2023
5 chủ đề nổi bật trong 10 năm triều đại Giáo hoàng Phanxicô
Ngày 13/3/2023 là tròn 10 năm Đức Thánh Cha Phanxicô được bầu chọn làm Giáo hoàng, kế vị thánh Phêrô lãnh đạo Giáo hội. Ký giả Elise Ann Allen của báo Crux Now đã chọn 5 chủ đề có thể được xem là quan trọng nhất trong giáo huấn của Đức Thánh Cha trong 10 năm hướng dẫn Giáo hội.
Trong 10 năm qua, qua các tài liệu huấn quyền, bằng các bài diễn văn trong các chuyến tông du hay gặp gỡ, hoặc trong các bài giảng Thánh lễ, các bài giáo lý tại các buổi tiếp kiến chung, … Đức Thánh Cha đã nhấn mạnh đến nhiều chủ đề khác nhau như lòng thương xót, gặp gỡ, người nghèo, kinh tế, hoà bình, hiệp hành, bảo vệ thiên nhiên… Trong số những chủ đề này, có một số chủ đề nổi bật, bao quát hơn, được Đức Thánh Cha nhấn mạnh hơn.
- Một Giáo hội nghèo vì người nghèo
Câu chuyện Đức Thánh Cha Phanxicô chọn tên hiệu Giáo hoàng của ngài đã được nhiều người biết đến. Nói chuyện với các nhà báo vài ngày sau khi được bầu làm Giáo hoàng vào ngày 13/3/2013, ngài nói rằng chính người bạn của ngài, cố Hồng y người Brazil Claudio Hummes, là người đã truyền cảm hứng cho ngài chọn tên hiệu Phanxicô.
Như Đức Thánh Cha đã kể lại, khi chắc chắn rằng ngài được bầu chọn làm Giáo hoàng, Đức Hồng y Hummes, khi đó ngồi bên cạnh ngài, đã nói nhỏ với ngài: “Xin đừng quên người nghèo.” Điều này đã gợi ý cho ngài chọn tên hiệu là Phanxicô, theo tên Thánh Phanxicô thành Assisi, người được mệnh danh là “người nghèo thành Assisi.”
Vào dịp đó ngài đã nói: “Ồ, tôi muốn có một Giáo hội nghèo vì người nghèo biết bao.” Và kể từ đó, đây không chỉ trở thành một trong những khẩu hiệu nổi tiếng nhất của ngài trong 10 năm qua, mà còn trở thành xương sống cho phong cách Giáo hoàng và tầm nhìn của ngài về Giáo hội.
Từ bộ trang phục màu trắng đơn giản đến chiếc xe Fiat khiêm tốn mà ngài dùng để di chuyển, từ quyết định thanh toán hóa đơn khách sạn khi được bầu làm Giáo hoàng và việc ngài chọn ai để rửa chân vào mỗi Thứ Năm Tuần Thánh, ưu tiên quan tâm đến phụ nữ, người di cư, người thiểu năng trí tuệ, và tù nhân, một tinh thần khó nghèo đã nhấn mạnh tất cả.
Như là một người, khi còn là Tổng Giám mục Buenos Aires, Đức Thánh Cha thường di chuyển bằng tàu điện ngàm và đi bộ trên những con đường của những khu ổ chuột, Đức Thánh Cha đã luôn ưu tiên những người sống bên lề xã hội, nổi bật nhất là qua việc bênh vực người di cư và người tị nạn, và trong các chuyến tông du nước ngoài của ngài.
Ngay từ đầu, Đức Phanxicô đã cam kết đến thăm các quốc gia mà chưa có vị Giáo hoàng nào khác đến thăm, hoặc những quốc gia có vẻ nhỏ bé và không xứng đáng với một chuyến thăm của Giáo hoàng, với đoàn chiên Công giáo nhỏ bé, chẳng hạn như Bosnia và Herzegovina, Albania, Maxêđônia và Bungari; Gruzia và Adécbaigian; và Myanmar và Bangladesh.
Trong các chuyến tông du quốc tế, ngài luôn quan tâm đến việc gặp gỡ những thành phần dễ bị tổn thương nhất trong xã hội, bao gồm cả các tù nhân, người di cư và người tị nạn, nạn nhân bị lạm dụng, trẻ em đường phố ở Philippines, Kitô hữu bị đàn áp và các nhóm thiểu số khác ở Iraq, hay các nạn nhân chiến tranh ở Cộng hòa Dân chủ Congo và Nam Sudan.
Ngài luôn chào đón những người nghèo đến Vatican để tham quan bảo tàng hoặc những ngày đi biển, và thường ủng hộ những người khuyết tật về thể chất và chậm phát triển, yêu cầu cho họ được lãnh nhận các bí tích. Trong Năm Thánh Lòng Thương Xót 2015-2016, vào mỗi Thứ Sáu, ngài đến thăm những người bị gạt ra ngoài lề xã hội, bệnh tật và nghèo khó.
- Khí hậu và môi trường
Song song với việc quan tâm và chăm sóc người nghèo và những người bị gạt ra ngoài lề xã hội, Đức Thánh Cha ủng hộ bảo vệ môi trường. Theo ngài,sự ngược đãi môi trường là yếu tố góp phần vào một loạt vấn đề, bao gồm cả vấn đề di cư.
Vấn đề môi trường là mối quan tâm nổi bật của Đức Phanxicô ngay từ đầu triều đại Giáo hoàng của ngài, nổi bật nhất là với việc ban hành Thông điệp sinh thái Laudato Sì vào năm 2015, trong đó ngài lên án mạnh mẽ chủ nghĩa tiêu dùng và những điều ngài gọi là các mô hình phát triển vô trách nhiệm, đồng thời cảnh báo về những nguy cơ về biến đổi khí hậu và sự nóng lên toàn cầu, đồng thời kêu gọi thế giới hành động ngay lập tức. Ngài đã nhiều lần lên tiếng ủng hộ các hội nghị thượng đỉnh về khí hậu toàn cầu nổi tiếng, như các hội nghị COP, và thậm chí dự kiến sẽ tham dự hội nghị thượng đỉnh về khí hậu của Liên Hiệp quốc COP26 tại Glasgow vào tháng 11/2021, nhưng đã không thể vì đã phải phẫu thuật đại tràng vài tháng trước.
Thượng Hội đồng Giám mục năm 2019 của Đức Phanxicô về Amazon chủ yếu tập trung vào các vấn đề môi trường và nhu cầu bảo vệ sự đa dạng sinh học của rừng nhiệt đới Amazon và cứu nó khỏi nạn đốt nương làm rẫy và các kỹ thuật khai thác xói mòn lấn chiếm đất bản địa, buộc nhiều người phải rời bỏ nhà cửa của họ khi các công ty khai thác sâu hơn vào khu rừng giàu khoáng sản.
Đức Thánh Cha cũng đã liên tục kêu gọi chấm dứt việc khai thác lục địa châu Phi – gần đây nhất là trong chuyến thăm Cộng hòa Dân chủ Congo và Nam Sudan – cáo buộc các ngành công nghiệp khai khoáng và các tập đoàn giàu có đã “cưỡng đoạt” đất đai đến độ không thể phục hồi và thu hoạch tất cả của cải cho họ, khiến người giàu càng giàu và người nghèo càng nghèo.
- Tính hiệp hành
Một khái niệm quan trọng khác trong 10 năm lãnh đạo Giáo hội của Đức Thánh Cha Phanxicô là “Tính hiệp hành”, một từ thông dụng trong triều đại giáo hoàng của ngài, trong khi nhiều người vẫn khó định nghĩa, nó bao hàm tầm nhìn của ngài về Giáo hội toàn cầu và đã trở thành một trong những khía cạnh hiện thời nổi bật nhất của Giáo hội dưới triều Giáo hoàng Phanxicô.
Đức Thánh Cha luôn sử dụng từ “hiệp hành”, để diễn tả một kiểu đối thoại tập thể và thẳng thắn trong đó các quyết định được đưa ra cùng nhau. Theo thời gian, “hiệp hành” thường được hiểu là một phong cách quản lý hợp tác và tư vấn, trong đó tất cả các thành viên, giáo sĩ và giáo dân, tham gia vào việc đưa ra các quyết định về sinh hoạt và sứ mạng của Giáo hội.
Từ này bắt đầu nổi lên trong Thượng Hội đồng Giám mục năm 2018 của Đức Thánh Cha về giới trẻ và đã trở nên nổi bật đến mức nó trở thành chủ đề suy tư chính cho quá trình tham vấn nhiều giai đoạn kéo dài 4 năm trong Giáo hội toàn cầu đang diễn ra như một phần của Thượng Hội đồng Giám mục về tính hiệp hành.
