2023
Ai giúp tôi sống khôn bớt dại?
Ai giúp tôi sống khôn bớt dại?
Người ta nói rằng: Thách đố lớn nhất của con người là chiều dài thời gian. Quả đúng như vậy, mới yêu nhau và ở cùng thì thấy hôn nhân đẹp quá, 1 túp lều tranh 2 trái tim vàng đã trở thành lâu đài tình ái; đẹp đẽ và lung linh như 7 sắc cầu vồng. Khi ấy ta cứ thấy thật đúng khi hát: Hỡi em như thiên thần từ trên cao, em như giấc mơ của anh. Nhưng mà giấc mơ thì không có thật, ngay cả lâu đài tình ái cũng được tác giả cảnh báo chắc không có trên trần gian đâu.
Cũng tựa như người ta nói về độ thân của hôn nhân như thế này: Mới đầu đầu: tìm mọi cách để thân mật. Ôi, tình yêu đẹp quá: trăng mật cơ mà, nhưng được 3*7=21 ngày. Đập vỡ cây đàn, đật nát ánh trăng cho dập mật, rồi khi chèn thêm những trái khoáy, ngang dọc cuộc đời: vỡ mật, thối mật, tan mật, thế là xong. Lúc này, mới giật mình nhận ra rằng: hôn nhân là tình yêu đấy, nhưng là cuộc tình thập giá, hoa hồng đẹp lắm, nhưng đầy những gai, bởi vì hoa hồng phải có gai mới là hoa hồng đẹp và đầy sức quyến rũ.
Nếu các bà các mẹ ai cũng giữ cho trọn quan điểm này: Chồng em áo rách em thương, chồng người áo gấm sông hương mặc người thì sóng lòng êm ả quá, nhưng không tránh khỏi những khi sóng nổi loạn, thì rằng: Chồng em áo rách em thương, chồng người áo gấm em thương cả chồng người, thế mới có chuyện lạnh lùng gối chăn???
Theo dòng suy tư ấy, Cha Phê-rô Chu Quang Minh đã đặt tựa đề cho cuốn sách: Ai giúp tôi sống khôn bớt dại. Tiền nhân cũng có câu: Ai nên khôn mà chẳng dại đôi lần. Trộm nghĩ, nếu dại cả đến 3 lần để nên khôn thì cũng đã là ngon, nhưng khổ nỗi, có khi biết là sai trái, biết là chuẩn bị đèn dầu không đủ, lơ đãng một tý đã là xong; sai 1 ly đi 1 dặm là vậy.
Dụ ngôn 10 cô trinh nữ là thí dụ (Mt 25,1-13): 10 cô trinh nữ đều vẫn biết là phải tỉnh thức: tỉnh thức không phải là không ngủ, nhưng là tư thế ngủ của người biết tỉnh thức. Ai cũng nghĩ: nếu không thức tỉnh và sẵn sàng cho đủ sẽ sôi hỏng bỏng không: Bằng chứng là 10 cô đều thắp đèn sáng để chờ khi ngủ. Nếu như chàng rể đến sớm, hay biết tương đối chính xác giờ đẹp ngày ấy, có alo, camera hành trình, likestream luôn và ngay thì khôn-dại đã chẳng được phân biệt. Tuy nhiên, có sự khác biệt bởi lượng dầu tiêu tốn trong thời gian chờ đợi – các cô thiếp đi phân tách 5 khờ – 5 khôn: Khi ấy, 5 cô khôn đã tự tin chỉnh tề hàng ngũ, khăn gói quả mướp lên đường và thẳng tiến vào Dự Tiệc. Còn 5 cô khờ, thế là xong, chàng rể đến: cửa đã đóng, then đã cài, chỉ còn tiếng vọng ra: Ta không biết các người là ai (c.12).
