2022
Bác Ái Vô Vị Lợi
31/10 Thứ Hai trong tuần thứ Ba Mươi-Nhất Mùa Quanh Năm
Pl 2:1-4; Tv 131:1,2,3; Lc 14:12-14
Bác Ái Vô Vị Lợi
Thánh sử Luca là một con người đặc biệt. Ngài được ban tặng danh hiệu là “ Văn sĩ ca tụng lòng nhân hậu của Đức Giêsu”. Đức Kitô dưới cây bút của ngài là một vị Tình Yêu giàu lòng thương xót, nhất là đối với những người tội lỗi, yếu đuối, bệnh tật và nghèo khổ. Trong giáo huấn của Đức Giêsu thánh sử cố ý làm nổi bật luật sống hằng ngày của người môn đệ và một trong luật sống đó là : biểu lộ đức ái đối với người đồng loại, kẻ bấc cùng trong xã hội là nội dung chính của bài Tin Mừng hôm nay.
Mở đầu câu 12, thánh sử giới thiệu đối tượng mà Đức Giêsu muốn nhắc họ về luật bác ái: “ Người nói với kẻ đã mời Người”. Có lẽ ông chủ làm tiệc đãi khách này rất lo sợ, khi thấy Chúa Giêsu dùng trường hợp của mình như một đề tài cho bài giảng của Ngài. Nhưng có lẽ Chúa cũng thầm cảm ơn ông đã cho Ngài cơ hội dạy dỗ dân chúng về luật bác ái : “ khi nào ông đãi khách ăn trưa hay ăn tối, đừng kêu bà con hoặc láng giềng giàu có…”. Vì sao Chúa Giêsu lại ngăn cản ông chủ việc này ? Đây là những người bạn thân thiết cùng sống, cùng khổ với ông. Đây là những bà con thân thuộc, anh em ruột thịt sát cánh với ông trong buồn vui. Đây là những người láng giềng giàu có đã cho ông vay mượn tiền bạc, lúa thóc, bánh rượu…
Vậy, bây giờ khó khăn lắm hay họa hiếm lắm ông mới tổ chức một bữa tiệc, mà lại không mời họ, coi sao được? Chúng ta nghe lý do mà Chúa Giêsu nêu ra “ kẻo họ mời lại ông và như thế ông đã được đáp lễ”. À, té ra là vậy. Có vay ,có trả. Một cuộc ngã giá song phương. Nay tôi, mai anh. Như thế, nếu ông mời họ. Họ sẽ mời lại ông. Ông không bị thiệt. Ông được đền bù xứng đáng, có khi còn có lợi hơn. Đó là một phần thưởng đã được trả lại ngay ở đời này, vậy đâu còn chỗ cho Thiên Chúa trả lại cho ông trong ngày sau hết nữa?
Và Chúa Giêsu dạy ông phải mời hạng người nào? Thánh sử dùng từ thật chính xác “trái lại” nghĩa là ngược lại điều thiên hạ vẫn thường làm Chúa muốn ông đừng theo họ. “ Hãy mời những người nghèo khó, tàn tật, què quặt, đui mù”. Chúa Giêsu yêu cầu ông mời những người mà có lẽ không có mặt trong buổi dự tiệc hôm ấy. Có lẽ những người này nằm ngoài danh sách ông tuyển chọn và có khi chẳng bao giờ ông nghĩ tới.
Vì sao Chúa Giêsu lại dạy là phải mời họ? Thưa “ vì họ không có gì đáp lễ”. Họ nghèo nàn, túng thiếu, ăn không no, mặc không ấm thì làm sao có tiền để trả lễ lại cho ông chủ. Bữa ăn hôm nay họ còn chưa có, thì làm sao họ có được những bữa tiệc thịnh soạn để thết đãi lại ông chủ đã mời họ ? Nhưng nếu ông làm như vậy “ mới thật có phúc vì ông được đáp lễ trong ngày kẻ lành sống lại”. Câu nói này như khẳng định những người lành sẽ được sống lại trong ngày sau hết, ngày mà Thiên Chúa đến viếng thăm dân Người cũng là ngày chung cuộc của thế giới.
