2023
Cuộc Cách mạng Phanxicô: Hơn 10 năm qua, giáo hoàng đã phục hồi quyền lực thực sự của Giáo hội
Đức Phanxicô gặp các hồng y từ khắp nơi trên thế giới ngày 30 tháng 8 năm 2022 tại Vatican để suy tư về tông huấn Anh em hãy rao giảng Tin Mừng, Praedicate evangelium nhằm cải cách Giáo triều Rôma. (Ảnh CNS/Vatican Media)
Con đường đã vạch sẵn từ lúc đầu, nhưng sau 10 năm nhìn lại, chúng ta thấy rõ hơn: Đức Phanxicô đã đi tìm một sự biến đổi đời sống và văn hóa nội bộ cho Giáo hội công giáo, mà trọng tâm trong đó là sự chuyển hoán quyền lực.
Trong bài giảng ngày nhậm chức 17 tháng 3 năm 2013, ngài xin chúng ta đừng bao giờ quên sức mạnh thực sự là phục vụ. Lúc đó, ngài đang nói đến thẩm quyền được giao cho ngài với tư cách là giáo hoàng: được truyền cảm hứng từ “sự phục vụ khiêm nhường, cụ thể và trung thành” của Thánh Giuse, để bảo vệ người nghèo và chăm sóc tạo vật. Và ngài đã dành cả mười năm qua để giảng dạy và tạo điều kiện, tất cả thẩm quyền thực sự trong Giáo hội là sự tham dự vào cùng một thẩm quyền thiêng liêng này. Từ Rôma, qua giám mục đoàn, và mở rộng qua các thượng hội đồng, đến toàn Giáo hội, việc phục hồi thẩm quyền lực này là dấu hiệu cải cách của ngài. Và hoa quả của nó đã thấy được.
Cách đây không lâu Vatican nổi tiếng về cung cách kẻ cả với chủ nghĩa tập trung và độc đoán thì giờ đây đã có bầu khí phục vụ và tự do. Giờ đã không còn kiểu đường hướng chỉ thị liên tục được ban hành mà không có sự tham gia của các bên; một vài chỉ thị Vatican ban hành trong những ngày này tuân theo tinh thần tham vấn sâu đậm và kiên nhẫn. Rôma không còn dùng những lời tố cáo ẩn danh (“delations”) để kỷ luật các giám mục, và cũng khó để nhớ lại có trường hợp nào trong mười năm qua mà quan điểm chính thống của một thần học gia bị đưa ra xét xử.
Cách đây không lâu Vatican nổi tiếng về cung cách kẻ cả với chủ nghĩa tập trung và độc đoán thì giờ đây đã có bầu khí phục vụ và tự do.
Các giám mục của các Giáo hội địa phương trong các chuyến đi ad limina của họ bây giờ ngạc nhiên thấy mình không còn bị đối xử như cấp dưới nữa. Các giám chức nhìn thẳng vào mắt các giám mục đến thăm, lắng nghe và giúp đỡ họ. Chương 1 trong tông huấn Anh em hãy rao giảng Tin Mừng, Praedicate evangelium được ban hành năm ngoái, nói rõ, Giáo triều “không đặt mình giữa giáo hoàng và các giám mục, nhưng phục vụ cho cả hai,” tạo điều kiện thuận lợi cho việc trao đổi các ơn giữa các Giáo hội địa phương.
Giáo triều la-mã không còn đóng vai trò ngăn chặn và kiểm soát việc đến gần giáo hoàng, và nạn tham nhũng đi kèm với vai trò gác cổng này đã vào quá khứ. Các thư ký đầy quyền lực của giáo hoàng cũng đã ra đi. Dưới thời Đức Gioan Phaolô II, các cơ quan Rôma đại diện cho một triệu nam nữ tu sĩ trên thế giới bị Vatican nghi ngờ, đã bị từ chối gặp giáo hoàng trong hơn 10 năm. Bây giờ, các cuộc gặp gỡ của Đức Phanxicô với hai tổ chức quốc tế đại diện cho các nữ tu và nam tu (tương ứng là U.S.G và U.I.S.G.) diễn ra thường xuyên nên họ cũng chẳng buồn đưa ra bình luận nào.
Guồng máy quản trị của giáo hoàng bây giờ không còn điều khiển từ xa và phi nhân hóa mà là “đồng nghị” – nghĩa là hợp tác với giám mục đoàn bằng các phương tiện tham vấn thường xuyên và trao đổi tự do. Thượng hội đồng giám mục không còn được quản lý bởi Giáo triều để ngăn chặn thảo luận cởi mở và kiểm duyệt chất vấn nhưng đã trở thành một cơ chế phân định đích thực. Năm 1999 khi hồng y Carlo Maria Martini kêu gọi “một công cụ phổ quát và có thẩm quyền hơn” để giải quyết các vấn đề học thuyết và mục vụ gai góc, “trong việc thực thi đầy đủ tính đồng nghị trong hàng giám mục,” giờ đây rõ ràng được tái sinh ở các thượng hội đồng trong thập kỷ qua, Đức Phanxicô thành lập cũng chỉ để thực hiện điều này.
Các cấu trúc và quản trị của Giáo hội hoàn vũ bây giờ phản ánh tốt hơn điều mà Đức Phanxicô gọi là “phong cách của Thiên Chúa”: ân cần, tử tế và gần gũi. Như ngài đã nói trong thánh lễ nhậm chức: “chăm sóc, bảo vệ, điều này đòi hỏi lòng tốt; chúng đòi hỏi một sự dịu dàng nào đó.” Sẽ là một sai lầm nghiêm trọng của những người chỉ trích ngài khi xem loại quyền lực dễ bị tổn thương này là yếu đuối hoặc mất can đảm. Đó là dấu hiệu cho thấy sức mạnh thực sự của Giáo hội không dựa vào quyền lực, potestas nhưng dựa vào thừa tác vụ của quyền năng thiêng liêng.
Các cấu trúc và quản trị của Giáo hội hoàn vũ bây giờ phản ánh tốt hơn điều mà Đức Phanxicô gọi là “phong cách của Thiên Chúa”: ân cần, tử tế và gần gũi.
