2023
7 thái độ của phụ nữ trong Kinh Thánh mà mọi Kitô hữu nên bắt chước
Các nghiên cứu ngày nay khẳng định rằng phụ nữ không còn chiếm đa số trong Hội thánh. Họ đã từng là phúc lành tuyệt vời trong Hội thánh của Chúa Giêsu. Mặc dù não trạng trọng nam khinh nữ còn tồn tại trong các nền văn hóa được nói đến nhiều trong Kinh thánh, chúng tôi tìm thấy ở đây những người phụ nữ tuyệt vời, họ có rất nhiều điều để dạy chúng ta.
Để tỏ lòng kính trọng đối với phụ nữ, tôi muốn nêu lên đây 7 thái độ của người nữ trong Kinh thánh mà mọi người nên bắt chước.
SỰ KHIÊM NHƯỜNG CỦA ĐỨC MARIA, MẸ CHÚA GIÊSU
Đức Maria được chọn trong số các thiếu nữ khác nhau để làm mẹ Đấng Cứu Chuộc. Điều đó có thể đem lại niềm tự hào nhất định, một sự kiêu căng trong tâm hồn mẹ. Thế nhưng, Mẹ đã nói một điều mà tất cả chúng ta cần phải thưa với Chúa mỗi ngày: “Linh hồn tôi ngợi khen Thiên Chúa, thần trí tôi hớn hở vui mừng vì Thiên Chúa Đấng cứu chuộc tôi. Phận nữ tỳ hèn mọn Người đoái thương nhìn tới, từ nay hết mọi thời sẽ khen tôi có phúc” (lc 1,46-48).
Sự khiêm nhường của Đức Maria khi đặt cuộc đời vào bàn tay quan phòng của Chúa và cộng tác với Chúa trong sứ mệnh cao cả của mình là điều thực sự hấp dẫn mà mọi Kitô hữu nên bắt chước.
SỰ KIÊN TRÌ TRONG LỜI CẦU NGUYỆN CỦA BÀ ANNA
Bà Anna đã có một cuộc sống không thực sự dễ dàng. Chồng bà là Encana đã lợi dụng truyền thống để có hai vợ (1Sam 1,2). Ngoài ra, Anna là người nữ vô sinh, thứ mà thời đại của bà coi là bị nguyền rủa. Bà bị người vợ kia của chồng coi thường và mang trong mình một nỗi buồn khôn tả vì chuyện này (1Sam 1,6). Nhưng bà không từ bỏ mục tiêu sinh con và không quan tâm đến những lời đàm tiếu, trái lại, bà vẫn kiên trì cầu nguyện, “ngày qua tháng lại, bà Anna thụ thai, sinh con trai và đặt tên cho nó là Samuen, vì bà nói: “Tôi đã xin ĐỨC CHÚA được nó.” (1 Sam 1,20).
SỰ CAN ĐẢM CỦA MARIA MAĐALÊNA ĐỂ VƯỢT QUA QUÁ KHỨ
Kinh thánh kể rằng Maria Mađalêna bị quỉ ám. Chúa Giêsu đã đuổi bảy quỉ ra khỏi bà (Lc 8,2). Chúng ta không có nhiều chi tiết về quá khứ của người phụ nữ đó, tuy nhiên, chắc chắn đó là một quá khứ không đẹp lòng Chúa. Thế nhưng bà đã can đảm vượt qua quá khứ đen tối của mình và trở thành người tôi tớ trung thành tuyệt vời của Chúa Giêsu. Bà luôn được nhắc đến trong đội ngũ các môn đệ, và là người đầu tiên biết và tin vào sự phục sinh của Chúa Giêsu Kitô (Mt 28,1). Bà là người phụ nữ đã thể hiện một sự vượt qua không thể sánh, một bức chân dung về sự biến đổi mà Thiên Chúa hành động trong đời sống của mọi người.
SỰ KHÔN NGOAN CỦA MIRIAM ĐỂ VƯỢT QUA KHỦNG HOẢNG
Pharaon ra lệnh cho toàn dân của mình: “Mọi con trai người Aicập sinh ra, hãy ném xuống sông Nin; mọi con gái thì để cho sống” (Xh 1,22).
Mệnh lệnh đó khiến cho cuộc sống của Môsê, khi còn là trẻ thơ, gặp nguy hiểm. Nhưng chiến lược của người mẹ và Miriam, chị của ông, đã cứu mạng ông. Thật không dễ tí nào. Miriam đã thể hiện sự khôn khéo tuyệt vời khi dõi mắt theo cậu bé được đặt trong một chiếc thúng trôi trên sông, rồi thuyết phục cô công chúa của vua Pharaon giao cậu bé cho mẹ của mình để bà ta chăm sóc cho cậu một thời gian (Xh 2,7). Cô đã cứu mạng Môsê qua cách xử lý cách khôn ngoan trước những tình huống thật sự bất lợi.
LÒNG KÍNH SỢ CHÚA CỦA CÔ GÁI ĐIẾM RAKHÁP
Rakháp được nhắc đến trong Kinh thánh như một cô điếm. Kinh thánh không che giấu sự gì về cô ta. Kinh thánh cũng không che giấu sự thay đổi đang diễn ra trong lòng của cô ấy. Trong cuộc đối thoại với những người do thám của Israel, những người mà cô giấu trong nhà với mục đích bảo vệ họ, cô cho chúng ta thấy nỗi sợ hãi Thiên Chúa của mình: “Khi chúng tôi nghe đồn, thì tâm thần chúng tôi sợ hãi như muốn chảy tan ra, không ai còn nhuệ khí trước mặt các ông, vì ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của các ông, là Thiên Chúa ngự chốn trời cao cũng như nơi đất thấp” (Gs 2.11). Một lời thú nhận về lòng kính sợ Thiên Chúa rất tuyệt vời. Xét thấy rằng, Rakháp sống giữa những người ngoại giáo cho nên lời nói của cô cho thấy được nỗi sợ Thiên Chúa của cô to lớn đến mức nào. Thái độ của cô dành cho Thiên Chúa rất tuyệt vời, để rồi cô được trở nên một phần trong gia phả của Chúa Giêsu Kitô (Mt 1,5).
SỰ NHIỆT THÀNH TRUYỀN GIÁO CỦA NGƯỜI PHỤ NỮ SAMARI
Như chúng ta đã biết, người phụ nữ Samaria đã có cuộc gặp gỡ tuyệt vời với Chúa Giêsu cạnh một cái giếng nơi cô đến lấy nước (Ga 4,9). Chúa Giêsu đã tỏ cho cô thấy những lỗi lầm mà cô ta đã phạm trong quá khứ và hiện tại. Những lời nói mạnh mẽ của Chúa đã đánh động con tim của người phụ nữ đó. Kết quả thế nào? Lòng nhiệt thành truyền giáo đã xâm chiếm tâm hồn người phụ nữ ấy, cô đã đem những lời của Chúa Giêsu đã nói đến cho dân làng của mình dù chưa biết Chúa là ai: “Người phụ nữ để vò nước lại, vào thành và nói với người ta: “Đến mà xem: có một người đã nói với tôi tất cả những gì tôi đã làm. Ông ấy không phải là Đấng Kitô sao? ” Họ ra khỏi thành và đến gặp Người” (Ga 4,28-30).
NHỮNG NGƯỜI PHỤ NỮ ĐỨC HẠNH VÔ DANH TRONG SÁCH CHÂM NGÔN
Những câu cuối cùng của sách Châm ngôn được dành để ca ngợi đức tính của người phụ nữ vô danh, nhưng cũng có thể họ là những người phụ nữ vĩ đại của Thiên Chúa, đang tồn tại và có thực trong thời đại của chúng ta. Những người phụ nữ này đã sống các nhân đức trong việc chăm sóc gia đình, chồng con; trung thực và tận tâm trong công việc của mình. Bản văn này trình bày cho chúng ta như một bản tóm tắt về phẩm chất của người phụ nữ của Thiên Chúa và cho thấy họ quan trọng biết là dường nào.
IX. NGƯỜI VỢ ĐẢM ĐANG
Tìm đâu ra một người vợ đảm đang ?
Nàng quý giá vượt xa châu ngọc.
Chồng nàng hết dạ tin tưởng nàng,
chàng sẽ chẳng thiếu chi lợi lộc.
Suốt đời, nàng đem lại hạnh phúc
chứ không gây tai hoạ cho chồng.
Nàng tìm kiếm len và vải gai,
rồi vui vẻ ra tay làm việc.
Giống như những thương thuyền,
nàng đem lương thực về từ tận phương xa.
Nàng thức dậy khi trời còn tối,
cung cấp phần ăn cho cả nhà, và sai bảo con ăn đứa ở.
Nàng để mắt đến một thửa ruộng và tậu lấy ;
nàng dùng huê lợi đôi tay mình làm ra
mà canh tác một vườn nho.
Nàng thắt lưng cho chặt,
luyện cánh tay cho mạnh mẽ dẻo dai.
Nàng thấy công việc sinh nhiều lợi nhuận,
đèn trong nhà thắp sáng thâu đêm.
Nàng tra tay vào guồng kéo sợi,
và cầm chắc suốt chỉ trong tay.
Nàng rộng tay giúp người nghèo khổ
và đưa tay cứu kẻ khốn cùng.
Nàng không sợ người nhà bị lạnh vì tuyết sương,
bởi cả nhà đều được mặc hai áo.
Nàng tự tay làm lấy chăn mền,
nàng mặc toàn vải gai, vải tía.
Chồng nàng được tiếng thơm nơi cổng thành
khi ngồi chung với hàng kỳ mục trong dân.
Nàng dệt vải đem bán,
cung cấp dây lưng cho nhà buôn.
Trang phục của nàng là quyền uy danh giá,
nàng mỉm cười khi nghĩ đến tương lai.
Nàng khôn ngoan trong lời ăn tiếng nói
và dịu hiền khi dạy dỗ bảo ban.
Nàng để mắt trông nom mọi việc trong nhà,
bánh nàng ăn là do mồ hôi nước mắt nàng làm ra,
con nàng đứng lên ca tụng nàng có phúc,
chồng nàng cũng tấm tắc ngợi khen :
“Có nhiều cô đảm đang,
nhưng em còn trổi trang gấp bội.”
Duyên dáng là giả trá, sắc đẹp là phù vân.
Người phụ nữ kính sợ ĐỨC CHÚA
mới đáng cho người đời ca tụng.
Hãy để cho nàng hưởng những thành quả tay nàng làm ra.
Ước chi nơi cổng thành nàng luôn được tán dương ca tụng
do những việc nàng làm.
(Cn 31,10-31)
Tác giả bài viết: G. Võ Tá Hoàng chuyển ngữ
2023
3 cách để dâng mình cho Chúa
Thánh Phaolô mạnh mẽ thúc dục chúng ta : “Thưa anh em, vì Thiên Chúa thương xót chúng ta, tôi khuyên nhủ anh em hãy hiến dâng thân mình làm của lễ sống động, thánh thiện và đẹp lòng Thiên Chúa. Đó là cách thức xứng hợp để anh em thờ phượng Người” (Rm 12,1).
Nhưng ý nghĩa dâng hiến bản thân như như một hy lễ thực sự là gì?
Trong tiếng Do thái từ “hy lễ” là korbán, nó có nghĩa là “tiến lại gần hơn”. Mục đích của hy lễ là đến gần Chúa hơn; đó là một lời mời gọi sống trong sự hiệp thông mãnh liệt với Chúa. Vì vậy, cần phải thực hiện “teshuvá”, nghĩa là hoán cải. “Teshuvá” bao gồm việc đổi mới cách nhìn và suy nghĩ về thực tại “Anh em đừng có rập theo đời này, nhưng hãy cải biến con người anh em bằng cách đổi mới tâm thần, hầu có thể nhận ra đâu là ý Thiên Chúa: cái gì là tốt, cái gì đẹp lòng Chúa, cái gì hoàn hảo” (Rm 12,2). Điều đó có nghĩa là xem xét cuộc sống và thế giới của chúng ta “từ trên cao” qua cặp mắt xót thương của Thiên Chúa. Dưới đây là ba chiều kích của hành vi dâng hiến.
Thánh Gioan Tẩy giả de la Salle đã nói: “Hãy hiến dâng chính mình và tất cả những gì thuộc về chúng ta đều dâng cho Chúa, nghĩa là dâng lên Ngài mọi tư tưởng, lời nói và việc làm, tất cả mọi tài sản của chúng ta, dù đó là thiêng liêng hay trần tục, tắt một lời, dâng tất cả những gì chúng ta đang sở hữu trên thế gian này”.
1. DÂNG HIẾN BẢN THÂN
Phạm vi cuộc sống của chúng ta đã là một “món quà” đến từ Thiên Chúa, chúng ta cần phải xem lại tất cả những gì là tốt đẹp nơi hữu thể và sự hiện hữu của mình: linh hồn, thể xác, tài năng, di sản văn hóa, gia đình của chúng ta…. như thánh Phaolô đã viết : “Thật vậy, nào có ai coi bạn hơn kẻ khác đâu? Bạn có gì mà bạn đã không nhận lãnh? Nếu đã nhận lãnh, tại sao lại vênh vang như thể đã không nhận lãnh?” (1Cor 4,7). Thực hiện teshuvá nghĩa là nhận biết Thiên Chúa là nguồn gốc của mọi điều thiện hảo. Và do đó, điều đòi hỏi nơi chúng ta là cần phải thích ứng cuộc sống của mình với Lời Chân Lý của Chúa.
Dâng hiến bản thân được thực hiện bằng cách tạ ơn và ca ngợi vì những ân huệ mà bạn đã lãnh nhận. Nó được thể hiện qua việc luôn mong muốn phục vụ Thiên Chúa và đồng loại của mình; hoàn toàn đặt mình tuân theo ý Chúa, phù hợp với từng giai đoạn của cuộc đời, để xây dựng Nước Trời; đặt mọi tư tưởng của chúng ta, lời nói và hành động của chúng ta trong sự gắn kết với cuộc sống.
2. DÂNG CHÚA MỌI TỘI LỖI CỦA CHÚNG TA
Dưới đây là một giai thoại về cuộc đời của thánh Jerome. Một ngày kia Chúa hỏi Jerome: “Hôm nay con có gì cho Ta không?”. Thánh nhân trả lời: “Lạy Chúa, con dâng cho Chúa lời cầu nguyện của con” – “Tốt, nhưng còn gì nữa không”, Chúa nói. Và thánh Jerome đã kể ra hàng loạt những kỷ luật bản thân, nào là sự tỉnh thức, tình yêu dành cho những ai đến thăm mình… Rồi Chúa lại hỏi Jerome: “Còn gì nữa không?”. Jerome thưa : “Con không biết có còn gì để dâng Chúa nữa!”. Cuối cùng Chúa nói với thánh nhân : “Có một điều mà con chưa dâng cho Ta đó là tội lỗi của con!”.
3. DÂNG CHÚA NỖI KHỔ CỦA CHÚNG TA
Và sau cùng, có những điều chúng ta phải “chịu đựng” : đó là những thử thách lớn lao của cuộc sống, cũng như những điều nhỏ nhặt thường ngày làm chúng ta khó chịu. Chúng ta dâng lên Chúa những khoảnh khắc đau khổ này để “lồng chúng vào bên trong lòng trắc ẩn vô biên của Chúa Kitô”, để những khổ đau “trở thành một phần trong kho tàng thương xót mà con người đang cần” để sống yêu thương, để lãnh nhận và rao truyền ơn cứu rỗi (Benedict XVI).
Mẹ Têrêsa đã cầu nguyện:
Lạy Cha nhân từ, xin giúp chúng con,
để chúng con biết chấp nhận mọi điều Cha ban cho chúng con,
và biết cho đi mọi thứ mà Cha đòi hỏi chúng con với một nụ cười thật to.
Nụ cười bên trong – và bên ngoài – là dấu chỉ của việc dâng hiến một cách tự do trong mọi hoàn cảnh. Nụ cười đó chống lại mọi nỗi buồn vì đã từ bỏ, hay giận dữ sau những lời phàn nàn của chúng ta.
Tác giả bài viết: Võ Tá Hoàng chuyển ngữ
2023
Nữ tu Helen Alford, tân Chủ tịch Hàn lâm viện Tòa Thánh về Khoa học Xã hội
Nữ tu Helen Alford, tân Chủ tịch Hàn lâm viện Tòa Thánh về Khoa học Xã hội
Ðức Giáo Hoàng Phanxicô vừa bổ nhiệm nữ tu Helen Alford, dòng Ða Minh Thánh Catarina Siena, 58 tuổi, vào vị trí đứng đầu Hàn lâm viện Tòa Thánh về Khoa học Xã hội.
Vatican đã công bố sắc lệnh bổ nhiệm vào ngày 1.4 và sơ Alford chính thức tiếp quản vị trí của nhà kinh tế học người Ý Stefano Zamagni từ ngày 1.5. Sơ là thành viên của cơ quan này từ năm 2020 và sẽ trở thành người phụ nữ thứ ba đứng đầu Hàn lâm viện Tòa Thánh về KHXH, sau giáo sư luật, đồng thời là cựu Đại sứ Mỹ cạnh Vatican, Mary Ann Glendon, với nhiệm kỳ chủ tịch 2004-2014; và nhà xã hội học Margaret S. Archer (2014-2019). Sơ cũng đứng đầu Khoa Khoa học Xã hội của Đại học Giáo hoàng Thánh Tôma Aquinô ở Rome.
Chọn đời thánh hiến sau khi trở thành tiến sĩ
Sinh ra ở London, sơ Alford làm việc trong ngành khoa học xã hội và lấy bằng tiến sĩ ngành kỹ thuật quản lý của Đại học Cambridge (Anh) trước khi trở thành nữ tu của dòng Đa Minh Thánh Catarina Siena. Kể từ đó, sơ dạy giáo lý xã hội Công giáo, đạo đức kinh doanh và những trách nhiệm của giới doanh nhân đối với xã hội. Năm 2020, vị nữ tu được Đức Thánh Cha Phanxicô chọn làm thành viên thường trực của Hàn lâm viện Tòa Thánh về Khoa học Xã hội, kiêm nhiệm Cố vấn của Hội đồng Tòa Thánh về Công lý và Hòa bình.
Trả lời phỏng vấn hãng Catholic News Service khi ấy, nữ tu Alford gọi việc thánh Gioan Phaolô II thiết lập Hàn lâm viện vào năm 1994 là hành động hệ thống lại toàn bộ quan điểm về xã hội của Giáo hội Công giáo. Theo nữ tu, đây là bước đi vô cùng quan trọng, cho phép khẳng định Tin Mừng có sẵn những nguyên tắc rõ ràng và cụ thể nhằm hướng dẫn con người thực hành lối sống công nhận phẩm giá mà Thiên Chúa ban cho mỗi người, đồng thời thúc đẩy lối sống xã hội tốt đẹp, công bằng và hòa bình.
Trong quá trình làm luận án ở Đại học Cambridge, lúc vẫn chưa đi tu, sơ đặc biệt quan tâm đến thông điệp Laborem exercens (Lao động của con người) công bố vào năm 1981 của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II. Theo sơ, qua thông điệp này, Đức Gioan Phaolô II đã khơi lại sự chú ý những tác động xã hội của việc thực hành Kitô giáo. Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI bổ sung phần mình vào thông điệp này, và Đức Giáo Hoàng Phanxicô thúc đẩy hành động suy niệm đạo đức và thần học về những điều mà Giáo hội cần áp dụng để đóng góp cho thế giới.
Nữ tu cho rằng một phần nhiệm vụ của giảng huấn Công giáo là giúp con người nhận ra rằng việc thúc đẩy lợi ích chung cho mọi người không chỉ dừng lại ở lòng vị tha, mà còn là vấn đề nhận ra những kết nối của bản thân đối với người khác và nuôi dưỡng nhu cầu bồi đắp các mối quan hệ đó.
Nhiệm vụ ở Hàn lâm viện
Hàn lâm viện Tòa Thánh về Khoa học Xã hội là cơ quan nghiên cứu về khoa học xã hội của Giáo hội, được Đức Gioan Phaolô II thành lập ngày 1.1.1994. Đây là nơi tập hợp những nhà khoa học về lĩnh vực này, chủ yếu là các học giả chuyên về kinh tế, xã hội hội, luật và khoa học chính trị. Nhiệm vụ của họ là nghiên cứu những chủ đề được Vatican quan tâm trong quá trình phát triển và thúc đẩy ứng dụng giảng dạy học thuyết xã hội Công giáo, dựa trên nền tảng khoa học.
Thời điểm vào Hàn lâm viện vào năm 2020, lúc đó có 23 thành viên, nữ tu Alford cho biết nhiệm vụ mới cho phép sơ làm việc với những chuyên gia danh tiếng ở nhiều lãnh vực. Tại đây, các thành viên tự do quyết định chương trình làm việc, chủ đề nghiên cứu và phát hành các ấn bản, cũng như bỏ phiếu bầu thành viên mới. Về phần mình, sơ đặt mục tiêu xuất bản càng nhiều dữ liệu về Giáo hội Công giáo càng tốt.
“Nhiều người không rõ việc làm của Giáo hội. Họ không biết rằng nhiều sự quan tâm, chăm sóc bệnh nhân AIDS trên thế giới đến từ Giáo hội. Họ không biết rằng Giáo hội hành động chống nạn buôn người. Họ không biết về tầm ảnh hưởng rộng lớn mà Giáo hội lan tỏa thông qua hoạt động giáo dục”, nữ tu nhận định. Việc xuất bản dữ liệu thông qua Hàn làm viện cho phép cộng đồng hiểu được những gì đang diễn ra trên thế giới này, và Giáo hội đang làm gì cho thế giới.
Một lĩnh vực khác mà sơ Alford muốn đầu tư về dài hạn là một lần nữa nhận định lại cách thức nhân loại nghĩ về một con người. Theo sơ, nhiều mối quan hệ trong xã hội ngày này bị kiểm soát bởi “tư tưởng kinh tế” và được đánh dấu bằng “suy nghĩ cá nhân”. Vì thế, vị nữ tu cho rằng cần phải tìm cách đưa xã hội quay về thời điểm tách biệt những suy nghĩ về xã hội với khía cạnh kinh tế, bởi vì yếu tố then chốt nhất của hạnh phúc con người chính là những mối quan hệ xã hội.
Liên kết ý tưởng này với viễn cảnh mà Đức Thánh Cha Phanxicô muốn xây dựng xã hội dựa trên “Nền kinh tế theo thánh Phanxicô”, sơ Alford nêu bật sự cần thiết của việc nuôi dưỡng một cách tiếp cận song song từ dưới lên, theo đó cho phép giới trẻ bước vào cuộc trao đổi với các chính phủ và giới trí thức. Điều này mang lại hy vọng cho các thanh niên về tương lai có sự can dự của bản thân họ.
HỒNG HOANG
2023
Một thoáng Thần học trong mục vụ
Một thoáng Thần học trong mục vụ
Trong Giáo hội có hai khoa chính: Khoa Thần học Tín lý, gồm những điều phải tin và khoa Thần học Mục vụ gồm những việc phải làm. Gọi tắt là khoa Tín lý và khoa Mục vụ. Mục vụ và thần học luôn gắn bó với nhau trở thành một thể thống nhất. Công đồng Vatican II là Công đồng mục vụ. Nhưng trong các văn kiện của Công đồng, có hai Hiến chế về Tín lý: Mặc khải của Thiên Chúa (Dei Verbum); Giáo hội (Lumen Gentium) và về mục vụ, có: Hiến chế mục vụ về Giáo hội trong thế giới ngày nay; Hiến chế về Phụng Vụ thánh. Còn lại là 19 sắc lệnh, ba tuyên ngôn và hai thư. Sau đây, tôi xin chia sẻ về Một thoáng thần học mục vụ.
Thần học là học về Thiên Chúa – những điều phải tin. Mục vụ là những việc phải làm – việc của mục tử chăm sóc Dân Chúa. Cụ thể là người đầy tớ, phục vụ con người toàn diện. Và toàn thể mọi người, cùng với môi trường tự nhiên, xã hội và sáng tạo.
Để đạt tới mục đích trên, Công đồng Vatican II đã đề ra:
![]() |
Những nguyên tắc mục vụ
1. “Cả… Cả…”. Ví dụ: Cả hồn cả tinh thần cả xác; cả Đông cả Tây.
2. “Ân sủng và thực tại”. Cả ân sủng cả thực tại. Ví dụ: Đức tin là ân sủng và thực tại là khoa học.
3. Hiệp nhất trong dị biệt, trong đa dạng. Ví dụ: Hiệp nhất nhưng không đồng nhất, không hòa tan.
4. Thống nhất trong điều chính, tương nhượng trong điều phụ và bác ái trong hết mọi sự. Ví dụ. Điều chính có liên quan tới cốt lõi của Đạo, như Đức tin, luân lý và phong hóa; điều phụ: phong cách thể hiện, tùy thuộc cách diễn tả trong các nền văn hóa; và trong mọi trường hợp, bao giờ cũng phải lấy đức yêu thương trong sự thật làm trọng.
Đào luyện thần học mục vụ (theo văn kiện Công đồng Vatican II)
Về Thần học
1. Hiến chế Tín lý về Mặc khải của Thiên Chúa, cho thấy Thánh Kinh, có thể nói là linh hồn của thần học. Thánh Kinh và Thánh Truyền làm nên một nền tảng Đức tin duy nhất.
2. Hiến chế Tín lý về Giáo hội. “Ánh sáng muôn dân” chỉ dẫn về chỗ đứng của Giáo hội trong thế giới. Theo Thánh Giáo Hoàng Phaolô VI, mục đích đặc trưng và cơ bản nhất của các giáo huấn của Công đồng là lời kêu gọi nên thánh toàn cầu. Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II gọi là “khía cạnh vốn có và thiết yếu của lời dạy về Giáo hội”, là nơi “mọi Kitô hữu bất kể cấp bậc địa vị đều được kêu gọi đến sự sung mãn của đời sống Kitô hữu và sự hoàn hảo của lòng bác ái”. Trong Tông thư Evangelii Gaudium, Đức Giáo Hoàng Phanxicô nói: sẽ lấy Ánh sáng muôn dân làm cơ sở thảo luận để toàn thể Dân Chúa truyền đạo, tiếp cận truyền giáo, việc hòa nhập người nghèo vào xã hội, và hòa bình với đối thoại trong xã hội. Đức Giáo Hoàng Phanxicô cũng bắt đầu lãnh đạo một cách tập thể hơn theo lời gọi của Công đồng, thông qua các Hội đồng Giám mục và một Hội đồng cố vấn toàn cầu gồm một số hồng y.
Về Mục vụ, Công đồng đã đưa ra các hiến chế, sắc lệnh và tuyên ngôn, gồm:
1. Hiến chế Mục vụ về Giáo hội trong thế giới ngày nay – “Gaudium et Spes – Vui mừng và Hy vọng” – xác định Giáo hội là “dân hành hương của Chúa” và là “sự hiệp thông” của Ánh sáng muôn dân, dựa trên lịch sử của Giáo hội và “các dấu chỉ thời đại”. Văn kiện giáo huấn mọi tín hữu được rửa tội có cùng nhiệm vụ Chúa Kitô giao cho Giáo hội: truyền đạo khắp thế giới một cách thức thời trong lúc hợp tác cùng Chúa Thánh Thần.
2. Hiến chế về Phụng vụ thánh – Sacrosanctum Concilium. Văn kiện đầu tiên được Công đồng thông qua về phụng vụ của Giáo hội. Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI giải thích rằng một ý tưởng cơ bản của Công đồng là “đặt sự thần bí của Phục Sinh làm trung tâm của thân phận Kitô hữu, đời sống Kitô hữu, năm Kitô giáo, mùa Kitô giáo, tỏ ra trong lễ Phục sinh và Chúa nhật, luôn luôn là ngày Phục Sinh”. Vì thế phụng vụ, đặc biệt là Bí tích Thánh Thể, “vừa là đỉnh cao Giáo hội nhắm tới, vừa là nguồn gốc tất cả quyền lực của Giáo hội”.
3. Sắc lệnh về các Phương tiện Truyền thông Xã hội – Inter Mirifica. Sắc lệnh đề cập “Về tính quan trọng của phương tiện truyền thông” với sự tiến bộ của loài người và những đóng góp tín hữu Công giáo có thể làm.
4. Sắc lệnh về Hợp nhất – Unitatis Redintegratio. Sắc lệnh quan tâm đến việc “Tái lập sự hợp nhất”: Mọi bên, đều có lỗi trong tranh chấp gây nên ly giáo và tìm cách đối thoại hợp nhất “những anh em đã chia lìa”.
5. Sắc lệnh về các Giáo hội Công giáo Đông phương khen ngợi “Các Giáo hội Đông Phương”, về phụng vụ và thần học, tuy ở xa nhưng vẫn hiệp thông với Rôma.
6. Sắc lệnh về Hoạt động Truyền giáo của Giáo hội – “Ad Gentes – Đến với muôn dân”, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc truyền giáo bên ngoài Giáo hội, nhất là qua việc hình thành các cộng đoàn ở giáo hội địa phương.
7. Sắc lệnh về Tông đồ Giáo dân – “Apostolicam Actuositatem – Hoạt động tông đồ”, khuyến khích giáo dân sống đạo và loan truyền Phúc Âm trong gia đình, nơi sở làm, và hoạt động xã hội.
8. Sắc lệnh về nhiệm vụ Giám mục – “Christus dominus – Chúa Kitô”, xác định thẩm quyền và nhiệm vụ của các giám mục trong giáo phận, trong cuộc họp cấp miền, và trong giáo hội nói chung.
9. Sắc lệnh về Chức vụ và Đời sống Linh mục. “Presbyterorum Ordinis – Chức vụ Linh mục”, làm sáng tỏ nhiệm vụ của linh mục và sự tương giao giữa linh mục với giám mục và giáo dân.
10. Sắc lệnh về Đào tạo Linh mục. “Optatam Totius – Sắc lệnh về Đào tạo Linh mục”, kêu gọi huấn luyện các linh mục một cách nghiêm chỉnh, kể cả việc chú trọng đến các tiêu chuẩn cao, trong việc học, đời sống tâm linh và huấn luyện mục vụ.
11. Sắc lệnh về việc canh tân thích nghi đời sống dòng tu. “Perfectae Caritatis – Đức ái hoàn hảo”, kêu gọi canh tân cơ cấu tổ chức và quy luật, nhưng coi yếu tố then chốt để canh tân là thể hiện các lời khấn khó nghèo, khiết tịnh và vâng phục.
12.Tuyên ngôn về Tự do Tôn giáo. “Dignitatis Humanae – Phẩm giá con người”, xác định phẩm giá căn bản của con người đòi hỏi quyền tự do về vấn đề tôn giáo. Mọi người phải được tự do thờ phượng theo lương tâm.
13. Tuyên ngôn về liên lạc của Giáo hội với các tôn giáo ngoài Kitô giáo. “Nostra Aetate – Thời đại chúng ta”, kêu gọi cởi mở và cộng tác với các tôn giáo lớn trên thế giới.
14. Tuyên ngôn về Giáo dục Kitô giáo. “Gravissimum Educationis – Vai trò rất quan trọng của giáo dục”, xác nhận sự quan trọng của việc giáo dục Kitô hữu ở nhà, ở trường, và ở nhà thờ và kêu gọi cập nhật phương pháp giáo dục cho phù hợp các ngành khoa học xã hội.
15. Hai sứ điệp gởi thế giới: Nhân dịp khai mạc: Nhấn mạnh tới công bằng và hòa bình. Và nhân dịp bế mạc: Công đồng gởi bảy thư tới các thành phần đặc biệt Dân Chúa và nhà cầm quyền.
Lm. Gioan Kim Khẩu Nguyễn Văn Hinh (D.Min.)


