2022
Vài suy nghĩ xung quanh cái chết bí ẩn của một thanh niên 19 tuổi
Vài suy nghĩ xung quanh cái chết bí ẩn của một thanh niên 19 tuổi
Mấy ngày qua, cơ quan truyền thông báo đài và mạng xã hội trong nước quan tâm rất đặc biệt tới cái chết bí ẩn của một thanh niên mới chỉ mới 19 tuổi từ quê ở tỉnh Bình Định lên TPHCM nhập học Đại học.
Tờ Thanh Niên online (TNO) ngày 17-2 vừa qua đã tường thuật chi tiết như sau: [1]
Ngày 12-2-2022, nạn nhân tên NVN 19 tuổi từ Bình Định vào bến xe miền Đông để đến trường nhập học. Khi đến bến xe miền Đông, nạn nhân không liên lạc với người nhà, mà đi xe ôm đến một trường đại học tại đường D2 (Q.Bình Thạnh), rồi đón xe khác để đến một địa điểm khác trên đường D2. Tại địa điểm này, nạn nhân đi bộ đến một khách sạn trên đường Ung Văn Khiêm (Q.Bình Thạnh) thuê phòng. Đến 03 giờ 55 sáng ngày hôm sau 13-2, nạn nhân ra khỏi khách sạn, trên người mang theo ba lô, đi về phía Tân Cảng, rồi rẽ vào hẻm 293 Ung Văn Khiêm. Camera gần nhất thể hiện lúc 04 giờ 03 phút sáng ngày 13-2, nạn nhân leo qua hàng rào đi ra hướng bờ sông để tự tử.
Tờ báo TNO trích dẫn trên cho cho biết tiếp: Qua khám nghiệm tử thi, nạn nhân chết do ngạt nước. Khám nghiệm hiện trường trong ba lô của nạn nhân đeo sau lưng có một cục đá xi măng khoảng trên 10 kg, phù hợp với hiện trường nơi nạn nhân tự tử. Phòng PC02 TPHCM đang phối hợp với Công an Q.Bình Thạnh điều tra làm rõ nguyên nhân nạn nhân tự tử. Theo diễn biến vụ việc, sáng 15.2, người dân phát hiện một thi thể nam thanh niên trôi trên sông Sài Gòn (P.13, Q. Bình Thạnh). Công an Q. Bình Thạnh sau đó phong tỏa khám nghiệm hiện trường, xác định thi thể được phát hiện là nam sinh viên NVN (cư trú tại huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định) được gia đình, người thân trình báo là mất tích trước đó.
Được biết, do ảnh hưởng của dịch Covid-19 nên em N. ở nhà học online. Ngày 11-2, em N. vào TPHCM để làm thủ tục nhập học tập trung tại Trường ĐH Sư phạm kỹ thuật TPHCM thì xảy ra sự cố trên. Gia đình N. thuộc diện làm nông, nghèo và em N. là một đứa con ngoan, hiền lành, một học sinh chăm chỉ và học lực khá. Đặc biệt đây là lần đầu tiên em vào TPHCM để nhập học. Khi vào TPHCM, em N. mang theo 1 túi xách, 1 vali, áo khoác, nón…tất cả màu đen. Ngoài ra em cũng mang theo một số tiền là 2 triệu đồng để trả phí xe cộ và tiền nhập học.
Cuối cùng, nguyên nhân cái chết bí ẩn của em N. được cho là do tự tử.
Như vậy, bước đầu nguyên nhân cái chết của em N. đã được giải mã. Đó là em N. đã nhẩy xuống sông tự tử. Nhưng còn vấn nạn lớn hơn mà nhiều người đang rất quan tâm, đó là nguyên nhân vì sao em N. lại chọn cái chết cho mình một cách đáng thương như vậy trong khi tương lai của em đang rộng mở.
Một số người có trách nhiệm như nhà giáo, nhà báo, phụ huynh và cả linh mục đang cố gắng tìm câu trả lời vấn nạn “Tại sao em N. tự tử?” và đặt ra cho chúng ta một số vấn đề cần suy nghĩ và chia sẻ.
1.- Vấn nạn nêu ra từ phía gia đình và xã hội
Sau khi tin tức về nguyên nhân cái chết của em N. được báo chí và cơ quan chức năng loan báo, nhà báo nổi tiếng Trần Thu Hà (TPHCM) trên trang facebook (FB) cá nhân của mình ngày 17-2 đã đưa ra nhận định như sau:
Nam sinh N. vào Saigon nhập học và mất tích là một học sinh ngoan hiền học giỏi, 12 năm là học sinh giỏi, đậu đại học hệ chất lượng cao, học kỳ I học online điểm trung bình loại giỏi 8,6. Ai cũng tưởng em bị kẻ xấu sát hại. Công an, mạng xã hội đã cất công tìm kiếm, rồi đau đớn nhận tin em đã tử vong. Công an đã kết luận em tự tử, trong ba lô có cục đá ximăng nặng hơn 10 kg, camera cho thấy 04h03 sáng em đã leo qua hàng rào bờ sông để xuống sông. Rất nhiều người không muốn tin với kết luận này, nó thật khó chấp nhận. Nhưng thực tế theo thống kê thì khả năng chúng ta chết vì chính mình cao hơn là khả năng ta chết bởi bàn tay của người khác. [2]
Như vậy nguyên do cái chết của em N. là do em bị trầm cảm, từ đó dẫn đến quyết định tự vẫn. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) cho biết hiện nay trên thế giới đã có hơn 350 triệu người đang mắc bệnh trầm cảm và mỗi năm có khoảng 1 triệu người tự tử (trung bình mỗi ngày có 2900 người tự tử). Trầm cảm được ví như phần nổi của một tảng băng, chỉ 1/3 trường hợp được chẩn đoán và điều trị tử tế. Thạc sĩ bác sĩ Lê Đình Phương chuyên gia về các lĩnh vực rối loạn chuyển hóa, tim mạch, rối loạn trầm cảm, bệnh gan (Bv Pháp Việt TPHCM) đã cho biết như sau: 15% dân số có trầm cảm nặng, tuổi từ 16-35; 25,4% người dân có ý định tự tử; 15,6% có kế hoạch tự tử; 4.2% thực hiện hành vi tự tử (3.78 triệu người VN) (Nguồn: Trung tâm Phòng chống khủng hoảng tâm lý (PCP). Ngoài ra, bác sĩ Lê Đình Phương cũng cho biết thêm tự sát thường là do trầm cảm. Lưu ý: 2/3 trường hợp tự sát có nguồn gốc từ trầm cảm.
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), trầm cảm là căn bệnh phổ biến nhất trên toàn thế giới và đứng thứ hai trong gánh nặng bệnh lý toàn cầu, chỉ sau bệnh lý mạch vành. Ước tính trên thế giới có khoảng 350 triệu người bị ảnh hưởng bởi trầm cảm. Hậu quả nghiêm trọng nhất của trầm cảm chính là hành vi tự sát. Theo thống kê tại Việt Nam, số người tự tử hàng năm lên tới 36.000-40.000 người, cao gấp 3-4 lần số ca tử vong do tai nạn giao thông. Trầm cảm chịu trách nhiệm cho 75% các vụ tự tử kể trên, còn lại 22% là do nghiện rượu, ma túy, cờ bạc và chỉ có 3% do tâm thần phân liệt, động kinh.
Theo thống kê, đến 80% dân số sẽ bị trầm cảm vào một lúc nào đó trong cuộc sống của mình. Một số đối tượng sau có thể dễ gặp phải trầm cảm hơn:
Trầm cảm ở phụ nữ: tỉ lệ mắc trầm cảm ở nữ giới cao hơn nam giới, thường gặp nhất là trầm cảm sau sinh. Trầm cảm ở trẻ em và thanh thiếu niên: do áp lực học tập, hoàn cảnh gia đình thay đổi (bố mẹ ly hôn, bị bỏ rơi, thay đổi nơi ở), thay đổi tâm sinh lý tuổi dậy thì vv…Trầm cảm ở những người làm các công việc có cường độ làm việc và áp lực lớn như y bác sỹ, người làm công việc quản lý, công nhân mỏ than…Trầm cảm ở người già: người già có tỉ lệ mắc trầm cảm cao (~16%) do một số yếu tố như bệnh lý mạn tính, do cảm giác cô đơn, mất người bạn đời,…Trầm cảm ở những người mắc bệnh nội khoa như: bệnh lý tim mạch, nội tiết, thần kinh, ung thư, bệnh truyền nhiễm…Bệnh cảnh dễ làm nảy sinh trầm cảm và ngược lại, trầm cảm có thể làm cho bệnh có xu hướng nặng thêm và tăng nguy cơ tử vong.
Như vậy có thể thấy trầm cảm là một căn bệnh rất phổ biến, ai cũng có thể mắc trầm cảm. Tuy nhiên, trên thực tế có tới 80% người mắc trầm cảm không được phát hiện. Điều đó có nghĩa là trong 10 người mắc trầm cảm thì chỉ có 2 người là được phát hiện và điều trị. Ngoài những lý do về mặt nhận thức, tâm lý xấu hổ, sợ bị kỳ thị đối với bệnh trầm cảm thì một nguyên nhân quan trọng không kém khiến cho bệnh trầm cảm không được phát hiện sớm đó là những triệu chứng bệnh rất dễ nhầm lẫn vào các bệnh lý khác. [3]
Nhắc lại, ngày 20-2-2021 trên trang mạng vnexpress.net đăng bài viết có tựa đề: “Ba kiểu gia đình dễ khiến trẻ trầm cảm”, theo đó tác giả liệt kê các kiểu gia đình ảnh hưởng tiêu cực đến tâm lý trẻ em như: a- Có bố mẹ luôn phủ nhận cố gắng của con cái và đánh giá thấp chúng; b- Gia đình thờ ơ với tình cảm của con; và c- Gia đình quá kỳ vọng vào con cái khiến chúng dễ rơi vào tình trạng trầm cảm.