Những thay đổi này và nhiều thay đổi khác không chỉ báo hiệu một cuộc cải cách quản trị mà còn là một thay đổi trong cơ quan: từ niềm tin nửa vời vào sức mạnh của luật pháp kiểu lạc giáo pêlagiô nửa vời, không tin vào ơn Chúa sang niềm tin mới vào sức mạnh của Chúa Thánh Thần. Sự hiệp nhất không còn bị áp đặt qua sự ép buộc phải đồng nhất, nhưng là ơn xuất phát từ sự hiệp thông, được làm sống động bởi văn hóa hỗ tương và lắng nghe lẫn nhau. (Khi các hành vi pháp lý là cần thiết – quy định của Đức Phanxicô năm 2020 về Thánh lễ Latinh Truyền thống xuất hiện trong tâm trí – thì đó là đặt ra các ranh giới bảo vệ nền văn hóa đó.) Đức Phanxicô trong tông huấn “Praedicate Evangelium” đã nói rõ rằng cuộc cải cách là để phục hồi “kinh nghiệm về sự hiệp thông truyền giáo được các Tông đồ trải nghiệm với Chúa khi Ngài khi còn ở thế gian, và sau Lễ Hiện Xuống, trong cộng đoàn đầu tiên của Giêrusalem dưới tác động của Chúa Thánh Thần.”
Một hiến pháp mới cho Giáo phận Rôma – mà giáo hoàng trong cương vị giám mục là người trực tiếp cai quản – cho thấy một cái nhìn thoáng qua về ý nghĩa cụ thể của điều này trong giáo hội địa phương. Trong “Giáo hội Hiệp thông” – Ecclesiarium Communione – được công bố vào đầu tháng 1, nói về cuộc hoán cải truyền giáo theo phong cách người Samaritanô nhân hậu để giúp Giáo hội thực hiện tốt hơn lòng thương xót và bác ái của Thiên Chúa, đòi hỏi một cuộc hoán cải đồng nghị liên quan đến sự tham gia tích cực của tất cả các người đã được rửa tội. Đổi lại, điều này đòi hỏi một loạt các cơ quan tham vấn ở tất cả các cấp, mỗi giáo xứ có một hội đồng mục vụ, và càng có nhiều giáo dân tham gia vào các quá trình đưa ra quyết định liên quan đến các quá trình phân định càng tốt.
Sự hiệp nhất không còn bị áp đặt qua sự ép buộc phải đồng nhất, nhưng là ơn xuất phát từ sự hiệp thông, được làm sống động bởi văn hóa hỗ tương và lắng nghe lẫn nhau.
Chính để giúp Giáo hội sống ngày càng mạnh dưới tác động của Thần Khí nên tháng 10 năm 2021 Đức Phanxicô đã triệu tập Thượng hội đồng hiệp hành toàn cầu kéo dài ba năm. Ngay cả bây giờ, ở nửa chặng đường, rõ ràng là trải nghiệm lắng nghe lẫn nhau sâu sắc đã biến đổi nhiều người tham gia, đánh thức ước muốn nơi các tín hữu về trách nhiệm và tham gia nhiều hơn vào đời sống và sứ mệnh của Giáo hội. Việc phi giáo quyền hóa quyền lực, theo cách mà tinh thần lãnh đạo và thừa tác vụ trong Giáo hội có thể bắt nguồn tốt hơn từ các đặc sủng, đã được tiến hành ở Vatican, nơi giáo dân, cũng như các nữ tu, đang nắm giữ các vai trò điều hành quan trọng.
Bằng cách bắt nguồn từ thẩm quyền trong việc chăm chú lắng nghe Thần Khí được tỏ lộ trong đức tin sống động của những người bình thường, thượng hội đồng đang thể hiện điều mà Thánh John Henry Newman gọi là “sự cùng thở của các tín hữu và các mục tử,” một điều cho phép Thần Khí thực sự hướng dẫn Giáo hội. Một ý nghĩ nổi bật là, bất cứ khi nào mật nghị tiếp theo diễn ra, các hồng y sẽ bầu chọn giáo hoàng tiếp theo, biết rằng, qua cuộc họp dân Chúa chưa từng có này, Thánh Linh đã nói với Giáo hội trong thời đại chúng ta.
Một trong những dấu hiệu cho thấy quá trình chuyển đổi đang diễn ra là sự phản kháng ngày càng gay gắt tạo ra. Sự phản đối đối Đức Phanxicô trong suốt triều giáo hoàng của ngài đã trở nên gay gắt và dữ dội nhất, chính xác là trong cuộc cải cách quyền lực và quản trị của ngài, và đặc biệt là trong và xung quanh các thượng hội đồng. Có một ý chí mới trong Giáo hội công giáo theo mô hình bởi Đức Phanxicô, để giải quyết những bất đồng trong căng thẳng đã có kết quả, để cho Chúa Thánh Thần hướng dẫn những con đường mới vượt qua những chia rẽ. Cách tiến hành này làm cho những người đang tìm kiếm sự chắc chắn đích thực của một quá khứ tưởng tượng tức giận và sợ hãi. Họ phải được lắng nghe một cách tôn trọng và đánh giá cao nỗi sợ hãi của họ. Nhưng như Đức Phanxicô hiểu, Giáo hội chỉ có thể truyền giáo cho thế giới ngày nay bằng cách sử dụng “phong cách của Chúa” nếu phương tiện này không làm suy yếu thông điệp. Thẩm quyền thực sự của Giáo hội nằm ở chỗ được chia sẻ quyền năng của Chúa, quyền năng này luôn được thể hiện qua phục vụ khiêm tốn. Đó là một trong những thành tựu lớn nhất của Đức Phanxicô mà sau 10 năm, chúng ta không chỉ có thể hiểu được điều này mà còn có thể nhìn thấy nó trong hành động.
Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch
2023
Nguồn nước đời đời
12.3. Chúa Nhật
Chúa Nhật thứ Ba Mùa Chay
Xh 17:3-7; Tv 95:1-2,6-7,8-9; Rm 5:1-2,5-8; Ga 4:5-42; Ga 4:5-15,19-26,39,40-42
Nguồn nước đời đời
Mùa Chay cho chúng ta một cơ hội quý báu để nhìn lại chính mình: Có những an toàn giả tạo mà chúng ta cứ khư khư giữ lấy, không chịu vất bỏ trên con đường lữ hành. Mùa Chay nhắc nhở chúng ta rằng: muốn sống tốt, cần phải duyệt xét lại đời mình. Để Mùa Chay này tràn đầy ơn phúc, giúp chúng ta trở thành những người dễ thương, quảng đại và chân thực, chúng ta phải chết đi cho những lối sống trần tục, bằng cách hi sinh và từ bỏ chính mình, để có một cuộc hoán cải thực sự như người đàn bà Samaria mà Tin Mừng hôm nay thuật lại cho chúng ta. Muốn trở về thật sự cần phải có ơn Chúa giúp, chúng ta sẽ kín múc ơn thánh ấy nơi bàn tiệc Thánh Thể.
Tin Mừng hôm nay mô tả cuộc gặp gỡ của Chúa bên bờ giếng Giacóp với thiếu phụ Samaria. “Khi ấy, Ngài tới một thành gọi là Sykar thuộc xứ Samaria… ở đó có giếng của Giacóp, Chúa Giêsu đi đường mệt, nên ngồi nghĩ trên miệng giếng” giữa trưa hè. Chắc là Chúa ngồi sát mặt đất, lưng tựa vào bờ thành giếng. Ngài ngồi đó mệt mỏi, sau một khoảng đường dài qua xứ Samaria.
Ngài ngồi đó để chờ đợi. Ngài biết muốn gặp gỡ đàn ông thì ra phố chợ, muốn gặp gỡ đàn bà thì ra bờ giếng. Ngài ngồi đó để đón chờ chúng ta, vừa mệt vừa đói. Trời đã về trưa, nắng, nóng. Ngài ngồi đó để chờ một người đàn bà mà cuộc đời có nhiều sóng gió, đang ỏn ẻn đầu đội vò, tay xách gầu đi ra.
Cuộc gặp gỡ tương tợ như những lần gặp gỡ do Thánh Kinh kể lại giữa Giacóp và Rachel (Stk 29), giữa Moisê và các con gái của Rơuel-Yêthrô (Xh 2. 15-22) bên một suối nước. Chúa nói: “Xin bà cho tôi uống nước”. Ngài khát. Nhưng khát gì?
Lời nói của Chúa hàm chỉ hai ý nghĩa. Ngài khát sau những giờ cuốc bộ dưới nắng hè, nhưng Ngài khát khao cứu các linh hồn đang cần một thứ nước thiêng liêng cao trọng hơn.
Cuộc đối thoại giữa Chúa và người đàn bà kênh kiệu bắt đầu. Từ bối cảnh một giếng nước sâu đến thảm trạng một tâm hồn ngụp lặn trong tội lỗi, Chúa Giêsu đã khơi lên một giếng nước hằng sống “mà ai uống thì không bao giờ còn khát nữa”.
Mỗi ngày, thiếu phụ Samaria phải ra giếng kín nước. Nhưng càng uống lại càng khát cũng như càng đi sâu vào biển tình càng thấy thiếu thốn. Đời của bà là một chuỗi thất bại. Chúa đưa bà đến chỗ phải thú nhận. Tuy nhiên bà vẫn còn tin cậy và tìm kiếm, vẫn mong chờ Đấng Messia đến, “Ngài sẽ loan báo hết mọi sự”.
Và giòng nước đã vọt lên: “Hỡi bà, Đấng ấy chính là Ta, Người đang nói với bà đây”. Thiếu phụ đã cầu được ước thấy, được rửa sạch. Giòng nước Ngài ban “trở thành mạch nước vọt đến sự sống đời đời”.
Thiếu phụ Samaria không còn nghĩ đến giếng, đến vòi, vội chạy về thành báo tin cho mọi người biết để họ cùng nhìn nhận Ngài là Đấng Cứu Thế.
Gioan qua từng giai đoạn đã mạc khải cho chúng ta mầu nhiệm Chúa Giêsu. Ngài là một người tha hương mỏi mệt, một người Do thái bị khinh chê, một nhà tiên tri đọc được trong tâm hồn, là Đấng Messia đến để dạy cách thờ phượng trong tinh thần và chân lý, là Đấng Cứu chuộc của nhân loại. Đó là tóm lược bài Tin Mừng của Chúa ngày hôm nay.
Ta thấy Chúa Giêsu cũng đang chờ đợi người thiếu phụ Samari bên bờ giếng của Tổ phục Giacob giữa ngã ba đường, tại làng Sikar. Từ một lời xin được nước uống, Chúa Giêsu đã khéo léo bắt chuyện và dần dần đưa người thiếu phụ từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác: từ chỗ chỉ thấy người đối thoại với mình là một người lữ hành, một người Do Thái kỳ lạ, dám tiếp xúc với một người phụ nữ Samari vốn thù nghịch với mình, đến chỗ coi người lữ hành nầy như một tổ phụ – như Tổ phụ Giacod – còn hơn nữa, như một tiên tri và cuối cùng nhận ra Ngài là Đấng Cứu Thế đã được trông đợi từ lâu. Chị liền vội vàng chạy đi thông báo cho dân thành đến với Đấng Cứu Thế. Chính ngài sẽ ban cho chúng ta “Nước hằng sống”. Bao lâu chưa tìm ra nguồn nước đó, con người sẽ chết đói, chết khát.
Cuộc hẹn bất ngờ đã làm đảo ngược tình huống: Bây giờ người đói, người khát không phải là Chúa Giêsu nữa mà chính là người thiếu phụ Samari. Chính chị là người phải mở miệng xin Chúa cho nước uống, không phải thứ nước từ trong giếng kia, uống vào chỉ đỡ khát trong chốc lát; còn Ngài, Ngài sẽ ban cho thứ nước ban sự sống đời đời, như Ngài nói: “Ai uống nước Tôi cho, sẽ không bao giờ khát nữa. Và nước Tôi cho sẽ trở thành nơi người ấy một mạch nước chảy vọt mang lại sự sống đời đời”.