Được đặc trưng bởi các giai đoạn khác nhau, bắt đầu bằng các cuộc tham vấn cấp giáo phận, địa phương với giáo dân trong các giáo xứ, và chuyển sang giai đoạn châu lục, trong đó các bản tóm tắt của các cuộc tham vấn đó đang được thảo luận ở cấp độ rộng hơn, quá trình này đã bắt đầu vào năm 2021 và sẽ kết thúc với hai cuộc họp của các Giám mục ở Rôma , vào tháng 10 năm nay và vào tháng 10 năm 2024.
Mục tiêu chính đã nêu của Thượng hội đồng về tính hiệp hành là làm cho Giáo hội trở thành một nơi cởi mở, chào đón và hòa nhập hơn, nơi mọi người đều có tiếng nói được lắng nghe và không ai cảm thấy bị bỏ rơi, và nơi các quyết định không được đưa ra từ trên cao bằng các nghị định, mà đúng hơn là được thực hiện với sự tham khảo ý kiến của người dân.
Trên thực tế, tính hiệp hành bao gồm một số ưu tiên chính của Đức Thánh Cha, từ việc xóa bỏ chủ nghĩa giáo sĩ đến việc trao quyền cho giáo dân và giới trẻ, đồng thời đảm bảo rằng phụ nữ có vai trò lớn hơn trong Giáo hội, đặc biệt là khi nói đến vai trò lãnh đạo và ra quyết định.
- Kinh tế
Trong 10 năm qua, Đức Thánh Cha thường chỉ trích công khai chủ nghĩa tư bản thị trường tự do và ủng hộ một hệ thống toàn cầu công bằng hơn, tập trung ít hơn vào lợi nhuận và tập trung nhiều hơn vào sự phân phối công bằng các nguồn lực để phục vụ lợi ích chung và có lợi cho người nghèo.
Đức Thánh Cha tin rằng nhiều cải cách xã hội mà ngài đang kêu gọi bắt đầu ở cấp độ kinh tế, và đã kêu gọi những thay đổi lớn đối với hệ thống toàn cầu trong gần như tất cả các bài phát biểu và tài liệu quan trọng trong suốt triều đại giáo hoàng, từ việc thúc giục các mô hình phát triển bền vững hơn trong Laudato Sì, đến các lời kêu gọi của ngài cho một nền kinh tế châu Âu được đổi mới đã dựa trên sự hội nhập và phẩm giá con người khi nhận Giải thưởng Charlemagne danh giá năm 2016.
Trong bài phát biểu đó, Đức Thánh Cha đã đặt ra cụm từ nổi tiếng, “bà ngoại châu Âu”, nói rằng lục địa này đã quên đi những lý tưởng sáng lập của mình và đã trở nên mệt mỏi và đang rất cần sức sống mới, đồng thời kêu gọi các nhà lãnh đạo chuyển “từ một nền kinh tế thiếu chắc chắn sang một nền kinh tế xã hội hướng ít hơn vào doanh thu và đầu tư nhiều hơn vào con người, và chống tham nhũng.
Trong Thông điệp Fratelli tutti về tình bạn xã hội, Đức Thánh Cha cũng chỉ trích chủ nghĩa dân túy, chủ nghĩa tự do và chủ nghĩa tư bản thị trường tự do, đồng thời ủng hộ mạnh mẽ các nỗ lực và chính sách đa phương ưu tiên những người dễ bị tổn thương nhất, bao gồm cả người di cư và người tị nạn.
Đức Thánh Cha cũng đã tìm cách thu hút những người trẻ thông qua sự kiện “Nền kinh tế Phanxicô”, được tổ chức tại Assisi năm ngoái, một sự kiện đã thu hút các nhà kinh tế trẻ và những người tạo ra sự thay đổi từ khắp nơi trên thế giới để thảo luận về quá trình chuyển đổi sang một nền kinh tế hòa bình và công bằng hơn, ưu tiên người nghèo và môi trường. Khoảng 1.000 bạn trẻ tham dự cuộc gặp trực tiếp đã ký một hiệp ước với Đức Thánh Cha, trong đó họ vạch ra tầm nhìn về một nền kinh tế “hòa bình chứ không phải chiến tranh,” và được hướng dẫn bởi nền luân lý đạo đức ưu tiên phẩm giá con người và người nghèo.
Mặc dù tính hiệp hành đã đóng một vai trò quan trọng hơn trong triều đại giáo hoàng của Đức Phanxicô trong khoảng một năm qua, nhưng việc thúc đẩy chuyển đổi hệ thống kinh tế toàn cầu của ngài vẫn là ưu tiên hàng đầu.
- Hoán cải Mục vụ
Có lẽ chủ đề quan trọng nhất trong suốt 10 năm trị vì của Đức Phanxicô cho đến nay, là việc ngài thúc đẩy việc hoán cải mục vụ.
Từ những bài phát biểu dài hàng năm của mình trước Giáo triều Rôma, đến các tài liệu quan trọng, các buổi tiếp kiến và phát biểu trước công chúng, Đức Thánh Cha đã liên tục kêu gọi các tín hữu hoán cải cá nhân, đồng thời thúc giục Giáo hội và các mục tử cũng làm như vậy.
Kể từ khi bắt đầu triều đại Giáo hoàng, Đức Thánh Cha đã thúc đẩy việc hoán cải này bằng cách chỉ trích Giáo hội “đóng kín” trong chính mình và bày tỏ mong muốn về “một Giáo hội đi ra ngoài,” và tiếp xúc với người dân và nhu cầu của họ, thay vì bị ám ảnh bởi những cuộc tranh luận nội bộ tầm thường. Toàn bộ chiến lược mục vụ của ngài nhằm mục đích giúp Giáo hội trở thành “bệnh viện dã chiến dành cho người bệnh” mà ngài thường ủng hộ, thay vì là một câu lạc bộ dành riêng cho giới thượng lưu được nhận thức là những người tuân theo mọi quy tắc và chấp nhận mọi học thuyết.
Mong muốn hoán cải mục vụ này của Đức Thánh Cha có thể thấy trong các bài phát biểu hàng năm trước Giáo triều Rôma, mà trong thập kỷ qua, ngài đã sử dụng như cơ hội để tiến hành một cuộc xét mình tập thể về ý thức, chẩn đoán một số “căn bệnh” tâm linh mà ngài nói rằng Giáo hội đang mắc phải và đưa ra các biện pháp khắc phục, luôn nhấn mạnh đến nhu cầu hoán cải.
Đức Thánh Cha muốn cơ quan quản lý trung tâm của Giáo hội và Hồng y đoàn mang tính quốc tế và đa dạng hơn, đồng thời tập trung hơn vào việc truyền giáo. Mong muốn này được chứng minh không chỉ bởi những người được ngài thăng làm Hồng y trong những năm qua, mà còn qua những tài liệu quan trọng như Tông huấn đầu tiên của ngài vào năm 2013, Evangelii Gaudium – Niềm Vui Tin Mừng,” trong đó ngài kêu gọi các tín hữu trở thành “các môn đệ truyền giáo” yêu mến Tin Mừng, và tài liệu của ngài về cải cách Giáo triều Rôma, Praedicate evangelium – Hãy rao giảng Tin Mừng, trong đó ngài đưa ra những thay đổi sâu rộng đối với giáo triều, tạo ra một bộ phận đặc biệt dành riêng cho việc truyền giáo và cho phép giáo dân nắm giữ những vai trò nổi bật hơn trong vai trò lãnh đạo.
Đức Thánh Cha đã liên tục kêu gọi Giáo hội trở nên nhân từ hơn và bớt thời gian trong các cuộc tranh luận thần học và dành nhiều thời gian hơn để tiếp cận những người bị thương và đau khổ. Ngài xem nhiệm vụ của ngài là canh tân Giáo hội, để Giáo hội mở ra với thế giới và biến lòng thương xót và truyền giáo trở thành động lực đằng sau mọi hành động của Giáo hội, một cách cơ bản là thực hiện tầm nhìn của Công đồng Vatican II.
Sự hoán cải mục vụ là chìa khóa cho tất cả, nó là điều cần thiết để thực hiện tầm nhìn của ngài, và điều này có thể sẽ vẫn là một trong những ưu tiên hàng đầu của ngài trong phần còn lại của triều đại Giáo hoàng.
