp
Chuyển ngữ: Tý Linh
Theo nhật báo CERAS (14.07.2017)
Nguồn: xuanbichvietnam.net (25.08.2023)

 

 

[1] Michael Sutton, “Les contingences d’une encyclique : Populorum progressio” In Les chrétiens et l’économie / Colloque de l’Association française d’Histoire religieuse contemporaine, sous la direction de André Encrevé, Paris, Centurion, 1991. p. 31-155.

[2] CELAM, L’Église dans la transformation actuelle de l’Amérique latine à la lumière du Concile Vatican II: conclusions de Medellín 1968, trad. Charles Antoine. Paris, Cerf, 1992.

[3] Ủy ban thế giới về môi trường và phát triển của Liên hiệp quốc, Tương lai chung của chúng ta, New York, 1987.

[4] PNUD, Báo cáo toàn cầu về sự phát triển con người năm 1990, New York, Economica, 1990.

[5] Xem thêm : Hội đồng Tòa Thánh về Công lý và Hòa bình, Để phục vụ cộng đồng nhân loại ; một cách tiếp cận đạo đức về nợ quốc tế (27 /12/ 1986), Paris, Cerf, 1987.

Read More

Điều hướng bài viết

  • Previous page
  • Page 1
  • …
  • Page 7
  • Page 8
  • Page 9
  • …
  • Page 86
  • Next page
Bài viết mới nhất
Crossy Kurka Gra w Kasynie Automatach
30/01/2026
La Strada degli Anelli di Casino Online di InOut
30/01/2026
Kouzelná Cesta Hrnců od InOut Games
30/01/2026
Video nổi bật
https://www.youtube.com/watch?v=Td144YDsaGo
Sự kiện sắp tới

There are no upcoming events at this time.

Ủy ban Giáo dục Công giáo – Trực thuộc Hội Đồng Giám Mục Việt Nam.

Liên hệ

72/12 Trần Quốc Toản, Phường 8, Quận 3, TP.HCM Get Directions

Phone: +84 931 436 131

Email: [email protected]

Ban chuyên môn
  • Ban Tài liệu và Truyền thông
  • Ban Giáo chức
  • Ban Kỹ năng và Giá trị sống
  • Ban Khuyến học
  • Ban Học viện Thần học
  • Ban Hội Học sinh – Sinh viên
Chuyên mục
  • Tin tức
  • Thư chung
  • Giáo dục
  • Phụng vụ
  • Thư viện
Bản quyền © 2020 thuộc về Ủy Ban Giáo Dục HĐGM VN. Design by JT.