Qua cuộc gặp gỡ này, Chúa Giêsu đã làm một cuộc cách mạng. Cách mạng về khoảng cách địa lý, về vai vế để đi đến một cuộc cách mạng vĩ đại, đó là cách mạng tâm hồn. Nhờ cuộc cách mạng tâm hồn này, mà từ nay, giữa người Dothái và người Samari được sống và sống dồi dào khi thờ phượng Chúa không chỉ ở trên núi này hay núi nọ, mà ngay tại trong tâm của mình qua Thần Khí và sự thật.
Qua câu chuyện giữa Chúa Giêsu và người phụ nữ bên bờ giếng Giacóp, Chúa Giêsu đã mặc khải hai điều:
Trước tiên, Chúa Giêsu mặc khải cho người phụ nữ biết rằng: Ngài chính là Đấng Kitô, là Mêsia mà muôn dân mong đợi từ lâu. Ngài chính là nguồn mạch phát sinh sự sống, nên gặp được Ngài là gặp được chính nguồn sự sống bất diệt: “Ai uống nước này, sẽ lại khát. Còn ai uống nước tôi cho sẽ không bao giờ khát nữa.Và nước tôi cho sẽ trở thành nơi người ấy một mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời đời” (Ga 4, 13-14). Như vậy, Chúa Giêsu chính là “Nước Hằng Sống”.
Thứ đến, Chúa Giêsu mặc khải thêm: đã đến lúc không còn chuyện phân biệt rằng Thiên Chúa của tôi và Thiên Chúa của chị nữa. Không còn chuyện cùng một Thiên Chúa chúng ta thờ, nhưng lại chỉ thờ ở đây mà không thờ chỗ khác. Vì thế, Đức Giêsu cất tiếng nói: “Nhưng giờ đã đến – và chính lúc này đây, giờ những người thờ phượng đích thực sẽ thờ phượng Chúa Cha trong thần khí và sự thật, vì Chúa Cha tìm kiếm những ai thờ phượng Người như thế” (Ga 4, 23).
Như vậy, điều mà Chúa Giêsu đã mặc khải cho người phụ nữ khi xưa, cũng chính là điều mà Ngài muốn mặc khải cho chúng ta ngày hôm nay.
Chúa Giêsu là niềm khát vọng thầm kín, sâu xa của mọi người và mỗi người chúng ta trong cái khát vọng cơm nước tầm thường hằng ngày của chúng ta, để rồi chúng ta cảm thấy không phải chỉ cần có thứ cơm nước đó mới sống được, không phải chỉ có những thực tại vật chất ấy là đáng kể trong đời sống mà còn có những khát vọng tình yêu và hạnh phúc, độc lập và tự do, công lý và hòa bình…, và lắng sâu trong tâm hồn còn có khát vọng sự sống vĩnh cửu; Nước Hằng Sống.
Chúng ta phải làm sao để cảm thấy Chúa cần thiết cho đời sống của chúng ta, gắn liền với cuộc sống chúng ta như ánh nắng, như khí thở, như cơm ăn, như nước uống hằng ngày: “Ai uống nước Tôi ban cho sẽ không bao giờ khát nữa… và sẽ được sống muôn đời”.
2023
Chúa Nhật III Mùa Chay – Năm A
Chúa Nhật III Mùa Chay – Năm A
Dẫn vào Thánh Lễ
Anh chị em thân mến,
Mùa chay cho chúng ta một cơ hội quí báu để nhìn lại chính mình: Có những an toàn giả tạo mà chúng ta cứ khư khư giữ lấy, không chịu vất bỏ trên con đường lữ hành. Mùa Chay nhắc nhở chúng ta rằng: muốn sống tốt, cần phải duyệt xét lại đời mình. Để Mùa Chay này tràn đầy ơn phúc, giúp chúng ta trở thành những người dễ thương, quảng đại và chân thực, chúng ta phải chết đi cho những lối sống trần tục, bằng cách hi sinh và từ bỏ chính mình, để có một cuộc hoán cải thực sự như người đàn bà Samaria mà Tin Mừng hôm nay thuật lại cho chúng ta. Muốn trở về thật sự cần phải có ơn Chúa giúp, chúng ta sẽ kín múc ơn thánh ấy nơi bàn tiệc Thánh Thể.
Ca nhập lễ
Mắt tôi luôn hướng nhìn về Chúa, vì chính Người gỡ chân tôi khỏi lưới dò. Xin Chúa đoái nhìn và thương xót tôi, vì tôi cô đơn và thân tôi đau khổ.
Lời nguyện nhập lễ
Lạy Chúa là Ðấng rất từ bi nhân hậu, Chúa đã từng chỉ dạy chúng con cách chữa lành những vết thương tội lỗi: là ăn chay hãm mình, siêng năng cầu nguyện và chia cơm sẻ áo cho kẻ khó nghèo. Này chúng con nhận biết mình yếu hèn lầm lỗi, và hết lòng sám hối ăn năn; xin Chúa thương đoái nhìn chúng con và đưa tay nâng đỡ. Chúng con cầu xin…
Bài Ðọc I: Xh 17, 3-7
“Xin cho chúng tôi nước để chúng tôi uống”.
Trích sách Xuất Hành.
Trong những ngày ấy, dân chúng khát nước, nên phàn nàn với ông Môsê rằng: “Tại sao ông dẫn dắt chúng tôi ra khỏi Ai-cập, để cho chúng tôi cùng con cái và đoàn súc vật chúng tôi phải chết khát như vầy”. Môsê kêu lên cùng Chúa rằng: “Con sẽ phải làm gì cho dân này? Còn một chút nữa là họ ném đá con rồi”. Chúa liền phán bảo Môsê: “Ngươi hãy tiến lên, đi trước dân chúng và dẫn các bậc kỳ lão Israel đi theo, tay ngươi cầm gậy mà ngươi đã dùng mà đánh trên nước sông. Này đây, Ta sẽ đứng trước mặt ngươi, trên tảng đá Horeb, ngươi sẽ đánh lên tảng đá, từ tảng đá nước sẽ chảy ra cho dân uống”. Môsê làm các điều nói trên trước mặt các bậc kỳ lão Israel. Ông đặt tên nơi đó là “Thử Thách”, vì con cái Israel đã phàn nàn và thách thức Chúa mà rằng: “Chúa có ở với chúng tôi hay không?”