Hồng Thủy
Nguồn: vaticannews.va/vi
2023
Văn phòng của các giáo hoàng như thế nào?
Bàn giấy của Đức Phanxicô với tượng Thánh Giuse. VaticanMedia-Foto/CPP/CIRIC
Nơi ngồi viết, ngồi đọc, ngồi suy ngẫm và cầu nguyện có một linh hồn sâu thẳm. Khám phá vũ trụ thân mật của ba giáo hoàng gần đây: Phanxicô, Bênêđictô XVI và Gioan-Phaolô II. Có khi nào chúng ta nghĩ chúng ta sẽ bước vào văn phòng của ba giáo hoàng khi họ đang viết thông điệp, đang đọc thư từ khắp nơi trên thế giới gởi về, khi đang trầm tư về những quyết định sẽ đưa ra, hoặc khi đang suy nghĩ về sứ mệnh được giao phó cho họ? Nhưng không vì thế mà quên liếc mắt nhìn các đồ vật, các kỷ niệm, các hình ảnh trong suốt thời gian sứ vụ của họ. Ba giáo hoàng, ba phong cách, ba cá tính.
Đức Gioan-Phaolô II, Chúa Kitô cụt tay và Cha Padre Pio và hoa huệ chuông
Văn phòng của Đức Gioan-Phaolô II ở tầng ba của dinh tông tòa. Chính từ đây, từ cửa sổ, giáo hoàng Ba Lan được bầu ngày 16 tháng 10 năm 1978 đã đọc kinh Truyền tin và chia sẻ tâm tư với giáo dân tập trung tại Quảng trường Thánh Phêrô ngày chúa nhật. Không có gì lộng lẫy như bên trong dinh: ở đây chỉ có một thư viện với rất nhiều sách và chiếc bàn có những vết trầy xước nhỏ ở hai bên. Đây là nơi Đức Gioan-Phaolô II làm việc hàng ngày.
Đức Gioan Phaolô II trong văn phòng riêng của ngài ở dinh tông tòa trong những năm 1990. Fondation Jean Paul II
Trên một cái kệ kê sát tường là hai chiếc điện thoại xoay, giống như những chiếc điện thoại trong các bộ phim của những năm 1960 và 1970. Trên bàn là hai bức ảnh, một của Cha Padre Pio và một của hồng y người Ba Lan Adam Sapieha. Bên cạnh là tượng Chúa Kitô và Đức Maria với Chúa Giêsu Hài Đồng.
Ngoài ra còn có ảnh của Đức Mẹ Jasna Góra và ảnh của hai thánh người Ba Lan: Maximilian Kolbe và Rafał Kalinowski.
Mieczyslaw Mokrzycki, giám mục thư ký riêng thứ hai của Đức Gioan-Phaolô II viết trong cuốn sách của ngài: “Khi giáo hoàng bắt đầu làm việc, ngài để trước mặt tượng Chúa Kitô cụt tay. Đó là món quà từ một nhà thờ bị phá hủy ở một trong những ngôi làng Nam Tư cũ.” Bên cạnh là tượng Đức Mẹ Kazan nổi tiếng của Nga. Ngoài ra còn có ảnh Đức Mẹ Jasna Góra, biểu tượng của Ba Lan, và ảnh của hai thánh Ba Lan: Maximilian Kolbe và Rafał Kalinowski.
Giám mục Mokrzycki nhớ lại: “Đây là nơi thinh lặng và yên bình, nơi tươi mát. Ngài thích không khí trong lành, ngài thích để cửa sổ mở, cả khi trời lạnh. Thêm nữa, căn phòng như mùa xuân, vì lúc nào trên bàn làm việc của ngài cũng có hoa. Thường là những bó hoa nhỏ, mỗi mùa xuân, các nữ tu mang hoa huệ chưông hái ở vườn của các nữ tu Ursuline. Ngoài ra còn có một bức tượng lớn Đức Mẹ Vô nhiễm Nguyên tội. Một tượng gỗ cũ nằm trên hòn đá nhỏ ở góc văn phòng. Ngài thường dừng lại để hôn tượng.”
Đức Bênêđictô XVI, ký ức quê hương Bavaria và những cây bút chì
Đức Bênêđictô XVI qua đời ngày 31 tháng 12 năm 2022. Thật ấn tượng khi nhìn văn phòng làm việc của ngài ở đan viện Mẹ Giáo hội, nơi ngài làm việc cho đến những tháng cuối đời. Dù trong những tháng cuối đời ngài đã mất nhiều thể lực, nhưng tâm trí của của ngài vẫn minh mẫn cho đến cuối đời.
Văn phòng của Đức Bênêđictô XVI tại đan viện Mẹ Giáo hội năm 2019. Ảnh chụp màn hình Bayerischer Rundfunk
Ngài giữ thời khóa biểu làm việt rất nghiêm túc, ngài dành cho công việc trí óc một vị trí rất quan trọng. Sau thánh lễ lúc 7:30 sáng tại nhà nguyện đan viện, nơi ngài sống kể từ ngày ngài từ nhiệm 11 tháng 2 năm 2013, Đức Bênêđictô XVI ở phần lớn thời gian của ngài trong văn phòng chất đầy sách và đồ lưu niệm. Trong một bộ phim tài liệu do đài truyền hình bang Bavaria Bayerischer Rundfunk thực hiện năm 2019, nhìn văn phòng ngài làm việc trong 65 năm, ngài nói, ‘nó đã đi một chặng đường dài với tôi’. Và ngài thích thú tiết lộ ngài có một đường dây điện thoại an toàn, có từ thời thành phố Munich, ở Đức, là mục tiêu của các cuộc tấn công khủng bố.
Trên bàn làm việc của ngài là cây thánh giá, ảnh Đức Mẹ và ảnh của gia đình, cha mẹ và anh chị em.
Trên bàn làm việc là cây thánh giá, tượng Đức Mẹ với Chúa Giêsu Hài Đồng, tượng Thánh Giuse, một cây nến nhỏ, một bó hoa, ảnh cha mẹ và anh chị em, có bức ảnh của người chị Marie yêu quý. Cách đó không xa, hai bức tranh các Thánh ngài tôn kính: Thánh Biển Đức và Thánh Âugutinô ngài được tặng năm 1977 khi ngài còn là tổng giám mục giáo phận München và Freising. Bên cạnh chiếc ghế bành của ngài là món quà lưu niệm từ quê hương Bavaria: một chiếc bánh nhiều gia vị của quê hương Bavaria mà các hàng chữ được viết bằng sương giá ‘Không đâu bằng quê hương, Dahoam is Dahoam.’ Ngài nói trong một bộ phim tài liệu: “Tôi còn gắn bó với quê hương Bavaria, mỗi đêm tôi phó thác quê hương tôi cho Chúa.”
Đức Bênêđictô XVI trong văn phòng của dinh thự mùa hè các giáo hoàng ở Castel Gandolfo, tháng 7 năm 2010. AGF s.r.l. / Rex Features/EAST NEWS
Khi còn là giáo hoàng, ngài rất thích làm việc trong văn phòng của dinh thự Castel Gandolfo, nơi nghỉ mùa hè của các giáo hoàng không xa Rôma. Trên thực tế, Đức Bênêđictô XVI là giáo hoàng cuối cùng tận dụng dinh thự này, vì Đức Phanxicô chưa bao giờ ở đây, bây giờ dinh thự đã thành làng Laudato si. Giống như Đức Gioan-Phaolô II tiền nhiệm của ngài, Đức Bênêđictô XVI thích ở đây mùa hè để cầu nguyện, làm việc trong yên bình nhìn ra cảnh trí huy hoàng. Qua các bức hình, chúng ta thấy trên bàn làm việc của ngài có một chiếc túi da nhỏ đã sờn, đó là chiếc hộp đựng bút và bút chì, rất giống với hộp bút chì của học sinh, ngài chưa bao giờ rời nó.
Dinh thự mùa hè Castel Gandolfo sẽ thành làng Laudato si
Đức Bênêđictô XVI trong văn phòng ở Castel Gandolfo, tháng 7 năm 2010. OSSERVATORE ROMANO / AFP
Dù ngài đã có máy tính xách tay sau khi bị gãy cổ tay tháng 7 năm 2009, nhưng ngài không quen dùng máy tính. Đó là điều mà linh mục Lombardi, cựu phát ngôn viên của Vatican, cho biết: “Đặc biệt là trong công việc sáng tạo, ngài thích dùng bút hơn.” Một vài bức ảnh hiếm hoi cho thấy ngài cũng dùng bút chì. Ngài giải thích với các nhà báo trong thời gian ngài bị gãy tay: “Suy nghĩ của tôi phát triển theo dòng chữ viết tay, vì thế không viết trong sáu tuần là cả một kiên nhẫn!” Cho đến những bài viết cuối cùng, bút mực và bút chì đã trung thành theo ngài trong công việc sáng tạo của ngài.