Bài báo trên đã trích đăng bài viết của An Ca là một nhà tâm lý học Trung Quốc, cho hay: Cách đây ít lâu, một video trên mạng xã hội Weibo (TQ) thu hút sự quan tâm của hơn 300 triệu người. Trong video này, một cô gái họ Mã nói rằng bản thân đã vật lộn với bệnh trầm cảm bảy năm qua, nhiều lần muốn tự tử. Nhưng khi cô nói với mẹ, bà trả lời: ‘Con vẫn luôn như thế, đã bao năm rồi? Con vẫn tỏ ra mình khác biệt, bản thân không tự chịu còn bắt ai chịu thay’. Thật không thể tưởng tượng khi con cái bị trầm cảm mà cha mẹ lại chẳng biết gì, thậm chí còn trách chúng là giả vờ hay đạo đức giả, nhiều độc giả đã để lại khá nhiều bình luận bên dưới video của Mã.
Học giả An Ca cho biết tiếp: Vào năm 2012, một nhóm nghiên cứu đã tiến hành khảo sát về chứng trầm cảm của gần 3.000 thanh thiếu niên từ độ tuổi 10-25 tại Trung Quốc. Kết quả là cứ 5 trẻ thì 1 em bị trầm cảm. Về mặt tâm lý, trầm cảm bắt nguồn từ sự tấn công bên ngoài khiến trẻ luôn tự ti, thậm chí ghét bỏ bản thân. Cảm xúc và sự tức giận bị kìm nén này lại không được bộc lộ ra ngoài, trẻ tự chịu đựng, cô đơn trong chính nơi được gọi là mái ấm. [4]
Theo nhà báo, chuyên gia tâm lý giáo dục Trần Thu Hà trên trang FB đã dẫn trên, sau kết luận của nhà chức trách về cái chết tự vẫn của em N. thì qua báo chí rất nhiều người đã lên tiếng, một số ít cảm thông với em nhưng đa số đều có vẻ như trách móc em. Chẳng hạn, “Còn trẻ mà em!”, “Còn cha mẹ già ai lo hả em?”, “Tự tử là Em bất hiếu với cha mẹ!”, “Dại dột để rồi đau khổ cho người thân của mình! Bao nhiêu công lao của cha mẹ, thầy cô”, “Em học lực giỏi, nhưng có một môn học mà em thiếu, đó chính là kỹ năng sống lạc quan! Tiếc cho gia đình và xã hội”, “Không được làm thế. Làm sao có thể sống tốt cuộc đời khác khi không thể sống tốt cuộc đời này. Đau đớn không thể trốn chạy, chỉ có đối mặt và vượt qua thì mới thoát khỏi nó vĩnh viễn”, “Ích kỷ, để lại nỗi đau khôn nguôi cho người ở lại” vv.
Cuối bài viết, nhà báo Trần Thu Hà đã nhận định: Nhiều người nhấn mạnh vào lý do em N. nhà nghèo, trong túi em chỉ có 1,4 triệu đồng. Nhưng thật ra thì đau khổ luôn là một bí mật, không tuân theo đạo đức và lý trí của người khỏe mạnh. Chẳng ai nói với một người đang gẫy chân rằng: “Phải cố gắng lên chứ, đi dễ mà, ai chả đi được!”. Chả ai nói với người viêm phổi rằng: “Chỉ cần thở thôi mà, sao ko thở đi?!”. Và rất nhiều người cho rằng “Có gì đâu mà buồn? Tôi ngày xưa còn nghèo/khổ hơn em, sao em ko làm được?…” Cứ như thể phải có đủ thẩm quyền để đau đớn, mới được đau đớn vậy.
Nhà báo này viết tiếp: Mình chứng kiến nhiều người trầm cảm là người rất nỗ lực, rất trách nhiệm, đầy nhiệt huyết, sống nhiệt tình, là người thành đạt, thành công. Do đó những giáo điều về sống tích cực, vượt qua khó khăn, thay đổi tư duy…có khi còn là giết họ không cần dao, họ càng đay nghiến chính mình. “Những người tự tử chắc gì đã muốn chết? Họ chỉ muốn chấm dứt nỗi đau đớn mà thôi” (Tiffanie De Bartolo). Những người tự tử không phải là những người chạy trốn, mà là những người không còn có thể chạy trốn. Tự sát không có mục đích đạt được cái chết, nó là một liều thuốc cho những thống khổ tinh thần vượt ngưỡng. “Không ai vứt đi một cuộc đời còn đáng được giữ lại” (David Humes).
Cuối cùng nhà báo này kết luận: Hãy công bằng với trầm cảm! Và hãy cảnh giác với nguy cơ trầm cảm của con cái, người thân và của chính bản thân mình, các bạn ạ!
2.- Vấn nạn nêu ra từ phía học đường
Tin về cái chết tự tử của em N. đã khiến sửng sốt, bàng hoàng chẳng những cho các bậc cha mẹ trong gia đình, các nhà tâm lý giáo dục, mà còn cho cả những phụ huynh đang có con em đi học. Chúng ta biết rằng, bệnh trầm cảm gây nên 2/3 cái chết tự vẫn và 90% người trầm cảm không được điều trị. Điều này cho thấy mọi nơi, mọi hoàn cảnh, mọi thời điểm đều có người bị trầm cảm.
Thầy giáo Võ Anh Triết (TPCHM) trên trang FB cá nhân mình đã bày tỏ ý kiến và cảm xúc xung quanh cái chết của em N. như sau:
Khi chuyện thằng bé mất tích xuất hiện, tôi cảm thấy có chút gì đó ngờ ngợ. Rồi chiều nay đọc tin về cuộc họp báo của công an. Thằng bé đã tự kết thúc cuộc đời của nó, ở một nơi thật xa gia đình, dưới dòng nước lạnh lẽo, chiếc balo với tảng bê tông 10kg. Nó đã chuẩn bị kỹ, và nó đã không cho nó một cơ hội nghĩ lại. Thằng bé 19 tuổi, vào Sài Gòn học đại học. Lẽ ra nó đã vào Sài Gòn từ tháng Chín năm ngoái, chứ không phải bây giờ. Dịch bệnh đã làm thay đổi mọi thứ, kể cả số phận con người. Nếu nó hồ hởi đi hồi tháng Chín, có thể nó đã khác, biết đâu!
Thằng bé hẳn là mang nặng nề trầm cảm trong lòng. Nó đã không đi theo cuộc hẹn với người thân mà rẽ theo hướng khác. Nó thuê nhà trọ để ngủ, rồi trả phòng trọ. Rồi nó lại thuê phòng trọ trở lại, hẳn là lúc đó trong nó loé lên mong muốn tiếp tục sống. Nhưng mong muốn đó không đủ lớn để giữ nó lại. Lúc 03g55 phút sáng, nó ra bờ sông Sài Gòn, hẳn là nó đã thức trắng đêm để chống lại với chính bản thân nó. Quê nhà miền Trung của nó, nghèo, với ba mẹ làm nông. Mà ba mẹ làm nông thì chỉ biết bán mặt cho đất bán lưng cho trời để nuôi con cái đủ ăn, họ nào biết gì hơn điều đó. Họ không đủ kiến thức để nhận ra những nỗi niềm con mình đang trải qua, thì làm sao họ biết sẻ chia, thì làm sao họ biết vực con mình dậy. Họ chắc chắn không hiểu tại sao con họ đau khổ như thế, và điều duy nhất họ làm là sững sờ nhìn quan tài con mình trở về nhà, họ cứ nghĩ con họ đi để hiển vinh trở về.
Cuộc sống hiện đại ào ạt lắm, dữ dội lắm. Một đứa trẻ lớn lên như thằng bé nhận được gì từ cuộc đời. Ở trường nó cắm đầu học chữ, nó là đứa học giỏi, giỏi nó mới đậu đại học. Trường học làm quá ít những công việc nhằm nâng đỡ tinh thần trẻ con, phần lớn sa vào thành tích học tập. Ở nhà, đứa trẻ không biết nói chuyện với ai, cha mẹ ai nấy đều bận làm công việc đồng áng, thời gian đâu để gần gũi con mình. Một đứa trẻ với tâm thần vững vàng sẽ vượt qua thử thách, một đứa trẻ cô đơn và mong manh thì gục ngã dễ dàng.
Vậy là thằng bé đã chọn dừng lại trên chặng đường đời vừa mở ra của nó. Không ai biết nó đã nghĩ gì vào những khoảnh khắc cuối cùng của cuộc đời nó. Hẳn là nó đau khổ lắm. Nhưng nó không biết cha mẹ ông bà của nó còn đau khổ hơn nó ngàn lần.
Vì họ còn sống để khổ đau
Vì nó không còn sống nữa để biết họ sẽ khổ đau
Vì nó sẽ không còn khổ đau nữa
Nếu một ngày nào đó các con đau khổ quá, các con nhớ phải tìm ai đó để chia sẻ, các con nhớ hãy tìm đến những bệnh viện ung thư, các con nhớ hãy đến thăm những đứa trẻ tàn tật. Trở về rồi, các con sẽ thấy nỗi đau của mình nhẹ bớt, lẽ sống của mình lớn lên…Quả thực, đến lúc này ta phải nhận rằng Trường học làm quá ít những công việc nhằm nâng đỡ tinh thần trẻ con, phần lớn sa vào thành tích học tập. [5]
Còn về phía Giáo hội Công giáo thì sao? Chúng ta sẽ bàn tiếp sau đây vấn nạn liên quan đến tiếng nói và trách nhiệm của Giáo hội đối với các bạn trẻ như em N.