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv 94, 1-2. 6-7. 8-9
Ðáp: Ước chi hôm nay các bạn nghe tiếng Người: “Các ngươi đừng cứng lòng!”
Xướng: Hãy tới, chúng ta hãy reo mừng Chúa, hãy hoan hô Ðá Tảng cứu độ của ta! Hãy ra trước thiên nhan với lời ca ngợi, chúng ta hãy xướng ca để hoan hô Người!
Xướng: Hãy tiến lên, cúc cung bái và sụp lạy, hãy quỳ gối trước nhan Chúa, Ðấng tạo thành ta. Vì chính Người là Thiên Chúa của ta, và ta là dân Người chăn dẫn, là đoàn chiên thuộc ở tay Người.
Xướng:Ước chi hôm nay các bạn nghe tiếng Người: “Ðừng cứng lòng như ở Mêriba, như hôm ở Massa trong khu rừng vắng, nơi mà cha ông các ngươi đã thử thách Ta, họ đã thử Ta mặc dầu đã thấy công cuộc của Ta”.
Bài Ðọc II: Rm 5, 1-2. 5-8
“Lòng mến Chúa đổ xuống lòng chúng ta, nhờ Thánh Thần là Ðấng đã được ban cho chúng ta”.
Trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Rôma.
Anh em thân mến, khi được đức tin công chính hoá, chúng ta được hoà thuận với Chúa nhờ Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, Ðấng cho chúng ta nhờ đức tin mà tiến đến ân sủng, đứng vững ở đó, và được hiển vinh trong niềm hy vọng vinh quang của con cái Chúa. Nhưng cậy trông không làm hổ thẹn, vì lòng mến Chúa đổ vào lòng chúng ta nhờ Thánh Thần là Ðấng đã được ban cho chúng ta. Ngay từ khi chúng ta còn yếu hèn, Chúa Kitô theo kỳ hẹn mà chịu chết vì chúng ta là kẻ tội lỗi. Ít có ai chết thay cho người công chính, hoạ chăng mới có người dám chết vì kẻ lành. Nhưng Thiên Chúa chứng tỏ tình yêu của Người đối với chúng ta, nghĩa là trong lúc chúng ta còn là tội nhân, thì theo kỳ hẹn, Chúa Kitô đã chết vì chúng ta.
Ðó là lời Chúa.
Câu Xướng Trước Phúc Âm
Lạy Chúa, Chúa thật là Ðấng cứu chuộc thế gian; xin ban cho con nước hằng sống, để con không còn khát nữa.
PHÚC ÂM: Ga 4,5-42 (Bài dài)
“Mạch nước vọt đến sự sống đời đời”.
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.
Khi ấy, Chúa Giêsu tới một thành gọi là Sykar thuộc xứ Samaria, gần phần đất Giacóp đã cho con là Giuse, ở đó có giếng của Giacóp. Chúa Giêsu đi đường mệt, nên ngồi nghỉ trên miệng giếng, lúc đó vào khoảng giờ thứ sáu.
Một người đàn bà xứ Samaria đến xách nước, Chúa Giêsu bảo: “Xin bà cho tôi uống nước” (lúc ấy, các môn đệ đã vào thành mua thức ăn). Người đàn bà Samaria thưa lại: “Sao thế! Ông là người Do-thái mà lại xin nước uống với tôi là người xứ Samaria?” (Vì người Do-thái không giao thiệp gì với người Sa-maria).
Chúa Giêsu đáp: “Nếu bà nhận biết ơn của Thiên Chúa ban và ai là người đang nói với bà: “Xin cho tôi uống nước”, thì chắc bà sẽ xin Người, và Người sẽ cho bà nước hằng sống”.
Người đàn bà nói: “Thưa Ngài, Ngài không có gì để múc, mà giếng thì sâu, vậy Ngài lấy đâu ra nước? Phải chăng Ngài trọng hơn tổ phụ Giacóp chúng tôi, người đã cho chúng tôi giếng này và chính người đã uống nước giếng này cũng như các con cái và đoàn súc vật của người?”
Chúa Giêsu trả lời: “Ai uống nước giếng này sẽ còn khát, nhưng ai uống nước Ta sẽ cho thì không bao giờ còn khát nữa, vì nước Ta cho ai thì nơi người ấy sẽ trở thành mạch nước vọt đến sự sống đời đời”. Người đàn bà thưa: “Thưa Ngài, xin cho tôi nước đó để tôi chẳng còn khát và khỏi phải đến đây xách nước nữa”. Chúa Giêsu bảo: “Bà hãy đi gọi chồng bà rồi trở lại đây”. Người đàn bà đáp: “Tôi không có chồng”. Chúa Giêsu nói tiếp: “Bà nói “tôi không có chồng” là phải, vì bà có năm đời chồng rồi, và người đàn ông đang chung sống với bà bây giờ không phải là chồng bà, bà đã nói đúng đó”.
Người đàn bà nói: “Thưa Ngài, tôi thấy rõ Ngài là một tiên tri. Cha ông chúng tôi đã thờ trên núi này, còn các ông, các ông lại bảo: phải thờ ở Giêrusalem”.
Chúa Giêsu đáp: “Hỡi bà, hãy tin Ta, vì đã đến giờ người ta sẽ thờ phượng Chúa Cha, không phải ở trên núi này hay ở Giêrusalem. Các người thờ Ðấng mà các người không biết, còn chúng tôi thờ Ðấng chúng tôi biết, vì ơn cứu độ từ dân Do-thái mà đến. Nhưng đã đến giờ, và chính là lúc này, những kẻ tôn thờ đích thực, sẽ thờ Chúa Cha trong tinh thần và chân lý, đó chính là những người tôn thờ mà Chúa Cha muốn. Thiên Chúa là tinh thần, và những kẻ tôn thờ Người, phải tôn thờ trong tinh thần và trong chân lý”.