Cuộc đời Ki-tô hữu cũng là hành trình tham dự Tiệc Cưới Nước Trời như 10 cô trinh nữ. Hành trình ấy sẽ đưa dẫn ai nấy nhập đoàn trinh nữ khôn hay dại? Chỉ có đèn thôi. Không đủ! Ðèn cần phải sáng và phải luôn sáng, để đón Chúa đến lúc bất ngờ. Cũng thế: Mang danh là Kitô hữu. Không đủ! Tham gia vào một số sinh hoạt tôn giáo. Không đủ! Nhưng cần phải sống hết mình những đòi hỏi của Chúa. Ðòi hỏi lớn nhất là yêu thương. Yêu thương trước nhất ở trong gia đình mỗi gia đình. Cần thắp sáng tình yêu gia đình, vì có những người đèn đã hết dầu từ lâu… (An-tôn Nguyễn Cao Siêu). Cần chăm chút cho ngọn đèn đời mình. Cần nuôi dưỡng nó bằng thứ dầu của tình yêu bao dung, của niềm hy vọng vững vàng, của niềm tin sắt đá. Cần châm thêm dầu mỗi ngày… để cây Đức tin lòng mến đủ lớn mạnh và cháy sáng hân hoan đón đợi Chúa gọi bất cứ lúc nào.
Ước mong mỗi chúng ta khi đang hân hoan bước vào Niên học mới (2020-2021), hãy trải lòng tự hỏi: Ai giúp tôi sống khôn bớt dại thực sự tra vấn tôi và bạn trong lộ trình ‘gạn đục khơi trong’ để ai nấy đều trở nên trinh nữ, xinh đẹp và khôn ngoan của Tin Mừng.
Tác giả: Lm. Giuse Phạm Văn Quang
2023
Viết cho em, người lấy chồng ngoại đạo
Viết cho em, người lấy chồng ngoại đạo
Chuông điện thoại reo lên trong khi tôi đang cầm cây bút viết vài dòng vào cuốn nhật ký. Một số điện rất quen nhưng trong phút chốc tôi không thể nghĩ ra là số của ai, vì từ ngày vào chủng viện đến nay đã 3 năm tôi mới cầm lại điện thoại. Tôi bấm nghe, đầu dây bên kia một giọng nói ngập ngừng.
– “Con chào thầy, à mà thôi em chào anh . chào anh cho quen chứ chào thầy thấy khó quá”, tiếng một cô gái trẻ nói từ đầu bên kia.
– Tôi đáp: “Dạ vâng, con nghe. Xin lỗi đây là số điện thoại của ai vậy ạ”.
– “Dạ em, em là Mai đây ạ.”
– “Mai sao, dạ Mai nào đây ạ”, tôi trả lời.
– “Dạ! Mai mà ngày trước học cấp 3 sau anh 2 lớp đó ạ”, cô gái đáp lại.
Bỗng dung tôi nhận ra cái số điện thoại ấy bởi lẽ đã có thời gian tôi và Mai thường xuyên trò chuyện với nhau qua số điện thoại ấy. Tôi nhận ra Mai và cuộc trò chuyện trở nên vui vẻ hơn. Sau mấy lời thăm hỏi, Mai nói tới chủ đề chính.
– “Thôi anh nhé, em vào công việc chính. Nghe nói anh đang nghỉ hè và đang ở nhà, em muốn gặp anh có chút việc không biết có tiện không, nếu không tiện em sẽ nói luôn qua điện thoại và nhờ người gửi tới anh sau”, tiếng Mai từ đầu máy bên kia.
Mặc dù chưa biết là có chuyện gì, nhưng tôi đoán có lẽ là một việc cần thiết nên tôi trả lời “Ừ thì anh đang nghỉ hè ở nhà, nếu có việc cần thì hẹn gặp cũng được”.
– Ô thế thì may quá! Thế thì gặp ở đâu được ạ.
– Ừ thì gặp ở đâu cũng được, ở nhà mình hoặc ở đâu đó thuận tiện cho Mai.
Mai trả lời “Thế hay hẹn anh ở quán nước gần cổng trường cấp 3 nhé. Chỗ đó cho tiện, nhân thể cũng lâu rồi chưa được nhìn lại trường xưa. Anh thấy thế nào?”
Thấy chỗ đó cũng tiện và dễ đi lại nên tôi nhận lời. Thế là cuộc hẹn được lên lịch. Từ hôm về, tôi cũng chưa đi đâu nhiều, loanh quanh khu xóm và mới chỉ gặp được mấy đứa bạn gần nhà. Tôi định mai đi có chút việc rồi ướm giờ về qua chỗ hẹn luôn cho đỡ mất việc.
**************
Hôm sau đúng giờ hẹn, tôi tới quán nước gần cổng trường. Dựng xe vào chỗ mát, tôi vào trong đang, kiếm một bàn để ngồi thì có tiếng gọi.
– Anh Thắng, anh Thắng đó phải không, em ở đây ạ.