Đức Phanxicô, Thánh Giuse và “Tiếng khóc nức nở của Thánh Phêrô”
Đức Phanxicô ít dùng văn phòng chính thức của ngài. Ngài thích làm việc ở căn phòng nhỏ ở Nhà trọ Thánh Marta, nơi ngài sống sau khi được bầu chọn tháng 3 năm 2013. Nhưng dù ở văn phòng chính thức của ngài ở dinh tông tòa, nơi ngài tiếp các nhân vật quan trọng của thế giới, hoặc văn phòng nhỏ ở Nhà trọ Thánh Marta, ngài luôn muốn có sự hiện diện của Thánh Giuse bên cạnh.
Nghệ sĩ hài Gad Elmaleh và Đức Phanxicô ngày 23 tháng 12 năm 2022 tại Vatican. Facebook / @gadelmaleh
Đức Phanxicô nói: “Tôi tôn kính Thánh Giuse vì ngài là người vững mạnh và ít nói.” Trên bàn làm việc chính thức của ngài là tượng Thánh Giuse đứng cạnh Chúa Giêsu Hài đồng, nhưng cũng có một bức khác, tượng Thánh Giuse đang ngủ. Trong lần gặp các gia đình Phi Luật Tân trong chuyến đi năm 2015, ngài nói: “Trong giấc ngủ, Thánh Giuse chăm sóc Giáo hội! Đúng, ngài có thể làm và chúng ta biết điều này. Khi tôi gặp khó khăn, khi gặp vấn đề, tôi viết một ghi chú và đặt dưới tượng Thánh Giuse để ngài mơ chuyện này. Có nghĩa, cứ để cho ngài lo chuyện này!”
Bạn có biết vì sao Đức Phanxicô ngủ say không?
Đức Phanxicô dành một vị trí đặc biệt cho Thánh Giuse khi ngài ngài dâng thánh lễ mở đầu triều vào ngày lễ Thánh Giuse 19 tháng 3 năm 2013. Thêm nữa, huy hiệu giáo hoàng của ngài có loài hoa cam tùng, loài hoa thơm biểu tượng cho sự trong trắng và tình yêu, mà Thánh Giuse đã cầm trên tay khi cầu hôn Đức Maria.
Đức Phanxicô và ơn nước mắt, ơn biết sỉ nhục
Nhưng có một bức tranh khác ở bên cạnh Đức Phanxicô trong suốt quá trình làm việc của ngài, đó là bức tranh Tiếng khóc nức nở của Thánh Phêrô, sau khi phản bội Chúa Giêsu. Ngài nói: “Đó là bức hình nhắc tôi ân sủng này. Có một lời cầu nguyện rất hay: ‘Khi ông Môsê đập đá, Chúa đã làm cho nước chảy ra từ đá, làm nước mắt chảy ra từ trái tim của hòn đá.” Đó là lời kinh phụng vụ đẹp, chúng ta có thể đọc trong thánh lễ xin ơn nước mắt. Nếu Chúa ban cho chúng ta khả năng khóc, thì chúng ta phải tận dụng, vì không có gì tác hại khi nỗi đau bị kìm nén, không thể bật khóc được. Và không có gì đau lòng hơn khi nhìn người thân đau, họ nghiến răng kềm lòng để không biểu lộ nỗi xót xa của họ. Trong quyển sách Từ người nghèo đến giáo hoàng, từ giáo hoàng đến người nghèo xuất bản tháng 3 năm 2022, Đức Phanxicô tâm sự: “Khóc không phải là dấu hiệu của thiếu hy vọng. Ngược lại là khác.”
Người nghèo đặt câu hỏi với Đức Phanxicô
Marta An Nguyễn dịch
2023
Linh mục Zollner, chuyên gia về lạm dụng tình dục thảo luận về vụ Marko Rupnik, Dòng Tên và tình trạng khủng hoảng lạm dụng
Linh mục Dòng Tên Hans Zollner, người tin tưởng của Đức Phanxicô về cuộc khủng hoảng lạm dụng giáo sĩ. Rôma, 9 tháng 11 năm 2021. (Ảnh OSV News/ Francesco Pistilli, KNA)
Ngày 3 tháng 3, linh mục Dòng Tên Hans Zollner, người tin tưởng của Đức Phanxicô về khủng hoảng lạm dụng của hàng giáo sĩ được Đức Phanxicô bổ nhiệm làm cố vấn cho văn phòng mới thành lập của giáo phận Rôma chuyên bảo vệ trẻ vị thành niên và những người dễ bị tổn thương.
Sau thông báo, linh mục tuyên bố: “Tôi cam kết lắng nghe những người sống sót và thúc đẩy giáo dục và đào tạo trong lĩnh vực bảo vệ an toàn, và tôi sẽ tiếp tục làm như vậy trong vai trò mới này.”
Trước thông báo, trang tin OSV News đã phỏng vấn linh mục Zollner về tình trạng lạm dụng trong Giáo hội ngày nay. Cha cho biết, con đường giải quyết cuộc khủng hoảng này trên toàn cầu vẫn còn dài, nhưng cha hy vọng “sẽ có một số cải thiện, tuy nhiên đó là một quá trình rất, rất chậm, cần sự đóng góp và nhắc nhở liên tục.”
Linh mục Zollner, giám đốc Viện Nhân học – Nghiên cứu Liên ngành về Phẩm giá và Chăm sóc Con người (IADC) ở Rôma đã nói chuyện với trang OSV News nhân kỷ niệm 4 năm hội nghị thượng đỉnh Vatican về bảo vệ trẻ em, kết thúc ngày 24 tháng 2 năm 2019 với sự tham dự của tất cả các chủ tịch Hội đồng Giám mục thế giới.
Trong số ba chủ đề chính của Hội nghị năm 2019 – báo cáo hồ sơ – trách nhiệm và tính minh bạch – thì tính minh bạch rõ ràng đã thiếu, trong trường hợp linh mục Marko Rupnik, báo cáo được báo chí đưa ra đầu tiên, sau đó mới được thể chế đưa tin, thông tin đã được các blog tiếng Ý – Silere non Possum, Left.it và Messa in Latino – đưa ra tháng 12 năm 2022. Linh mục Rupnik là nghệ sĩ khảm nổi tiếng, là linh mục linh hướng, bị nhiều phụ nữ trưởng thành buộc tội lạm dụng thiêng liêng, tâm lý hoặc tình dục trong suốt thời gian gần 40 năm. Ngày 21 tháng 2, Dòng Tên xác nhận có thêm 14 cáo buộc mới đã được báo cáo. Một cáo buộc của một cựu nữ tu, lúc đó còn là trẻ vị thành niên nên việc chuẩn bị cho cáo buộc lạm dụng sẽ bắt đầu.
“Dòng Tên là một thực thể hỗn hợp như toàn bộ Giáo hội. Chúng tôi không tốt hơn. Và bây giờ, điều này được chứng minh dưới mắt mọi người thêm một lần nữa.”
Cha Zollner nói, nếu xác nhận linh mục Rupnik lạm dụng trẻ vị thành niên là đúng, thì “theo giáo luật, tôi nghĩ ông không nên làm linh mục nữa”.
Có thể trục xuất ông ra khỏi hàng giáo sĩ, nhưng vẫn được ở lại Dòng Tên, theo một thủ tục nhiều người không hiểu và không đồng ý nhưng như thế Dòng có quyền kiểm soát kẻ lạm dụng, thường không được kiểm soát khi kẻ tấn công đơn thuần trở thành một phần của xã hội giáo dân sau khi hoàn tục.
Linh mục Zoller nói: “Điều này không có nghĩa phải giữ ông trong cộng đồng nhưng phải được cân nhắc rất cẩn thận. Loại trừ ai có thể là lối thoát dễ dàng nhưng lại tạo ra nhiều cơ hội cho họ lạm dụng hơn nữa.”
Tuy nhiên, tất cả đều tùy vào việc liệu cha Rupnik có tuân theo những hạn chế của mệnh lệnh áp đặt lên ông hay không: “Nếu ông không tuân theo những hạn chế thì đó là dấu hiệu rõ ràng ông không thể sống đời sống tu trì.”