3.- Vấn nạn nêu ra từ phía Giáo hội
LM Trần Cao Thăng (Cha xứ Tân Hương TGP Saigon) trên trang FB cá nhân mình, đã chia sẻ mấy dòng sau:
Mấy hôm nay nghe tin một sinh viên 19 tuổi tự tử vì nghèo hay vì nguyên nhân sâu xa nào đó và bị công chúng lên án là dại, là vô ơn, là bất hiếu vv…Tại sao em này không cố gắng vượt qua, tại sao không nghĩ đến cha mẹ lo lắng đến tuổi này… Nhưng con người gồm nhân và linh kết tinh, nếu chỉ chăm bẵm cho thân xác lớn khôn mà thiếu chăm sóc phần linh thì hậu quả khó lường do mất cân bằng của một con người dần trưởng thành.
Em sinh viên tự tử không gì ngoài thiếu cái chính là đức tin. Nhiều người tự cho mình có khả năng xoay sở mà không cần đến tâm linh. Tâm linh chính là linh hồn, là tinh thần mà không ai tự tìm được, mà chỉ có nơi giáo dục đức tin qua tôn giáo như cách giáo dục nhân bản, văn minh cho trẻ con mà chúng không thể tự phát triển, cụ thể là môi trường nhà thờ và các giờ học giáo lý và các bài giảng trong thánh lễ. Nên người siêng năng đi lễ là người được khoa học cho là sống lâu bởi lẽ họ có nền tảng cho tâm hồn vững vàng trước những thất bại và khốn khó nhất. Cha mẹ hôm nay bỏ quên hoặc đặt nhẹ nền móng đức tin này nên con cái dễ mất phương hướng dẫn đến tiêu cực phát bệnh trầm cảm như hiện nay. [6]
Chúng ta biết rằng, gia đình em N. này không phải là Công giáo nên đặt vấn đề đức tin đối với em thì quả là không thích hợp. Tuy nhiên, từ cái cái chết này của một thanh niên, Ki-tô hữu chúng ta sẽ liên tưởng tới những con em “có đức tin” của chúng ta, đang sống như thế nào? Và nếu rơi vào tình cảnh như em N. thì con em chúng ta sẽ phản ứng ra sao?
Dựa vào thực tế của các gia đình Công giáo, chúng ta phải nhìn nhận đời sống đức tin của giới trẻ Ki-tô hữu ngày nay đang có dấu hiệu phần sa sút. Tu sĩ Lôrensô Vũ Văn Trình MF, trong bài viết tựa “Đức tin của giới trẻ trong đời sống hôm nay?” đã đề cập đến mảng tối đời sống đức tin của một số bạn trẻ Công giáo như sau: Một số bạn trẻ ngày nay làm cho chúng ta không khỏi thất vọng và lo lắng cho thế hệ tương lai…Các nhà lãnh đạo tôn giáo rất lo ngại trước vấn đề đạo đức của giới trẻ bị sa sút!
Tại một số xứ đạo, các bạn trẻ đi lễ đang giảm dần một cách trầm trọng, nhiều bạn trẻ ngày nay coi việc đi lễ là một gánh nặng. Đi vì bổn phận, hoặc vì gượng ép. Họ đến nhà thờ là do cha mẹ thúc giục, không đi không được, hoặc vì không đi sợ mắc tội chứ không vì niềm tin và lòng mến. Họ có mặt ở nhà thờ nhưng không hề ý thức mình đang có mặt ở đó để làm gì, chỉ mong sao giờ lễ mau kết thúc. Một số bạn đi tham dự Thánh lễ, cha xứ hỏi bài Tin Mừng mới đọc xong Chúa Giêsu nói gì? Họ không sao trả lời được. Bởi vì, họ không chú ý lắng nghe, ngồi trong nhà thờ nhưng tâm trí lại nghĩ đến những việc bên ngoài.
Thậm chí, một số khác còn đi lễ “ôm”, một cách gọi hơi lạ nhưng nói lên được thực trạng hiện nay của một số bạn trẻ. Họ đứng ngoài đường dự lễ và từng cặp ngồi trên xe gắn máy thân mật quá trớn nơi công cộng, đùa giỡn, chuyện trò, chơi game trên điện thoại di động… chẳng quan tâm Thánh lễ đang đến đâu và chủ tế đang làm gì, chỉ biết có người ra về là họ nổ máy chạy thẳng…
Và vẫn còn những điều đáng buồn khác, nhiều bạn trẻ ngày nay sống đức tin rất hời hợt. Có dịp tiếp xúc với các bạn trẻ đang học lớp giáo lý hôn nhân, tôi thật ngỡ ngàng về một số đông không biết gì về giáo lý căn bản, ngay cả những kinh đọc hằng ngày họ cũng không thuộc. Họ mang danh nghĩa là đạo gốc nhưng dường như họ theo đạo chủ yếu làm cho cha mẹ vui lòng, không ý thức mình là người Kitô hữu. Một bạn trẻ nói: “Những việc như đi nhà thờ, đọc kinh và cầu nguyện chỉ là do thói quen, cũng như do áp lực của những người thân”.
Như vậy, hơn bao giờ hết, ngày nay, đức tin của giới trẻ chúng ta đang xuống dốc trầm trọng. Ở một vài giáo xứ, số lượng người trẻ đi học giáo lý ngày càng ít đi. Và người ta không còn thấy bóng dáng bạn trẻ đi tham dự Thánh lễ hằng tuần. Và nếu có đi, thì ghế ngồi của họ là “xe ôm”, hoặc tụ tập thành nhóm đứng ngoài lề trò chuyện, hút thuốc cho qua giờ lễ… Một người mẹ chia sẻ: “Mỗi lần tôi nhắc nhở đứa con trai đi tham dự Thánh lễ, nó trả lời rằng: “Thời đại này, đến nhà thờ làm gì hả mẹ? Chỉ cần mình tin có Chúa là đủ. Mẹ thử nghĩ xem, mấy đứa bạn con có đi lễ đâu mà nhà nó vẫn giàu có đấy thôi”. [7]
Sự sa sút trong đời sống đức tin của các bạn trẻ hiện nay đã nhắc nhở chúng ta đến trách nhiệm của gia đình, của giáo xứ, của hàng giáo sĩ, của cả Hội thánh trong việc dạy dỗ, bồi dưỡng đức tin cho các thành phần Dân Chúa, đặc biệt là giới trẻ. Nếu chúng ta bỏ lơ việc quan trọng này, thì giả sử một em nào đó rơi vào tâm trạng, tình cảnh như em N. thì liệu có “đứng vững” được không?
Nhân đây, xin nhắc lại trong Thư Mục vụ năm Đức Tin 2012, Hội đồng Giám mục Việt Nam cũng đã lên tiếng nhấn mạnh như sau:
Tại Việt Nam, phần đông các tín hữu vẫn trung thành dự lễ Chúa nhật, kể cả ngày thường. Đa số các gia đình công giáo vẫn là cái nôi nuôi dưỡng và thông truyền đức tin cho con cái. Tuy nhiên, nơi một số người, việc giữ đạo chỉ theo tập tục và thói quen, chưa trở thành xác tín cá nhân và động lực cho những chọn lựa quan trọng trong đời sống. Nơi một số người khác, đời sống đức tin quá thiên về tình cảm, chỉ giới hạn vào một số thực hành nghi lễ và luân lý. Ngoài ra, do ảnh hưởng của thời đại đề cao lối sống vật chất và hưởng thụ, nhiều người trẻ công giáo ngày nay cảm thấy bị lung lạc trong đời sống đức tin, nhiều đôi vợ chồng trẻ không còn ý thức trách nhiệm thông truyền đức tin cho con cái (số 5)”.
Quả vậy, thực trạng giới trẻ ngày nay lơ là với đời sống tôn giáo, lung lạc trong đời sống đức tin, không quan tâm tới việc sống đạo…là điều quá rõ ràng. Và nếu chúng ta tìm hiểu kỹ hơn thì thấy rằng thực trạng ấy đã xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó nguyên nhân chính vẫn là sự khủng hoảng trầm trọng về niềm tin tôn giáo của giới trẻ trong thời hiện đại và sự thiếu sót quá lớn trong việc giáo dục đức tin cho giới trẻ.
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến sự sa sút đức tin nơi các bạn trẻ Ki-tô hữu. Ở chúng ta sẽ bàn đến hai nguyên nhân chính, đó là: Nguyên nhân từ gia đình và nguyên nhân từ giáo xứ. Về vấn đề này, tác giả Vũ Văn Trình MF trong bài viết đã dẫn, chia sẻ như sau:
“Gia đình là Giáo hội tại gia, là trường học tự nhiên và căn bản trong nền giáo dục Kitô giáo”. Thế mà nhiều gia đình trẻ ngày nay, việc cha mẹ dạy dỗ con cái sống đức tin là điều hiếm có. Ngay cả việc đọc kinh sáng tối cũng chẳng mấy ai giữ. Việc giáo dục đức tin cho con cái phó mặc cho nhà thờ, giáo xứ. Có những cha mẹ vì quá nhiều việc nên không có thời gian nghĩ đến Chúa; thậm chí, một số cha mẹ còn không muốn cho con đi học giáo lý mà bắt con đi học thêm hay ở nhà học bài vì lý do bài vở quá nhiều. Cũng có một số cha mẹ cho con đi học giáo lý nhưng không quan tâm con học ra sao, nhiều khi con nói đi học giáo lý nhưng lại trốn đi chơi game, đi trơi với bạn bè…
“Gia đình là tế bào căn bản của xã hội và Giáo hội” đó là câu nói mà nhiều người đã biết. Nhưng xem ra nhiều gia đình ngày nay không những không chú trọng điều này mà còn chẳng quan tâm đến việc xây dựng nếp sống trong gia đình, cha mẹ thiếu gương mẫu về đạo đức, về lối sống và không lo dạy bảo con cái biết Chúa, dạy con cách làm dấu, đọc kinh; thậm chí, một số cha mẹ còn không thuộc kinh. Theo thạc sĩ tâm lý nữ tu Hồ Thị Hạnh cho biết: “Một trong những nguyên nhân dẫn đến giảm sút đức tin ở giới trẻ là do sự giáo dục của gia đình còn quá lỏng lẻo, ít quan tâm tới các em”. Hơn nữa, nhiều gia đình không có thói quen dành thời gian để đọc kinh hay cầu nguyện chung. Vì thế, con cái không ý thức được tầm quan trọng của cầu nguyện cũng như việc đọc kinh chung.