Người đàn bà thưa: “Tôi biết Ðấng Messia mà người ta gọi là Kitô sẽ đến, và khi đến, Người sẽ loan báo cho chúng tôi mọi sự”. Chúa Giêsu bảo: “Ðấng ấy chính là Ta, là người đang nói với bà đây”.
Vừa lúc đó các môn đệ về tới. Các ông ngạc nhiên thấy Ngài nói truyện với một người đàn bà. Nhưng không ai dám hỏi: “Thầy hỏi bà ta điều gì, hoặc: tại sao Thầy nói truyện với người đó?” Bấy giờ người đàn bà để vò xuống, chạy về thành bảo mọi người rằng: “Mau hãy đến xem một ông đã nói với tôi tất cả những gì tôi đã làm. Phải chăng ông đó là Ðấng Kitô?” Dân chúng tuôn nhau ra khỏi thành và đến cùng Ngài, trong khi các môn đệ giục Ngài mà rằng: “Xin mời Thầy ăn”. Nhưng Ngài đáp: “Thầy có của ăn mà các con không biết”. Môn đệ hỏi nhau: “Ai đã mang đến cho Thầy ăn rồi chăng?” Chúa Giêsu nói: “Của Thầy ăn là làm theo ý Ðấng đã sai Thầy và chu toàn công việc Ngài. Các con chẳng nói: còn bốn tháng nữa mới đến mùa gặt đó ư? Nhưng Thầy bảo các con hãy đưa mắt mà nhìn xem đồng lúa chín vàng đã đến lúc gặt. Người gặt lãnh công và thu lúa thóc vào kho hằng sống, và như vậy kẻ gieo người gặt đều vui mừng. Ðúng như câu tục ngữ: Kẻ này gieo, người kia gặt. Thầy sai các con đi gặt những gì các con không vất vả làm ra; những kẻ khác đã khó nhọc, còn các con thừa hưởng kết quả công lao của họ”.
Một số đông người Samaria ở thành đó đã tin Người vì lời người đàn bà làm chứng rằng: “Ông ấy đã nói với tôi mọi việc tôi đã làm”. Khi gặp Người, họ xin Người ở lại với họ. Và Người đã ở lại đó hai ngày, và vì nghe chính lời Người giảng dạy, số những kẻ tin ở Người thêm đông hẳn, họ bảo người đàn bà: “Giờ đây, không phải vì những lời chị kể mà chúng tôi tin, nhưng chính chúng tôi đã được nghe lời Người và chúng tôi biết Người thật là Ðấng Cứu Thế”.
Ðó là lời Chúa.
Hoặc đọc bài ngắn này: Ga 4, 5-15. 19b-26. 39a. 40-42
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.
Khi ấy, Chúa Giêsu tới một thành gọi là Sykar thuộc xứ Samaria, gần phần đất Giacóp đã cho con là Giuse, ở đó có giếng của Giacóp. Chúa Giêsu đi đường mệt, nên ngồi nghỉ trên miệng giếng, lúc đó vào khoảng giờ thứ sáu.
Một người đàn bà xứ Samaria đến xách nước, Chúa Giêsu bảo: “Xin bà cho tôi uống nước” (lúc ấy, các môn đệ đã vào thành mua thức ăn). Người đàn bà Samaria thưa lại: “Sao thế! Ông là người Do-thái mà lại xin nước uống với tôi là người xứ Samaria?” (vì người Do-thái không giao thiệp gì với người Samaria).
Chúa Giêsu đáp: “Nếu bà nhận biết ơn của Thiên Chúa ban và ai là người đang nói với bà: “Xin cho tôi uống nước”, thì chắc bà sẽ xin Người, và Người sẽ cho bà nước hằng sống”.
Người đàn bà nói: “Thưa Ngài, Ngài không có gì để múc, mà giếng thì sâu, vậy Ngài lấy đâu ra nước? Phải chăng Ngài trọng hơn tổ phụ Giacóp chúng tôi, người đã cho chúng tôi giếng này, và chính người đã uống nước giếng này cũng như các con cái và đoàn súc vật của người?”
Chúa Giêsu trả lời: “Ai uống nước giếng này sẽ còn khát, nhưng ai uống nước Ta sẽ cho thì không bao giờ còn khát nữa, vì nước Ta cho ai thì nơi người ấy sẽ trở thành mạch nước vọt đến sự sống đời đời”. Người đàn bà thưa: “Thưa Ngài, xin cho tôi nước đó để tôi chẳng còn khát, và khỏi phải đến đây xách nước nữa”.
Và người đàn bà nói với Chúa Giêsu: “Thưa Ngài, tôi thấy rõ Ngài là một tiên tri. Cha ông chúng tôi đã thờ trên núi này, còn các ông, các ông lại bảo: phải thờ ở Giêrusalem”. Chúa Giêsu đáp: “Hỡi bà, hãy tin Ta, vì đã đến giờ người ta sẽ thờ phượng Chúa Cha, không phải ở trên núi này hay ở Giêrusalem. Các người thờ Ðấng mà các người không biết, còn chúng tôi thờ Ðấng chúng tôi biết, vì ơn cứu độ từ dân Do-thái mà đến. Nhưng đã đến giờ, và chính là lúc này, những kẻ tôn thờ đích thực, sẽ thờ Chúa Cha trong tinh thần và chân lý, đó chính là những người tôn thờ mà Chúa Cha muốn. Thiên Chúa là tinh thần, và những kẻ tôn thờ Người, phải tôn thờ trong tinh thần và trong chân lý”.
Người đàn bà thưa: “Tôi biết Ðấng Messia mà người ta gọi là Kitô sẽ đến, và khi đến, Người sẽ loan báo cho chúng tôi mọi sự”. Chúa Giêsu bảo: “Ðấng ấy chính là Ta, là người đang nói với bà đây”.
Một số đông người Samaria ở thành đó đã tin Người vì lời người đàn bà làm chứng. Khi gặp Người, họ xin Người ở lại với họ. Và Người đã ở lại đó hai ngày, và vì nghe chính lời Người giảng dạy, số những kẻ tin ở Người thêm đông hẳn, họ bảo người đàn bà: “Giờ đây, không phải vì những lời chị kể mà chúng tôi tin, nhưng chính chúng tôi đã được nghe lời Người và chúng tôi biết Người thật là Ðấng Cứu Thế”.
