2022
Đức Phanxicô mở ra một con đường sống cho những người ly dị tái hôn
Đức Phanxicô mở ra một con đường sống cho những người ly dị tái hôn

Đức Phanxicô bày tỏ mong muốn đồng hành với những người ly dị tái hôn một cách mạnh mẽ hơn. Linh mục Dòng Tên Patrick Langue, huấn luyện viên, người tháp tùng giải thích cho trang Aleteia những thách thức của việc tháp tùng này.
Ngày 15 tháng 6, bộ Giáo dân, Gia đình và Đời sống ban hành hướng dẫn mục vụ đồng hành cho các cặp vợ chồng trẻ, nhân dịp này Đức Phanxicô bảy tỏ mong muốn có một tài liệu khác được soạn thảo “càng nhanh càng tốt” cung cấp các phương pháp mục vụ cụ thể để đồng hành với những người ly dị tái hôn. Ngài tuyên bố, Giáo hội muốn gần gũi với những cặp vợ chồng này “để họ không cảm thấy bị bỏ rơi và có thể tìm thấy nơi cộng đồng, họ có thể tìm được tình anh em, hợp tác và giúp đỡ họ trong phân định”.
Một mối quan tâm không phải gần đây, vì ngài đã phát triển ở chương VIII trong tông huấn Niềm vui của Tình yêu, Amoris Laetitia. Vấn đề đến với các bí tích, điều mà ngài không xem là một quy tắc chung, nhưng là kết quả của phân định theo từng trường hợp cụ thể, vẫn là một trở ngại với nhiều tín hữu. Sự phân biệt theo từng trường hợp này là gồm những gì? Đâu là các thách thức? Linh mục Dòng Tên Patrick Langue giáo phận Versailles, Paris trong nhiều năm ngài đã tháp tùng với những người ly dị tái hôn, ngài đào tạo các tháp tùng viên trên khắp nước Pháp. Tác giả của quyển sách Những người ly dị tái hôn: từ loại trừ đến hội nhập (Divorcés remariés: de l’exclusion à l’intégration, nxb. Fidélité) làm sáng tỏ “hành trình đồng hành và phân định” trong mục đích hướng dẫn những tín hữu này “nhận thức được vị trí của họ trước mặt Thiên Chúa” (Amoris Laetitia).
Aleteia: Một trong những mong muốn của giáo hoàng là đồng hành với người đã ly hôn tái hôn. Ngài đề cập đến vấn đề này trong tông huấn Amoris Laetitia sáu năm trước, và gần đây nhân dịp phát hành cẩm nang dành cho các cặp vợ chồng trẻ. Cha có nghĩ có một sự thiếu hỗ trợ mục vụ cho những người ly hôn tái hôn không?
Cha Patrick Langue: Chắc chắn là thiếu tháp tùng, vì ở Pháp, và chắc chắn cũng ở các nước khác, tòa giám mục hơi ngạc nhiên trong việc thực hiện tông huấn Amoris Laetitia, lý do đơn giản là có rất ít hoặc không có tháp tùng viên được đào tạo. Vì thiếu người tháp tùng được đào tạo nên việc kêu gọi người ly dị tái hôn được thực hiện rất ít! Do đó, bước đầu tiên là đào tạo tháp tùng viên. Công việc này đòi hỏi họ phải được đào tạo thêm so với cách tháp tùng cổ điển: tháp tùng viên phải học cách lắng nghe, giúp những người ly dị tái hôn đọc lại câu chuyện đời họ. Công việc này không tùy cơ ứng biến! Với kinh nghiệm, tôi nhận ra, chúng ta hiếm khi có thái độ đúng đắn ngay từ đầu: hoặc chúng ta quá lỏng lẻo và điều này không có lợi cho những người có một con đường thiêng liêng để theo, hoặc chúng ta quá cứng nhắc và do đó miễn cưỡng nghe câu chuyện cá nhân của họ. Ngoài ra, đây là tháp tùng trong một thời gian khá dài, đôi khi nhiều năm, để hiểu những gì đã xảy ra trong cuộc sống của họ và cho họ thời gian để đi theo con đường thiêng liêng.
Việc đến với các bí tích là một vấn đề tế nhị. Một mặt, Giáo lý Giáo hội công giáo cho rằng những người ly dị tái hôn ở trong tình trạng ngoại tình và do đó không thể đến với các bí tích, mặt khác, Đức Phanxicô đề cập đến “một số trường hợp nhất định” họ có thể tham dự vào đời sống bí tích. Là người tháp tùng, cha làm như thế nào để phân định?