Tôi đưa mắt về phía có tiếng gọi, bóng dáng một cô gái vừa quen vừa lạ, quen bởi vì em vẫn gương mặt ấy, vẫn đôi mắt, vẫn nụ cười, vẫn mái tóc ấy, nhưng lạ vì là trông em có vẻ chỉn chu hơn bởi bộ đồ em mặc và bởi sự sắc xảo của một cô gái trưởng thành.
Cuộc trò chuyện diễn ra vui vẻ khi tôi và Mai hỏi thăm nhau về những gì xảy ra trong vài năm qua. Sau khoảng nửa tiếng ngồi trò chuyện, thấy tôi đưa tay nhìn đồng hồ, Mai liền nói.
– Có lẽ anh đang muốn về à? Thôi thì em vào việc chính nhé.
Mai rút từ trong túi xách ra một tấm thiệp, đặt nó lên bàn rồi từ từ đẩy về phía tôi. Mai nói: “Em sắp lấy chồng, mời anh sắp xếp thời gian về dự, vì biết anh đang nghỉ hè nên em mời, chứ nếu anh đi học thì em cũng không dám mời đâu”.
Tôi khá bất ngờ vì từ nãy tới giờ khi nói chuyện, Mai chẳng hề nói gì đến chuyện tình cảm và tôi cũng không hỏi đến. Bỗng một suy nghĩ thoáng qua, có điều gì đó khiến tôi thấy vui. Trước đây tôi và Mai rất thân. Từ lúc đi học cấp 3 đến khi học xong đại học, tuy nhà cách xa nhau và không cùng giáo xứ, nhưng chúng tôi hay gặp nhau trong các buổi giao lưu giáo lý viên hay giới trẻ. Ngay cả khi đi học đại học mỗi lần về quê, chúng tôi lại hẹn nhau đi chơi đâu đó. Cũng chính vì thân nhau và hay đi với nhau nên nhiều người nghĩ rằng chúng tôi yêu nhau. Thế nhưng lại không phải vậy. Chúng tôi chơi với nhau rất thân và coi nhau như anh em ruột vậy, có chuyện chi cũng chia sẻ và giúp đỡ nhau những lúc cần thiết. Đến khi học xong đại học, tôi nói với Mai rằng tôi có ý định đi tu, Mai cũng rất ủng hộ. Tôi đã từng hỏi Mai rằng có đi tu không, nhưng Mai đáp “Em cũng không biết, nhiều lúc thấy cũng thích nhưng chắc khó lắm. Hihi em cũng không biết nữa”…
*******
Đưa tay tôi nhận lấy tấm thiệp nhưng chẳng mở ra xem. Tôi hỏi Mai: “Lấy chồng ấy sao? Ai vậy? Ở đâu thế? Cũng nhanh quá nhỉ!
Giọng Mai bỗng dung trùng xuống, nét mặt cũng tỏ vẻ buồn. Mai nói: “Em yêu một anh cùng cơ quan, lúc đầu hai đứa ok nhưng gia đình anh ấy không đồng ý vì nhà anh ấy không theo đạo và anh ấy lại là con cả của gia đình nên không thể trái ý bố mẹ. Em và gia đình cũng đã nói với anh ấy nhiều lần là mong muốn anh ấy theo đạo. Nhưng vì gia đình và cả dòng họ nên anh ấy nói là sẽ xem xét và nghĩ đến điều đó sau khi cưới vì lúc ấy hi vọng gia đình anh ấy đỡ căng thẳng hơn. Vừa rồi khi mọi thủ tục xong, em có cảm giác anh ấy không còn giữ điều đã nói…”
*******
Ngồi nghe Mai kể về đám cưới sắp tới, niềm vui lúc mới gặp Mai của tôi bỗng trở thành nỗi lo. Tôi có cảm giác Mai sẽ gặp nhiều khó kăan trong cuộc hôn nhân này. Một cô gái ngoan hiền và sốt sắng đạo nghĩa, nay bước vào cuộc hôn nhân dị giáo, không biết cuộc sống của em sẽ ra sao.
Vì thời gian không cho phép nên tôi ra về mặc dù dường như Mai còn nhiều điều muốn giãi bày và xin lời khuyên. Tôi hẹn nếu có dịp sẽ chia sẻ sau, còn về ngày cưới tôi cũng xin lỗi vì chắc không thể tới dự vì một vài lý do…
**************
Tối hôm trước ngày cưới của Mai, tôi bỗng nghĩ về em. Vì không thể đến dự ngày trọng đại của em, tôi viết cho em vài dòng, đó như những lời chúc và cũng là những lời chia sẻ đối vơi em.