Nguyên nhân từ giáo xứ: Một số giáo xứ chưa quan tâm việc giáo dục đức tin cho các bạn trẻ. Có những giáo xứ chỉ có phòng học giáo lý sơ sài, không trang thiết bị học tập, cha xứ chưa quan tâm đến giáo dục đức tin cho các bạn trẻ một cách đúng mức. Đồng thời, giáo xứ không tạo điều kiện cho các bản trẻ có cơ hội tham gia vào các hoạt động trong giáo xứ.
Kinh nghiệm cho thấy rất rõ những thiệt thòi do việc giới trẻ không được huấn luyện đức tin một cách kỹ càng trong giáo xứ vì thiếu vắng linh mục trong một thời gian dài. Giáo xứ chỉ có thể tổ chức các lớp giáo lý, đủ “lẽ đạo” cho các em xưng tội và rước lễ lần đầu. Vì thiếu giáo lý viên, việc dạy giáo lý cho trẻ em được phó thác cho những ông trùm, bà trùm. Việc huấn luyện đức tin dừng lại sau khi các em đã xưng tội và rước lễ lần đầu. Đối với bạn trẻ nhập ngũ hoặc thoát ly gia đình, vốn kiến thức ít ỏi về giáo lý sẽ bị mai một rất nhanh. Đó là lý do tại sao nhiều bạn trẻ bỏ đạo sau một thời gian ngắn rời khỏi giáo xứ.
Mặt khác, giới trẻ không chỉ chú trọng về kiến thức xã hội, mà còn cưu mang những ưu tư, thao thức xây dựng giáo xứ, Giáo hội theo cách trẻ trung và ao ước dấn thân thực hiện sứ vụ tông đồ của mình. Tuy nhiên, lòng can đảm lãnh nhận trách nhiệm này, không được các vị chủ chăn, các bậc làm cha mẹ lắng nghe và đón nhận. Xin trích dẫn thư của một bạn trẻ như sau: “Quý Cha muốn nghe người trẻ, nhưng lại chẳng hề tạo cho người trẻ một cơ hội để nói. Quý Cha đối với người trẻ, xa lạ và uy quyền lắm. Quý Cha muốn chúng con cộng tác, nhưng lại ngại tuổi tác và kinh nghiệm non trẻ của chúng con. Con thiết nghĩ rằng, không thử một lần, không té ngã, sẽ chẳng bao giờ có kinh nghiệm, và rồi người trẻ mãi mãi vẫn chỉ đứng ngoài lề mà thôi.” Hơn nữa, một số cha xứ không có sự đồng cảm với giới trẻ, chỉ biết dùng uy quyền của mình để nói, thì chính nơi tòa giảng, vị trí cao trọng của các vị linh mục, đã làm cho người trẻ cảm thấy các ngài thiếu gần gũi, còn bản thân người trẻ bị lạc lõng ngay trong nhà của cha mình.
Thư Mục Vụ năm Đức Tin 2012 của HĐGMVN đã nêu rõ: Cách riêng, chúng tôi muốn ngỏ lời với các linh mục, tu sĩ, và các bậc cha mẹ trong gia đình Công giáo. Giáo dục đức tin là trách nhiệm gắn liền với thừa tác vụ linh mục đến nỗi “các linh mục mắc nợ với mọi người về việc thông truyền cho họ chân lý Phúc Âm mà các ngài đã nhận được từ nơi Chúa”. Do đó, trong sự hiệp thông với giám mục và linh mục đoàn giáo phận, anh em linh mục hãy dành thời giờ, năng lực và nhiệt tâm cho công việc hết sức quan trọng và cần thiết này, đặc biệt trong việc giảng Lời Chúa và dạy giáo lý cho thiếu nhi và giới trẻ. Anh em cần quan tâm hơn nữa đến việc đào tạo đội ngũ giáo lý viên, những người trực tiếp cộng tác với chúng ta trong việc thông truyền đức tin cho thế hệ trẻ” (số 9).
Như vậy chúng ta thấy rằng, trách nhiệm chủ yếu trong việc giáo dục đức tin cho giới trẻ vẫn thuộc về các linh mục, đặc biệt là các linh mục trực tiếp phục vụ tại giáo xứ. Để chu toàn nhiệm vụ này, các ngài phải dành nhiều thời gian, công sức kể cả tài chánh để đầu tư vào công việc khẩn thiết và quan trọng này ./.
Aug. Trần Cao Khải
[2] Nguồn: FB facebook.com
2022
Ernesto Piraino – người cảnh sát trở thành linh mục nhờ chầu Thánh Thể
Ernesto Piraino – người cảnh sát trở thành linh mục nhờ chầu Thánh Thể
Ernesto Piraino là một cảnh sát và sắp kết hôn. Mọi sự thay đổi khi giáo xứ của anh bắt đầu chầu Thánh Thể liên tục 24 trên 24 giờ. Cuộc đời Ernesto bắt đầu thay đổi từ đó… Đó là câu chuyện về cuộc đời của cha Ernesto Piraino, ngày nay là một linh mục ẩn tu, người đã để lại bộ đồng phục phục cảnh sát để mặc lấy bộ áo dòng.
Mới đây nhà xuất bản Herkules Books đã phát hành một cuốn sách rất đặc biệt với tựa đề: “Từ bộ đồng phục đến chiếc áo dòng – Câu chuyện về người cảnh sát trở thành linh mục”, tác phẩm tự truyện của một linh mục trẻ, người trước khi tuyên khấn đã nhiều năm mặc bộ quân phục Cảnh sát Quốc gia.
Cha Ernesto Piraino 42 tuổi, là người miền Calabria của Ý, là con của một gia đình di dân, hiện đang sống ẩn tu trong một ngôi nhà nhỏ với vườn rau tại thành phố Belvedere Marittimo ở tỉnh Cosenza, thuộc giáo phận San Marco Argentano-Scalea, nơi có độ cao 700 mét so với mực nước biển. Đó là một ngôi nhà biệt lập trong rừng của Pollino, từ đó người ta có thể nhìn thấy làn nước biển trong vắt đang tắm mát bờ biển Tyrênia.
Lớn lên trong một gia đình Công giáo, Ernesto có một chút đức tin nhưng không sống đức tin trọn vẹn. Vào năm 2006, khi Ernesto đang làm việc cho văn phòng Trụ sở Cảnh sát tỉnh Messina và sống ở Scilla, giáo xứ Đức Mẹ Vô nhiễm của anh bắt đầu chầu Thánh Thể liên tục 24 giờ mỗi ngày. Anh đã đến đó vì tò mò.
Vài tháng trước đó, Ernesto đã chia tay với cô bạn gái sau mối tình kéo dài 6 năm và sắp sửa tiến tới hôn nhân, và đang sống trong một tình cảnh khó khăn; và ngày đó Chúa Giêsu bắt đầu thay đổi cuộc đời anh. Ngay khi đó anh không hiểu chuyện gì đang xảy ra, nhưng từ lúc đó, tiếng gọi của Bí tích Thánh Thể ngày càng mạnh mẽ hơn.
Trong khi Ernesto tiếp tục cuộc sống bình thường của mình, Chúa Giêsu ngày càng trở nên không thể thiếu, và không thể tin được, anh kể, “bất cứ nơi nào tôi đến, tôi đều chầu Thánh Thể liên tục”. Bằng cách đào sâu vào trái tim của Ernesto, Chúa Giêsu thiết lập lại trật tự tối thiểu trong sự không chắc chắn nảy sinh do cuộc hôn nhân lỡ dở, chỉ yêu cầu anh tin tưởng vào Người và dành cho Người một chút không gian.
Trong 4 năm sau đó, Ernesto quen biết với những người phụ nữ rất xinh đẹp khác, nhưng mặc dù rất hòa hợp với họ, anh luôn cảm thấy thiếu vắng điều gì đó, và trong lòng tiềm ẩn một sự không hài lòng. Rồi một ngày kia, chính cô gái mà Ernesto đang có mối quan hệ rất khắng khít đã cảm nhận được có điều gì đó đang khuấy động trong tâm hồn anh, và cô đến nói với anh rằng nếu con đường của anh là trở thành một linh mục, anh chỉ cần nói cho cô biết. Nhờ sự nhạy cảm đặc trưng của người phụ nữ, cô đã hiểu được điều đó trước khi anh nhận ra.
Một thay đổi lớn xảy ra trong năm 2010. Anh đã trò chuyện với vị linh hướng về tiếng gọi trong tâm hồn, về ước muốn dâng mình cho Chúa đang ngày càng lớn dần trong lòng mình. Đang theo học ngành Luật, nhưng Ernesto đã bỏ môn học này và bắt đầu học thần học. Năm 2011, ở tuổi 32, anh bắt đầu chương trình đào tạo trong chủng viện. Trong một thời gian, Ernesto vẫn tiếp tục làm cảnh sát. Vừa là chủng sinh vửa là cảnh sát. Khi anh được thụ phong linh mục, tất cả các đồng nghiệp cảnh sát của anh đều có mặt và đối với anh, đó là một ngày lễ mà anh không bao giờ tưởng tượng được. Hôm qua là một viên cảnh sát, hôm nay trở thành một linh mục ẩn tu.