Giáo luật có một phán xét bên ngoài mà không tính đến câu chuyện của từng người. Chính sự bế tắc này mà Đức Phanxicô đã đáp ứng với mức độ thông minh thiêng liêng cao cả. Giáo luật đóng cứng trong cùng một trạng huống, nạn nhân và thủ phạm, những người bị ly dị và những người chủ động. Theo giáo luật, họ bị đặt trên cùng một tầm mức, một phụ nữ bị chồng bay bướm bỏ rơi, để mặc bà lo cho bốn đứa con hoặc một phụ nữ quyến rũ một ông khác và bỏ con mình. Có điều gì đó không công bằng. Điều này không có nghĩa là không nên có giáo luật, nhưng phải có sự đón nhận của mọi người, không phải để phán xét mà để hiểu câu chuyện đời của họ. Chúa phán: “Anh em đừng xét đoán thì anh em sẽ không bị Thiên Chúa xét đoán” (Lc 6: 37). Đây không phải rơi vào tình trạng lỏng lẻo. Nhưng nó giúp phân định, trong từng trường hợp, vì mỗi người có một câu chuyện riêng của mình. Đó là mời người ly dị tái hôn lắng nghe Chúa Thánh Thần, nghe Lời Chúa, đọc lại câu chuyện đời mình, nhận ra tội lỗi và ân sủng trong đó, để khám phá xem mình có ở trong tình bằng hữu với Chúa hay không. Nhiều người đau khổ vì ở trong tình trạng phức tạp sau khi ly hôn và không thể quên nó được. Theo nghĩa này, Đức Phanxicô đã mở ra một con đường sống.
Làm thế nào để cha giúp họ tiến về phía trước trên hành trình thiêng liêng này? Và đâu là thách thức?
Dần dần trong các cuộc họp, thường là hàng tháng, tôi chứng kiến tiến trình của một phụ nữ ly hôn tái hôn và bà đã biến qua hành động: xin người chồng cũ tha thứ, thú nhận phần trách nhiệm của mình, bà được tha thứ, một lời của sự thật được nói với con cái, một đối thoại bình an giữa những người vợ/chồng cũ… Tôi cũng nhận thấy lời cầu nguyện cá nhân của họ ngày càng sốt sắng, một cam kết sống trong tinh thần bác ái rõ rệt hơn. Những người này nhận được ơn sủng lớn lao: một số cảm nhận được lòng thương xót của Chúa trong lời cầu nguyện, một số khác bắt đầu tiến trình tha thứ… Bằng chứng có Chúa ở đó và trong tình bằng hữu với họ!
Khi một ai sống trong tình bằng hữu sâu đậm với Chúa, thì có dấu hiệu của hoán cải ở đó.
Người tháp tùng ghi nhận tất cả các giai đoạn này và nhận ra ơn Chúa. Nhiều người trong số này có một tình yêu cho Chúa, trong khi có một số lớn tín hữu không có! Khi một ai sống trong tình bằng hữu sâu đậm với Chúa, có một đời sống cầu nguyện, bác ái thì ở đó có dấu hiệu của hoán cải. Lúc đó có thể hòa giải họ trong bí tích, để họ tìm thấy, “trong kín đáo” như Đức Phanxicô nói, chỗ đứng của mình trong Giáo hội và đến với bí tích. Sau đó, chúng ta sẽ nhận ra, thực sự ý Chúa là nuôi những ai đang đói và khát. Và sự tha thứ của Chúa sẽ cho phép bánh hằng sống sẽ được nhận trong kín đáo.
Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch
2022
“Ngày phải bỏ phiếu đến gần”: Tại Vatican, các hồng y phác thảo chân dung tân giáo hoàng
“Ngày phải bỏ phiếu đến gần”: Tại Vatican, các hồng y phác thảo chân dung tân giáo hoàng

Ngày thứ hai và thứ ba 29-30 tháng 8, các hồng y nghiên cứu tông hiến mới của Giáo triều tại Vatican. Họ tận dụng cuộc họp này để đưa ra chân dung tổng hợp giáo hoàng tương lai mà họ sẽ phải bầu vào một ngày không xa.