Qua bài Tin Mừng chúng ta thấy nghịch lý của họ. Một nghịch lý mà bao người đời có lẽ không áp dụng hoặc chỉ áp dụng trong một vài trường hợp đặc biệt vì danh dự, vì muốn đền bù tội lỗi… Như chúng ta thấy nhiều “ đại gia” ngày nay dến thăm các trung tâm cô nhi, khuyết tật, dưỡng lão… Chúng ta không nghi ngờ hay xét đoán hành vi của người nào, nhưng thử hỏi mỗi người chúng ta có dám hi sinh, dấn thân mà trong lòng không vướng một tư lợi nào không ? Làm để được khen, được thưởng, để gây chú ý, để kiếm tình cảm của ai đó…
Tâm lý thường tình của con người vẫn là: “Có qua có lại, mới toại lòng nhau” hoặc “Ông đưa miếng giò, bà thò chai rượu”. Chúng ta kết bạn thân thiết với ai, chúng ta cũng muốn họ có một tâm tình như thế đối với chúng ta.
Nhưng Chúa Giêsu trong bài Tin Mừng hôm nay lại đưa ra một cái nhìn khác, đó là lòng bác ái vô vị lợi: “Khi ông đãi tiệc, thì đừng mời bạn bè, anh em, bà con, hoặc láng giềng giầu có… Nhưng hãy mời những người nghèo khó, tàn tật, què quặt, đui mù; họ không có gì trả lễ, và như thế ông mới thật có phúc, vì ông sẽ được trả công trong ngày các kẻ lành sống lại”.
Ở đây, Chúa Giêsu hướng lòng con người về đời sau. Ðang lúc dự tiệc cưới trên trần gian, Ngài đã liên tưởng đến bữa tiệc sẽ được hoàn tất trong vinh quang Nước Chúa, ở đó những người hèn kém được nâng lên và kẻ quyền thế bị hạ xuống; ở đó những người tàn tật, đui mù thực sự là những khách được mời dự tiệc của Chúa.
Gương bác ái vô vị lợi có thể tìm thấy trong chính đời sống của Chúa Giêsu. Ngài là hiện thân của tình yêu Thiên Chúa và tình yêu này được biểu lộ trong việc nhập thể. Ðây là tình yêu vô biên đến gặp con người ở tầm mức nhân loại, bởi vì khiêm nhường là một trong những bộ mặt của tình yêu. Chúa Giêsu đã xuống ngang tầm mức những kẻ nhỏ bé, yếu đuối; Ngài không tìm địa vị cao sang nổi bật, nhưng quan tâm đến những kẻ nghèo khó, bệnh tật, những kẻ bị xã hội ruồng bỏ.
Tình thương của Chúa Giêsu không đòi hỏi phải có đi có lại. Ngài đi tìm kẻ nghèo khổ để ban ơn, mà không làm cho họ mặc cảm hay nghĩ ngợi là mình chẳng có gì đền đáp. Ngài mời gọi tất cả, nhất là những người nghèo khó, vì chỉ có họ mới dễ dàng chấp nhận lời mời dự tiệc Thiên Chúa. Về mặt thiêng liêng, những người nghèo là những người không khoe khoang về kiến thức, đức hạnh, hay bất cứ ưu điểm nào của mình; họ ý thức thân phận của mình: nhận ơn huệ của Thiên Chúa mà không có gì để dâng lại; họ chỉ biết một điều là sẵn sàng đón nhận vì ý thức rằng Thiên Chúa là Ðấng tốt lành và đầy lòng thương xót. Và đó là điều Thiên Chúa chờ mong nơi họ.
Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta noi gương sống bác ái của Chúa. Ngài đã yêu thương chúng ta bằng một tình yêu bao la và nhưng không; do đó, chúng ta cũng có bổn phận phải cho đi một cách rộng rãi và vô vị lợi những ân huệ mà Ngài đã ban cho chúng ta. Ðược như thế chắc chắn chúng ta sẽ sống đẹp lòng Chúa và xứng đáng thông dự bàn tiệc vĩnh cửu trong Nước Chúa.