“Mai thân mến,
Chúc mừng ngày hạnh phúc của em nhé, thật tiếc vì không thể hiện diện trong ngày trọng đại của em. Nhưng ngày mai anh sẽ cầu nguyện cho em và gia đình em cách đặc biệt trong. Cầu chúc em có một gia đình hạnh phúc, cố gắng làm một người vợ tốt luôn hiếu thảo với cả hai bên gia đình nhé.
Hôm trước khi nghe em nói chồng em và gia đình chồng là người ngoại giáo và không đồng ý theo đạo, anh lo lắng cho em đôi chút, nhưng không sao, mọi sự để Chúa lo. Về việc này bây giờ anh chỉ muốn chia sẻ chân thành. Nếu muốn chồng em theo đạo, thì em phải cầu xin Chúa thay đổi và tác động chồng em. Mọi sự do Chúa, nhưng Chúa cần sự cộng tác của em rất nhiều. Bây giờ em sẽ như một nhà truyền giáo vậy. Em sẽ là sợi dây kết nối hai bên gia đình, kết nối chồng em và cả gia đình chồng em với Chúa. Kết hôn với một người cùng đạo đã khó khắn, kết hôn với người ngoại đạo khó khăn lại càng lớn hơn. Nhưng mọi sự đều có thể được miễn là em phải thực sự mong muốn và đừng quên bám chặt lấy Chúa.
Còn nhiệm vụ của em bây giờ là em hãy sống thật tốt, cố gắng giữ luật Chúa cho nên và hãy làm một người vợ hiền ngoan, một người con dâu công giáo hiếu thảo với gia đình chồng. Để thay đổi suy nghĩ của gia đình chồng, không phải một ngày hai nhưng có khi mất nhiều năm, thậm chí cả đời người. Thế nên sự khó khăn sẽ không hề ít. Có nhiều người lựa chọn như em, trong số đó cũng có những người kết quả sau này rất tốt đẹp, nhưng cũng có những người không những không làm được cho chồng theo đạo, mà chính bản thân cũng dần mất đạo. Có nhiều người khi sinh con cái, gia đình chồng không cho theo đạo mặc dù trước khi cưới đã hứa hẹn đủ điều. Vì thế, em cần phải cố gắng nhiều . Hãy sống như một tấm gương sáng để bất cứ ai nhìn vào em cũng thấy điều đặc biệt của một người có đạo, cho dù có thể điều đó không làm cho những người em muốn trở lại đạo, nhưng là bổn phận và là việc em cần phải làm. Thậm chí trong trường hợp xấu nhất khi vì đức tin mà giữa em với chồng và gia đình chồng xảy ra mấu thuẫn, em vẫn phải cố gắng.
Anh không khuyên em từ bỏ sự cố gắng, hay chạy trốn, nhưng em hãy tìm đến Chúa. Hãy nhớ nhé, đừng quên Chúa khi nào cả. Ngay cả khi mọi thứ không được như ý em muốn, em hãy luôn tìm đến với Ngài. Hãy nói với Chúa mọi điều em muốn rồi người sẽ giúp sức cho em. Làm vợ hay làm con dâu chưa bao giờ dễ dàng. Đối với ng]ò lấy chồng ngoại đạo, điều ấy càng trở nên khó khăn gấp bội. Mong em sẽ là một tín hữu sốt sắng, một tông đồ nhiệt thành truyền giáo cho chính gia đình mình. Bây giờ em là cánh tay nối dài của Chúa. Hãy luôn nhớ rằng mình là người Công giáo và hãy cố gắng làm sáng tỏ đức tin của mình vào mọi công việc hằng ngày. Nếu được như thế, chắc hẳn Chúa sẽ làm những điều em muốn thay cho em. Cầu chúc em luôn bình an, có một gia đình hạnh phúc và điều em mong muốn cho chồng sẽ thành hiện thực.
Chào em!
Bùi Lữ
2023
Nội dung mới của Sách Giáo lý Hội thánh Công giáo về án tử hình: “Án tử hình là điều không thể chấp nhận”
Nội dung mới của Sách Giáo lý Hội thánh Công giáo về án tử hình: “Án tử hình là điều không thể chấp nhận”
– Sau buổi yết kiến Đức giáo hoàng Phanxicô hồi đầu năm nay, và sau khi được Đức giáo hoàng phê chuẩn, Bộ Giáo lý đức tin cho biết Bộ đã sửa đổi nội dung giáo lý về án tử hình trong Sách Giáo lý Hội thánh Công giáo, theo đó án tử hình là điều không thể chấp nhận được.