“Đây không phải là tiền mật nghị! Chúng tôi nghiên cứu tân tông hiến của Giáo triều” Khi bước ra khỏi phòng Thượng hội đồng ngày thứ hai 29 tháng 8, hồng y Joan Josep Omella, tổng giám mục Barcelona đã không giấu một chút bực tức trước các nhà báo hỏi ngài về tiến trình hội nghị diễn ra cách đây vài giờ. Những người tham dự: 197 hồng y trên thế giới, gần chín phần mười hồng y. Và Đức Phanxicô. Chủ đề trong ngày: nghiên cứu Tông hiến Anh em hãy rao giảng Tin Mừng Praedicate evangelium, tông hiến mới của Tòa thánh công bố vào tháng 3 vừa qua.
Ngày thứ hai và thứ ba 29-30 tháng 8, các hồng y chia thành nhóm theo ngôn ngữ, họ phân tích văn bản được chờ đợi từ gần mười năm nay. Đức Phanxicô xin họ “phát biểu tự do”. Và đó là những gì họ đã làm sau cuộc thảo luận, trước tiên là vai trò nổi bật của cải cách Giáo triều được giao cho giáo phận để truyền giáo, điều đã trở nên quan trọng hơn học thuyết về Đức tin mà cho đến nay đã đứng đầu trong các bộ.
Sau đó các hồng y thảo luận về mối liên hệ, mà một số hồng y cho là quan trọng, giữa việc là một linh mục và việc thực hành các trách nhiệm ở Giáo triều. Với vấn đề cơ bản này, vào thời điểm sắp bổ nhiệm ở Vatican: một người có trách nhiệm của Giáo triều có phải xem trách nhiệm của mình là trách nhiệm mục vụ được giao cho các linh mục, hay chỉ đơn thuần là quyền do giáo hoàng giao?
“Điều này sẽ không kéo dài lâu”
Hồng y Omera bực tức, nhưng giáo hoàng rất mạnh, Giáo hội phải vượt qua thách thức. Ngày mai đã không bao giờ được đề cập đến. Sự tự do trong tông điệu cũng là điều Đức Phanxicô mong muốn được thể hiện nơi chân dung phác họa của người kế vị ngài.
Hồng y Omella có lý khi ngài bực mình, chưa bao giờ người ta nói nhiều về một giáo hoàng phải làm gì cho Giáo hội để đương đầu với các thách thức của ngày mai như bây giờ. Một tự do rất lớn của tông giọng mà Đức Phanxicô mong muốn cũng được nhắc đến trong các hành lang để phác thảo chân dung người kế nhiệm ngài.
Một hồng y Phi châu sáng suốt nhận định: “Đức Phanxicô 85 tuổi và có sức khỏe tốt; ngài đã nghĩ chỉ làm giáo hoàng trong ba, bốn năm và bây giờ là chín năm. Như thế tình trạng này sẽ không kéo dài bao lâu nữa. Cũng lạ là chúng ta có giáo hoàng sắp đến tuổi chín mươi”.
Tất cả các hồng y được báo La Croix hỏi đều nhấn mạnh sự hữu ích của cuộc họp này để mọi người biết nhau, khi Đức Phanxicô đã không họp Hồng y đoàn từ bảy năm nay. Một hồng y Âu châu kể: “Khi bắt đầu triều giáo hoàng, Đức Phanxicô cho rằng việc họp công nghị là vô ích, ngài xem đây là những cuộc họp xa hoa. Theo lời khuyên của ngài, từ nhiều năm nay tôi đã không đến, nhưng cách đây vài tháng, tôi nhận ra tôi không biết ít nhất 60 hồng y!”
Vị giám chức này là một phần ba trong số các hồng y đã sống qua mật nghị, ngài biết rõ “ngày bỏ phiếu đã đến gần. Và như thế phải biết các hồng y khác.” Theo những người thân cận ngài, ngài đã làm một hồ sơ cho từng hồng y.
Giáo hội bị lay động
Để phác thảo một chân dung-robot của người kế vị Đức Phanxicô, cần tìm nơi giáo hoàng tương lai người có thể “giữ tay chèo trong thời xáo trộn”, “một người vững chãi” có thể theo được sự “sự lay động” Giáo hội và Giáo triều mà Đức Phanxicô đã điều hành, hồng y Âu châu này nói tiếp, ngài cho rằng cựu tổng giám mục Buenos Aires “đã làm rất tốt công việc này.”
