2023
3 cách để dâng mình cho Chúa
Thánh Phaolô mạnh mẽ thúc dục chúng ta : “Thưa anh em, vì Thiên Chúa thương xót chúng ta, tôi khuyên nhủ anh em hãy hiến dâng thân mình làm của lễ sống động, thánh thiện và đẹp lòng Thiên Chúa. Đó là cách thức xứng hợp để anh em thờ phượng Người” (Rm 12,1).
Nhưng ý nghĩa dâng hiến bản thân như như một hy lễ thực sự là gì?
Trong tiếng Do thái từ “hy lễ” là korbán, nó có nghĩa là “tiến lại gần hơn”. Mục đích của hy lễ là đến gần Chúa hơn; đó là một lời mời gọi sống trong sự hiệp thông mãnh liệt với Chúa. Vì vậy, cần phải thực hiện “teshuvá”, nghĩa là hoán cải. “Teshuvá” bao gồm việc đổi mới cách nhìn và suy nghĩ về thực tại “Anh em đừng có rập theo đời này, nhưng hãy cải biến con người anh em bằng cách đổi mới tâm thần, hầu có thể nhận ra đâu là ý Thiên Chúa: cái gì là tốt, cái gì đẹp lòng Chúa, cái gì hoàn hảo” (Rm 12,2). Điều đó có nghĩa là xem xét cuộc sống và thế giới của chúng ta “từ trên cao” qua cặp mắt xót thương của Thiên Chúa. Dưới đây là ba chiều kích của hành vi dâng hiến.
Thánh Gioan Tẩy giả de la Salle đã nói: “Hãy hiến dâng chính mình và tất cả những gì thuộc về chúng ta đều dâng cho Chúa, nghĩa là dâng lên Ngài mọi tư tưởng, lời nói và việc làm, tất cả mọi tài sản của chúng ta, dù đó là thiêng liêng hay trần tục, tắt một lời, dâng tất cả những gì chúng ta đang sở hữu trên thế gian này”.
1. DÂNG HIẾN BẢN THÂN
Phạm vi cuộc sống của chúng ta đã là một “món quà” đến từ Thiên Chúa, chúng ta cần phải xem lại tất cả những gì là tốt đẹp nơi hữu thể và sự hiện hữu của mình: linh hồn, thể xác, tài năng, di sản văn hóa, gia đình của chúng ta…. như thánh Phaolô đã viết : “Thật vậy, nào có ai coi bạn hơn kẻ khác đâu? Bạn có gì mà bạn đã không nhận lãnh? Nếu đã nhận lãnh, tại sao lại vênh vang như thể đã không nhận lãnh?” (1Cor 4,7). Thực hiện teshuvá nghĩa là nhận biết Thiên Chúa là nguồn gốc của mọi điều thiện hảo. Và do đó, điều đòi hỏi nơi chúng ta là cần phải thích ứng cuộc sống của mình với Lời Chân Lý của Chúa.
Dâng hiến bản thân được thực hiện bằng cách tạ ơn và ca ngợi vì những ân huệ mà bạn đã lãnh nhận. Nó được thể hiện qua việc luôn mong muốn phục vụ Thiên Chúa và đồng loại của mình; hoàn toàn đặt mình tuân theo ý Chúa, phù hợp với từng giai đoạn của cuộc đời, để xây dựng Nước Trời; đặt mọi tư tưởng của chúng ta, lời nói và hành động của chúng ta trong sự gắn kết với cuộc sống.
2. DÂNG CHÚA MỌI TỘI LỖI CỦA CHÚNG TA
Dưới đây là một giai thoại về cuộc đời của thánh Jerome. Một ngày kia Chúa hỏi Jerome: “Hôm nay con có gì cho Ta không?”. Thánh nhân trả lời: “Lạy Chúa, con dâng cho Chúa lời cầu nguyện của con” – “Tốt, nhưng còn gì nữa không”, Chúa nói. Và thánh Jerome đã kể ra hàng loạt những kỷ luật bản thân, nào là sự tỉnh thức, tình yêu dành cho những ai đến thăm mình… Rồi Chúa lại hỏi Jerome: “Còn gì nữa không?”. Jerome thưa : “Con không biết có còn gì để dâng Chúa nữa!”. Cuối cùng Chúa nói với thánh nhân : “Có một điều mà con chưa dâng cho Ta đó là tội lỗi của con!”.