2022
Đổi đời
30/10 Chúa nhật Chúa Nhật thứ Ba Mươi-Nhất Mùa Quanh Năm
Kn 11:22-12; Tv 145:1-2,8-9,10-11,13-1421; Lc 19:1-10
Đổi đời
Thiên Chúa không những tế nhị, dịu dàng, và nhân từ như thầy Sengai mà Người còn khoan dung, tha thứ và yêu thương những con người tội lỗi.
Ông Giakêu là một trưởng ty thuế vụ thành Giêricô, một người giàu có vì lạm thu bất chính. Ông bị liệt vào số những kẻ tội lỗi, bị khai trừ và khinh bỉ. Chúa Giêsu không nhìn ông bằng con mắt ấy, Người ngước nhìn ông đang ngồi trên cây sung; một cái nhìn nhân từ như không thấy tội gì trong ông. Chính cái nhìn đầy chân tình và yêu thương ấy đã khiến ông nhìn lại chính mình và quyết tâm đổi mới.
Người nói với ông: “Này Giakêu, xuống mau đi, vì hôm nay tôi phải ở lại nhà ông!”. Hạnh phúc quá bất ngờ: Người không chỉ biết ông đang ở trên cây mà còn biết cả tên ông. Người không chỉ muốn đến thăm mà còn xin ở lại nhà ông. Ông chỉ có một ao ước nhỏ nhoi là được nhìn thấy Người, nhưng Người lại cho ông cả một ân huệ lớn lao vượt quá lòng ông mong ước. Ông chỉ muốn thấy kẻ đã chữa cho anh mù Báctimê là người thế nào, nhưng chính Đấng ấy lại chữa lành đôi mắt tâm hồn ông.
Từ lâu Giakêu hẳn thường nghe nói nhiều về Chúa Giêsu và ao ước được gặp gỡ với Người. Vì thế khi hay biết Người sắp đi qua nơi đó, Giakêu đã trèo lên một cây sung vì ông là một người thấp bé, và dân chúng thì lại đông đảo vây quanh Người. Thế rồi, Chúa Giêsu đã nhận ra ông, Ngài nói: Hỡi Giakêu hãy xuống mau vì hôm nay Ta muốn lưu lại tại nhà ngươi.
Giakêu là người thu thuế giàu có tại Giêricô. Và như chúng ta đã biết, dân chúng, nhất là những người đạo đức thường khinh bỉ những làm làm nghề thu thuế, nối giáo cho quân đội Rôma để bóc lột đồng bào của mình. Họ thường bị đồng hoá với những kẻ độc ác, bất công và tội lỗi, do đó bị loại trừ khỏi cộng đồng dân Chúa.
Ông Giakêu hẳn đã từng được nghe nói nhiều về Chúa Giêsu. Và quả thực lúc này Chúa Giêsu đã trở thành một nhân vật được đông đảo quần chúng biết đến, vì những lời Ngài giảng dạy và những việc Ngài làm, nhất là về lập trường và thái độ của Ngài. Tin Mừng kể lại: Rất đông người vây quanh Chúa Giêsu khiến cho ông Giakêu muốn được nhìn thấy Ngài nhưng không sao được, vì ông thấp bé. Nhưng ông không chịu thua. Ông chạy lên phía trước, đón đường Chúa và để chắc ăn, ông đã trèo lên một cây sung. Thái độ của Giakêu có thể là vì tò mò nhưng lại cũng là một điều thuận lợi để ông đi vào quan hệ với Chúa Giêsu.