Một trong những tiếng nói có ảnh hưởng của Hồng y đoàn nói: “Giáo hoàng tương lai sẽ đối phó được với thách thức thế tục hóa và số hóa, những điều đang làm lay chuyển thế giới và thúc giục chúng ta có một cái nhìn toàn diện về tình trạng nhân chủng học của chúng ta. Thách thức với Giáo hội ngày nay, nhất là trong bối cảnh thế tục hóa, là chạm vào trái tim con người, vào trái tim và tâm hồn của họ”, hồng y đến từ một đất nước mà đạo công giáo rất thiểu số.
Trao đổi với các hồng y trên khắp thế giới, đề cập đến sự đa dạng của các vấn đề mà Giáo hội công giáo đang đối diện ngày nay: thế tục hóa ở miền Bắc, đàn áp ở châu Á, tăng theo cấp số nhân ở châu Phi, v.v. Một hồng y khác quy chiếu về Thượng hội đồng về tương lai Giáo hội do Đức Phanxicô đưa ra tháng 10 năm 2021 điều tiết: “Có những mong chờ trên thế giới như chỗ đứng của phụ nữ và chủ nghĩa giáo quyền.”
Các chia rẽ “luôn là một phần của đời sống Giáo hội”
Một hồng y cũng nêu lên sự cần thiết phải nhấn mạnh vào sự hợp nhất của Giáo hội, vào thời điểm mà Giáo hội đang trải qua – chủ yếu là ở phương Tây – những chia rẽ về các chủ đề như người di cư, chỗ đứng của đạo đức sinh học hoặc phụng vụ. Theo hồng y gần với đường lối của Đức Phanxicô thì những “chia rẽ này không do giáo hoàng tạo ra”, một hồng y khác nhắc lại các chia rẽ “luôn là một phần của đời sống Giáo hội”.
Một số hồng y nhận xét, ngay cả các hồng y ở xa Rôma bây giờ cũng cảm nhận bầu khí bầu cử đặc trưng của giai đoạn cuối triều giáo hoàng. Một hồng y trong Hồng y đoàn Âu châu đề cập đến trong bài khảo luận của tác giả George Weigel: “Tổng giám mục Timothy Dolan, giáo phận New York đã gởi đến tất cả các hồng y quyển sách Giáo hoàng tiếp theo (The Next Pope) phác thảo hồ sơ về giáo hoàng tương lai mà Giáo hội cần.”
Một thành viên khác của Hồng y đoàn không sống ở Rôma cho biết ngài nhận điện thoại từ một trong các bạn của ngài hoặc một người khác, muốn chia sẻ chân dung của giáo hoàng tiềm năng trong tương lai. Người ta nói với tôi: “Anh nên bỏ phiếu cho người này, cho người kia. Tôi, tôi không nhất thiết phải biết họ, vì vậy tôi sẽ xem xét. Tôi thấy điều này rất thú vị.”
Sân khấu La Mã
Trong những giờ gần đây, khu phố Borgo xung quanh Vatican đã chứng kiến các sự kiện diễn ra trong các nhà hàng và kín đáo hơn là trong các căn hộ riêng để các hồng y trao đổi và làm quen nhau. Tối thứ sáu, một số hồng y châu Phi tụ tập tại trụ sở chính của Hội đồng Giám mục Châu Phi và Madagascar (SECAM) ở Rôma để cùng nhau cầu nguyện, suy ngẫm. Một cuộc họp chưa từng có, để bày tỏ mối lo của họ, đặc biệt là tình trạng khan hiếm các giáo sĩ châu Phi ở các vị trí lãnh đạo trong Tòa thánh.
Nhưng mật nghị sắp đến cũng là cơ hội để nhận thấy vai trò của “tính phổ quát”. Một người nói: “Với tư cách là hồng y, tôi nhận thấy sự cần thiết phải có kiến thức rộng nhất có thể về chương trình nghị sự của Giáo hội. Tôi có thể đến mật nghị và chọn tân giáo hoàng dựa trên những gì tôi biết ở quê nhà. Vì vậy, tôi xem vấn đề giáo xứ của tôi như vấn đề của toàn Giáo hội.”
Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch
2022
Kinh Ngợi khen Magnificat
Kinh Ngợi khen Magnificat
Một linh mục minh triết người Úc đã chia sẻ câu chuyện này trong một lớp học. Trong đời tôi, có những ngày mà mọi thứ, từ áp lực công việc, mệt mỏi, chán nản, lơ đãng, đờ đẫn làm cho tôi khó cầu nguyện. Nhưng dù thế nào đi nữa, mỗi ngày, tôi luôn cố tập trung, sốt sắng đọc ít nhất một kinh Lạy Cha.