Có điểm nào chung nối kết người cảnh sát của quá khứ với vị linh mục và ẩn sĩ ngày nay không? Cha Ornesto chia sẻ, “trong tôi luôn có một ý thức sâu sắc về công lý và theo thời gian, nó đã biến thành một cái nhìn về tính tổng thể của con người. Tôi là một cảnh sát nghiêm khắc, và rồi tôi nhận được Lòng Thương xót và tôi bắt đầu thực hiện nhiệm vụ của bằng cách nhìn tội phạm với con mắt khác, như một người anh em cần giúp đỡ, chuộc lỗi. (…) Đó là con đường mà tôi tiếp tục tin tưởng và để bản thân được hướng dẫn. Tôi học cách nhìn thấy Khuôn mặt của Chúa trong Bí tích Thánh Thể, và rồi trong khuôn mặt của người anh em. Người ẩn sĩ học cách nhìn thấy Chúa trong mọi thứ. Gương mặt của Người theo tôi trong những giờ suy niệm, trong sứ vụ giải tội, trong thời gian dành riêng cho việc tiếp đón và linh hướng… Tuy nhiên, sau đó, tôi lấy lại năng lượng bằng cách đắm mình trong sự tĩnh lặng và thanh tĩnh của ngôi nhà Tabor nhỏ bé của tôi.”
Hồng Thủy
2022
“GIA ĐÌNH TRƯỚC THÁCH ĐỐ CỦA MỘT XÃ HỘI VẮNG BÓNG THIÊN CHÚA”
“GIA ĐÌNH TRƯỚC THÁCH ĐỐ
CỦA MỘT XÃ HỘI VẮNG BÓNG THIÊN CHÚA”
Đình Vượng (Nhóm HTXH)
Bạn cũng như chúng tôi, là người Việt Nam, tất cả đều cảm nhân giá trị linh thiêng của hai tiếng gia đình. Tính linh thiêng đó thấy rất rõ ở khoảnh khắc gia đình đoàn tụ đón Giao thừa. Cho dù ở đâu, làm gì, và cho dù có buồn lòng ai đó trong gia đình, ai cũng mong về nhà. Nhà – hay gia đình – là tổ ấm, mái ấm, chiếc nôi của ‘sự sống và tình yêu’. Ai cũng mong gia đình luôn có nhiều yêu thương, chia sẻ, quan tâm lẫn nhau và nhà nhà ‘đầy ắp nụ cười’ yêu thương… nhưng ước mong để có một gia đình hạnh phúc nơi xã hội Việt Nam ngày hôm nay không hề dễ dàng. Gia đình Việt Nam đang đứng trước nhiều thách đố, nhiều cạm bẫy nguy hiểm, chịu nhiều tổn thương trong tiến trình biến đổi của xã hội và văn hóa, đặc biệt hơn khi xã hội hiện nay đang tìm cách xóa bỏ sự hiện diện của Thiên Chúa.
Những thách đố nói trên cần tìm hiểu nguyên nhân để trả lại cho gia đình ý nghĩa linh thiêng được nhìn nhận như một định chế tự nhiên, vì đó là cấu trúc căn bản của xã hội “Trong đó con người tiếp nhận những ý tưởng đầu tiên mang tính giáo dục về sự thật và sự tốt lành, học được thế nào là yêu và được yêu, biết được làm người thực ra là gì”[1], như vậy, trách nhiệm ‘xây dựng gia đình hạnh phúc’ là của cộng đồng và của mỗi người. Phát triển xã hội tốt đẹp tùy thuộc vào gia đình bởi “Tương lai nhân loại sẽ đến ngang qua gia đình!”[2]
I. THÁCH ĐỐ VỀ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH Ở NGƯỜI CÔNG GIÁO VÀ Ở XÃ HỘI VIỆT NAM NGÀY NAY
1. Hôn nhân và gia đình Công giáo
Chưa có một thống kê chính thức của Giáo hội Việt Nam, nhưng tình trạng ly dị, ly thân, ngoại tình và nhiều nguyên nhân khác gây ra đổ vỡ trong các gia đình Công giáo không phải không có. Thực trạng nói trên có thể thấy rõ ở mỗi xứ đạo.
Bạn đọc có thể tham khảo thực trạng gia đình Công giáo ở GP Xuân Lộc. “Theo ghi nhận của Tòa Giám mục, hôn nhân Công giáo trong giáo phận năm 2013 là 9207 cặp, trong đó có 269 đôi chuẩn khác đạo và 642 đôi được hợp thức hóa, ngoài ra có 793 đôi ly dị (nếu năm 2012 tăng 119 đôi thì năm 2013 tăng thêm 195 đôi); 28 đôi ly thân; 1274 đôi bỏ nhau (nếu năm 2012 tăng 197 đôi thì năm 2013 tăng thêm 172 đôi); 2.102 đôi chung sống bất hợp pháp (nếu năm 2012 tăng 365 đôi thì năm 2013 lại tăng thêm 228 đôi). Tổng số các gia đình trong toàn giáo phận là 239.861, tăng 29.396 gia đình, trong đó, có 212.401 gia đình hợp pháp, 1.666 gia đình không hợp pháp (mắc ngăn trở). Dù các gia đình mắc ngăn trở chỉ chiếm tỷ lệ 0,078% nhưng trong cuộc sống, đây là những hình ảnh tác động âm thầm và gây lung lạc đối với các gia đình Công giáo, nhất là với các gia đình trẻ.”[3]
2. Hôn nhân và gia đình của xã hội Việt Nam hiện nay
Nhìn vào thực trạng gia đình hiện nay nhiều vấn đề đáng lo, quan niệm về tình yêu hôn nhân và giá trị gia đình đang bị phá vỡ do ảnh hưởng của môi trường sống đáng được báo động “Thật thà thẳng thắn thường thua thiệt. Lừa lọc, lươn lẹo lại lên lương”.
“Gia đình đang bị đe dọa bởi nhiều lực hủy diệt của văn hóa sự chết. Mối đe dọa từ bên trong là lối sống hưởng thụ ích kỷ, là sự hời hợt trong lời cam kết dấn thân. Mối đe dọa từ bên ngoài là nỗi vất vả của đời sống lao động, kinh tế, là sự cuốn hút của những phương tiện truyền thông, là lối sống buông thả đang nhen nhúm trong xã hội”[4]. Thật không ngạc nhiên khi giới trẻ quan niệm về tình yêu hôn nhân một cách hời hợt, dễ đồng hóa với tình dục; tình trạng ngoại tình, lấy nhau không cần giá thú, bạo lực gia đình, ly dị, ly thân, quan hệ tình dục và nạo phá thai trước hôn nhân… rồi các tệ nạn xã hội, mại dâm, ma túy và sự nhiễu loạn trong các chuẩn mực văn hóa đang từng bước thâm nhập vào các gia đình, tạo nên những mâu thuẫn và xung đột gay gắt. Sự xung đột giữa các thế hệ đang diễn ra trong nhiều gia đình và đặt ra những thách thức mới cho xã hội. Tiền bạc như ‘chuẩn mực’ của hạnh phúc, và nếp sống truyền thống gia đình, tôn ti trật tự bị đảo ngược: do chủ trương bình đẳng giới, do sự thiếu quan tâm của cha mẹ dành cho con cái, do quá trình mở cửa, hội nhập, mặt trái của cơ chế thị trường và các sản phẩm văn hóa độc hại từ bên ngoài tràn vào hằng ngày, hằng giờ tiến công vào mỗi gia đình, hủy hoại lối sống đạo đức của mỗi người; do coi tự do cá nhân là tối thượng dẫn đến mối quan hệ gia đình không còn giữ được sự bền vững chặt chẽ.
Thực trạng gia đình VN thấy rõ hơn qua Cuộc điều tra gia đình năm 2006 của chính phủ[5] “Gia đình VN đang phải đối mặt với nhiều thách thức to lớn: vấn đề thiếu việc làm, thu nhập chưa ổn định và những rủi ro từ nền kinh tế thị trường; gia tăng tỷ lệ các cặp ly hôn, ly thân, những người chung sống không đăng ký kết hôn; bạo lực gia đình; các vấn đề liên quan đến chức năng giáo dục – chăm sóc trẻ em; người già cô đơn / không nơi nương tựa; mâu thuẫn giữa các thế hệ (…) thiết chế gia đình lỏng lẻo, các tệ nạn xã hội ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình.v.v.”
Điều tra cho thấy, số vụ ly hôn đang tăng nhanh. Nếu năm 2000 chỉ có 51.361 vụ ly hôn thì năm 2005 đã tăng lên 65.929 vụ. Người vợ đứng đơn ly hôn hiện gấp 2 lần so với người chồng đứng đơn. Người tốt nghiệp đại học, cao đẳng có tỷ lệ ly hôn từ 1,7 – 2%, thấp hơn tỷ lệ 4 – 6% của người không có bằng cấp. Số năm sống trung bình trước khi ly hôn của các cặp vợ chồng 18 – 60 tuổi là 9,4 năm; còn riêng ở các khu vực nội thành, các thành phố lớn, chỉ 8 năm. Có 4 nguyên nhân thường xảy ra nhiều là: Mâu thuẫn về lối sống: (chiếm 27,7%); ngoại tình (25,9%); kinh tế (13%); bạo lực gia đình (6,7%).
Đặc điểm của ly hôn, ly thân theo Điều tra nói đây: tăng dần do quan niệm xã hội không khắt khe như trước – Chiếm số nhiều ở nhóm: có học vấn thấp, nhóm người tự quyết định hôn nhân không hỏi ý kiến cha mẹ, rõ ràng cha mẹ có vai trò lớn trong việc duy trì, củng cố bền vững cho gia đình trẻ; Người vợ chủ động đứng đơn ly dị cao hơn người chồng (47% trên 28,1%)chứng tỏ người phụ nữ ý thức quyền của mình, sự chủ động của họ trong cuộc hôn nhân tăng lên.