Vâng, chính đôi mắt tâm hồn ông đã bừng sáng, để ông không chỉ thấy một con người bình thường trước mặt, nhưng còn thấy Người chính là Đấng ban ơn cứu độ, đầy lòng nhân từ và xót thương; để ông không chỉ thấy tiền bạc là tất cả nhưng còn thấy cần chia sẻ và trao ban. Ông đã quá vui mừng hứa với Chúa: “Thưa Ngài, này đây phân nửa tài sản của tôi, tôi cho người nghèo, và nếu tôi đã cưỡng đoạt của ai cái gì, tôi xin đến gấp bốn”. Và Chúa chỉ chờ có thế, để nói với mọi người: “Ơn cứu độ đã đến cho nhà này, bởi người này cũng là con cháu tổ phụ Abraham”. Thật vậy ở đâu có Chúa hiện diện là có ơn cứu độ, ở đâu có ơn cứu độ là có sự tha thứ. Ông Giakêu đã được thứ tha để được nhận lại làm con cái Abraham, con cái của lòng tin, con cái của Thiên Chúa.
Và chắc chắn, không ai có thể ngăn cản ông ngồi đồng bàn với Chúa, trong bữa tiệc hân hoan ngay sau đó. Chắc chắn, ông Giakêu không còn giàu có như trước nữa, nhưng ông sẽ hạnh phúc hơn nhiều. Chắc chắn thân xác ông vẫn lùn như xưa, nhưng tâm hồn ông đã cao thượng hơn gấp bội. Những người được Chúa “tìm đến và cứu chữa” bao giờ cũng trổi vượt trong nhân cách và kiên vững trong lòng tin.
Chúa Giêsu vẫn là người đi bước trước. Vừa thấy Giakêu, trước cả khi ông kịp nói lên một lời nào đó, Chúa Giêsu đã ngỏ lời với ông và trong lời ngỏ cùng Giakêu, Ngài đã dành cho ông một ân huệ lớn lao hơn cả điều ông có thể tưởng tượng ra. Ngài ngỏ ý muốn lưu lại tại nhà ông. Đó quả là điều ông không hề nghĩ tới. Ông phải là người hiểu rõ địa vị của ông hơn ai hết, vì ngay cả khi Ngài đến tại nhà ông, thì mọi người vẫn còn lẩm bẩm: Ông này lại đến trọ nhà một kẻ tội lỗi.
Nhưng điều bất ngờ lớn nhất đã xảy ra đó là cuộc viếng thăm của Chúa Giêsu đã hoàn toàn biến đổi con người ông. Cuộc viếng thăm ấy đã đánh dấu một khúc quanh trong cuộc đời một người thu thuế.
Trước cả khi Chúa Giêsu nói một lời nào về tội lỗi của ông, thì ông đã tự động đề ra biện pháp để sửa đổi những lầm lỗi ông đã phạm. Biện pháp đó gồm hai phần: Phần thứ nhất là bố thí cho kẻ khó, và ông bố thí tới nửa phần ba gia tài của ông. Ông làm việc bố thí này hoàn toàn vì lòng đại lượng. Phần thứ hai là đền bù cho những người ông đã gây thiệt hại. Ông sẵn sàng đền bù gấp bốn lần, nghĩa là vượt quá điều luật buộc của người Do Thái, nhưng lại phù hợp với hình phạt của luật Rôma dành cho tội ăn cắp tỏ tường. Ông Giakêu quả là đã có được một sự độ lượng.
Lời Chúa Giêsu kết thúc có một ý nghĩa đặc biệt. Trước hết đó là lời tuyên bố ơn cứu độ được ban cho nhà, nơi Chúa Giêsu lưu lại, dù đó là nhà của Giakêu, người thu thuế. Đồng thời đây cũng là lời đặt ông Giakêu vào lại vị trí của ông trong cộng đồng dân Chúa, trong dòng dõi Abraham. Và cuối cùng Ngài đã mạc khải cho chúng ta chân lý lạ lùng này, đó là Ngài đến tìm kiếm và cứu chữa những gì đã hư đi.
Giakêu đã được gặp Chúa và cuộc gặp gỡ này đã đổi mới cuộc đời ông. Trong sự đổi mới này, ông đã không chỉ trở lại với Chúa mà còn trở lại với anh em, với những người chung quanh, nhất là với những người ông đã làm thiệt hại. Liệu chúng ta đã thực sự gặp gỡ Chúa hay chưa, và nhất là chúng ta đã thực sự đổi mới cuộc đời chúng ta hay chưa.