Trong các sách Phúc âm, Chúa Giêsu để lại cho chúng ta kinh Lạy Cha. Đây là lời cầu nguyện quý báu nhất của người tín hữu kitô. Tuy nhiên, các Phúc âm còn để lại cho chúng ta một kinh cũng quý báu, một kinh ít được biết đến hay ít được đọc nhiều như kinh Lạy Cha. Đó là lời cầu nguyện của Đức Mẹ, mẹ Chúa Giêsu, kinh Magnificat. Theo tôi, sau kinh Lạy Cha, đây là kinh quý báu chúng ta có.
Phúc âm thánh Luca ghi lại: Đang mang thai Chúa Giêsu, Đức Mẹ đi thăm người chị họ là bà Elizabeth cũng đang mang thai Gioan Tẩy giả. Theo truyền thống kitô giáo, đây là câu chuyện “đi viếng”, và những gì toát ra từ hai phụ nữ này vượt quá những gì bề ngoài. Đây không chỉ là vui mừng bình thường của những phụ nữ mang thai. Được viết ra 80 năm sau khi sự kiện này xảy ra, kể chuyến đi viếng như một phản ảnh hậu phục sinh về tầm quan trọng biến đổi thế giới của hai người con mà hai phụ nữ này đang mang trong dạ. Cũng thế, những lời họ nói với nhau nói lên hiện thực hậu phục sinh. Và trong bối cảnh này, các Phúc âm đã để Đức Mẹ xướng lên lời kinh Magnificat. Và lời kinh đó là gì?
Là lời tạ ơn và chúc tụng Thiên Chúa vì đã ở bên người nghèo, người khiêm hạ, người thiếu đói, người bị áp bức trên đời, đã nâng họ lên và cho họ chiến thắng, còn những người quyền thế thì bị truất xuống và bị hạ nhục. Tuy nhiên, lời kinh của Đức Mẹ đều dùng thì quá khứ, như thể đó là một việc đã làm rồi, một hiện thực đã có trên thế gian này.
Như nhân vật hoạt hình Ziggy từng nhắc đến Chúa trong lời cầu nguyện, “Người nghèo vẫn đang bị hành hạ ở đây!” Và nhìn chung là như thế. Nhìn vào thế giới ngày nay, chúng ta thấy khoảng cách giữa giàu nghèo đang lớn rộng, hàng trăm triệu người đi ngủ bụng đói mỗi đêm, tham nhũng và tội ác diễn ra khắp nơi, người quyền thế dường như muốn gì được đó, chẳng hề bị gì. Chúng ta có gần trăm triệu người tị nạn chờ chực ở các biên giới, những phụ nữ và trẻ em vẫn đang là nạn nhân của bạo lực đủ loại khắp nơi. Tệ hơn nữa, mọi chuyện dường như ngày càng đi xuống chứ không đi lên. Vậy thì chuyện Chúa hạ những ai quyền thế và nâng cao người yếu thế, ban của cải đầy dư cho người nghèo và đuổi người giàu có về tay không, những chuyện đó chúng ta thấy ở đâu?
Chúng ta thấy nó trong sự phục sinh của Chúa Giêsu và viễn cảnh hy vọng chúng ta có được từ thực tế đó. Điều mà Đức Mẹ khẳng định trong kinh Magnificat là một sự thật thâm sâu, rằng chỉ có đức tin và đức cậy chúng ta mới có thể hiểu được rằng, dù hiện tại bất công, tham nhũng và bóc lột người nghèo dường như đang thống trị, nhưng sẽ có một ngày tận thế khi khối đá áp bức đó lăn khỏi mồ và người quyền thế sẽ bị lật đổ. Kinh Magnificat là lời kinh tối cùng của đức cậy, và là lời kinh tối cùng cho người nghèo.
Có lẽ do tuổi tác của tôi, có lẽ do tôi nản lòng khi mỗi đêm xem tin tức, hoặc có thể là do cả hai, nhưng khi thêm tuổi, (ngoài phép Thánh Thể), tôi càng thấy quý trọng hai lời kinh này, kinh Lạy Cha và kinh Magnificat. Như cha giáo dòng Thánh Âugutinô của tôi, bây giờ tôi đảm bảo, không một ngày nào tôi để áp lực, mệt mỏi, xao lãng hay lười biếng ngăn tôi chú tâm đọc hai kinh này, kinh Lạy Cha và kinh Magnificat.