Đức Giáo hoàng Phanxicô đã phê chuẩn nội dung mới của số 2267 trong Sách Giáo lý Hội thánh Công giáo, theo đó “đã có một hiểu biết mới về ý nghĩa của án phạt hình sự của nhà nước”, nên “án tử hình là điều không thể chấp nhận”.
Quyết định này được Bộ Giáo lý Đức tin công bố trong “Thư gửi các Giám mục” đề ngày 1 tháng Tám 2018, do Đức hồng y Bộ trưởng Luis Francisco Ladaria ký tên.
Nội dung của số 2267 mới
Án tử hình
2267. Việc chính quyền hợp pháp áp dụng án tử hình, sau một phiên toà công bằng, từ lâu đã được coi là một giải pháp xác đáng đối với tính chất nghiêm trọng của một số tội ác và là giải pháp chấp nhận được, mặc dù mang tính cực đoan, để bảo vệ công ích.
Tuy nhiên, ngày nay người ta ngày càng ý thức rằng phẩm giá của một người không bị mất đi ngay cả sau khi người ấy phạm những tội ác rất nghiêm trọng. Ngoài ra, còn có thêm hiểu biết về ý nghĩa của các án phạt hình sự do nhà nước tuyên án. Cuối cùng, các hệ thống giam giữ hiệu quả hơn đã được phát triển, nhằm bảo đảm cho các công dân sẽ được bảo vệ, nhưng đồng thời không nhất thiết phải tước mất khả năng đền tội của kẻ phạm tội.
Vì thế, trong ánh sáng của Tin Mừng, Giáo hội dạy rằng “án tử hình là điều không thể chấp nhận được vì nó tấn công vào tính bất khả xâm phạm và phẩm giá của con người”, [1] và Giáo hội quyết tâm đấu tranh để hủy bỏ án tử hình trên toàn thế giới”.
[1] Đức giáo hoàng Phanxicô, Huấn từ cho các tham dự viên Hội nghị do Hội đồng Toà thánh Cổ võ Tân Phúc âm hoá tổ chức, ngày 11 tháng 10 năm 2017: L’Osservatore Romano, ngày 13 tháng 10 năm 2017.
Nội dung của số 2267 cũ
Số 2267 cũ của Sách Giáo lý Hội thánh Công giáo nói rằng Giáo hội không loại trừ việc áp dụng án tử hình trong những trường hợp “rất hoạ hiếm, nếu không muốn nói là không có trong thực tế”:
2267. Giáo huấn truyền thống của Hội Thánh, sau khi đã xác minh đầy đủ căn tính và trách nhiệm của phạm nhân, không loại trừ việc kết án tử hình, nếu đây là con đường khả thi duy nhất để bảo vệ hữu hiệu mạng sống con người khỏi bị xâm phạm cách bất công.
Tuy nhiên, nếu các phương tiện không đổ máu đã đủ để bảo vệ và che chở sự an toàn của các nhân vị khỏi kẻ xâm phạm, thì nhà cầm quyền chỉ nên dùng những phương tiện này, vì chúng đáp ứng tốt hơn cho những hoàn cảnh cụ thể của công ích và phù hợp hơn với phẩm giá của nhân vị.
Thật ra, trong thời đại chúng ta, vì Nhà Nước có nhiều khả năng để chế ngự tội ác cách hữu hiệu, làm cho kẻ đã phạm tội không còn khả năng tác hại, mà không tước đoạt cách vĩnh viễn khả năng chuộc tội của họ, nên những trường hợp tuyệt đối cần thiết phải khử trừ phạm nhân, “từ nay sẽ rất hiếm, nếu không muốn nói là trong thực tế không còn nữa”.