Dù cuộc đời chúng ta có chồng chất tội lỗi, chúng ta đừng vội thất vọng, hãy ngước nhìn Chúa, hãy tìm gặp Ngài với lòng yêu mến chân thành, bởi vì lúc nào Ngài cũng mở rộng vòng tay chờ đón để tha thứ cho chúng ta.
2022
Bài Học Khiêm Nhường
29/10 Thứ Bảy trong tuần thứ Ba Mươi Mùa Quanh Năm
Pl 1:18-26; Tv 42:2,3,5; Lc 14:1,7-11
Bài Học Khiêm Nhường
Thời Chúa Giêsu cũng như thời nay biết bao người chưa hề một lần tự nhủ mình phải khiêm tốn, không nên kiêu căng tự mãn. Câu chuyện thánh Luca kể lại đã gồm tóm giáo lý của Chúa về sự khiêm nhường: Hễ ai nhấc mình lên sẽ bị hạ xuống, và ai hạ mình xuống sẽ được nhấc lên. Ngài đưa ra kết luận này nhân dịp đến dự một bữa tiệc tại nhà viên thủ lãnh các người Biệt phái khi thấy những người được mời chọn chỗ nhất. Các môn đệ của Chúa không được làm như thế nhưng phải học đến tận cùng mẫu gương khiêm nhượng thẳm sâu nơi Thầy mình. Thánh Phaolô trong thư Philipphê nói:
“Ngài, phận là phận của một vị Thiên Chúa nhưng Ngài đã không nghĩ phải giành cho được chức vị đồng hàng cùng Thiên Chúa. Song Ngài đã tự hủy mình ra không là lãnh lấy phận tôi đòi, trở thành giống hẳn người ta, đem thân đội lốt người phàm. Ngài đã tự hạ mình thấp hèn, trở thành vâng phục cho đến chết và là cái chết trên Thập Giá.”
Khiêm nhường trước hết hệ tại thái độ xác định vị trí khách quan của mình: tội lỗi trước Đấng Toàn Năng và Chí Thánh. Người khiêm nhường nhìn nhận rằng mọi sự mình có đều do lãnh nhận nơi Chúa, rằng mình là đầy tớ vô dụng, tự mình không là gì khác hơn là tội nhân. Nhưng kẻ khiêm nhường lại không thất vọng, ngã lòng, nhưng sẽ mở tâm hồn đón nhận ơn Chúa, đón nhận năng lực của ân sủng.
Tin Mừng hôm nay thuật lại rằng hôm đó Chúa Giêsu đến dùng bữa tại nhà một đầu mục nhóm Biệt phái. Nhận thấy ở đó có những thực khách háo hức chọn chỗ nhất, Chúa Giêsu liền nói với họ một dụ ngôn, trong đó Ngài mời gọi người ta hãy sống khiêm nhường bằng cách chọn lấy địa vị sau chót: khi anh được mời đi ăn cưới, anh đừng ngồi vào chỗ nhất, kẻo lỡ có nhân vật nào quan trọng cũng được mời… Trái lại, khi được mời, anh hãy ngồi vào chỗ cuối.
Xét bề ngoài, thì đây chỉ là một vấn đề lịch sự, bởi vì xếp chỗ ngồi là việc của chủ nhà, chứ không phải của người dự tiệc. Tuy nhiên, việc chọn chỗ cuối như thế phải được thực hiện một cách đơn sơ, tự nhiên, chứ nếu tìm chỗ cuối với hậu ý và hy vọng được mời lên chỗ cao hơn, thì đó là một sự khiêm nhường giả tạo, một sự kiêu ngạo tinh tế.