Nhấn mạnh đến quan hệ của chính mình với dòng tu, cha Zollner nói, cha không thể hiểu vì sao không có nhiều người trong Dòng trong số những người “làm thừa tác vụ công bằng xã hội đứng ra xử lý loại bất công này”, chẳng hạn như chuyện liên quan đến các nạn nhân bị lạm dụng tình dục.
Khi được hỏi về sự thiếu minh bạch trong trường hợp của linh mục Rupnik, cha Zollner trả lời: “Dòng Tên là một thực thể hỗn hợp như toàn bộ Giáo hội. Chúng tôi không tốt hơn. Và bây giờ, điều này được chứng minh dưới mắt mọi người thêm một lần nữa. Tất cả chúng tôi đều là những nhóm hỗn hợp. Chúng ta tất cả đều có những lỗi lầm. Và Dòng Tên cũng có nhiều thiếu sót.”
Loại trừ ai có thể là lối thoát dễ dàng nhưng lại tạo ra nhiều cơ hội cho họ lạm dụng hơn nữa.
Ngày 21 tháng 2, Dòng đã thông báo họ sẽ bắt đầu một thủ tục nội bộ để có thể bao gồm các hạn chế hơn nữa với cha Rupnik. Linh mục đã bị cấm giải tội, linh hướng và giảng tĩnh tâm. Ông phải được cấp trên cho phép trước khi tham dự vào bất kỳ mục vụ công cộng nào, và bị cấm tham gia vào các hoạt động nghệ thuật công cộng.
Khi được hỏi cha nghĩ nên làm gì với các tác phẩm nghệ thuật của linh mục Rupnik, trong các nhà thờ và nhà nguyện nổi tiếng từ Washington đến Lộ Đức, từ Krakow, Ba Lan, đến Vatican, linh mục Zollner trả lời: “Trước hết, tôi nghĩ ông không nên sản xuất bất kỳ tác phẩm nghệ thuật mới nào. Thứ hai, tôi hiểu nếu mọi người nói ‘Tôi không muốn nhìn thấy chúng nữa’. Thủ phạm sống giữa chúng ta, các nạn nhân sống với chúng ta, các thảo luận về tội ác và cách phản ứng vẫn đang tiếp diễn. Câu hỏi làm thế nào công lý có thể thực hiện cho các nạn nhân vẫn còn bỏ ngỏ. Trong bối cảnh như vậy, tôi khó có thể hiểu làm thế nào các tác phẩm của Rupnik – người được cho là đưa mọi người đến với Chúa – có thể đạt được mục tiêu này.”
Cha nói thêm: “Mặt khác, nếu chúng ta lấy đi các tác phẩm của tất cả những người từng phạm tội hoặc đối xử không đúng, lạm dụng người khác, thì có lẽ sẽ còn rất ít tác phẩm còn sót lại. Nếu tác phẩm nghệ thuật của Rupnik vẫn ở nguyên vị trí của nó, thì nên có một ghi chú rõ ràng để mọi người được thông báo.”
Khi được hỏi liệu việc lạm dụng phụ nữ trưởng thành có bị bỏ qua trong Giáo hội hay không, cha Zollner thừa nhận, “vấn đề lạm dụng quyền lực chỉ mới xuất hiện trong bốn hoặc năm năm qua với tư cách chủ yếu trong lạm dụng tình dục. Đó không phải là sự hiểu biết của chúng tôi sáu năm trước. Chủ đề này ngày càng mang lại nhiều khía cạnh mà chúng ta có thể phần nào cảm nhận được, nhưng rất ít người có thể nói lên và mô tả nó như chúng ta đang làm bây giờ. Vì thế đây cũng là một đường cong học tập với đường dốc thẳng đứng về các yếu tố chính của rối loạn chức năng là gì và các thành phần của lạm dụng và nguyên nhân sâu xa của nó là gì.”
Liên quan đến những điều đúng đắn trong những tháng gần đây, linh mục khen ngợi ủy ban do các giám mục Bồ Đào Nha thành lập như một “mô hình mẫu”.
Liên quan đến những điều đúng đắn trong những tháng gần đây, linh mục khen ngợi ủy ban do các giám mục Bồ Đào Nha thành lập như một “mô hình mẫu”. Ý tưởng về một ủy ban độc lập ra đời tháng 5 năm 2021 và ngày 13 tháng 2 năm 2023, báo cáo đã được công bố. Linh mục Zollner được mời làm cố vấn cho các giám mục ở Bồ Đào Nha. Chúng tôi đã nói về những gì cần phải làm và họ rất minh bạch. Họ tự áp đặt mình và đó là quyết định của chính họ, điều mà tôi thực sự khen ngợi vì thường thường nó xảy ra theo một cách khác. Những gì họ làm với kết quả của họ cần phải được nhìn thấy.”
Từ cuộc điều tra “Spotlight” (Đèn chiếu) của tờ Boston Globe năm 2002 cho đến bộ phim tài liệu “Không nói với ai” của Ba Lan năm 2018 và cuộc điều tra “El Pais” của Tây Ban Nha năm 2022, hầu hết các Giáo hội địa phương quyết định hành động sau khi các phóng sự mang tính cách mạng của các phương tiện truyền thông đưa ra.
“Có một điểm đột phá nào đó khi một loạt tin tức về các vụ này đột nhiên xuất hiện và sau đó các giám mục buộc phải làm một cái gì vì công chúng và đôi khi cũng vì chính trị.”
Theo linh mục Zollner, ủy ban của Bồ Đào Nha đã thể hiện tinh thần chuyên nghiệp và độc lập. Được chứng nhân với 512 chứng từ trong tổng số 564 chứng từ nhận được liên quan đến các vụ xảy ra từ năm 1950 đến năm 2022.
Linh mục cho biết người đứng đầu ủy ban là ông Pedro Strecht “đã nói rất rõ ràng ngay từ đầu, ông sẽ không chấp nhận bất kỳ sự can thiệp nào vào việc lựa chọn người, phương pháp và bất kỳ hình thức liên lạc nào mà họ muốn thực hiện.”
“Chúa Giêsu không yêu cầu chúng ta trở nên hoàn hảo theo nghĩa không tì vết khi Người nói về sự hoàn hảo mà chúng ta phải sống. Ngài nói về sự hoàn hảo của Thiên Chúa, là Cha nhân từ và yêu thương.”
Cha Zollner cho biết Bồ Đào Nha là “một mô hình tốt cho các quốc gia khác, ít nhất là về cách thức hoạt động của một ủy ban và cách trình bày báo cáo”.
Cha cho biết có ba lý do vì sao chúng ta vẫn chưa thấy nhiều minh bạch trong Giáo hội liên quan đến lạm dụng.
Một là chúng ta không muốn chỉ đích danh vào thể chế của chính mình. Khi một người bám vào hình ảnh và muốn giữ gìn hình ảnh và danh tiếng được cho là hấp dẫn, họ không muốn nhìn nhận sai lầm.
Thứ hai, sự thiếu minh bạch xảy ra khi chúng ta mắc sai lầm và chúng ta cần phải nhìn nhận mình đã phạm sai lầm, và đó không phải là điều tốt đẹp để nhìn nhận.
Thứ ba, hình ảnh này bị ảnh hưởng nhiều do phóng chiếu về sự hoàn hảo của chính mình. Chúa Giêsu không yêu cầu chúng ta trở nên hoàn hảo theo nghĩa không tì vết khi Người nói về sự hoàn hảo mà chúng ta phải sống. Ngài nói về sự hoàn hảo của Thiên Chúa, là Cha nhân từ và yêu thương.”
Cha nói: “Tôi thực sự nghĩ cũng có sự thiếu đức tin trong tất cả những chuyện này. Thiếu đức tin vào lòng thương xót và công lý của Thiên Chúa và vào khả năng tôi cho phép tôi phạm sai lầm. Và tôi nhìn nhận điều đó. Đây cũng là những gì chúng ta nói khi xưng tội, tôi phải làm việc đền tội cho những gì tôi đã làm sai.”
Linh mục Hans Zollner thành lập Trung tâm Bảo vệ Trẻ em tại Đại học Gregorian năm 2012, được chuyển thành Viện Nhân chủng học năm 2021. Trong 11 năm qua, hơn 7.000 sinh viên đã tốt nghiệp trong các chương trình trực tuyến và tại chỗ về việc bảo vệ trẻ vị thành niên.
Cha tuyên bố: “Sự tồn tại thuần túy của một cái gì như thế đã có tác động.