Ðó là lời Chúa.
Lời nguyện tín hữu
Chủ tế: Anh chị em thân mến, chúng ta đang cùng nhau cử hành mầu nhiệm cứu chuộc của Chúa Kitô. Chúng ta hãy xin Cha nhân từ khai mở nguồn suối cứu độ và sự sống sung mãn cho mọi người như Chúa Kitô đã hứa với người phụ nữ xứ Samaria.
- Xin cho Hội Thánh luôn hăng say loan báo và giúp mọi người tin rằng, Đức Giêsu là Đấng cứu độ duy nhất mang đến ơn cứu độ cho trần gian.
- Xin cho những ai đang khao khát công bằng và chân lý được Thánh Thần hướng dẫn đến nguồn mạch ơn cứu độ là Chúa Kitô.
- Xin cho những anh chị em dự tòng đang chuẩn bị lãnh nhận các bí tích khai tâm Kitô giáo trong Đêm Thánh sắp tới được thật lòng trở về với Chúa, chuyên cần học hỏi và sống theo đức tin.
- Xin cho mỗi người trong cộng đoàn chúng ta luôn khám phá niềm vui của Tin Mừng cứu độ khi gặp gỡ Chúa Kitô và hăng hái đưa người khác đến cùng Chúa Kitô.
Chủ tế: Lạy Chúa, như người phụ nữ xứ Samaria, xin cho chúng con luôn hân hoan kín múc dòng nước cứu độ nơi mạch suối thương xót của Chúa và trở nên những mạch suối cho thế giới khô cằn vì thiếu niềm tin vào Chúa. Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô Chúa chúng con.
Lời nguyện tiến lễ
Lạy Chúa, nhờ những của lễ này, xin tha thứ tội lỗi chúng con đã phạm, và giúp chúng con biết thật tình tha thứ mọi lỗi lầm cho anh chị em chúng con. Chúng con cầu xin…
Lời tiền tụng
Lạy Chúa là Cha chí thánh là Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, chúng con tạ ơn Chúa mọi nơi mọi lúc, thật là chính đáng phải đạo và sinh ơn cứu độ cho chúng con, nhờ Ðức Ki-tô, Chúa chúng con. Khi người phụ nữ xứ Sa-ma-ri cho nước uống, Người đã ban cho bà đức tin. Vì Người tha thiết ước mong bà tin vững mạnh, nên đã đốt lên trong lòng bà ngọn lửa yêu mến Chúa. Vì thế, chúng con xin dâng lời tri ân cảm tạ, và hợp với các thiên thần, các thánh, chúng con lớn tiếng ca ngợi uy quyền Chúa, và tung hô rằng:
Thánh! Thánh! Thánh!…
Ca hiệp lễ
Chúa phán: “Ai uống nước Ta sẽ cho, thì nơi người ấy sẽ trở thành mạch nước vọt đến sự sống đời đời.
Lời nguyện hiệp lễ
Lạy Chúa, Chúa đã cho chúng con, tuy còn ở dưới thế, được nếm thử lương thực trên trời. Xin cho mọi người chúng con biết đem cả cuộc đời hiện tại biểu dương những kỳ công tuyệt vời mà bí tích Thánh Thể vừa thực hiện nơi chúng con. Chúng con cầu xin…
2023
Trở về với Cha
11.3 Thứ Bảy Thứ Bảy trong tuần thứ Hai Mùa Chay
St 7:14-15,18-20; Tv 103:1-2,3-4,9-10,11-12; Lc 15:1-3,11-32
Trở về với Cha
Tin mừng hôm nay mời gọi chúng ta sống tinh thần của mùa chay là ăn năn sám hối, trở về cùng Chúa Cha là Đấng giàu lòng thương xót, để đáng được Chúa tha thứ.
Câu chuyện của nhân vật Cha và con trong dụ ngôn mà Thánh sử Luca trình bày trong bài Tin mừng diễn tả trung thực hình ảnh mong đợi của người Cha trong bất kỳ thời đại nào hay nền văn hóa nào. Dù người con có ngoan ngoãn ở trong gia đình hay rũ bỏ tình cha con ra đi, thì tình cha vẫn phủ lấp trên mọi lỗi lầm của con. Dụ ngôn cũng mặc khải tấm lòng yêu thương của Thiên Chúa mà Chúa Giêsu cho chúng ta thấy bằng hành động. Thiên Chúa là người cha biết thương xót, đi đến với mọi con cái để đem họ về đoàn tụ và để nối kết họ lại với nhau.
Khởi đầu dụ ngôn là những lời chỉ trích của những người thuộc phái Pharisêu và các kinh sư khi Đức Giêsu đón tiếp và ăn uống với những người thu thuế và tội lỗi, vốn là những người bị loại trừ khỏi xã hội. vì vậy, không ai được giao tiếp với họ. vậy mà Đức Giêsu chẳng những đón tiếp mà con ăn uống với họ nữa. ngài chia sẻ với họ trong bữa ăn đầy tình huynh đệ, giúp họ thoát ra cái mặc cảm tội lỗi của họ. điều này khiến các kinh sư và người Phariseu không hài lòng.
Để lý giải cho hành động của mình, Đức Giêsu kể dụ ngôn “Người Cha nhân hậu” (Lc 15, 11- 32) để mời gọi những người Phariseu và các kinh sư nói riêng và mỗi người chúng ta nói chung biết mở rộng tâm hồn đón tiếp những người tội lỗi hòa nhập với xã hội khi họ ăn năn sám hối và nhất là biết chia sẻ niềm vui với Thiên Chúa khi trước sự hoán cải của những người lâu nay xa rời Thiên Chúa để đi vào tương quan thân tình với Người.