Lời khuyến cáo của Chúa Giêsu còn tiềm ẩn một ý nghĩa sâu sắc hơn. Ðối với Ngài, tiệc cưới tượng trưng cho Nước Thiên Chúa, trong đó kẻ nào nhắc mình lên sẽ bị hạ xuống, còn kẻ hạ mình xuống sẽ được nhắc lên. Vượt ngoài tầm đòi hỏi của xã giao, lời nói của Chúa làm cho con người đi xuống chiều sâu của khiêm nhường và tiến lên chiều cao của Nước Thiên Chúa. Nước Thiên Chúa là một vinh dự, một ân ban, mà chỉ những ai tự hạ và ý thức mình là hư vô mới có thể lãnh nhận. Còn kẻ tưởng mình cao trọng, chắc chắn không thể chiếm hữu Nước Thiên Chúa, và Thiên Chúa chống lại kẻ kiêu căng, nhưng ban ơn cho người khiêm nhường.
Dân Israel đã học hỏi sự khiêm nhường trước hết bằng kinh nghiệm về sự toàn năng của Chúa, Đấng cưú thoát họ. Họ giữ cho kinh nghiệm ấy được sống động bằng cách tưởng nhớ đến kỳ công của Thiên Chúa trong việc phụng tự của họ. Phụng tự đó là trường dạy khiêm nhường. Trong lúc ca tụng và tạ ơn Thiên Chúa, người Israel bắt chước gương vua Đavít khi nhảy múa trước hòm bia để tôn vinh Chúa… Rồi những nhục nhã, thất bại và lưu đày cũng cho họ ý thức về sự bất lực căn bản của con người.
Chính lúc chúng ta khiêm hạ và sống bác ái vô vị lợi, chúng ta đang “thêu dệt” công trình nhân cách chính mình trong cuộc sống hằng ngày. Hơn nữa, tinh thần đức tin của chúng ta đang vươn tới núi Sion Thành Thánh, nơi đại hội Giêrusalem của những người tin, đó là đại hội giữa các con đầu lòng của Thiên Chúa là những kẻ đã được ghi tên trên trời, như thư Do Thái phác họa (Dt 12, 18-19.22-24a).
Sách Huấn Ca cũng nhấn mạnh làm việc phục vụ yêu thương một cách khiêm tốn thì càng được yêu mến hơn: “Hỡi các con trai và con gái của ta, hãy thi hành công việc của các con một cách khiêm tốn thì các con sẽ được yêu mến hơn khi các con đem quà tặng cho kẻ khác” (Hc 3,17-18). Hơn nữa khiêm tốn giúp ta thực thi bác ái với một tâm hồn quảng đại không mong đáp trả như Chúa Giêsu đã kêu gọi (Lc 14, 12-13) đó là đức ái không tìm tư lợi mà thánh Phaolô khuyên người tín hữu (1Cr 13, 4).
Với lời mời gọi và gương sống tự hạ, khiêm nhường của Chúa từ lúc sinh ra cho đến lúc chết trên Thập giá, chúng ta hãy quyết đi vào con đường khiêm nhường bằng cách sống đúng với giới hạn của một thụ tạo nhỏ bé trước mặt Thiên Chúa vô biên, để nhờ đó Ngài sẽ là tất cả cho chúng ta.
Giáo huấn của Chúa Giêsu mang sứ điệp tinh thần khiêm tốn và cách thực thi sống bác ái quảng đại không vụ lợi, không mong được đáp trả như người đời thường nghĩ: “Có qua có lại mới toại lòng nhau”. Giáo huấn khiêm tốn và bác ái đó đã được thánh Phaolô nối tiếp khi chia sẻ với giáo hữu thành Ephêsô: “Anh em hãy ăn ở thật khiêm tốn, hiền từ và nhẫn nại; hãy lấy tình bác ái mà chịu đựng lẫn nhau” (Ep 4, 2). Trong thư gửi giáo đoàn Galat, vị Tông đồ còn nhấn mạnh các hoa trái sinh từ Thánh Linh trong đó có đức ái và sự khiêm tốn hiền hòa.