Linh mục Hans Zollner, ở tuyến đầu chống các lạm dụng tình dục
Linh mục Hans Zollner thành lập Trung tâm Bảo vệ Trẻ em tại Đại học Gregorian năm 2012, được chuyển thành Viện Nhân chủng học năm 2021. Tweet
Bây giờ là một viện trong Đại học Gregorian, viện có nhiều khả năng hơn trong công việc của mình, lớn hơn nhiều so với Trung tâm Bảo vệ Trẻ em trước đây. Cha nói: “Một trung tâm trong thể loại này và trong cấu trúc trường đại học của chúng tôi về cơ bản là chương trình của một người vì không có giảng viên. Và nếu nó không được kết nối với bất cứ phân khoa nào khác, thì nó không thể cấp bằng. Vì vậy, bằng cách thành lập một học viện, viện trở nên bền vững hơn và bây giờ chúng tôi có thể có khoa riêng của mình.”
Học viện của cha là một mạng lưới và một nơi để người khác tìm đến khi cần sự giúp đỡ, dù nó không thể cung cấp một công việc nghiên cứu sâu đậm. “Những người quan tâm, muốn tham khảo ý kiến, muốn ghé thăm, muốn chia sẻ, họ tìm đến chúng tôi. Đó là các nạn nhân và những người liên hệ với nạn nhân, các giám mục, các hội đồng giám mục, các cộng đồng, các tu sĩ, giáo dân. Tác động không chỉ giới hạn trong Giáo hội vì dĩ nhiên đây là vấn đề của con người.”
Cha nhấn mạnh trong xã hội có 20% trẻ em nữ bị lạm dụng và quấy rối tình dục trước 18 tuổi và cha hỏi: “Có ai nói về điều này không? Có bao nhiêu chính trị gia thực sự quan tâm? Tôi không thấy điều này xảy ra ngay cả ở những quốc gia mà người ta nói nhiều đến vấn đề này trước công chúng từ nhiều thập kỷ nay.”
Theo cha Zollner, trở ngại lớn nhất để giải quyết cuộc khủng hoảng lạm dụng tình dục của giáo sĩ là suy nghĩ, đây là một vấn đề thực sự nằm ngoài Giáo hội.
“Chúng ta không hiểu, đây là một phần trong sứ mệnh thực sự của Giáo hội ngày nay và quá trình hoán cải cần diễn ra không chỉ ở cấp độ thiêng liêng mà còn ở cấp độ cơ cấu để lắng nghe các nạn nhân. Phải thật sự lắng nghe tiếng nói đau khổ của những người đã phải chịu đựng bên trong Giáo hội, không chỉ những người di cư và người nghèo, mà cả những người đã phải chịu đựng dưới chính bàn tay của các thừa tác viên trong nhà thờ. Đó là trở ngại lớn nhất.”
Cha cho biết, vấn đề này không chỉ xảy ra với các linh mục và hàng giáo phẩm, mà còn thường là “trong nội bộ giáo xứ không cho phép các nạn nhân lên tiếng”.
Cha nói: “Chúng ta không muốn nghe vì nó làm đức tin chúng ta tan vỡ. Chúng ta không muốn phá vỡ hình ảnh của chúng ta có về Giáo hội.”
Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch
2023
Báo La Nación phỏng vấn Đức Phanxicô: “Ý thức hệ phái tính là một trong những ý thức hệ thực dân nguy hiểm nhất”
Trong cuộc đối thoại kéo dài gần một giờ, Đức Phanxicô nói “có chỗ cho tất cả mọi người trong Giáo hội”, nhưng ngài lên tiếng chống lại hệ tư tưởng giới tính; ngài hài lòng với những thay đổi trong Giáo triều Rôma.
lanacion.com, Elisabetta Piqué, Rôma, 2023-03-10
“Vào thời điểm này, ý thức hệ giới tính là một trong những ý thức hệ thực dân nguy hiểm nhất”
Trong cuộc phỏng vấn với báo Argentina La Nación, Đức Phanxicô cho biết, điều làm ngài hạnh phúc nhất trong mười năm này là “có chỗ cho mọi người trong Giáo hội”, khi được hỏi liệu ngài có đang viết một thông điệp mới không, ngài nói không và cũng phủ nhận việc ngài được yêu cầu viết một tài liệu về giới tính. Về vấn đề này, ngài xem nhân chủng học về giới tính là “cực kỳ nguy hiểm” vì nó hủy những khác biệt và hủy tình nhân loại”, ngài phân biệt với chăm sóc mục vụ cho những người có khuynh hướng tình dục đa dạng.
Ngài cho biết, ngài không biết gì về vụ bê bối nổ ra trong tuần này ở Ba Lan, khi một quyển sách và một cuốn phim tài liệu về Đức Gioan-Phaolô II tiết lộ ngài đã bao che cho một linh mục ấu dâm, khi ngài còn là tổng giám mục Krakow.
Bà Elisabeth Piqué. Cha có đang viết một thông điệp mới hoặc một tài liệu quan trọng không?
Đức Phanxicô. Không.
Cha có được yêu cầu viết một tài liệu về chủ đề giới tính không?
Không, không ai xin tôi viết. Có, họ có xin tôi làm rõ. Tôi luôn phân biệt giữa việc chăm sóc mục vụ cho những người có khuynh hướng tính dục khác và thế nào là hệ tư tưởng giới tính. Đó là hai việc khác nhau. Vào thời điểm này, hệ tư tưởng giới tính là một trong những hệ tư tưởng thực dân nguy hiểm nhất. Nó vượt ra ngoài tính dục. Tại sao nó nguy hiểm? Vì nó xóa đi các khác biệt, sự phong phú của nam nữ và của cả nhân loại là ở sự căng thẳng của những khác biệt. Nó lớn lên qua sự căng thẳng của những khác biệt. Vấn đề giới tính làm xóa đi các khác biệt, tạo một thế giới bình đẳng, thẳng thắn, tất cả đều giống nhau. Và điều đó đi ngược lại ơn gọi của con người.
Cha nhớ ở Argentina, lần cuối cùng khi tôi đến đó, tôi phải điền vào giấy tờ ghi rõ giới tính nam, nữ hoặc không giới tính không?
Kinh nghiệm của trường phái vị lai về chuyện này, tôi đã có từ nhiều năm trước khi tôi đọc quyển tiểu thuyết mà tôi luôn giới thiệu, Chúa tể thế giới (The Lord of the World), của Robert Hugh Benson viết năm 1907. Nó có vẻ rất hiện đại. Đoạn giữa hơi nặng nhưng có vài chương rất hay. Mở ra một tương lai trong đó những khác biệt biến mất, tất cả giống nhau, mọi thứ đều thống nhất, một ông chủ duy nhất cho cả thế giới. Một nhà tiên tri của trường phái vị lai. Ở đó tôi thấy khuynh hướng muốn làm rút ngắn các khác biệt. Điều phong phú mà nhân loại có là các văn hóa, các khác biệt…
Nhưng cuối cùng thì tôi cũng không rõ, họ có có viết một cái gì về giới tính không?
Không, không, không. Tôi nói về nó. Tôi nói vì có những người hơi ngây thơ nghĩ rằng đó là con đường tiến bộ và không phân biệt thế nào là tôn trọng sự đa dạng của tính dục hoặc các lựa chọn tình dục khác nhau với cái đã là nhân học về giới, điều cực kỳ nguy hiểm vì nó hủy bỏ các khác biệt, nó hủy bỏ nhân loại, hủy bỏ phong phú của nhân loại, cá tính, văn hóa và xã hội, các khác biệt, các căng thẳng giữa những khác biệt.
Đức Phanxicô trong cuộc phỏng vấn với nhà báo Elisabetta Piqué ở Vatican / Cristian Gennari
Trong thực tế, cha luôn nói về khối đa diện.
Luôn như thế.
Trong một số cuộc phỏng vấn, cha thừa nhận đã phạm sai lầm trong mười năm này. Cha có thể xác định một hoặc hai chuyện không?
Tôi sẽ lặp đi lặp lại, ở bất kỳ lỗi nào là một chút thiếu kiên nhẫn phải không? Đôi khi nó đến quá nhanh trong đầu, tôi mất kiên nhẫn, mất bình an, tôi bị trượt té, tôi phạm sai lầm. Phải biết cách chờ đợi, mình phải chờ các quy trình…
Và khi nào cha mất kiên nhẫn?