Dụ ngôn kể lại : Sau khi người con thứ đòi chia gia tài, người cha đã làm theo ý con của mình. Có lẽ khi hành động như vậy, người cha cũng đã rất đau lòng vì ông thấu hiểu tính tình, tâm tư của từng đứa con mình nhưng ông luôn tôn trọng tự do của chúng nên ông làm theo ý muốn của chúng. Người cha chia gia tài cho con và để con tự định đoạt về khối tài sản đó. Từ khi người con thứ ra đi với phần sản nghiệp của mình, lòng người cha lại đau đáu mong chờ. Ông chờ người con thứ quay trở về với ông, dù nó có ra sao đi chăng nữa ông vẫn mong ngày nó trở về. Niềm vui trào tràn đến với ông khi ông nhìn thấy bóng con từ đàng xa. Ông vội chạy ra đón con, cuống quýt với áo áo, giày giày; với việc giết bê béo ăn mừng… Ông chẳng màng đến hình dạng xơ xác của người con, đến bài “diễn văn” soạn sẵn của con. Ông thể hiện tình thương của một người cha thật ấm áp: “Anh còn ở đàng xa, thì người cha đã trông thấy. Ông chạnh lòng thương, chạy ra ôm cổ anh ta và hôn lấy hôn để”. Trong nhà có thứ gì đẹp, thứ gì quý giá ông mang hết ra cho con: “Mau đem áo đẹp nhất ra đây mặc cho cậu, xỏ nhẫn vào ngón tay, xỏ dép vào chân cậu, rồi đi bắt con bê đã vỗ béo làm thịt để chúng ta mở tiệc ăn mừng”. Trong lòng ông, niềm vui trào tràn, bùng vỡ biểu lộ một tình thương vô bờ bến, ông chưa bao giờ ghét bỏ dù đứa con trở về với hai bàn tay trắng. Ông chỉ biết một điều rằng: “Con ta đây đã chết mà nay sống lại, đã mất mà nay lại tìm thấy”. Đã có đôi lần, hành xử của chúng ta cũng giống như người con thứ, ta được bao bọc bởi tình thương của Thiên Chúa, được sống trong tình thương của Chúa nhưng ta luôn muốn thoát ra khỏi sự bảo bọc đó, ra đi đến những nơi ta muốn, được thỏa thích làm theo ý của mình. Khi gặp khó khăn thử thách, ta đến với Chúa với bao toan tính vụ lợi. Lời cầu nguyện của ta chỉ đầy những lời cầu xin cho mình mà quên lời sám hối ăn năn. Thiên Chúa vẫn hằng mong ta quay trở về với Người, dù ta có bội nghĩa vong ân, có phung phí biết bao ân sủng của Người…
Được sống trong nhà cha, ở bên cha sớm tối nhưng người con cả lại chẳng thấy niềm vui. Cuộc sống của anh thật tẻ nhạt. Nếu không có bữa tiệc linh đình đón em trở về, có lẽ chẳng ai thấy được tâm tư trĩu nặng của anh: “Đã bao nhiêu năm trời con hầu hạ cha, và chẳng khi nào trái lệnh, thế mà chưa bao giờ cha cho con lấy được một con dê con để con ăn mừng với bạn bè”.
Hơn nữa, lòng ghen tỵ của anh xóa đi tương quan huynh đệ, anh nói về người em của mình với giọng đầy khinh bỉ, miệt thị: “Còn thằng con của cha đó, sau khi đã nuốt hết của cải của cha với bọn điếm, nay trở về, thì cha lại giết bê béo ăn mừng”. Phản ứng của người con cả không làm cho người cha tức giận, trái lại ông dịu dàng giải thích với người con cả những ân sủng mà anh ta không nhận ra khi ở trong nhà cha và niềm vui của mình khi người em của anh quay trở về: “Con à, lúc nào con cũng ở với cha, tất cả những gì của cha đều là của con.
Nhưng chúng ta phải ăn mừng và hoan hỷ, vì em con đây đã chết, nay lại sống, đã mất, nay lại tìm thấy”. Chúng ta cũng có lúc như người con cả, được làm con Thiên Chúa, được ở trong nhà Chúa, sống với Chúa, luôn giữ các giới răn cách tuyệt đối… nhưng ta lại không cảm nhận được niềm vui sống trong nhà Chúa, không nhận ra được ân sủng của Chúa trên cuộc đời mình. Ta ghen tỵ với những ân sủng và niềm vui của người khác; ta tính toán thiệt hơn, so đo với người khác. Ta quên rằng: tình thương và lòng nhân ái của Chúa luôn phủ lấp trên cuộc đời ta. Ta chỉ thật sự là con của Cha, khi ta yêu thương chính anh em mình.
Dụ ngôn giới thiệu hình ảnh người Cha như một biểu tượng về Thiên Chúa. Thái độ bao dung của người cha trong dụ ngôn cho ta thấy được tình thương của Thiên Chúa không chỉ với người tội lỗi hoán cải mà còn với cả những người không nhận ra tình thương của Chúa, ghen tỵ và thiếu sự cảm thông đối với người khác. Chúa cũng mời gọi mỗi người chúng ta chia sẻ niềm vui với người tội lỗi khi họ sám hối và trở về với Chúa như chính Chúa đã vui mừng khi đón tiếp và chia sẻ với họ.
Qua dụ ngôn, Chúa Giêsu cho thấy Thiên Chúa nhân hậu tìm kiếm người lầm lạc và hân hoan đón nhận họ trở về.
Thiên Chúa thương xót chúng ta, và sẵn sàng tha thứ tất cả chúng ta.
Vì yêu thương nhân loại tội lỗi, Chúa Cha đã ban Con Một của Ngài là Chúa Giêsu xuống thế, chịu chết trên thánh giá để chuộc tội của nhân loại, và dẫn đưa con người về làm hòa cùng Thiên Chúa Cha và được hưởng hạnh phúc vĩnh cửu trong nước Thiên Chúa.
Mỗi người chúng ta nhận ra được Thiên Chúa yêu thương, sẵn sàng tha thứ cho chúng ta, nên trong mùa chay này, chúng ta hãy thống hối ăn năn tội lỗi, để trở về cùng Chúa Cha, để nhận lãnh ơn tha thứ của Ngài.
Chúa Cha đã thương xót và tha tội lỗi của chúng ta, thì đến lượt chúng ta, chúng ta cũng biết mở rộng tâm hồn và tha thứ cho nhau.