Để sống khiêm nhường đích thực, chúng ta hãy ngắm nhìn Chúa Giêsu Thánh Thể, Đấng đã hạ mình xuống làm tội nhân chịu treo trên Thập Giá, đối với người đời đây đã là địa vị quá thấp hèn, nhưng Chúa còn muốn ẩn thân dưới hình Bánh hình Rượu, bề ngoài bất động, hầu cho ta được thấy sự tiêu hao mình đi vì lợi ích của mọi người.
2022
Cộng tác và tiếp nối công trình cứu độ của Đức Kitô
28/10 Thứ Sáu
Thánh Simon và Jude, Tông Đồ
Pl 1:1-11; Tv 111:1-2,3-4,5-6; Lc 14:1-6
Cộng tác và tiếp nối công trình cứu độ của Đức Kitô
“Simon biệt danh là quá khích; Giuđa con ông Giacôbê” ( Lc 6,15-19).
Hai vị thánh này luôn đứng bên nhau trong danh sách 12 Tông Đồ. Simon là một con người nhiệt thành, không quãng sự khó nhọc và hăng say. Chúa Giêsu đã biến đổi ông từ một người nhiệt thành với nước Israel trần thế, thành một vị Tông Đồ nhiệt thành với Nước Trời. Giuđa còn gọi là Tađêô. Ông được gọi là Giuđa trung kiên, vì ông đã trung kiên với Chúa cho đến hơi thở cuối cùng. Noi gương hai vị thánh Tông đồ, chúng ta cũng phải trở nên những dụng cụ đắc lực cho Hội Thánh và tích cực siêng năng trong bổn phận của người tín hữu.
Thánh Matthêu và Thánh Máccô gọi Thánh Giuđa là Tađêô – vì trùng tên với Giuđa ở Iscariốt, nên Thánh Giuđa được gọi là Tađêô cho khỏi lộn. Phúc âm không đề cập riêng mà chỉ đề cập chung hai vị này trong 4 danh sách các tông đồ. Các học giả cho rằng Thánh Giuđa không là tác giả của Thư Giuđa.
Thánh Giuđa có biệt danh là “nhiệt thành” (Zealot). Thực ra Zealot là một nhóm quá khích, đó là một giáo phái Do Thái đại diện cho chủ nghĩa ái quốc cuồng nhiệt của người Do Thái. Với họ, lời hứa trong Cựu ước nghĩa là người Do Thái sẽ được giải phóng và độc lập.
Thiên Chúa là Vua của họ, và việc nộp thuế cho đế quốc La Mã là điều phỉ báng Thiên Chúa. Chắc chắn một số người quá khích là những người thừa kế của Macabê, thực hiện lý tưởng tôn giáo và độc lập. Nhưng nhiều người là bản sao của những kẻ khủng bố thời hiện đại. Họ tấn công và giết người, tấn công cả người hợp tác là ngoại bang. Trách nhiệm của họ là nổi loạn chống đế quốc La Mã, kết thúc bằng việc phá hủy Đền thờ Giêrusalem vào năm 70.
Có thể hai Thánh Simon và Giuđa đã rao giảng Tin Mừng ở Mesopotamia và Persia (Ba Tư), thực sự chúng ta không có gì chắc chắn hơn ngoài thông tin từ Tân ước cho biết nhị vị này là Tông đồ của Chúa Giêsu.
Tin Mừng hôm nay tường thuật chuyện Chúa Giêsu lên núi cầu nguyện suốt đêm với Chúa Cha , sau đó Ngài xuống núi chọn gọi mười hai vị Tông Đồ cùng đi theo để loan báo Tin Mừng Nước Trời. Có đông đảo dân chúng đến nghe Ngài giảng dạy và nhiều bệnh nhân được ơn chữa lành.