Hơn một lần. Nó không xuất hiện trên báo, nhưng hơn một lần. Bà sẽ cười… nhưng đừng lo, chúng ta đi từ từ và các tiến trình này sẽ từ từ diễn ra.
Có điều gì trong mười năm qua làm cha đặc biệt hạnh phúc không?
Tất cả những gì trong đường hướng mục vụ của tha thứ và hiểu giáo dân.
Tất cả mọi người đều có chỗ trong Giáo Hội. ước mơ của cha hôm nay là gì? Cha có ước mơ nào không?
Tôi rất thực tế, tôi thích chạm vào mọi thứ, tôi thực tế (Cười)… Khát vọng bơi về phía trước, mở ra những cánh cửa. Mở những cánh cửa, điều này giúp cho tôi rất nhiều. Mở cửa và đường đi.
Cha hình dung Giáo hội công giáo trong 20 năm nữa như thế nào?
Nếu câu hỏi này đặt ra cho bất cứ ai đã từng làm việc với Thánh Phaolô VI, họ sẽ trả lời sai. Tôi sẽ sai.
Không, tôi hình dung một Giáo hội mục vụ hơn, công bằng hơn, cởi mở hơn. Tôi không thể nói bất cứ điều gì khác, tôi không biết tại sao. Thật buồn cười, lịch sử không ngừng thay đổi cục diện của các tình huống và nó sẽ đi theo một cách khác. Nói một cách khác, việc truyền giáo theo một hướng khác. Hướng của tôi là chân trời luôn mở rộng và sống cho ngày hôm nay. Có một tưởng tượng mà người ta có thể nói là đường hướng dẫn, đó là điều mà các tài liệu công đồng, các tài liệu của các giám mục, cho chúng ta thấy chúng ta phải đi theo con đường này. Bây giờ, và cụ thể hóa điều này, thật khó.
Mười năm đã trôi qua, cha có nghĩ cuộc bầu chọn như ngày hôm qua? Nó có đi nhanh không? Chậm? Cha cảm thấy như thế nào?
Nó đi qua nhanh, giống như tất cả cuộc sống. Tôi nghĩ đến các công việc của tôi. Hôm nay tôi nói về trường trung học của tôi, nó có vẻ như ngày hôm qua. Thật lạ lùng, làm thế nào mà ngày hôm qua lại trở nên ngắn và có vẻ như mới hôm qua. Và chúng trôi qua nhanh chóng.
Tôi biết cha không thích làm bảng kế toán, nhưng nhìn lại, cha có cảm thấy cha đã đạt được mục tiêu của cha không? Như nhiều lần cha đã nói, nhiệm vụ của các cuộc họp tiền mật nghị là tìm một tân giáo hoàng làm trong sạch tài chánh của Vatican, mang lại trật tự cho giáo triều sau một số vụ tai tiếng… cha có đạt được những mục tiêu đó không?
Tôi đã bắt đầu làm. Chẳng hạn trong phần kinh tế, tôi muốn tri ân cố hồng y Pell, người đã giúp rất tôi nhiều, một người vĩ đại. Thật không may, ngài đã gặp vấn đề nhưng sau đó ngài được vô tội. Vô tội nhưng ngài phải ngồi tù mười bốn tháng và ngài không thể tiếp tục. Nhưng chính hồng y là người bắt đầu cuộc cải cách kinh tế và tôi rất biết ơn ngài.
Còn cải cách giáo triều?
Các bộ đã được sắp xếp lại và ngay cả bây giờ Hồng y đoàn cũng được tự do hơn.
Trong tông huấn Niềm vui Tin mừng Evangelii Gaudium của cha, cha nói về hoán cải ngôi giáo hoàng… Cha có cảm thấy cha đã thực hiện được hoán cải này không? Cha không hiện thân của một Giáo hoàng Vua, cha là giáo hoàng không kiểu cách, gần gũi hơn, cởi mở hơn và khiêm tốn hơn. Hoặc, cha sẽ thực hiện thay đổi nào khác với chức vụ giáo hoàng không?
Tôi muốn nói việc hoán cải ngôi giáo hoàng không bắt đầu từ tôi. Chẳng hạn, nếu muốn đánh dấu các lãnh vực trong giai đoạn cuối cùng này, thì phải bắt đầu với Đức Phaolô VI, người đầu tiên đi ra nước ngoài. Đó là hoán cải của ngai Thánh Phêrô, ngài đã hưởng di sản thừa kế của tất cả những giáo hoàng đi trước, đã kết thúc Công đồng và đưa vào hoạt động. Một vĩ nhân, một vị thánh. Nếu nói về một triều giáo hoàng hiện đại nhất hiện nay với những cách cung cách mới thì phải nói Đức Phaolô VI là người đầu tiên. Và khi bắt đầu, với các sắc thái bên này, bên kia của nó, nó tiến lên phía trước. Thánh Gioan Phaolô II, nhà truyền giáo vĩ đại; Đức Gioan Phaolô I với số ngày ngắn ngủi là mục tử gần gũi, ngài muốn chấm dứt một số điều không suôn sẻ và Đức Bênêđictô với chiều sâu giáo huấn, ngài là người dũng cảm. Ngài là giáo hoàng đầu tiên chính thức giải quyết vấn đề lạm dụng. Một nhà thần học vĩ đại, tôi nhớ ngài vì ở ngài là cả một công trình.
Cha vừa nói về Đức Gioan-Phaolô II và các vụ lạm dụng… Tôi không biết cha có biết trong tuần này, một vụ tai tiếng khủng khiếp đã bùng ra ở Ba Lan, một cuốn phim tài liệu trong đó nói đến một bức thư ngài viết cho hồng y Kưnig ở Vienna để xin hồng y nhận một linh mục là người lạm dụng, và ở Ba Lan vụ này là một vụ tai tiếng lớn. Một quyển sách cũng đã xuất bản… Câu hỏi của tôi là Đức Gioan-Phaolô II có được phong thánh quá sớm không?
Chúng ta phải đưa sự việc về thời của nó. Không phù với thời luôn là một chuyện không tốt. Vào thời điểm đó, mọi thứ đều bị bao che. Cho đến khi vụ tai tiếng Boston xảy ra, mọi thứ đều bị che đậy. Từ vụ Boston, Giáo hội mới bắt đầu xem lại vấn đề này. Từ đó, Giáo hội luôn trung thành với việc làm sáng tỏ mọi thứ. Giải pháp là thay đổi cha xứ địa phương, hoặc cùng lắm là rút lại nếu không có giải pháp nào, nhưng không gây tai tiếng. Thật không may, ngày nay điều này vẫn còn xảy ra trong gia đình và trong khu phố. Nhiều ít, theo con số thống kê, đó là 42% trường hợp xảy ra trong gia đình, khu phố rồi đến trường học. Và bây giờ vẫn bị che đậy để không nảy sinh xung đột, đó là cách tiến hành. Giáo hội cũng thế, bưng bít, thuyên chuyển… đôi khi không có cách nào khác là phải loại trừ và dứt khoát làm, nhưng cũng có nghĩa là thuyên chuyển đi nơi khác. Nói cách khác, mỗi thời phải được nhìn theo thời của nó.
Trên thực tế, có người nói thư của hồng y Wojtyla viết cho hồng y Franz König, trong đó ngài nói linh mục sẽ học khoa tâm lý học, đó là cách mã hóa để nói linh mục là người lạm dụng… vì tài liệu này ở ngoài lưu khố.
Tôi không biết trường hợp này, nhưng đó là bình thường. Để che đậy hoặc một cách trực tiếp, khi không có biện pháp nào khắc phục thì gởi họ đi. Che đậy. Như ngày nay các gia đình không may vẫn còn làm. Khi vấn đề là do người ông, người chú bác, người láng giềng, đó là những vấn đề nghiêm trọng trong gia đình. Tạ ơn Chúa vì Đức Bênêđictô XVI là người đầu tiên phát hiện ra vấn đề của Binh đoàn Kitô. Ngài thật dũng cảm. Hôm nay Giáo hội đã tiếp tục. Sau vụ tai tiếng Boston, Giáo hội bắt đầu có thái độ mới… Nắm ngay cái khó để giải quyết.
Đổi chủ đề… Cách đây 10 năm cha nói: “Tôi muốn có một Giáo hội nghèo cho người nghèo.” Có điều gì đó đã thay đổi trong chuyện này ở Vatican không và Giáo hội ngày nay vẫn còn quá nhiều các ‘giám mục là ông hoàng’?
Thái độ cho thấy rõ. Trong kinh tế không còn các đặc quyền kinh tế, các khoản tiền thưởng hoặc chúng đã bị loại bỏ, một tình trạng tiến bộ kinh tế đã được ổn định để tốt hơn, nhưng nó phát sinh từ sự làm sạch, không có những đầu tư bẩn, tất cả những loại như thế. Và Ban kinh tế đã giúp tôi rất nhiều, trước hết là linh mục Guerrero, trong hơn ba năm rưỡi cha đã hệ thống hóa mọi thứ và bây giờ là ông Maximino Caballero, một giáo dân.
Như thế có thể nói cha hài lòng vì cảm thấy có được không khí cải cách?
Tôi xin lỗi, chúng ta vẫn phải còn đi tới đằng trước.
Có thể nói, trong 10 năm này, cha đã tìm lại được những con chiên đi lạc, vì nhiều người đã rời Giáo hội, nhưng ai là người về lại với cha, một giáo hoàng khác… nhưng đồng thời cha cũng đặt vấn đề với “những người công giáo hoàn hảo”, họ vẫn ở trong khủng hoảng giống như người anh cả trong dụ ngôn Người con hoang đàng trở về…
Điều đó luôn luôn xảy ra. Nó luôn xảy ra. Một từ quan trọng của Chúa Giêsu là “mọi người”. Theo tôi, đây là chìa khóa để mục vụ được mở ra. Ai cũng vào nhà. Đủ mọi tình trạng rối ren nhưng ai cũng ở trong nhà.
Trước khi được bầu làm giáo hoàng, cha không thích đi Rôma, hoặc đi càng ít càng tốt vì xem đây là nơi phức tạp, với những âm mưu nội bộ. Mười năm sau, từ những gì đã thấy sau cái chết của Đức Bênêđictô XVI và những quyển sách xuất bản sau đó, liệu những âm mưu đó có còn ở đây hay đã có thay đổi?
Luôn còn lại một số, nhưng đó không phải là môi trường … Tôi đã không thay đổi nó, chính lịch sử đã thay đổi. Trong các cuộc họp chuẩn bị của các hồng y, mọi thứ đã được làm sau đó. Cũng chính các hồng y này đã nói “ở đây, ở đây, ở đây.” Đó là điều tuyệt vời, đó là chính Hồng y đoàn thiết đặt. Tôi chỉ mới bắt đầu điều đó. Thật thích thú.
Cha có cảm thấy cha có nhiều phản kháng và kẻ thù không? Và cha nghĩ vì sao có sự phản đối về tầm nhìn Giáo hội mà cha vừa đề cập, một Giáo hội mở ra cho tất cả mọi người, bao gồm tất cả, một Giáo hội mà cha đã xác định ngay từ đầu với một hình ảnh tốt đẹp, là bệnh viện dã chiến để điều trị cho những người bị tổn thương ngày nay?
Phản kháng luôn luôn có, ở mọi nơi. Trước bất kỳ tiến bộ nào, bất kỳ thay đổi nào… Chúa Giêsu đã có đủ phản kháng, tôi không so sánh. Nhưng luôn có phản kháng. Vào thời của Ngài, Chúa Giêsu không muốn đối thoại với tất cả. Ngài nói chuyện, nhưng Ngài không làm theo dự án, Ngài làm theo dự án riêng của Ngài. Ngài không phải là người pharisêu, người sa-đốc, người e-sê-niô, người zêlôta cuồng nhiệt. Vì Ngài là người mang thông điệp: ở đây chúng ta không buộc phải tham gia một đảng phái chính trị nào, bên trong giáo hội. Sự tự do của Chúa Thánh Thần, lắng nghe ý dân, tham khảo và tìm ý Chúa.
Cha luôn nói về các quy trình, đã bắt đầu, và cha đã làm nhiều. Cha nghĩ có chủ đề nào đang chờ xử lý hoặc điều gì đó mà cha muốn xem đã hoàn thành không?
Tôi không nghĩ như vậy. Tôi thích các quy trình chứ không đánh giá. Lạ lùng là tôi không thích đánh giá, tôi cũng không biết làm cách nào. Các quy trình, có, nhưng vì tôi muốn chúng tiến về phía trước. Nhưng không bao giờ có cái gì bị bỏ lại, và nhiều thứ phải còn lại, điều đó không đúng. Trường hợp điển hình là các chủng viện. Cần phải xem xét lại các chủng viện, thực tế là đang có các cuộc thăm viếng, để điều chỉnh việc đào tạo các linh mục tương lai. Một cái gì đó đang được tiến hành.
Thượng hội đồng hiệp hành đang diễn ra là một thách thức lớn lúc này, phải không?
À, nói theo thuật ngữ bóng đá thì người đá quả bóng lần đầu là Đức Phaolô VI. Khi kết thúc Công đồng, Đức Phaolô VI nhận ra Giáo hội ở phương Tây đã đánh mất chiều kích đồng nghị. Giáo hội phương Đông còn duy trì. Sau đó, ngài thành lập ban thư ký cho thượng hội đồng giám mục, họp bốn năm một lần. Tôi đã dự hai lần. Có một quy trình quyết định đã chín muồi, nhưng không phải quy trình đã tồn tại trước đây, đã có nhiều bổ sung thêm. Khoảng mười năm trước, đã có một suy tư nghiêm túc và đã có một tài liệu được thành lập, tôi đã ký vào đó với các nhà thần học, theo tôi, đó là công việc của một cộng đồng. Điều đó đánh dấu “chúng ta đã đến mức này, bây giờ còn thiếu một cái gì khác”. Và chúng ta chưa làm rõ những gì còn thiếu, nhưng tự nó đã được đánh dấu để làm cho tính đồng nghị được trở nên rõ ràng. Ví dụ, việc phụ nữ trước đây không được bầu, bây giờ tất cả đã chấp nhận cho họ được bầu. Vì thế trong thượng hội đồng về vùng Amazon, người ta đã đặt câu hỏi vì sao phụ nữ không được bỏ phiếu? Họ có phải là tín hữu kitô hạng hai không? Nói cách khác, càng ngày các vấn đề quan trọng được đặt ra để cải thiện.
Bây giờ cha sẽ cho một số hay cho tất cả bỏ phiếu?
Bất cứ ai tham gia thượng hội đồng sẽ được bỏ phiếu. Ai là khách mời hoặc quan sát viên sẽ không bỏ phiếu. Bất cứ ai tham gia vào thượng hội đồng đều có quyền bỏ phiếu. Dù là nam hay nữ. Mọi người, mọi người. Với tôi, từ ‘mọi người’ là từ là chính.
Cha là hồng y ở Buenos Aires, cha gần như không trả lời phỏng vấn. Bây giờ trong dịp kỷ niệm 10 năm, cha đã trả lời phỏng vấn rất nhiều, kể cả với truyền thông Argentina, tôi nghĩ tôi là người cuối cùng trong số này. Việc cha trả lời phỏng vấn như thế này… điều gì đã thay đổi?
Tôi không thích trả lời phỏng vấn. Tôi làm nhưng không thích mấy. Người giới thiệu tôi đến với giới truyền thông ở Buenos Aires là linh mục Guillermo Marcó, cựu phát ngôn viên, cha đã cất nỗi sợ của tôi. Trong những lần gặp đầu tiên với giới truyền thông ở giáo phận, tôi gặp được những những người tốt… Ở đó, tôi gặp ông Joaquín Morales Solá, ông đến gặp tôi mỗi năm, chúng tôi có quan hệ tốt. Ngoài ra tôi có ông Julio Bárbaro, từ một hệ tư tưởng khác và những mối quan hệ này vẫn còn duy trì. Nhưng tôi không biết, với tôi nó có vẻ theo mốt, nhưng tôi sống như vậy. Bây giờ sau mười năm, tôi không có quyền không nói. Tôi nghĩ, không được đùa nữa, bây giờ là phục vụ, và phải trả lời phỏng vấn. Ngắn gọn, đó là một cách giải thích.
Xin cám ơn cha đã giải thích.
Tôi cũng cám ơn bà về những gì bà làm. Làm nhà báo không dễ, đưa tin không dễ, giữ được sự chú ý giữa thực tế, khách quan và tò mò không dễ, đúng không? Vì luôn phải có một cái móc để khơi câu chuyện. Xin cám ơn bà về chuyến đi Ukraine, bà thật can đảm!
Xin cám ơn cha vì tiếng nói của cha rất cần thiết, không chỉ trên thế giới, mà còn ở đất nước Argentina.
Marta An Nguyễn dịch