Nhưng không phải khi nào cũng được như vậy. Trong nhiều năm, tôi thấy trong kinh Magnificat lòng tôn kính Đức Mẹ, mọi lời khẩn cầu và chúc tụng Đức Mẹ gom lại trong đó. Chuyện này không có gì sai vì Đức Mẹ là người mà hàng triệu triệu người, không phải chỉ người nghèo, hướng về khi cùng quẫn để được dẫn dắt, an ủi và cảm thông của một người mẹ. Không mấy người phê bình sự tốt đẹp của điều này, vì nó tạo nên một thuyết thần nghiệm về người nghèo và sự nghèo khó trong lòng.
Tuy nhiên, kinh Magnificat không hẳn là để tôn vinh cá nhân Đức Mẹ cho bằng để tôn vinh người nghèo. Trong kinh này, Đức Mẹ nói lên lời đáp trả tối hậu của Thiên Chúa trước sự bất lực và đàn áp người nghèo. Linh mục Henri Nouwen từng viết, xem tin tức buổi tối và thấy đau khổ trên thế giới có thể làm chúng ta cảm thấy nản lòng và bất lực. Nản lòng vì sự bất công chúng ta thấy, bất lực vì gần như chúng ta chẳng làm được gì.
Chúng ta có thể làm được gì đây? Chúng ta có thể đọc kinh Magnificat mỗi ngày để nói lên lời đáp trả tối hậu của Thiên Chúa trước sự bất lực của người nghèo.
J.B. Thái Hòa dịch
2022
Đức Thánh Cha Phanxicô: Gia đình bị tấn công, nhiều hệ tư tưởng tước đoạt giá trị con người
Đức Thánh Cha Phanxicô: Gia đình bị tấn công, nhiều hệ tư tưởng tước đoạt giá trị con người
Trong buổi tiếp kiến dành cho các tham dự viên Tổng tu nghị của Phong trào Tông đồ Schönstatt tại Đức, Đức Thánh Cha nêu ra những khủng hoảng của thời đại chúng ta, “hôn nhân gặp khủng hoảng, người trẻ bị cám dỗ, người già bị lãng quên, trẻ em chịu đau khổ” và ngài kêu gọi tìm ra những con đường mới và mở ra hy vọng cho những khủng hoảng này.
Phong trào Tông đồ Schönstatt là một phong trào Đức Mẹ, được thành lập năm 1914 tại Đức nhằm canh tân thiêng liêng trong Giáo hội Công giáo.
Nói với toàn thể Phong trào, Đức Thánh Cha ghi nhận những việc tốt đẹp Phong trào đã đóng góp cho Giáo hội và cho thế giới, đặc biệt trong việc đồng hành với các gia đình, và loan báo về vẻ đẹp của “Giao ước Tình yêu” mà Chúa đã thiết lập với dân của Người. Ngài nhấn mạnh: “Ngày nay có rất nhiều cuộc hôn nhân bị khủng hoảng, người trẻ bị cám dỗ, người già bị lãng quên, trẻ em chịu đau khổ. Anh chị em là những người mang thông điệp về hy vọng cho những tình huống đen tối mà mọi giai đoạn cuộc sống đều trải qua.”
Đức Thánh Cha đặc biệt lưu ý đến các hệ tư tưởng khác nhau đang làm xói mòn những nền tảng nâng đỡ nhân cách của con người và của toàn xã hội nói chung. Hơn nữa, khoảng cách thế hệ, sự hiểu biết lẫn nhau giữa người già và người trẻ ngày càng mờ nhạt. Trong khi đó, sự liên minh giữa các thế hệ mới có thể cứu được nhân loại, bởi vì bằng cách này, căn tính cá nhân và gia đình được gìn giữ. Hơn nữa, gia tài sự khôn ngoan, ý nghĩa của sự sống con người, cũng sẽ được truyền lại trong gia đình theo kế hoạch của Thiên Chúa.
Mẫu gương của Gia đình thánh Nazareth, đặc biệt là Mẹ Maria, về sự dịu dàng và yêu thương tận tuỵ sẽ giúp cho chúng ta có được động lực để trở thành những nhịp cầu của tình bác ái huynh đệ và đặc biệt liên đới với những người túng thiếu nhất.
Văn Yên, SJ