Ngài không tuyển những người có thế giá, nổi nang, học thức, mà lại gọi những ngư phủ tầm thường ít học, tính khí khác nhau. Hầu hết họ là những người nhút nhát, sau này chạy bỏ Thầy trong cuộc thương khó. Matthêu là hàng thu thuế tội lỗi công khai. Có những người nóng tính được mệnh danh là “con của thiên lôi”. Phêrô chối Thầy, người thì ngày sau bán Thầy như Giuđa Iscariô. Nhưng họ lại là “những kẻ Người muốn.” Đường lối của Chúa thì khác xa với đường lối của con người. Cách huấn luyện của Đức Giêsu là cho họ được ở với Thầy, tập suy nghĩ, ăn nói, cư xử, hành động như Thầy trực tiếp trong cuộc sống. Ở với Thầy có cơ hội để Thầy quan sát, nhắc nhở, sửa sai, tập tành, rèn luyện thành người môn đệ đích thực, làm nền tảng lưu truyền Tin Mừng cho khắp thế gian sau này.
Mở đầu cho sứ mạng đặc biệt ấy, “Chúa Giêsu, Người đã thức suốt đêm cầu nguyện cùng Thiên Chúa”. Rồi Người “kêu các môn đệ lại, chọn lấy mười hai ông và gọi là Tông Đồ”. Ở đây Chúa dạy ta “cầu nguyện” là việc cần trước hết. Từ khi xuất thân giảng đạo đã có nhiều người theo Chúa. Tin Mừng nhắc đến “bảy mươi hai môn đệ” (Lc10,17).
Trong số nhiệt thành ấy, hôm nay Chúa chọn mười hai ông. Các ông đi bên Chúa mà học hỏi, chia sẻ vui buồn, trợ giúp Chúa, được sai đi để tiếp nối sứ mạng của Người.
12 Tông Đồ đại diện cho 12 tổ phụ Israel. Các sách đều viết: Đứng đầu là Phêrô, cuối cùng là Giuđa phản bội.
– Lớp 1: Bốn vị tiên khởi: Phêrô, Anrê, Giacôbê, Gioan.
– Lớp 2: Đứng đầu Philipphê, Batôlômêô, Matthêu, Tôma.
– Lớp 3: Giacôbê hậu, Simon, Giuđa, Giuđa phản bội.
Các vị hôm nay được “Đức Giêsu đi xuống cùng với các ông”. Chúa như tập duyệt, cho các ông chứng kiến và hiệp thông vào quyền năng của Người: “Tại đó đông đảo môn đệ của Người và đoàn lũ khắp nơi… đến để nghe Người giảng và để được chữa lành bệnh tật”.
Ba năm bên Chúa, được hưởng sung mãn tình yêu của Người rồi trở nên yêu Chúa hết tình, yêu người tha thiết. Các ông, con người hiền lành, chất phác, mỗi người một tính, một nết, một khả năng riêng. Nhưng cùng một niềm tin, hết lòng hết sức với sứ mệnh Chúa trao cho đến chết, hầu làm chứng Chúa Giêsu đã chết và sống lại mà cứu chuộc nhân loại.
Và khi chọn các ông, Chúa Giê-su muốn họ chu toàn một cuộc sống gồm hai nhịp: ở lại với Chúa và ra đi loan báo Tin Mừng. Các động từ “ở lại”, “ở trong,” “đi theo” được các thánh sử dùng nhiều lần để diễn tả mối hiệp thông phải có của các Tông Đồ đối với Chúa Giê-su như mối thông hiệp Ngài có với Chúa Cha, Đấng đã sai Ngài, sự hiệp thông cần thiết đến mức trở nên ưu tiên trong các hoạt động của Ngài. Mặt khác, “tông đồ” nghĩa là “người được sai đi”, tham dự vào sứ mạng cứu độ của Chúa Giê-su. Ở lại với Chúa và ra đi loan báo Tin Mừng là hai nhịp của trái tim Tông Đồ, cần thiết và không thể tách rời nhau.
Sau ngày Chúa về trời, mỗi ông một phương, âm thầm mà quyết liệt loan báo Lời Chúa. Các ông vui tươi, hăng say, chẳng có gì làm các ông chùn bước vì có Chúa trong lòng. Các ông rao giảng, lam lũ, viết sách, viết thư nài nỉ mọi người hãy yêu mến Thiên Chúa và thực thi lời Người.