Những vấn đề gây bất hòa trong đời sống hôn nhân: bất hòa về ứng xử và khó khăn về kinh tế nam giới nhấn mạnh về ứng xử (nam 76,6% / nữ 40,5%) khó khăn kinh tế đối với nữ giới quan trọng hơn (nữ 46,1% / nam 29,4%). Có khoảng trên dưới 10% nói đến sự không hòa hợp sinh lý và sự không chung thủy. Người chồng nhấn mạnh nhiều về việc không hòa hợp sinh lý (17,7% so với 6,7% của vợ) Vợ nhấn mạnh đến vấn đề không chung thủy (12,4% so với 0% của chồng) Bất kỳ lĩnh vực nào của đời sống gia đình như chăm sóc dạy dỗ con cái, công việc làm ăn, quan hệ ứng xử nội ngoại hai bên, hay giữa vợ và chồng, đều có thể nảy sinh sự bất đồng ý kiến dẫn đến mâu thuẫn bất hòa – các lĩnh vực khác như việc quản lí chi tiêu, cách thức làm ăn kinh tế.v.v.
Điều tra dẫn 4 lý do mâu thuẫn, xung đột, bạo lực ở gia đình: say rượu, ý kiến khác nhau trong làm ăn, trong sinh hoạt tính dục, khó khăn kinh tế. Thường xảy ra ở thành phố hơn nông thôn. Tình trạng dẫn đến bạo lực thường xảy ra ở cả chồng lẫn vợ nhưng thường người chồng là nguyên nhân chính: đánh, mắng, chửi, ép quan hệ tình dục. Điều nhận định ở điều tra về thực trạng gia đình Việt Nam đáng phải nói ở đây “Nguyên nhân gốc rễ của bạo lực gia đình là nếp sống gia trưởng…”
Quan niệm về tình dục trước và ngoài hôn nhân: nhìn chung từ cuộc điều tra, “Đại bộ phận không chấp nhận sống chung với nhau mà không có kết hôn. Họ xem đây là lối sống buông thả, đi ngược lại với giá trị văn hóa truyền thống, và có thể gây ra hậu quả nặng nề về nhiều mặt cho người phụ nữ.” Nếu có tình trạng thanh thiếu niên hiện nay có quan hệ tình dục trước hôn nhân là do sự thiếu quan tâm của gia đình, sự thiếu hụt trong giáo dục sức khỏe sinh sản, mức độ tiếp xúc với văn hóa phẩm không lành mạnh… lý do khác mà phần đông không chấp nhận hiện tượng này “là bởi những hậu quả có thể xẩy ra: tan vỡ hạnh phúc gia đình, những tác động tiêu cực truyền thống văn hóa”
Rất nhiều vấn đề khác về gia đình VN được đưa ra như: ai làm chủ của gia đình; kinh tế gia đình như thế nào mới đem lại hạnh phúc; các thế hệ gia đình; trình độ học vấn và giáo dục con cái; người cao tuổi .v.v. Cuộc điều tra gia đình đầu tiên được thực hiện trên phạm vi toàn quốc trong tổng số 24.079 người từ 18-60 tuổi của 9300 hộ có 8573 người (trong đó có 4025 nam và 2548 nữ) được phỏng vấn các thông tin về hôn nhân hiện tại, các nhận định cũng như các quan niệm xung quanh vấn đề gia đình, tuy chưa hoàn thiện nhưng đủ cơ sở cho những nhà quản lý tìm hướng giải quyết. Cuộc điều tra, rất tiếc, không nêu những vấn đề tín ngưỡng có liên quan đến giá trị gia đình! Số Gia đình Việt Nam, nhìn tổng thể đều có tôn giáo và còn thực hành tôn giáo. Vấn đề tâm linh, tín ngưỡng cũng chi phối cuộc sống gia đình VN, góp phần xây dựng hạnh phúc gia đình!
II. GIA ĐÌNH TRƯỚC THÁCH ĐỐ CỦA MỘT XÃ HỘI VẮNG BÓNG THIÊN CHÚA
Để gia đình có được hạnh phúc, trở thành điểm tựa cho mọi người, gia đình thực sự là “chiếc nôi cuộc sống và tình yêu, nơi mà con người được sinh ra và lớn lên[6]” cần phải khẳng định sự hiện hữu của tôn giáo là cần thiết, không chỉ cho gia đình mà chung cho toàn xã hội con người. Tại sao nhiều người ‘tu tâm dưỡng tánh’, ‘ăn chay niệm phật’, thích làm lành lánh dữ, sợ lương tâm cắn rứt khi làm điều ác…? Tất cả chỉ vì con người tin có Trời Phật, có thần linh, có ‘một sự sống khác sau cuộc đời này’, và đó là khởi điểm của tôn giáo. Các tôn giáo chân chính[7] chỉ muốn đem lại hạnh phúc cho nhân loại. Các tôn giáo, cách riêng Thiên Chúa giáo luôn nhấn mạnh, đề cao sự thật vì chính “Sự thật sẽ giải phóng anh em” (Ga 8,32)
Khi chủ trương duy vật vô thần, quan niệm tự do và chủ nghĩa cá nhân len lỏi vào cuộc sống gia đình làm thay đổi diện mạo: thay vì là mái ấm, điểm tựa, chiếc nôi…gia đình trở thành ‘nhà tù chung’ ở đó mỗi người sống ích kỷ, tự thu mình lại. Khi không còn tin vào những giá trị siêu nhiên, con người sẽ bị chệch hướng cuộc đời. Chối bỏ Thượng Đế là nguyên nhân của bạo lực. Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI[8] đã nhiều lần quả quyết như thế. “Sự chối bỏ Thiên Chúa làm băng hoại con người, khiến con người không còn mẫu mực nữa, và dẫn họ đến bạo lực”. Đề cập đến sự cần thiết của tôn giáo Tiến sĩ Nguyễn Quang Hưng[9], thuộc Viện Nghiên cứu Tôn giáo đã viết: “Sự khủng hoảng đạo đức Việt Nam hiện nay do nhiều nguyên nhân, trong đó có việc truyền bá chủ nghĩa duy vật và vô thần, hạ thấp vai trò của tôn giáo, nhất là thời kỳ trước Đổi mới. Việc phủ nhận các giá trị tôn giáo, đề cao chủ nghĩa duy vật vô thần tới mức cực đoan vô hình trung cổ vũ cho cái ‘văn hóa’ tiêu dùng phàm tục”. Rồi tác giả kết luận: “Khủng hoảng đạo đức xã hội ở Việt Nam đã tới mức báo động và có thể còn kéo dài, đòi hỏi nỗ lực của các cấp chính quyền, các tổ chức tôn giáo và từng người dân để khắc phục”. Hy vọng ước mong của một trí thức ngoài công giáo được nhiều người để ý quan tâm.
1. Giá trị của tình yêu hôn nhân dưới góc nhìn Thiên Chúa giáo.
Nhiều, rất nhiều người không tin có Thiên Chúa và luôn cả người tin, hiểu giáo lý hôn nhân qua ‘những luật cấm’. Bạn cầm trên tay tấm Thiệp Hồng của người Công giáo luôn đọc thấy “Điều gì Thiên Chúa kết hợp, loài người không được phân ly” Câu này nói lên điều gì? Luật cấm ư? Quá khắt khe, mất tự do… và thực tế thì bạn đã rõ, lấy nhau của Công giáo ‘phải qua nhiều khê!
Khi hai người nam nữ yêu nhau rồi quyết định tiến đến hôn nhân, ai cũng mong hôn nhân bền vững, nhiều yêu thương và điều mong ước nhất là có được người bạn đời tâm đầu ý hợp. Nhưng thật đáng buồn, rất nhiều người thất vọng vì cuộc sống hôn nhân, họ than thân trách phận: có người dễ dàng ly hôn và có người âm thầm chịu đựng vì áp lực tôn giáo và dư luận xã hội. Sai lầm trong tình huống này phát xuất từ thứ tình yêu sớm nở tối tàn, thứ tình yêu ích kỷ được xây dựng từ một phía, tôi lấy anh, lấy chị “vì…”, đủ thứ “vì…”. Có không ít chuyện hôn nhân, sau ngày đám cưới linh đình, đôi bạn sống với nhau chưa bao lâu, thì hôn nhân của họ biến thành ‘đám ma’. Quan niệm ‘tình yêu’ ở đây đã bị biến dạng, hiểu sai.
Tình yêu không phải là ý niệm quá trừu tượng đến nỗi không thể diễn tả được. Nó hiện diện trong cuộc sống và người ta không thể sống hạnh phúc nếu vắng bóng tình yêu. Tình yêu không phải là món quà đổi chác; là rung cảm lần đầu từ ánh mắt, nụ cười và cả đam mê về thể xác khi mới gặp nhau; là những lời hứa ngọt ngào… tất cả đều phảng phất nét lãng mạn.