(Bản dịch của Uỷ ban Giáo lý Đức tin / HĐGMVN)
Vẫn có tính liên tục với Huấn quyền trước đây
Trong Thư gửi các Giám mục, Đức hồng y Ladaria giải thích rằng nội dung đã sửa đổi nơi số 2267 của Sách Giáo lý Hội Thánh Công giáo “thể hiện sự phát triển đích thực của giáo lý vốn không mâu thuẫn với Huấn quyền trước đây”; và nói thêm rằng “những điểm giáo lý này, trên thực tế, có thể được giải thích dưới ánh sáng trách nhiệm trước hết của cơ quan công quyền để bảo vệ công ích trong bối cảnh xã hội, mà trong đó người ta hiểu khác nhau về các án phạt hình sự, và các án phạt này đã phát triển trong một môi trường vốn gặp nhiều khó khăn hơn để bảo đảm rằng kẻ phạm tộisẽ không tái phạm”.
Đức giáo hoàng Gioan Phaolô II kêu gọi bãi bỏ án tử hình
Đức hồng y Ladaria nhắc lại rằng Đức giáo hoàng Gioan Phaolô II đã yêu cầu trình bày lại giáo huấn về án tử hình để phản ánh tốt hơn sự phát triển của giáo lý vốn tập trung vào việc Giáo hội nhận thức rõ phải tôn trọng sự sống của mọi người, khi khẳng định rằng “Ngay cả kẻ sát nhân cũng không bị mất phẩm giá của mình, và chính Chúa cam kết bảo đảm điều ấy”. Đức hồng y Ladaria nói rằng trong nhiều dịp, Đức giáo hoàng Gioan Phaolô II đã can thiệp để loại bỏ án tử hình mà ngài mô tả là “tàn nhẫn và không cần thiết”.
Đức giáo hoàng Bênêđictô XVI
Trong Thư nói trên, Đức hồng y Ladaria cũng nhắc đến Đức Bênêđictô XVI là người đã kêu gọi “các nhà lãnh đạo xã hội quan tâm đến nhu cầu, để cố gắng hết sức để loại bỏ án tử hình” và khuyến khích “các sáng kiến chính trị và luật pháp đang được cổ võ ở một số quốc gia ngày càng nhiều để loại bỏ án tử hình và tiếp tục những tiến bộ thật sự, được thực hiện phù hợp với luật hình sự cho cả nhân phẩm của tù nhân và việc duy trì trật tự chung một cách hiệu quả”.
Chính quyền có trách nhiệm bảo vệ sự sống của công dân
Đức hồng y Ladaria nói rằng nội dung số 2267 mới của Sách Giáo lý Hội thánh Công giáo – được Đức giáo hoàng Phanxicô phê chuẩn – có sự liên tục với Huấn quyền trước đó bằng cách phát triển giáo lý Công giáo một cách mạch lạc”, và có quan tâm đến hiểu biết mới về án phạt hình sự do Nhà nước hiện đại xét xử”.
Nội dung mới này, Đức hồng y nói tiếp, “muốn gia tăng động lực cho một phong trào hướng tới quyết tâm ủng hộ một quan điểm nhìn nhận phẩm giá sự sống của mỗi con người và, trong khi đối thoại với các cơ quan dân sự một cách tôn trọng, khuyến khích việc tạo thêm điều kiện cho phép bãi bỏ án tử hình ở nơi nào vẫn còn đang áp dụng”.
2023
Đức tin của một nhà vật lý
Tôi nghĩ rằng câu trả lời là có.
Trước hết, một nhà khoa học, hơn các học giả khác, dành thời gian của mình để quan sát tự nhiên. Nhiệm vụ của anh ấy là giúp làm sáng tỏ những mầu nhiệm của tự nhiên. Anh ấy đi đến chỗ ngạc nhiên trước những mầu nhiệm này. Do đó, không khó để một nhà khoa học cảm phục trước sự vĩ đại của Đấng Tạo Hóa. Từ đây chỉ còn một bước nữa là thờ phượng Thiên Chúa.
Đối với tôi, việc quan sát các hiện tượng của tự nhiên luôn luôn hấp dẫn. Nghiên cứu được thực hiện ngoài trời, tiếp xúc trực tiếp với biển cả và đất liền, không khí và bầu trời, đã có một sức hấp dẫn đặc biệt – trên hết là quan sát trên núi cao, hoặc cao hơn nữa là trên khinh khí cầu.
Kể từ khi giáo viên cũ của tôi, Franz Exner ở Vienna, lần đầu tiên khơi dậy mối quan tâm của tôi đối với các hiện tượng về điện của bầu khí quyển, tôi đã dấn thân vào lĩnh vực năng lực phóng xạ. Chính trong quá trình bay lên của khinh khí cầu vào năm 1912, trong khi đo độ dẫn điện của bầu khí quyển, tôi đã phát hiện ra các tia vũ trụ.
Phần lớn nghiên cứu ban đầu của tôi được thực hiện trong một đài quan sát do tôi thiết lập trên đỉnh một ngọn núi thuộc dãy núi Alps của Áo, ở độ cao hơn 2.100m (7.000ft) so với mực nước biển. Thật tuyệt vời khi làm công việc hữu ích này ở một nơi như vậy. Thật dễ dàng để cảm thấy mình thật gần gũi với Thiên Chúa.
Về điểm thứ hai, một nhà khoa học dễ dàng tin vào sự quan phòng của Thiên Chúa. Hơn những người khác, anh ta buộc phải nhận ra rằng nhân loại đang trải qua một cuộc khủng hoảng khủng khiếp, một giai đoạn chuyển tiếp nghiêm trọng. Nhà khoa học phải đối mặt với sự lựa chọn giữa tuyệt vọng và đức tin.
Ngày nay, tất cả chúng ta đều kinh hoàng – và đúng như vậy – trước sự hủy diệt hàng loạt có thể xảy ra do việc khám phá ra bom nguyên tử. Không giống như việc sử dụng trong thời chiến, việc sử dụng “sự phân hạch hạt nhân của uranium” trong thời bình vẫn còn rất xa vời. Nỗi kinh hoàng của những vụ giết người hàng loạt dường như là kết quả trực tiếp từ các thành tựu khoa học. Tất cả những gì còn lại phải làm để hủy diệt hoàn toàn nền văn minh dường như là việc phát minh ra những chiếc máy bay không gây tiếng ồn và thực tế là vô hình. Sau đó, chúng ta có thể tiêu diệt – hoặc bị tiêu diệt – mà không có khả năng phòng thủ.
Nếu chúng ta không tuyệt vọng, chúng ta phải tin rằng những khám phá trong lĩnh vực khoa học nguyên tử không thể chỉ mang lại cho chúng ta phương tiện để tự hủy diệt. Chắc chắn phải có một Đấng Quan Phòng đằng sau tất cả những điều này.
Về điểm thứ ba. Tôi phải thú nhận rằng trong tất cả những năm nghiên cứu về vật lý và địa vật lý, tôi chưa bao giờ tìm thấy một trường hợp nào mà khám phá khoa học lại mâu thuẫn với đức tin tôn giáo. Đôi khi người ta nói rằng “điều tất yếu” của “định luật” tự nhiên không tương thích với ý chí tự do của con người và hơn thế nữa với các phép lạ. Vấn đề không phải là như vậy. Ví dụ, khi các nhà khoa học xây dựng cái gọi là “các định luật” vật lý, thì họ hoàn toàn nhận thức được rằng mình không thể đưa ra dự đoán mang tính lịch sử về cách thức hoạt động thực tế của một nguyên tử radium[1], cũng như không thể dự đoán hành vi đạo đức của người này hay người kia.
Nhiều định luật vật lý của chúng ta trên thực tế chỉ là những phát biểu mang tính thống kê. Chúng chiếm trung bình phần lớn trong các trường hợp. Chúng chẳng có ý nghĩa cho một trường hợp riêng lẻ. Các nhà khoa học hiện đại hoàn toàn nhận thức được những hạn chế này trong các mô tả của họ về những bước tiến trong ngành vật lý.
Một nhà khoa học có phải nghi ngờ về tính thực tế của các phép lạ? Là một nhà khoa học. Tôi trả lời dứt khoát rằng: Không. Tôi thấy rằng chẳng có lý do gì để Thiên Chúa toàn năng, Đấng đã tạo dựng nên chúng ta và vạn vật xung quanh chúng ta, không được trì hoãn hoặc thay đổi diễn biến tự nhiên và vừa phải của các sự kiện, nếu Người nhận thấy làm như vậy là khôn ngoan.
Các nhà khoa học chúng ta là những người quan sát đơn thuần về diễn biến tự nhiên và vừa phải này của các sự kiện. Chúng ta góp phần cố gắng tìm ra những “định luật” chi phối thế giới này của chúng ta. Trong cuộc đời của tôi, những khám phá trong lĩnh vực vật lý nối tiếp nhau nhanh đến mức người bình thường khó có thể theo kịp chúng: tia X, năng lực phóng xạ, tia vũ trụ, năng lực phóng xạ nhân tạo, máy gia tốc hạt nguyên tử. Sự phân hạch của uranium đã dẫn đến loại vũ khí khủng khiếp và có sức tàn phá hủy diệt nhất – bom nguyên tử.
Chúng ta có phải thất vọng khi thấy rằng kết quả cuối cùng của rất nhiều nỗ lực không mệt mỏi của các nhà khoa học vĩ đại như vậy chỉ dẫn đến sự hủy diệt hàng loạt?
Không phải vậy. Đúng là trong lịch sử tiến bộ lâu dài của khoa học, nhiều phát minh đã được sử dụng trong chiến tranh. Chẳng hạn, hãy nghĩ đến những cỗ máy chiến tranh do thiên tài Leonardo da Vinci thiết kế. Tuy nhiên, tất cả những tiến bộ này cũng đã phục vụ mục đích hòa bình của nhân loại. Cơ cấu định giờ hoàn thiện thời hiện đại đã được sử dụng trong bom hẹn giờ. Nó cũng có những công dụng khác. Đối với động cơ xăng cũng vậy. Chúng có thể được sử dụng không chỉ trong xe tăng và máy bay ném bom. Tôi chắc chắn rằng sự thôi thúc để tự sinh tồn cuối cùng sẽ thuyết phục tất cả các quốc gia rằng chẳng thể thu lợi được gì bằng cách hủy diệt hàng loạt các quốc gia khác.
Điều này không có nghĩa là các nhà khoa học nên chuyển từ khám phá khoa học sang các vấn đề chính trị của hòa bình thế giới. Nhiều người tin rằng các nhà khoa học có thể trở thành những nhà lãnh đạo quốc gia tốt hơn các chính khách và nhà ngoại giao. Tôi không dự phần vào quan điểm này. Ngày nay, nghiên cứu khoa học chỉ có thể đạt được bởi những người lao động có chuyên môn cao. Những người như vậy có rất ít thời gian để làm quen với các vấn đề kinh tế và chính trị, cũng như họ có rất ít thời gian để làm quen với các vấn đề triết học và thần học. Họ có thể được trang bị tốt hơn về mặt đạo đức so với một chính trị gia bình thường, nhưng rất ít người trong số họ đủ đa năng để không chỉ trở thành nhà khoa học mà còn là chính khách hay triết gia. Theo tôi, một nhà khoa học giỏi không nên can thiệp vào chính trị.
Đối với những vấn đề sâu xa nhất của nhân loại, các nhà khoa học cũng như bao nhiêu người khác vẫn đang mò mẫm trong bóng tối. Tuy nhiên, một nền giáo dục tôn giáo tốt, kết hợp với đào tạo về khoa học, có xu hướng giúp các nhà khoa học hiểu rõ hơn cả về tự nhiên và đời sống con người.
Đối với một nhà khoa học, cũng như đối với bất kỳ ai khác, đức tin chân chính thường là vấn đề phải đấu tranh gay gắt. Chiến thắng phải được giành lấy – hoặc tài năng phải được khai phá – bởi mỗi người trong tâm hồn của chính mình. Thường thì phải cần đến kinh nghiệm cá nhân về mối nguy hiểm chết người trầm trọng để mang lại niềm xác tín và để dọn đường cho đức tin vào sự quan phòng của Thiên Chúa. Điều chắc chắn là, khi đức tin đến, thì theo sau đó là sự thanh thản tuyệt vời của tâm hồn và sự bình an sâu xa trong trái tim con người.
Tác giả: Victor F. Hess[2]
Chuyển ngữ: Phil. M. Nguyễn Hoàng Nguyên
Nguồn: Society of Catholic Scientists
—————————–
[1] Ở đây và trong đoạn tiếp theo, Hess đang đề cập đến “sự bất định lượng tử”. Theo các nguyên tắc của cơ học lượng tử, các định luật vật lý mang tính xác suất. Ví dụ, các định luật vật lý không xác định khi nào thì một hạt nhân phóng xạ, chẳng hạn như khi nào hạt nhân của nguyên tử radium sẽ phân rã, mà chỉ đưa ra các xác suất để điều đó trở thành hiện thực.
[2] Victor F. Hess (1883-1964) đoạt giải Nobel Vật lý năm 1936 nhờ khám phá ra tia vũ trụ. Bài báo trên đây được Victor F. Hess viết vào năm 1946 như một đóng góp cho loạt bài về “Đức tin của tôi”, xuất hiện trên tờ The American Weekly.