3. DÂNG CHÚA NỖI KHỔ CỦA CHÚNG TA
Và sau cùng, có những điều chúng ta phải “chịu đựng” : đó là những thử thách lớn lao của cuộc sống, cũng như những điều nhỏ nhặt thường ngày làm chúng ta khó chịu. Chúng ta dâng lên Chúa những khoảnh khắc đau khổ này để “lồng chúng vào bên trong lòng trắc ẩn vô biên của Chúa Kitô”, để những khổ đau “trở thành một phần trong kho tàng thương xót mà con người đang cần” để sống yêu thương, để lãnh nhận và rao truyền ơn cứu rỗi (Benedict XVI).
Mẹ Têrêsa đã cầu nguyện:
Lạy Cha nhân từ, xin giúp chúng con,
để chúng con biết chấp nhận mọi điều Cha ban cho chúng con,
và biết cho đi mọi thứ mà Cha đòi hỏi chúng con với một nụ cười thật to.
Nụ cười bên trong – và bên ngoài – là dấu chỉ của việc dâng hiến một cách tự do trong mọi hoàn cảnh. Nụ cười đó chống lại mọi nỗi buồn vì đã từ bỏ, hay giận dữ sau những lời phàn nàn của chúng ta.
Tác giả bài viết: Võ Tá Hoàng chuyển ngữ
2023
Nữ tu Helen Alford, tân Chủ tịch Hàn lâm viện Tòa Thánh về Khoa học Xã hội
Nữ tu Helen Alford, tân Chủ tịch Hàn lâm viện Tòa Thánh về Khoa học Xã hội
Ðức Giáo Hoàng Phanxicô vừa bổ nhiệm nữ tu Helen Alford, dòng Ða Minh Thánh Catarina Siena, 58 tuổi, vào vị trí đứng đầu Hàn lâm viện Tòa Thánh về Khoa học Xã hội.
Vatican đã công bố sắc lệnh bổ nhiệm vào ngày 1.4 và sơ Alford chính thức tiếp quản vị trí của nhà kinh tế học người Ý Stefano Zamagni từ ngày 1.5. Sơ là thành viên của cơ quan này từ năm 2020 và sẽ trở thành người phụ nữ thứ ba đứng đầu Hàn lâm viện Tòa Thánh về KHXH, sau giáo sư luật, đồng thời là cựu Đại sứ Mỹ cạnh Vatican, Mary Ann Glendon, với nhiệm kỳ chủ tịch 2004-2014; và nhà xã hội học Margaret S. Archer (2014-2019). Sơ cũng đứng đầu Khoa Khoa học Xã hội của Đại học Giáo hoàng Thánh Tôma Aquinô ở Rome.
Chọn đời thánh hiến sau khi trở thành tiến sĩ
Sinh ra ở London, sơ Alford làm việc trong ngành khoa học xã hội và lấy bằng tiến sĩ ngành kỹ thuật quản lý của Đại học Cambridge (Anh) trước khi trở thành nữ tu của dòng Đa Minh Thánh Catarina Siena. Kể từ đó, sơ dạy giáo lý xã hội Công giáo, đạo đức kinh doanh và những trách nhiệm của giới doanh nhân đối với xã hội. Năm 2020, vị nữ tu được Đức Thánh Cha Phanxicô chọn làm thành viên thường trực của Hàn lâm viện Tòa Thánh về Khoa học Xã hội, kiêm nhiệm Cố vấn của Hội đồng Tòa Thánh về Công lý và Hòa bình.
Trả lời phỏng vấn hãng Catholic News Service khi ấy, nữ tu Alford gọi việc thánh Gioan Phaolô II thiết lập Hàn lâm viện vào năm 1994 là hành động hệ thống lại toàn bộ quan điểm về xã hội của Giáo hội Công giáo. Theo nữ tu, đây là bước đi vô cùng quan trọng, cho phép khẳng định Tin Mừng có sẵn những nguyên tắc rõ ràng và cụ thể nhằm hướng dẫn con người thực hành lối sống công nhận phẩm giá mà Thiên Chúa ban cho mỗi người, đồng thời thúc đẩy lối sống xã hội tốt đẹp, công bằng và hòa bình.
Trong quá trình làm luận án ở Đại học Cambridge, lúc vẫn chưa đi tu, sơ đặc biệt quan tâm đến thông điệp Laborem exercens (Lao động của con người) công bố vào năm 1981 của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II. Theo sơ, qua thông điệp này, Đức Gioan Phaolô II đã khơi lại sự chú ý những tác động xã hội của việc thực hành Kitô giáo. Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI bổ sung phần mình vào thông điệp này, và Đức Giáo Hoàng Phanxicô thúc đẩy hành động suy niệm đạo đức và thần học về những điều mà Giáo hội cần áp dụng để đóng góp cho thế giới.
Nữ tu cho rằng một phần nhiệm vụ của giảng huấn Công giáo là giúp con người nhận ra rằng việc thúc đẩy lợi ích chung cho mọi người không chỉ dừng lại ở lòng vị tha, mà còn là vấn đề nhận ra những kết nối của bản thân đối với người khác và nuôi dưỡng nhu cầu bồi đắp các mối quan hệ đó.
Nhiệm vụ ở Hàn lâm viện
Hàn lâm viện Tòa Thánh về Khoa học Xã hội là cơ quan nghiên cứu về khoa học xã hội của Giáo hội, được Đức Gioan Phaolô II thành lập ngày 1.1.1994. Đây là nơi tập hợp những nhà khoa học về lĩnh vực này, chủ yếu là các học giả chuyên về kinh tế, xã hội hội, luật và khoa học chính trị. Nhiệm vụ của họ là nghiên cứu những chủ đề được Vatican quan tâm trong quá trình phát triển và thúc đẩy ứng dụng giảng dạy học thuyết xã hội Công giáo, dựa trên nền tảng khoa học.
Thời điểm vào Hàn lâm viện vào năm 2020, lúc đó có 23 thành viên, nữ tu Alford cho biết nhiệm vụ mới cho phép sơ làm việc với những chuyên gia danh tiếng ở nhiều lãnh vực. Tại đây, các thành viên tự do quyết định chương trình làm việc, chủ đề nghiên cứu và phát hành các ấn bản, cũng như bỏ phiếu bầu thành viên mới. Về phần mình, sơ đặt mục tiêu xuất bản càng nhiều dữ liệu về Giáo hội Công giáo càng tốt.
“Nhiều người không rõ việc làm của Giáo hội. Họ không biết rằng nhiều sự quan tâm, chăm sóc bệnh nhân AIDS trên thế giới đến từ Giáo hội. Họ không biết rằng Giáo hội hành động chống nạn buôn người. Họ không biết về tầm ảnh hưởng rộng lớn mà Giáo hội lan tỏa thông qua hoạt động giáo dục”, nữ tu nhận định. Việc xuất bản dữ liệu thông qua Hàn làm viện cho phép cộng đồng hiểu được những gì đang diễn ra trên thế giới này, và Giáo hội đang làm gì cho thế giới.
Một lĩnh vực khác mà sơ Alford muốn đầu tư về dài hạn là một lần nữa nhận định lại cách thức nhân loại nghĩ về một con người. Theo sơ, nhiều mối quan hệ trong xã hội ngày này bị kiểm soát bởi “tư tưởng kinh tế” và được đánh dấu bằng “suy nghĩ cá nhân”. Vì thế, vị nữ tu cho rằng cần phải tìm cách đưa xã hội quay về thời điểm tách biệt những suy nghĩ về xã hội với khía cạnh kinh tế, bởi vì yếu tố then chốt nhất của hạnh phúc con người chính là những mối quan hệ xã hội.
Liên kết ý tưởng này với viễn cảnh mà Đức Thánh Cha Phanxicô muốn xây dựng xã hội dựa trên “Nền kinh tế theo thánh Phanxicô”, sơ Alford nêu bật sự cần thiết của việc nuôi dưỡng một cách tiếp cận song song từ dưới lên, theo đó cho phép giới trẻ bước vào cuộc trao đổi với các chính phủ và giới trí thức. Điều này mang lại hy vọng cho các thanh niên về tương lai có sự can dự của bản thân họ.
HỒNG HOANG
2023
Một thoáng Thần học trong mục vụ
Một thoáng Thần học trong mục vụ
Trong Giáo hội có hai khoa chính: Khoa Thần học Tín lý, gồm những điều phải tin và khoa Thần học Mục vụ gồm những việc phải làm. Gọi tắt là khoa Tín lý và khoa Mục vụ. Mục vụ và thần học luôn gắn bó với nhau trở thành một thể thống nhất. Công đồng Vatican II là Công đồng mục vụ. Nhưng trong các văn kiện của Công đồng, có hai Hiến chế về Tín lý: Mặc khải của Thiên Chúa (Dei Verbum); Giáo hội (Lumen Gentium) và về mục vụ, có: Hiến chế mục vụ về Giáo hội trong thế giới ngày nay; Hiến chế về Phụng Vụ thánh. Còn lại là 19 sắc lệnh, ba tuyên ngôn và hai thư. Sau đây, tôi xin chia sẻ về Một thoáng thần học mục vụ.
Thần học là học về Thiên Chúa – những điều phải tin. Mục vụ là những việc phải làm – việc của mục tử chăm sóc Dân Chúa. Cụ thể là người đầy tớ, phục vụ con người toàn diện. Và toàn thể mọi người, cùng với môi trường tự nhiên, xã hội và sáng tạo.
Để đạt tới mục đích trên, Công đồng Vatican II đã đề ra:
![]() |
Những nguyên tắc mục vụ
1. “Cả… Cả…”. Ví dụ: Cả hồn cả tinh thần cả xác; cả Đông cả Tây.
2. “Ân sủng và thực tại”. Cả ân sủng cả thực tại. Ví dụ: Đức tin là ân sủng và thực tại là khoa học.
3. Hiệp nhất trong dị biệt, trong đa dạng. Ví dụ: Hiệp nhất nhưng không đồng nhất, không hòa tan.
4. Thống nhất trong điều chính, tương nhượng trong điều phụ và bác ái trong hết mọi sự. Ví dụ. Điều chính có liên quan tới cốt lõi của Đạo, như Đức tin, luân lý và phong hóa; điều phụ: phong cách thể hiện, tùy thuộc cách diễn tả trong các nền văn hóa; và trong mọi trường hợp, bao giờ cũng phải lấy đức yêu thương trong sự thật làm trọng.
Đào luyện thần học mục vụ (theo văn kiện Công đồng Vatican II)
Về Thần học
1. Hiến chế Tín lý về Mặc khải của Thiên Chúa, cho thấy Thánh Kinh, có thể nói là linh hồn của thần học. Thánh Kinh và Thánh Truyền làm nên một nền tảng Đức tin duy nhất.
2. Hiến chế Tín lý về Giáo hội. “Ánh sáng muôn dân” chỉ dẫn về chỗ đứng của Giáo hội trong thế giới. Theo Thánh Giáo Hoàng Phaolô VI, mục đích đặc trưng và cơ bản nhất của các giáo huấn của Công đồng là lời kêu gọi nên thánh toàn cầu. Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II gọi là “khía cạnh vốn có và thiết yếu của lời dạy về Giáo hội”, là nơi “mọi Kitô hữu bất kể cấp bậc địa vị đều được kêu gọi đến sự sung mãn của đời sống Kitô hữu và sự hoàn hảo của lòng bác ái”. Trong Tông thư Evangelii Gaudium, Đức Giáo Hoàng Phanxicô nói: sẽ lấy Ánh sáng muôn dân làm cơ sở thảo luận để toàn thể Dân Chúa truyền đạo, tiếp cận truyền giáo, việc hòa nhập người nghèo vào xã hội, và hòa bình với đối thoại trong xã hội. Đức Giáo Hoàng Phanxicô cũng bắt đầu lãnh đạo một cách tập thể hơn theo lời gọi của Công đồng, thông qua các Hội đồng Giám mục và một Hội đồng cố vấn toàn cầu gồm một số hồng y.
Về Mục vụ, Công đồng đã đưa ra các hiến chế, sắc lệnh và tuyên ngôn, gồm:
1. Hiến chế Mục vụ về Giáo hội trong thế giới ngày nay – “Gaudium et Spes – Vui mừng và Hy vọng” – xác định Giáo hội là “dân hành hương của Chúa” và là “sự hiệp thông” của Ánh sáng muôn dân, dựa trên lịch sử của Giáo hội và “các dấu chỉ thời đại”. Văn kiện giáo huấn mọi tín hữu được rửa tội có cùng nhiệm vụ Chúa Kitô giao cho Giáo hội: truyền đạo khắp thế giới một cách thức thời trong lúc hợp tác cùng Chúa Thánh Thần.
2. Hiến chế về Phụng vụ thánh – Sacrosanctum Concilium. Văn kiện đầu tiên được Công đồng thông qua về phụng vụ của Giáo hội. Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI giải thích rằng một ý tưởng cơ bản của Công đồng là “đặt sự thần bí của Phục Sinh làm trung tâm của thân phận Kitô hữu, đời sống Kitô hữu, năm Kitô giáo, mùa Kitô giáo, tỏ ra trong lễ Phục sinh và Chúa nhật, luôn luôn là ngày Phục Sinh”. Vì thế phụng vụ, đặc biệt là Bí tích Thánh Thể, “vừa là đỉnh cao Giáo hội nhắm tới, vừa là nguồn gốc tất cả quyền lực của Giáo hội”.
3. Sắc lệnh về các Phương tiện Truyền thông Xã hội – Inter Mirifica. Sắc lệnh đề cập “Về tính quan trọng của phương tiện truyền thông” với sự tiến bộ của loài người và những đóng góp tín hữu Công giáo có thể làm.
4. Sắc lệnh về Hợp nhất – Unitatis Redintegratio. Sắc lệnh quan tâm đến việc “Tái lập sự hợp nhất”: Mọi bên, đều có lỗi trong tranh chấp gây nên ly giáo và tìm cách đối thoại hợp nhất “những anh em đã chia lìa”.
5. Sắc lệnh về các Giáo hội Công giáo Đông phương khen ngợi “Các Giáo hội Đông Phương”, về phụng vụ và thần học, tuy ở xa nhưng vẫn hiệp thông với Rôma.
6. Sắc lệnh về Hoạt động Truyền giáo của Giáo hội – “Ad Gentes – Đến với muôn dân”, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc truyền giáo bên ngoài Giáo hội, nhất là qua việc hình thành các cộng đoàn ở giáo hội địa phương.
7. Sắc lệnh về Tông đồ Giáo dân – “Apostolicam Actuositatem – Hoạt động tông đồ”, khuyến khích giáo dân sống đạo và loan truyền Phúc Âm trong gia đình, nơi sở làm, và hoạt động xã hội.
8. Sắc lệnh về nhiệm vụ Giám mục – “Christus dominus – Chúa Kitô”, xác định thẩm quyền và nhiệm vụ của các giám mục trong giáo phận, trong cuộc họp cấp miền, và trong giáo hội nói chung.
9. Sắc lệnh về Chức vụ và Đời sống Linh mục. “Presbyterorum Ordinis – Chức vụ Linh mục”, làm sáng tỏ nhiệm vụ của linh mục và sự tương giao giữa linh mục với giám mục và giáo dân.
10. Sắc lệnh về Đào tạo Linh mục. “Optatam Totius – Sắc lệnh về Đào tạo Linh mục”, kêu gọi huấn luyện các linh mục một cách nghiêm chỉnh, kể cả việc chú trọng đến các tiêu chuẩn cao, trong việc học, đời sống tâm linh và huấn luyện mục vụ.
11. Sắc lệnh về việc canh tân thích nghi đời sống dòng tu. “Perfectae Caritatis – Đức ái hoàn hảo”, kêu gọi canh tân cơ cấu tổ chức và quy luật, nhưng coi yếu tố then chốt để canh tân là thể hiện các lời khấn khó nghèo, khiết tịnh và vâng phục.
12.Tuyên ngôn về Tự do Tôn giáo. “Dignitatis Humanae – Phẩm giá con người”, xác định phẩm giá căn bản của con người đòi hỏi quyền tự do về vấn đề tôn giáo. Mọi người phải được tự do thờ phượng theo lương tâm.
13. Tuyên ngôn về liên lạc của Giáo hội với các tôn giáo ngoài Kitô giáo. “Nostra Aetate – Thời đại chúng ta”, kêu gọi cởi mở và cộng tác với các tôn giáo lớn trên thế giới.
14. Tuyên ngôn về Giáo dục Kitô giáo. “Gravissimum Educationis – Vai trò rất quan trọng của giáo dục”, xác nhận sự quan trọng của việc giáo dục Kitô hữu ở nhà, ở trường, và ở nhà thờ và kêu gọi cập nhật phương pháp giáo dục cho phù hợp các ngành khoa học xã hội.
15. Hai sứ điệp gởi thế giới: Nhân dịp khai mạc: Nhấn mạnh tới công bằng và hòa bình. Và nhân dịp bế mạc: Công đồng gởi bảy thư tới các thành phần đặc biệt Dân Chúa và nhà cầm quyền.
Lm. Gioan Kim Khẩu Nguyễn Văn Hinh (D.Min.)
2023
Triển lãm tác phẩm mỹ thuật của các tu sĩ
Triển lãm tác phẩm mỹ thuật của các tu sĩ
Khoảng 60 tác phẩm hội họa, điêu khắc của 12 tu sĩ nam nữ đã góp mặt trong cuộc triển lãm “Theo Chúa Kitô”, do Ủy ban Nghệ thuật Thánh (trực thuộc HÐGMVN) phối hợp với Trung tâm Mục vụ giáo xứ Ða Minh – Ba Chuông (TGP TPHCM) tổ chức, vừa khai mạc vào tối ngày 10.4.2023.
| Xem tranh – ảnh: LG |
Theo linh mục Vinhsơn Nguyễn Thành Tín, Giám đốc Trung tâm Mục vụ Đa Minh – Ba Chuông, đây là lần đầu tiên Tổng Giáo phận TPHCM có một cuộc triển lãm quy tụ riêng những tác giả là tu sĩ. Trong số 12 vị tham gia lần này, có 9 nữ tu và 3 thầy, đến từ các dòng khác nhau. Đó cũng là điều đặc biệt nhất của cuộc triển lãm. Cha Tín cũng chính là người đã gợi ý để các tu sĩ có sở trường về nghệ thuật tập hợp các tác phẩm lại cùng trưng bày trong dịp lễ Phục Sinh này.
Nữ tu Cecillia Mai Tú Quỳnh (dòng Đa Minh Tam Hiệp), trưởng ban điều hành triển lãm cho biết, ý tưởng về một cuộc trưng bày tác phẩm của các tu sĩ đã “manh nha” từ trước mùa dịch Covid-19. Vốn xuất thân từ trường đại học Mỹ thuật, sơ Quỳnh biết trong anh chị em tu sĩ có nhiều người có chuyên môn, sở trường về hội họa, điêu khắc nên nảy ra ý quy tụ họ lại để sáng tác theo một chủ đề về đạo, có thể là diễn tả ơn gọi của mỗi người. Dự định ban đầu là sẽ triển lãm tại Trung tâm Mục vụ TGP TPHCM, thế rồi dịch ập đến, kế hoạch không thực hiện được. Sau mùa dịch, sơ Quỳnh có dịp gặp cha Tín và anh chị em nhóm Mỹ thuật Đa Minh (Dominiart), khi nói về ý tưởng trên của mình, cha Tín vừa nghe đã ủng hộ ngay và gợi mở để cuộc triển lãm có thể diễn ra với sự phối hợp tổ chức của Ủy ban Nghệ thuật Thánh và Trung tâm Mục vụ Đa Minh – Ba Chuông, nơi ngài đang phụ trách.
![]() |
|
Tác phẩm “Ơn gọi”, tranh sơn dầu của thầy Giuse Phùng Văn Ký
|
Trong buổi khai mạc triển lãm, sảnh trưng bày rợp màu áo tu sĩ, không chỉ là các “nghệ sĩ” có tác phẩm mà cả người cùng hội dòng cũng đến để thưởng ngoạn, ủng hộ tinh thần chị em mình. Có thể thấy, các tác phẩm tập trung vào đúng chủ đề, diễn tả các sinh hoạt trong đời sống của người tu sĩ, hoặc tranh, tượng về Chúa, Mẹ, các thánh, nhà thờ hoặc một số bức lấy gợi ý từ Kinh Thánh… Hầu như các tác phẩm đều thể hiện với gam màu sáng, nhẹ nhàng khiến phòng trưng bày như bừng lên sắc màu tươi tắn của Phục Sinh.
![]() |
|
“Thắp sáng”, tranh sơn mài của nữ tu Cecillia Mai Tú Quỳnh
|
Họa sĩ nữ tu Têrêsa Nguyễn Thị Uyên Ly là người cùng hội dòng và cũng là thế hệ đàn em của sơ Tú Quỳnh ở trường Mỹ thuật – có 8 bức tranh, hầu hết bằng chất liệu sơn dầu, trong đó có những bức diễn tả sinh hoạt của các chị em trong dòng hay một ngôi nhà thờ xa xa, tất cả gợi hứng từ sự quan sát, chiêm niệm hằng ngày của người nữ tu. Theo sơ Uyên Ly, thời gian hoàn thành mỗi tác phẩm khác nhau, tùy theo cảm xúc, có bức vẽ mất khoảng 1 tháng, có bức chừng 2 – 3 tuần là xong. Tranh của sơ Uyên Ly nổi lên với sắc màu xanh tươi tắn và thường có luồng ánh sáng bừng lên ở một góc, khơi gợi cho người xem một cảm xúc nhẹ nhàng. Sơ Tú Quỳnh thì có 3 bức tranh sơn mài, 2 tranh lụa và 2 bức với chất liệu tổng hợp, trong đó sử dụng lá bồ đề để điểm xuyến, tạo điểm nhấn cho tác phẩm. Nữ tu Maria Vũ Thị Kim Dung (Dòng Mân Côi – Chí Hòa) góp phần trong triển lãm với 14 tác phẩm gốm… Bên cạnh số đông các nữ tu, có 3 nam tu sĩ tham gia trưng bày tranh – tượng, trong đó có 2 gương mặt quen thuộc vẫn xuất hiện trong nhiều cuộc triển lãm mỹ thuật của nhóm Dominiart, đó là thầy Giuse Lê Hoàng Nguyên (dòng Đa Minh) và thầy Giuse Trần Quang Vinh (dòng Phanxicô). Từ tu viện ở Đà Lạt, thầy Vinh mang đến 14 tác phẩm điêu khắc (2 bức là tượng Chúa Giêsu nguyện cầu và thánh Phanxicô, 12 bức phù điêu về thánh tông đồ). Một gương mặt mới trong số các nam tu sĩ là thầy Giuse Phùng Văn Ký (dòng Thừa Sai Máu Châu Báu). Thầy có 3 bức tranh sơn dầu triển lãm đợt này mang tên “Đức Mẹ Máu Châu Báu”, “Sour”, “Ơn gọi”. Với thầy Ký, đây là lần tham gia trưng bày tranh đầu tiên nên vô cùng cảm động, bởi theo người tu sĩ này, dù học mỹ thuật nhưng từ khi ra trường, do cần thời gian phải theo học chương trình triết học và thần học ở dòng, rồi đi thực tập mục vụ…, nên đã phải tạm gác con đường nghệ thuật. Cuộc trưng bày tranh này như một khởi đầu cho thầy trong việc sáng tác mỹ thuật.
| Tu sĩ Giuse Trần Quang Vinh bên một tác phẩm điêu khắc của mình – ảnh: LG |
Đến với cuộc triển lãm và nghe chia sẻ, nhiều người mới biết, giới tu sĩ có không ít vị đã trải qua thời gian được đào tạo bài bản về mỹ thuật ở trường đại học mà chưa có cơ hội phát huy hết tiềm năng. Nói theo nữ tu Têrêsa Nguyễn Thị Uyên Ly thì “60 tác phẩm triển lãm dịp này dù có vẻ phong phú nhưng chưa phải là nhiều so với kỳ vọng. Có một số tác phẩm, tác giả có lẽ chưa ưng ý lắm vì muốn cống hiến nhiều hơn nữa mà quỹ thời gian không cho phép…”.
![]() |
|
“Hóa bánh”, tranh sơn dầu của nữ tu Têrêsa Nguyễn Thị Uyên Ly
|
Hy vọng sẽ có những cuộc triển lãm nối tiếp để người tu sĩ được dịp thể hiện hơn nữa tình yêu, sự sáng tạo trong nghệ thuật bằng khả năng chuyên môn được học tập cũng như năng khiếu, như một cách làm sinh lợi “nén bạc” Chúa trao.
Triển lãm sẽ kéo dài đến hết ngày 21.5.2023 tại tầng trệt của Trung tâm Mục vụ Đa Minh – Ba Chuông (190 Lê Văn Sỹ, Q. Phú Nhuận).
LIÊN GIANG