Tình yêu phải là quà tặng linh thiêng, vô giá mà hai người sẵn sàng dâng hiến quên mình. Đó là tình yêu chân chính, nền tảng để hôn nhân sung mãn – bền vững – hạnh phúc “Yêu có nghĩa là cho và nhận một điều gì đó không thể mua cũng không thể bán, mà chỉ có thể cho một cách tự nguyện và hỗ tương”[10]
Điều kỳ diệu của tình yêu chân thật là nó phát triển cùng với quá trình tiến đến hôn nhân. Nó làm cho hôn nhân ‘thăng hoa’ cả trong thuật ân ái vợ chồng và quan trọng hơn cả là tình cảm, là cung cách đối xử ‘sống cho người mình yêu’ để đem lại niềm vui cho người bạn đời. Chỉ có như vậy bạn mới nhận thấy giá trị, nét đặc thù của đời sống hôn nhân: “Hợp nhất thể lý cũng như tinh thần, trở nên “một xương một thịt” (St 2,24), bất khả phân ly và trung tín và hướng mà chính hôn nhân tiến tới là việc sinh con cái”[11]. Nhưng việc không có con cái, không phải là lý do của ly thân, ly hôn, trái lại, tính bất khả phân ly và giá trị của hiệp nhất vẫn còn nguyên vẹn, trong trường hợp này, vợ chồng “có thể diễn tả lòng quảng đại của mình bằng cách nhận nuôi những đứa trẻ bị bỏ rơi hay bằng cách thực hiện những công tác phục vụ theo nhu cầu cần thiết của người khác”[12]
Tình yêu chân thật dẫn đến hôn nhân và gia đình rõ ràng có giá trị linh thiêng không thể phủ nhận. Tình yêu đó không do xã hội con người làm ra, người Công giáo tin rằng chính Thiên Chúa là tác nhân của tình yêu hôn nhân. Ngay từ tạo dựng, Chúa đã lập nên một gia đình, Chúa chúc phúc, Chúa muốn họ hạnh phúc (X. St việc tạo dựng con người 1,26-28; 2,7-24 – Mt 19, 5-6) và rồi, cũng từ khởi nguyên, gia đình Ông Bà Edong & Eva không hạnh phúc vì chối từ sự hiện diện của Thiên Chúa (St 3,1-7) nhưng Thiên Chúa luôn yêu thương và trung tín “Bởi vì Chúa nhân hậu, muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương, qua bao thế hệ, vẫn một niềm thành tín.” (Tv 99, 5) Niềm xác tín được minh chứng nơi từng trang Kinh Thánh. Dẫu cho loài người có bất tín bất trung, thì tình yêu thương và lòng thành tín của Thiên Chúa vẫn không hề đổi thay. Qua các tổ phụ và các ngôn sứ, Thiên Chúa không ngừng lặp lại lời hứa cứu độ cho đến khi mọi sự được hoàn tất nơi Đức Giêsu Kitô. Đây cũng chẳng phải là “thuốc phiện[13]” nhằm ru ngủ những người đang đau khổ trong hôn nhân, gia đình; trái lại, là lẽ sống và nguồn trợ lực cho những ai luôn gắn bó với Chúa.
Hôn nhân của một người nam và một người nữ là sự phản chiếu giao ước yêu thương của Thiên Chúa với dân riêng của Ngài, và “Cả đến tội lỗi, có thể làm tổn thương khế ước hôn nhân cũng trở thành hình ảnh cho sự bất trung của dân đối với Thiên Chúa. Việc thờ ngẫu tượng là một sự mãi dâm, bất trung là ngoại tình, và không nghe luật Chúa là một sự chối bỏ hôn ước tình yêu của Chúa. Nhưng sự bất trung của dân Israel không hủy diệt lòng trung tín đời đời của Chúa và bởi thế, tình yêu trung thành mãi mãi của Thiên Chúa được giới thiệu như kiểu mẫu cho những tương quan tình yêu trung thành phải có giữa vợ chồng.”[14]
Tình yêu dẫn đến hôn nhân và làm nên một gia đình, đó là sự chuyển hóa tự nhiên và hoàn toàn không phải “là kết quả của những thỏa thuận con người đến nhau, cũng không phải là kết quả của những quy định pháp lý, nhưng có được sự ổn định như thế là do quyết định của Thiên Chúa. Đó là một định chế[15] được khai sinh” – kể cả trước mắt xã hội – ‘do một hành vi nhân linh, qua đó hai bên trao phó bản thân mình cho nhau’ và được xây dựng dựa trên chính bản tính của tình yêu vợ chồng, một tình yêu được xem như là một sự trao tặng toàn vẹn và độc quyền mà người này dành cho người kia, khiến hai bên dứt khoát dấn thân cho nhau, và điều này được biểu lộ qua việc hai bên bày tỏ sự ưng thuận với nhau cách công khai và không thể rút lại”[16].
2. “Sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly” (Mt 19, 3-12)
Các kinh sư luật sĩ Do Thái muốn biết lập trường của Chúa Giêsu về vấn đề ly dị, Ngài đã dứt khoát trả lời như vậy.
Ngày hôm nay tình trạng ly dị xẩy ra quá dễ dàng, luật thừa nhận hiện tượng này, tuy nhiên không phải mọi người đều dễ dàng chấp nhận ly dị (cả tòa án, trước khi đưa ra phán quyết, quan tòa đều muốn giải hòa). Kết quả ly dị luôn đáng thương, gây xáo trộn gia đình, để lại tâm lý khủng hoảng bất an cho con cái, và gánh nặng cho xã hội… Bạn có thể tham khảo đầy đủ hơn hiện tượng này ở internet.
Tình yêu, một cách tự do, hai người nam và nữ chưa từng biết nhau, không nợ gánh nhau, nhưng rồi họ yêu nhau, tự nguyện đến với nhau và dâng hiến cuộc sống riêng của mình cho người mình yêu, trở thành “một xương một thịt”. Người nam và người nữ được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa. Họ bình đẳng nhau về nhân phẩm. Trong hôn nhân họ không còn phải là hai, nhưng là một xác thịt. Vậy, điều mà Thiên Chúa phối hợp thì con người không được phân ly, và đó là đặc tính của tình yêu vợ chồng: hôn nhân bền vững và bất khả phân ly. Chính đặc tính quý báu này Giáo hội lên tiếng “Đưa ly dị vào trong pháp chế dân sự là tiếp sức thêm cho quan niệm tương đối hóa sự ràng buộc của hôn nhân và việc nó được phổ biến khắp nơi trở thành ‘một nạn dịch thực sự cho xã hội”[17]
Trách nhiệm gìn giữ đặc tính này không chỉ phía vợ chồng mà còn của xã hội phải “đem đến hôn nhân tính cơ chế, dựa trên một hành vi công khai được xã hội và luật pháp nhìn nhận”[18] Bạn không ngạc nhiên khi Lời Chúa Giêsu nói ở đây được lập lại trước cộng đoàn Kitô hữu khi cử hành Bí tích hôn nhân. Hôn nhân Công giáo thành sự khi có sự hiện diện của cộng đoàn, họ cầu nguyện, họ chung vui và họ ôm ấp bảo vệ cho đôi bạn để hôn nhân trở nên bền vững. Hình ảnh sự hiện diện của cộng đoàn cũng thấy rất rõ ở những ngày cưới và đều mang một ý hướng yêu thương như vậy, đó là định chế hôn nhân rất tự nhiên của xã hội. Ly dị, kết quả đáng buồn, bạn có bao giờ tự hỏi: “Khi tôi làm đơn ly dị đưa ra tòa xét xử, tự chính tôi đã làm quan tòa xét đoán người bạn đời? Chúa Giêsu không đến để kết án ai mà để cứu chuộc, yêu thương mọi người. Ngài muốn hai người phối ngẫu trở về với lương tâm. Chính lương tâm làm chúng ta cảm nghiệm chân lý của tình yêu chân chính ở hôn nhân và gia đình.
Tóm lại, còn rất nhiều điều phải đề cập về “Gia đình trước thách đố của xã hội vắng bóng Thiên Chúa”, khuôn khổ của một bài báo không cho phép chúng tôi đào sâu. Tuy nhiên, cần làm sáng tỏ vấn đề cốt lõi khi đề cập đến gia đình, đó là định chế và cấu trúc gia đình không phát xuất từ xã hội, nhưng do chính Thiên Chúa thiết lập ngay từ khởi nguyên khi tạo dựng. Xác định chân lý này tức là trả lại cho hôn nhân và gia đình sự sống và tình yêu:
Hiến pháp Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 1992, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991, cũng như ở nhiều văn kiện của Đảng và chính sách xã hội có nhấn mạnh tầm quan trọng của gia đình: Gia đình là tế bào của xã hội…Học thuyết Xã hội Công giáo, chương V : Gia đình là tế bào sống động[19] của xã hội. Có gì khác biệt ở đây ? Rất rõ, gia đình là tế bào hay là gốc, căn nguyên của sự sống và sự sống đó được hình thành từ tình yêu hôn nhân làm nên gia đình. Chính vì sự sống này, các phần tử trong gia đình liên đới yêu thương, có trách nhiệm làm cho gia đình ‘sống động’ trở nên hạnh phúc. Lúc Gia đình là tế bào sống động của xã hội, hay ‘chiếc nôi của sự sống và tình yêu’, bạn ý thức : mỗi thành viên trong gia đình là mỗi con người có phẩm giá, là hình ảnh của Thiên Chúa, bạn thấy có bổn phận phải quý trọng, kính trọng, yêu thương và những điểm chính của HTXH chúng tôi đề cập sau đây là cần thiết để gia đình được bền vững:
– Sự thật: gia đình không phải là sân khấu, mỗi thành viên sống thật với vai trò tự nhiên của mình là cha mẹ, vợ chồng, con cái. Cho dù bạn là ai, là chức sắc tôn giáo hay địa vị ở đời, khi về nhà, vai vế kia sẽ không cần thiết nữa, không có khoảng cách, địa vị bỏ ngoài cửa. Tình yêu chân thực thì tôn trọng sự thật ở cung cách xử sự, ở lời nói và ở cách sống. Tình yêu chân chính trong gia đình yêu cầu bạn không diễn tuồng! Khi sự thật là lẽ sống, mọi người biết trân trọng cái chung từng mong muốn là của nhau: chung nhà, chung giường chiếu, chung bếp… và khi sự thật vắng bóng, ngôi nhà biến thành “nhà tù chung!”
– Gia đình một cộng đoàn tình yêu của sự liên đới. Họ liên đới cùng chịu trách nhiệm trước thành công, thất bại, vật chất cũng như tinh thần. Họ liên đới chia sẻ cho nhau buồn vui, hạnh phúc và bất hạnh…Với người Việt Nam, tính liên đới này thấy rõ hơn trong những dịp đám cưới, đặc biệt ở đám ma (dù đám ma ở cuộc ly hôn) với câu nói rất tình nghĩa “Một con ngựa đau cả tàu chê cỏ”. “Liên đới cũng là một đức tính luân lý thực sự, không phải là một cảm giác thông cảm mơ hồ hay đau buồn hời hợt trước những bất hạnh của nhiều người, gần gũi cũng như xa lạ. Ngược lại, liên đới là có một quyết tâm vừa chắc chắn vừa kiên định muốn dấn thân lo cho công ích.” Tức là lo cho ích lợi của mọi người và mỗi người, vì tất cả mọi thành viên trong gia đình thật sự đều phải chịu trách nhiệm về tất cả mọi người. “Liên đới được nâng lên hàng đức tính xã hội căn bản, vì đó là đức tính nằm trong phạm vi của công bằng. Đó là một đức tính ưu tiên nhắm tới công ích và được tìm thấy nơi những người dấn thân lo cho ích lợi của người thân cận tới mức, theo nghĩa của Tin Mừng, sẵn sàng ‘liều mất bản thân mình’ vì người khác thay vì khai thác người khác, và sẵn sàng ‘phục vụ người khác’ thay vì áp bức người khác vì ích lợi riêng (x. Mt 10,40-42; 20,25; Mc 10,42-45; Lc 22,25-27)”[20].
Hôn nhân và gia đình như vậy mang một giá trị hoàn toàn linh thiêng như những gì chúng tôi chia sẻ ở trên. Tình yêu hôn nhân làm nên gia đình và phát sinh sự sống, nuôi dưỡng sự sống. Sự sống của mỗi thành viên gia đình luôn phải ‘động’ và hạnh phúc chỉ có khi mọi người chung tay, nỗ lực vun trồng làm cho nó ‘sống động’, trở nên tổ ấm yêu thương, mái ấm che chở mọi người. Nhà, không phải chỉ là nơi dừng chân, quê quán để trở về, mà còn là điểm tựa bình yên. Gia đình là môi trường giáo dục nhân bản tốt nhất, góp phần cho xã hội những công dân có ích. Gia đình Công giáo không tự họ nhờ Bí tích hôn nhân đã tốt đẹp hạnh phúc, nhưng vẫn thấy rõ nhiều gia đình Công giáo giữ được bình yên, thủy chung, vượt được sóng gió, vì sức mạnh yêu thương và luôn phó thác vào Chúa. Giáo huấn xã hội của Giáo hội có lý khi coi gia đình là “cộng đồng yêu thương và liên đới, nơi duy nhất thích hợp để dạy dỗ và truyền đạt các giá trị văn hoá, đạo đức, xã hội, tâm linh và tôn giáo, rất cần cho các thành viên của gia đình và xã hội được phát triển và hạnh phúc.”[21]
Trích Bản tin Hiệp Thông / HĐGMVN, Số 99 (Tháng 3 & 4 năm 2017)
__________
[1] Tóm lược Học thuyết Xã hội của Giáo hội Công giáo (TLHTXHCG), số 212
[2] Tông huấn Familiaris consortio
[3] X. http://www.cgvdt.vn/cong-giao-viet-nam/xay-dung-gia-dinh-kito-giao_a4277
[4] X. Số 18, Thư chung HĐGMVN ngày 29.9.2001, tại https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/thu-chung-2001-cua-hoi-ong-giam-muc-viet-nam-de-ho-duoc-song-va-song-doi-dao-ga-10-10-17877
[5] Được sự hỗ trợ của UNICEF, Bộ trưởng, Chủ nhiệm UBDSGĐTE đã ra quyết định số 765/QĐ-DSGĐ ngày 20.12.2005 thành lập Ban chỉ đạo Điều tra Gia đình VN gồm đại diện UBDSGĐTE và các bộ ngành hữu quan (Ngày 6,11,2007 Bộ trưởng Bộ Văn hóa Thể thao Du lịch ra quyết định số 1243/QĐBVHTTDL kiện toàn Ban chỉ đạo nói trên) nhằm tổ chức toàn bộ các hoạt động chuẩn bị, nghiên cứu và điều tra gia đình VN, Tổng cục Thống kê là cơ quan chịu trách nhiệm tổ chức điều tra và định lượng ĐTGĐVN, Viện Gia đình và Giới là cơ quan chịu trách nhiệm thiết kế bảng câu hỏi điều tra.
[6] TLHTXHCG, số 212
[7] Có rất nhiều ‘đạo’ hay tôn giáo ở VN, nhưng chúng tôi muốn nói đến ‘các tôn giáo chân chính vì có giáo lý, có tổ chức rõ ràng như Thiên Chúa giáo (Công giáo, Tin Lành), Phật giáo, Cao Đài Hòa Hảo, Hồi giáo và ngay cả ‘Đạo thờ kính Ông Bà’. Suốt dòng lịch sử, các tôn giáo luôn bị ‘kẻ xấu lợi dụng vì mục đích chính trị’ làm nhiều người hiểu sai chân lý của đạo, IS hiện nay của đạo Hồi.v.v.
[8] Diễn từ tại Assisi, nhân ngày các đại diện tôn giáo cùng cầu nguyện cho hòa bình 27-11-2011
[9] x. Công giáo và Dân tộc, số 211, tr. 29 và 33
[10] TLHTXHCG, số 221
[11] Ib, số 217
[12] Ib, số 218
[13] Nguyên văn như sau: “Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sanh bị áp bức, là trái tim của một thế giới không có trái tim, cũng giống như nó là tinh thần của trạng thái không có tinh thần, tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân.” C.Mác, lời nói đầu của “Phê phán triết học pháp quyền của Heghen” 1843-1844, NXB Sự Thật Hà Nội, 1962, trang 5-7.
[14] Familiaris consortio, số 12, bản dịch của Lm Agostino Nguyễn Văn Dụ
[15] Định chế hôn nhân (institution du marriage) – định chế : những quy tắc, chuẩn mực mang tính ràng buộc.
[16] TLHTXHCG, số 215
[17] Ib, số 225
[18] Ib.
[19] Tế bào sống động của xã hội “cellute vitale de la société” – vitale : adj (lat:vitalis, de vita, vie) liên quan đến sự sống
[20] Ib, số 193
[21] Ib, số 238
2022
ĐTC Phanxicô tiếp Hội “Voir Ensemble”
ĐTC PHANXICÔ TIẾP HỘI “VOIR ENSEMBLE”
– Trong buổi tiếp các thành viên của Hội “Voir Ensemble – Cùng nhau nhìn thấy” của những người khiếm thị, dịp hành hương đến Roma, hôm thứ Bảy 19/02, Đức Thánh Cha trích đoạn Tin Mừng Gioan (Ga 9, 1- 41) thuật lại phép lạ Chúa chữa người bị mù từ thuở mới sinh, để nhấn mạnh ba điểm chính: Cái nhìn quan tâm của Chúa Giêsu đối với người mù; Chúa không dửng dưng trước đau khổ của anh mù; và người tín hữu phải là chứng nhân của ánh sáng.
Điểm đầu tiên: Cái nhìn quan tâm của Chúa Giêsu dành cho người mù. Khi đến hồ Silôê, Chúa thấy người mù. Các môn đệ cũng thấy anh nhưng dừng lại ở việc đặt ra những câu hỏi liên quan đến tội, bị Thiên Chúa phạt, tù nhân của một cái nhìn loại trừ. Trái lại, Chúa thấy trong anh một người anh em cần được giải thoát, được cứu độ.
ĐTC Phanxicô tiếp Hội “Voir Ensemble”
Đức Thánh Cha nhận xét: “Trong văn hóa thành kiến, Chúa Giêsu bác bỏ hoàn toàn cách nhìn này. Vì thế Người khẳng định: Không phải anh ta, cũng chẳng phải cha mẹ anh ta đã phạm tội, là nguyên nhân của bệnh tật. Đây là những lời giải thoát, đón nhận và cứu độ. Ngày nay, thật không may, người ta chỉ quen quan tâm đến vẻ bề ngoài. Nhưng Tin Mừng dạy chúng ta cần phải quan tâm đến những người bệnh, người yếu đuối. Bởi vì họ có thể là những người ở trung tâm cuộc gặp gỡ của Chúa Giêsu, Đấng mở ra sự sống và đức tin, xây dựng tương quan huynh đệ và liên đới”.
ĐTC Phanxicô tiếp Hội “Voir Ensemble”
Về điểm thứ hai, Đức Thánh Cha đề cập đến việc Chúa Giêsu chữa cho anh mù được sáng mắt với câu Tin Mừng “để công trình của Thiên Chúa được thực hiện nơi anh” (Ga 9, 3). Ngài nói rằng Chúa Giêsu không dửng dưng trước đau khổ của anh mù. Vì thế Chúa cũng mời gọi chúng ta hành động ngay lập tức, để xoa dịu, an ủi và chữa lành vết thương cho người bệnh.
Theo Đức Thánh Cha, ở đây có một sự nghịch lý: Anh mù gặp Chúa Giêsu, Đấng là Ánh Sáng thế gian, thì được sáng mắt; trong khi chúng ta gặp Chúa Giêsu, chúng ta vẫn bị mù, không có khả năng nhìn thấy. Để khắc phục điều này, cần phải nhìn thế giới và anh chị em với cái nhìn của Chúa Giêsu.
ĐTC Phanxicô tiếp Hội “Voir Ensemble”
Điểm sau cùng, Đức Thánh Cha nói: “Chúng ta không thể hài lòng vì được chiếu sáng, nhưng chúng ta phải là những chứng nhân của ánh sáng. Trong khi người Pharisêu khép mình trong các truyền thống và sự cứng nhắc, lên án người mù là ‘tội nhân’, thì anh mù với sự đơn sơ tuyên xưng ‘Tôi chỉ biết một điều: trước đây tôi bị mù mà nay tôi nhìn thấy được’, và anh trở thành chứng tá của Chúa Giêsu. Chúng ta cũng được mời gọi làm chứng cho Chúa Giêsu trong cuộc sống qua việc chào đón và tình huynh đệ dành cho người khác”.
Nguồn: vaticannews.va/vi/
