2023
Nữ tu Helen Alford: “Giáo hội có thể mở mang tinh thần cho trí tuệ nhân tạo A.I.”
Ngày 1 tháng 4 -2023, nữ tu Dòng Đa Minh Helen Alford, 58 tuổi được bổ nhiệm làm chủ tịch Giáo hoàng Học viện về Khoa học Xã hội | ©️ Giáo hoàng Học viện Thánh Tôma Aquinô – ANGELICUM
Ngày 1 tháng 4, nữ tu Helen Alford được bổ nhiệm làm chủ tịch Giáo hoàng Học viện về Khoa học Xã hội, một cơ quan được Đức Gioan Phaolô II thành lập năm 1994 để làm phong phú thêm suy tư của Tòa Thánh về các vấn đề liên quan đến học thuyết xã hội của Giáo hội, đặc biệt trong các lĩnh vực kinh tế, pháp luật, khoa học chính trị và xã hội học.
Tiến sĩ Kỹ thuật của Đại học Cambridge, nữ tu Helen Alford là kinh tế gia, chuyên về đạo đức kinh doanh và đã từng giảng dạy tại Hoa Kỳ. Kể từ năm 2021, nữ tu là trưởng khoa Khoa học Xã hội tại Giáo hoàng Học viện Thánh Tôma Aquinô ở Rôma, thường được gọi là Angelicum. Sơ đã ở chức vụ này từ năm 2001 đến năm 2013.
Với tư cách là người đứng đầu Giáo hoàng Học viện về Khoa học Xã hội, nữ tu Helen Alford đặc biệt khuyến khích suy tư về những biến động lớn của công nghệ mà thế giới đang trải qua. Và sẽ phải chứng tỏ Giáo hội có thể cung cấp cái nhìn sâu sắc về cuộc cách mạng kỹ thuật số đang tiến hành. Phỏng vấn.
Trong một thế giới thế tục hóa, nơi học thuyết xã hội công giáo có lẽ không còn được xem trọng như trước, làm thế nào để Giáo hoàng Học viện về Khoa học Xã hội, và nói rộng ra, Giáo hội có thể có tiếng nói?
Nữ tu Helen Alford: Nhiều người cảm thấy Giáo hội không còn đóng một vai trò quan trọng. Nhưng tại Rôma, tôi nghĩ chúng ta có một quan điểm khác. Các tổ chức quốc tế như Liên Hiệp Quốc hoặc Liên minh Châu Âu, khá cởi mở và điều này không có gì mới. Khi Đức Gioan Phaolô II công bố thông điệp Quan tâm đến vấn đề xã hội, Sollicitudo Rei Socialis năm 1987, Liên Hiệp Quốc đã tổ chức hội thảo ở New York về thông điệp này. Ngay sau đó, năm 1990, báo cáo phát triển con người đầu tiên được công bố và tôi nghĩ thông điệp này đã có một số tác động. Các quốc gia bắt đầu tự đánh giá họ trên cơ sở Chỉ số Phát triển Con người, thay vì chỉ trên Tổng sản phẩm quốc nội (GDP).
Khí hậu nóng lên toàn cầu là mối quan tâm ngày càng tăng đối với các Giáo hội | ©
Khi thông điệp Laudato si’ được công bố năm 2015, ngay sau đó hai thỏa thuận lớn đã được ký kết: Hiệp định Khí hậu Paris và các Mục tiêu Phát triển Bền vững của Liên Hiệp Quốc. Mọi người công nhận thông điệp của Đức Phanxicô đã đóng một vai trò quan trọng trong các thỏa thuận này.
Cuối cùng, tôi tin Giáo hội quan trọng và có ảnh hưởng theo một số cách và trong một số lĩnh vực, nhưng không phải ở mọi nơi. Đó là tình huống bình thường của Giáo hội: chúng ta đưa ra lời kêu gọi, một số người quan tâm, một số người không.
Theo sơ, ngày nay Giáo hoàng Học viện về Khoa học Xã hội giải quyết những chủ đề quan trọng nào nhất?
Nguồn chủ đề số một của chúng tôi là Đức Phanxicô. Chúng tôi phải hỗ trợ ngài và các chủ đề ngài muốn làm việc. Tôi chưa có dịp nói chuyện với ngài, nhưng chúng tôi biết qua các bài viết và sứ vụ của ngài, nói chung những gì ngài quan tâm.
Đó là hai khủng hoảng: xã hội và môi trường, vốn là tâm điểm của thông điệp Laudato si’. Một khía cạnh khác là chiều hướng đưa cộng đồng chúng ta trở lại trung tâm của suy nghĩ và hành động, ý tưởng chủ đạo của thông điệp Tất cả anh em Fratelli Tutti.
“Chúng ta không chỉ là những cá nhân đơn thuần đạt được mục tiêu của riêng mình, mà về cơ bản chúng ta đang cùng nhau xây dựng xã hội của mình”
Tôi thích nghĩ, chúng ta đang cố gắng làm để lợi ích chung vượt thắng, chống lại khuynh hướng dùng một lần rồi bỏ. Chúng ta biết các hệ thống xã hội có thể thay đổi qua hành động của chúng ta và chúng ta có thể cùng nhau làm việc để thế giới có công lý hơn. Để làm được điều này, chúng ta cũng phải rao giảng Tin Mừng và làm cho Tin Mừng hiện diện trên thế giới. Đó là cách tiếp tục sự nhập thể, một chia sẻ đức tin của chúng ta cách thực tế.
Trí tuệ nhân tạo là chủ đề bùng nổ trong các tin tức gần đây. Hình ảnh Đức Phanxicô trong chiếc áo khoác thời trang đã lan đi khắp thế giới. Nhưng đó chỉ là phần nổi của tảng băng chìm – và là một điều tốt đẹp. Giáo hội phân tích sự phát triển của công nghệ này như thế nào?
Phát triển công nghệ nằm trong tầm tay chúng ta. Công nghệ không giống như khoa học, vốn là thứ chúng ta khám phá, vì nó liên quan đến các nguyên tắc của thứ trật tự nhiên. Công nghệ cũng giống như văn hóa, nó là thứ chúng ta tạo ra.
Vì thế có hai quỹ đạo phát triển chính về mặt kỹ thuật. Kỹ thuật đầu tiên chúng ta biết ngày nay như kỹ thuật thống trị và một số người cho đó là kỹ thuật trọng tâm hoặc đơn kỹ thuật. Nó đặt máy móc làm trung tâm và xã hội phải thích ứng với nó. Chúng ta thấy điều này với trí tuệ nhân tạo. Một số nhóm người hưởng lợi từ kiểu phát triển này và phần còn lại của xã hội buộc phải thích nghi.
Dù bề ngoài có như thế nào, trí tuệ nhân tạo hoàn toàn không hoạt động giống bộ não con người |
Tuy nhiên, có một hình thức phát triển công nghệ khác được cho là lấy con người hoặc lấy cuộc sống làm trọng tâm. Đó là việc làm cho một lối sống cụ thể trở nên hiệu quả, phong phú và đầy đủ hơn, không cho phép nhóm này thống trị nhóm khác. Ví dụ, khi bắt đầu cuộc cách mạng công nghiệp, hai loại máy kéo sợi khác nhau đã được phát triển. Chiếc đầu tiên được một thợ kéo sợi có kinh nghiệm phát minh trong những năm 1770, chiếc thứ hai được các kỹ sư sáng chế trong những năm 1830, do các chủ nhân máy dệt, những nhà tư bản lớn ủy thác làm. Ban đầu, cả hai máy đều có năng suất như nhau, nhưng có sự khác biệt rất lớn về cách chúng ảnh hưởng đến người dùng. Cuối cùng, chiếc thứ hai có thể được bất cứ ai có được chỉ dẫn đều có thể dùng.
Với trí tuệ nhân tạo, chúng ta phải đối diện với một vấn đề được tạo ra, vì loại phát triển đầu tiên lấy công nghệ làm ưu tiên chứ không đặt con người vào trọng tâm. Tuy nhiên, lựa chọn thứ hai sẽ hoàn toàn có thể thực hiện được ở cấp độ cấu trúc. Vấn đề là không có khoản đầu tư nào cho lựa chọn thứ hai này. Phát triển công nghệ có thể là một điều tốt. Chúng ta có thể làm tốt hơn nữa với trí tuệ nhân tạo và các công nghệ khác mà chúng ta có để chúng có thể hỗ trợ cuộc sống và con người một cách tốt nhất có thể.
Một bức thư đã được công bố gần đây có chữ ký của ông Elon Musk và các nhân vật khác, kêu gọi tạm dừng nghiên cứu về trí tuệ nhân tạo trong sáu tháng. Làm thế nào Giáo hội có thể trả lời cho những mối quan tâm về chủ đề này?
Nhiều cuộc đối thoại đang tiến hành. Chẳng hạn năm 2020, Giáo hoàng Học viện về Sự sống đã công bố một tài liệu có tựa đề Lời kêu gọi của Rôma về đạo đức A.I., đã được các công ty lớn như Microsoft ký kết. Năm nay, Học viện cũng kêu gọi các tôn giáo khác ký kết để cố gắng tạo cho nó một chiều kích liên tôn.
Ở Vatican, các thực thể khác đã đưa ra các phản ánh, như bộ Văn hóa và Giáo dục có một bộ phận dành riêng cho văn hóa kỹ thuật số. Bộ Phát triển Nhân bản Toàn diện cũng có những nhân vật quan tâm đến các chủ đề này. Có một nhóm chuyển đổi bên trong Tòa thánh làm việc trên các khía cạnh khác nhau của vấn đề trí tuệ nhân tạo.
“Những người đứng đầu trong các tổ chức kỹ thuật này đang nhận ra họ cần một tầm nhìn khác.”
Một trong những điều thiết yếu mà Giáo hội có thể làm là mang đến cho mọi người một cái nhìn khác. Nếu mọi người có thể nhìn thế giới khác đi, họ có thể thay đổi các dữ kiện để thiết kế công nghệ theo một cách khác. Giáo hội có thể mở mang đầu óc con người.
Theo một cách nào đó, đó chính là điều mà Tin Mừng luôn làm: làm cho mọi người cảm thấy có một thế giới khác. Cuối cùng, chúng ta biết sẽ có một thế giới khác, nhưng chúng tôi muốn cho thấy, ngay cả trong thế giới hiện tại của chúng ta, mọi thứ vẫn có thể tốt hơn nhờ sự hiện diện của ân sủng, lời huấn dạy của Chúa Kitô, cộng đồng đức tin và nhiều thứ khác.
Những người điều hành các công ty kỹ thuật số có quan tâm đến các công việc này không?
Tôi nghĩ những người cấp cao trong các tổ chức công nghệ này đánh giá cao những gì chúng tôi làm. Họ nhận ra họ cần một tầm nhìn khác. Họ không nhất thiết phải biết cách áp dụng nó vào thực tế, nhưng họ có thể bắt đầu nghĩ về nó.
Cuối cùng, chính các kỹ sư phải đưa tầm nhìn này vào thực tế. Nhưng nếu họ không có cảm hứng để cố gắng làm điều này, họ sẽ không làm, và đó là lãnh vực chúng ta có thể tham gia. Nếu ông Mark Zuckerberg và đồng nghiệp của ông yêu cầu các kỹ sư của họ tạo một giao diện làm lợi cho công ty của họ và đồng thời cải thiện phẩm chất con người, họ có thể làm. Tuy nhiên, đây không phải là mục tiêu được giao cho các nhân viên, và nhiều người trong số họ đang rời bỏ các công ty này vì họ không thích những gì họ đang làm và những gì họ thấy.
“Bất cứ nơi nào cần thu thập nhiều thông tin để đạt được kết quả tốt nhất có thể, hệ thống A.I. đều rất tuyệt vời.”
Những người khác sống căng thẳng trong lòng, họ tiếp tục làm trong lãnh vực này, dù họ thấy những tác động tiêu cực, chẳng hạn mạng xã hội không tốt cho con cái họ. Hệ thống kinh tế của chúng ta tạo động lực mạnh mẽ cho nhiều người tiếp tục làm trong thế giới công nghệ. Để đối diện với nó, chúng ta cần ân sủng, lời cầu nguyện và sự giúp đỡ thiêng liêng, và chúng tôi đã nói điều này ở Học viện Giáo hoàng.
Hình minh họa / CC_BY-2.0
Học viện dành nhiều chú ý để phát triển ý tưởng về một nền kinh tế huynh đệ và nhấn mạnh đến hạnh phúc của con người. Làm thế nào trí tuệ nhân tạo có thể phù hợp với tầm nhìn kinh tế này?
Chúng ta có thể làm cho trí tuệ nhân tạo hoạt động để hỗ trợ các kỹ năng của con người, giống như máy kéo sợi đã làm vào cuối những năm 1700. Một số dạng A.I. đã làm được điều này, chẳng hạn như các hệ thống giúp bác sĩ chẩn đoán bệnh hiệu quả hơn.
Bất cứ nơi nào cần thu thập nhiều thông tin để có được kết quả tốt nhất có thể, hệ thống A.I. đều tuyệt vời vì chúng có thể làm điều đó rẻ hơn và nhanh hơn. Cùng như máy hơi nước có thể làm những việc mà sức người, sức ngựa không làm được, A.I. có thể giúp chúng ta cải thiện hiệu năng của quy mô và khả năng của chúng ta.
Nhiều người lo sợ các công cụ trí tuệ nhân tạo tiên tiến sẽ thay thế một số loại công việc – chẳng hạn các chatbot này đã có thể sao chép các bài báo hoặc hợp đồng rất chính xác. Sơ nghĩ gì về tác động của việc gia tăng trí tuệ nhân tạo với việc làm, văn hóa làm việc và đạo đức?
Tôi nghĩ mỗi khi một công nghệ lớn xuất hiện, nó sẽ phá hủy một số việc làm nhưng lại tạo ra các việc làm khác. Đầu tiên là hơi nước, sau đó là điện, rồi công nghệ thông tin. Ngày nay, trí tuệ nhân tạo có lẽ là một loại công nghệ có ảnh hưởng khác sẽ có tác động rất rộng rãi. Mọi người luôn lo lắng khi công nghệ mới xuất hiện.
“Các nghiên cứu đã đưa ra những dự đoán khá bi quan về những công việc sẽ bị ảnh hưởng bởi A.I.”
Đúng là hiện nay, các nghiên cứu đã đưa ra những dự đoán khá bi quan về những công việc sẽ bị ảnh hưởng bởi A.I. Tuy nhiên, có lẽ chúng ta có thể định hướng lại sự phát triển này để nó hỗ trợ phát triển con người và tập trung vào việc nâng cao năng suất các kỹ năng con người hơn là loại bỏ các kỹ năng khỏi công việc.
Điểm mấu chốt là chúng ta có lựa chọn, chúng ta không bị buộc phải phát triển công nghệ theo một hướng nào đó chỉ mang lợi ích đến cho một nhóm người. Chúng ta phải có tự tin cần thiết để đặt những câu hỏi đúng. Tiêu chí phải là phát triển công nghệ để hỗ trợ sự sống và sự tốt lành của tạo vật nói chung. Nếu tiêu chí là kiếm càng nhiều tiền càng tốt, bất kể người khác phải trả giá như thế nào, thì chắc chắn nó sẽ gây thiệt hại, như đã từng xảy ra trong quá khứ. Đây là tư duy kỹ trị mà Đức Phanxicô nói đến.
Marta An Nguyễn dịch
2023
Số phận xáo trộn của sáu người con của một linh mục công giáo Thụy Sĩ
Lisbeth, 72 tuổi, Christina 71, Toni 70, Monika 64, Daniela 58 và Adrian 56 tuổi chỉ mới biết mình có cùng một người cha chung: linh mục Anton Ebnöther từ 12 năm nay. Bộ phim “Cha của chúng tôi” của Miklós Gimes hiện đang được chiếu trên màn ảnh Thụy Sĩ nói về câu chuyện của họ. Một im lặng lâu ngày đã kết thúc. Trang Công giáo Thụy Sĩ gặp các người con này.
Sáu người con của linh mục Anton Ebnöther bên cạnh giám mục Bonnemain, giáo phận Coire © Flimbringer
Bà Lisbeth Binder, 72 tuổi, người con gái đầu của cha phó xứ Anton Ebnöther. Linh mục đã cưỡng hiếp mẹ của bà. Mẹ của bà Lisbeth là người nấu bếp cho giáo xứ Bülach, Thụy Sĩ, từ rất nhỏ bà Lisbeth đã nghi ngờ có một cái gì đó không ổn. Nhưng phải đến năm 65 tuổi bà mới tìm hiểu chuyện gì đã xảy ra.
“Chính mẹ tôi lần đầu tiên nói trước máy quay của nhà làm phim Miklos Gomes.” Trong phim “Cha của chúng tôi”, người xem thấy người phụ nữ lớn tuổi (đã qua đời năm 2016) đã phải đấu tranh với chính mình. Bà kể về cách linh mục Anton Ebnöther đã cưỡng bức, đã hiếp và để mặc bà với những cơn đau bụng nặng nề. Sau vụ hiếp này, người phụ nữ trẻ mang thai. Bà báo cho cha phó xứ Anton Ebnöther, cha đưa bà một phong bì có 100 quan Thụy Sĩ. Bà xin cha đi theo bà đến bác sĩ.
Bà Lisbeth, người con gái đầu của linh mục Anton Ebnöther | © Regula Pfeifer Kath.ch
Bà Lisbeth chỉ tìm thấy bức thư sau khi mẹ bà qua đời. Quá phẫn nộ, bà xé bức thư và đốt nó, vứt tro vào bồn vệ sinh.
Sinh tại bệnh viện Viège
Linh mục chánh xứ Bülach – bề trên của linh mục Ebnöther – sau đó gởi người đầu bếp mang thai đến Bệnh viện Đức Mẹ ở Viège, cùng với một nữ tu, em của linh mục. Tại đây, các cô gái mang thai ngoài ý muốn có thể làm việc trước khi sinh con. Lisbeth gần như được đề nghị cho làm con nuôi. Nhưng một người dì bên mẹ đến Viège đưa họ về. Cùng với mẹ, Lisbeth lớn lên trong cùng căn phòng trong trang trại của gia đình.
“Mẹ chỉ nói với tôi: ‘Cha của con đã chết vì một căn bệnh không chữa lành được’.”
Nhưng vẫn có một im lặng tuyệt đối. Cha của Lisbeth là ai? Mẹ luôn nói với tôi: Cha đã qua đời vi một căn bệnh không chữa lành được.” Trong một thời gian dài, Lisbeth không biết gì hơn.
Khi Lisbeth 30 tuổi, bà được biết: Cha còn sống. Mẹ của bà có kỳ nghỉ hè ở Katholische Arbeitnehmerbewegung (KAB). Chính ở đây, một phụ nữ khác cho bà biết Anton Ebnöther (trong thời gian đó đã bị loại ra khỏi hàng linh mục) có một nhà trọ ở vùng Grisons. Bà Lisbeth cho biết: “Và đó là những thông tin đầu tiên của tôi.”
Cuộc gọi đầu tiên với linh mục Anton Ebnöther
Vài ngày sau, bà gọi dịch vụ điện thoại 111 để xin số điện thoại của linh mục. Bà nhận được ba số điện thoại có thể. Cuộc gọi đầu tiên là đúng. Anton Ebnöther trả lời: “Từ lâu tôi đã chờ cuộc gọi của cô.” Bối rối, bà vặn lại: “Vì sao ông không gọi cho tôi?”
Nhà nội trú ‘Sunnene ở SaaS (GR) khi Tony Ebnöther là chủ nhân | Bưu ảnh thời đó
Trong kỳ nghỉ sau đó, bà Lisbeth đã dám gặp Ebnöther ở Davos. Ông đưa bà vào xe. Nhưng “sau trao đổi đầu tiên, ông đột nhiên đặt tay lên chân tôi. Sau đó, ông muốn hôn tôi, và không chỉ trên má. Tôi bị sốc”. Bà ra lệnh cho ông dừng lại: “Tôi là con ông”. Sau đó, bà nhanh chóng ra ngoài. Bà chưa biết người này đã hiếp mẹ của bà.
Tuy nhiên, bà không cắt liên lạc, bà muốn biết thêm về người đàn ông là cha của bà. Bà và những người thân thường đến nhà trọ ‘Sunneschy’. Chủ nhà trọ và là cựu linh mục đối xử với họ như khách. Một lần, Lisbeth đưa mẹ đến đó. Nhưng khi mẹ của bà vừa nhìn thấy Anton, “tóc bà dựng đứng’, hai mẹ con nhanh chóng ra đi.
Năm 2011, ông Anton Ebnöther qua đời. Trong tang lễ, cuối cùng Lisbeth biết được những gì bà nghi ngờ: bà có anh em cùng cha khác mẹ. Đó là sáu người con sinh ra từ bốn bà mẹ khác nhau. Lisbeth đã phải cần thời gian để lắng xuống câu chuyện này, và bây giờ bà cảm thấy đỡ hơn.

Cha Anton Ebnöther trong tuổi thanh xuân | Dr
Hai người con với một phụ nữ đã kết hôn
Hai người con tiếp theo của linh mục được sinh ra khi ông là cha phó xứ ở Bülach. Anton Ebnöther đã quan hệ với các phụ nữ khác, trong đó có bà Christina đã có chồng. Chồng của bà đã tin tưởng cha phó xứ, ông tâm sự các vấn đề tình dục của hai vợ chồng và xin cha nói chuyện với vợ ông. Cha Anton Ebnöther đã quan hệ với vợ ông, hai đứa con ra đời năm 1952 và năm 1953. Người chồng không bao giờ biết ông không phải là cha ruột của hai người con này.
Bị kết án phải trả tiền cấp dưỡng
Monika là người con thứ tư sinh cuối năm 1958. Lúc đó mẹ của Monika là bà Rita, một hướng dẫn viên cho nhóm các cô gái trẻ ‘Blauring’ đến nhà xứ Klưsters và Ebnöther đã hãm hiếp cô. Khi mang thai, cô nhờ ông giúp đỡ, ông đưa phong bì có 200 quan. Cô phải xoay xở với chừng đó. Linh mục nghĩ cô sẽ phá thai.
Monika Gisler là đứa con thứ 4 của linh mục Anton Ebnöther | Wolfgang Holz, Kath.ch
Khi Rita cho cha mẹ nuôi biết mình mang thai, họ đuổi cô ra khỏi nhà và không muốn gặp lại cô. Sau đó, cô nói chuyện với một tổ chức công giáo chăm sóc các bà mẹ đơn thân. Được một luật sư giúp đỡ, cô đòi Anton Ebnöther phải nhận quan hệ cha con và tiền trợ cấp. Linh mục không muốn trả tiền, cũng không muốn bí mật của mình bị tiết lộ. Ông cho rằng đứa bé không phải là con của ông. Ngày 25 tháng 12 năm 1958, Monika ra đời. Ba ngày sau, bà Rita thông báo cho giám mục giáo phận Coire biết con gái bà đã ra đời. Bí mật bị tiết lộ, tin tức lan truyền nhanh chóng. Sự nghiệp linh mục của Anton Ebnöther xem như chấm dứt vĩnh viễn.
Chỉ sự ra đời này dẫn đến một chuỗi pháp lý, như các nhà báo Tamedia đã tường trình. Trước tòa án Signelégier, Anton Ebnöther phủ nhận mình là cha đứa bé và cáo buộc người phụ nữ trẻ là ‘cô gái có đời sống nhẹ dạ’. Sau khi xét nghiệm máu, năm 1961 tòa bắt linh mục phải trả tiền trợ cấp cho con gái của ông.
“Mẹ tôi thần tượng hóa linh mục Anton”
Ông Adrian Meier, 56 tuổi là người con út của Anton Ebnöther. Khi sinh ra ông và chị Daniela của ông, linh mục đã rời khỏi chức tư tế. Ông thừa nhận: “Chúng tôi không bị tác động mạnh về mặt cảm xúc như các anh chị em cùng cha khác mẹ của chúng tôi” dù Anton gần như không chăm sóc các con. Adrian lớn lên ở Küblis, ở Grison Prättigau, cùng với mẹ và chị Daniela.
Mẹ của ông và Anton Ebnöther gặp nhau khi Anton quản lý nhà trọ ‘Sunneschy’ gần xã SaaS. Lúc đó cựu linh mục đồng hành với các dịch vụ tôn giáo của Giáo hội công giáo và Cải cách địa phương trong vai trò là người tổ chức.
Ông Adrian kể: “Anton Ebnöther có một mạng lưới giao tiếp rộng. Rất nhiều người ngưỡng mộ ông vì ông hòa đồng, ông là nhạc sĩ và tiếp xúc tốt với mọi người.” Mẹ của Adrian ngưỡng mộ Ebnöther, cả sau khi chia tay: “Bà thần tượng hóa ông và luôn bảo vệ ông.” Theo Adrian, mẹ của ông đồng tình trong quan hệ của bà với Anton, không giống như các phụ nữ đã có con với ông.
Adrian là người con út của Anton Ebnöther | © Regula Pfeifer Kath.ch
Tuy nhiên, mẹ của Adrian không thích nói về người yêu cũ của bà: “Đó là chuyện cấm kỵ, sau một vài lần thử để nói, chúng tôi không đề cập đến nữa.”
Người cha, một chủ đề cấm kỵ
Nhưng sự ngưỡng mộ của bà với Ebnöther đã không ảnh hưởng đến các con, Adrian nói về cảm xúc mơ hồ của ông: “Chúng tôi ở gần về địa lý, nhưng xa cách tinh thần,” ông không xem đó là cha mình và không bao giờ có cảm giác gắn bó.
Anton Ebnöther đã đến thăm một vài lần, Adrian nhớ lại: “Mỗi lần đến thăm, ông tạo một cảm giác thoải mái ngay lập tức và như thể đây là một gia đình lý tưởng. Nhưng chúng tôi không muốn liên quan gì đến người tự cho mình là cha chúng tôi. Mỗi lần ông đến thăm, chúng tôi chạy trốn mỗi và nhốt mình trong phòng.”
Adrian nhận xét: “Anton Ebnöther là linh mục và không có một vai trò nào. Điều chắc chắn, ông không có trách nhiệm của một người cha.”
Kết hôn muộn – hình ảnh tiêu cực của người cha
Adrian tự hỏi quan hệ cha con tiêu cực đã tác động như thế nào với ông: “Có lẽ đó là lý do vì sao trên 40 tuổi tôi mới lập gia đình. Tôi có các quan hệ nhưng tôi ngần ngại kết hôn. Một số mối quan hệ đã bị phá vỡ vì chuyện này, ‘tôi không muốn thất bại, như cha mẹ tôi.’
Sau khi gặp các anh chị em cùng cha khác mẹ. mối quan hệ của họ đã được hình thành. Số phận của chúng tôi khác nhau; mỗi người phải đối diện số phận theo cách của mình.
Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch
2023
Củng cố đức tin
4.5 Thứ Năm trong tuần thứ Tư Mùa Phục Sinh
Cv 13:13-25; Tv 89:2-3,21-22,25,27; Ga 13:16-20
Củng cố đức tin
Ðó là những lời Chúa Giêsu tâm sự với các tông đồ vào lúc khởi đầu cuộc khổ nạn của Ngài, loan báo tương lai cuộc sống của các tông đồ sẽ như thế nào. Nhưng tại sao Giáo Hội lại chọn để chúng ta suy niệm đoạn Phúc Âm này trong những ngày của mùa phụng vụ Phục Sinh? Những gì đã xảy ra đúng theo như lời Kinh Thánh và theo lời loan báo trước của Chúa, nhằm củng cố các tông đồ và cả chúng ta ngày hôm nay trong đức tin vào Chúa. Tin Chúa là Thiên Chúa, là Ðấng Hằng Hữu, là Ðấng Ta Là, “Ta bảo các con điều đó ngay từ bây giờ, trước khi sự việc xảy ra để đến khi sự việc xảy ra, các con tin Ta là Ðấng Hằng Hữu, là Thiên Chúa”.
Bản văn Tin Mừng thánh Gioan dùng từ “Ta là Ðấng Ta Là”, từ dùng để chỉ chính Giavê Thiên Chúa. Trong ánh sáng của mầu nhiệm Phục Sinh của Chúa Giêsu, các tông đồ và mỗi người chúng ta được mời gọi suy niệm những lời Chúa Giêsu có liên quan đến vận mệnh tương lai của những ai làm đồ đệ Chúa. Trước hết là hồng ân được Chúa sai đi, được đại diện cho Ngài “Ai đón rước kẻ Ta sai là đón rước Ta và ai đón rước Ta là đón rước Ðấng đã sai Ta”. Ðó là chiều dọc từ con người lên cùng Thiên Chúa Cha qua Chúa Giêsu Kitô. Mọi đồ đệ của Chúa cần phải duy trì trọn vẹn chiều dọc này. Ðây là hồng ân Chúa ban cho những con người Chúa chọn làm kẻ đại diện của Ngài, mang sứ điệp của Ngài đến cho anh chị em khác và hồng ân này có thể bị mất đi do chính quyết định tự do của con người như trường hợp của Giuđa ngày xưa, người môn đệ phản Thầy, “Ta biết những kẻ Ta đã chọn, kẻ ăn bánh cùng Ta đã giơ gót chân đạp Ta”.
Lời cảnh tỉnh của Chúa thôi thúc mỗi người chúng ta xét lại cuộc sống làm đồ đệ theo Chúa của mình đang ở mức độ nào. Chúng ta sẽ làm đại diện cho Chúa một cách hữu hiệu hơn nếu chúng ta trở nên giống Chúa hơn và chia sẻ vận mệnh của Chúa: “Tôi tớ không hơn chủ; kẻ bị sai đi không trọng hơn người sai họ”. Chúa đã đi qua con đường thập giá, thì đồ đệ của Ngài chắc chắn cũng sẽ đi qua con đường này. Hơn nữa, cám dỗ phản bội Chúa như Giuđa ngày xưa luôn là cám dỗ thường hằng của mọi môn đệ Chúa cả ngày hôm nay. Chúng ta hãy tỉnh thức đề phòng.
Sau khi rửa chân cho các môn đệ trong bữa Tiệc Ly, Chúa Giêsu đã nói lên ý muốn duy nhất của Ngài là chính các môn đệ cũng hãy làm như vậy đối với nhau và đối với người khác, bởi vì chẳng tẽ một môn sinh hay một sứ giả lại đòi được hưởng một danh dự, một phẩm giá lớn hơn Thầy mình, lớn hơn người sai mình sao. Anh em gọi Thầy là Thầy, là Chúa điều đó phải lắm, vì quả thật Thầy là Thầy, là Chúa. Vậy nếu Thầy là Chúa, là Thầy, mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau. Thầy đã nêu gương cho anh em, để anh em cũng làm như Thầy đã làm cho anh em.
Thật ra, chính Chúa Giêsu đã mạc khải là Ngài đã không làm gì khác hơn là noi gương Chúa Cha: Chúa Con không làm gì mà không thấy Chúa Cha làm trước. Chúa Cha đã làm việc luôn để chứng tỏ lòng Ngài yêu thương săn sóc con người, nhất là những người nghèo khổ, những kẻ tội lỗi, thì Chúa Giêsu khi đến trần gian Ngài đã cho mọi người thấy Ngài chính là hiện thân của tình thương Thiên Chúa giữa nhân loại. Chúa Giàu có quyền đòi hỏi con người đón nhận Ngài như đón nhận Thiên Chúa, Đấng đã sai Ngài, bởi vì Ngài và Cha Ngài là một, ai thấy Ngài là thấy Chúa Cha. Người Do Thái không tin, đã cho đây là một lời lộng ngôn đáng bị ném đá chết, nhưng đối với những ai chấp nhận tin Chúa, thì không thể tách rời Ngài ra khỏi Chúa Cha.
Trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu như muốn khẳng định rằng: nếu là người môn đệ chân chính, sẽ nói lời của chính Thiên Chúa, và như thế thì: “Ai đón nhận kẻ Thầy sai là đón nhận Thầy, và ai đón nhận Thầy là đón nhận Đấng đã sai Thầy”.
Muốn làm được điều đó để cho mọi người nhận ra Chúa Giêsu là Đấng Cứu Thế, chúng ta phải mặc lấy chính tâm tình của Chúa Giêsu, trở nên đồng hình đồng dạng với Ngài khi phục vụ con người cách vô vị lợi trong sự khiêm tốn…
Có thế chúng ta mới lưu lại cho người đương thời và hậu thế gia tài quý giá là chính Chúa Giêsu, nhờ đó, con người hôm nay và mai sau mới nhận ra Chúa Giêsu là Đường, là Sự Thật, là Sự Sống ngang qua đời sống và hành vi của chính chúng ta.
Mong sao mỗi người chúng ta biết được điều đó để thi hành, ngõ hầu trở thành người có phúc như Chúa Giêsu đã nói: “Anh em đã biết những điều đó, nếu anh em thực hành, thì thật phúc cho anh em!”. Ngược lại, chúng ta đừng như Giuđa, kẻ phản thầy mà hôm nay, Chúa Giêsu đã tiên báo một cách đau đớn: “Kẻ đã cùng con chia cơm sẻ bánh lại giơ gót đạp con”
Tin Mừng hôm nay là những lời trăng trối sau cùng của Thầy Giêsu đối với các môn đệ trước khi Người bước vào cuộc thương khó. Sau khi cúi xuống rửa chân cho từng môn đệ, Chúa Giêsu căn dặn các ông chú ý phục vụ lẫn nhau như Người đã phục vụ. Hơn nữa khi phục vụ người khác là chúng ta đang phục vụ chính Thiên Chúa. Chúa Giêsu nhắc lại lời của Đavít “Kẻ đã cùng con chia cơm sẻ bánh lại giơ gót đạp con” (Tv 41,10) như để nhắc nhở trong số các môn đệ, có người sẽ phản bội bán Chúa, nhưng không vì thế mà các ông lãng quên bổn phận phải phục vụ. Chính Thiên Chúa biết trước tất cả những bội phản sẽ xảy ra, nhưng Người vẫn yêu thương và yêu đến cùng. Ở đây có một sự kết nối rất chặt chẽ, khi thực thi bác ái, đón tiếp tha nhân là chúng ta đón tiếp chính Thiên Chúa. Tương quan của chúng ta với Thiên Chúa chỉ triển nở và bền lâu nếu chúng ta duy trì tương quan với tha nhân. Ngược lại, khi từ chối tha nhân là chúng ta từ chối chính Thiên Chúa. Không phải chúng ta đến với Chúa, nhưng chính Thiên Chúa đã đến với chúng ta trước. Người đã đến và tự nguyện ở lại, mang vác mọi gánh nặng khổ đau và tội lỗi của kiếp người. Chúa Giêsu đã trao hiến để lấp đầy mọi khiếm khuyết nơi chúng ta, đã chết để chúng ta được sống và sống dồi dào.
Trong cuộc sống, giữa dòng đời ngược xuôi, biết bao lần chúng ta đã bước qua nhau mà không quan tâm để ý đến những nhu cầu cần thiết của người khác, không biết có một người đang cần chúng ta giúp đỡ. Trong đời sống thiêng liêng, biết bao lần chúng ta cũng bỏ qua lời mời gọi của Thiên Chúa, khi từ chối thực thi tình bác ái đối với tha nhân, khi từ chối trở nên chứng nhân của tình yêu thương. Biết bao lần Chúa mời gọi chúng ta tham dự vào mầu nhiệm Cứu Chuộc của Thiên Chúa nhưng chúng ta lại từ chối mải mê chạy theo những cám dỗ mời mọc ngọt ngào của thế gian vật chất, của đam mê xác thịt.
Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta xét lại cuộc sống xem chúng ta đang là môn đệ của Chúa ở mức độ nào. Tôi tớ không lớn hơn chủ nhà, kẻ được sai không lớn hơn người sai đi. Chúa đã đi qua con đường Thập giá, thì chắc chắn người môn đệ của Ngài cũng không có con đường nào khác hơn.
2023
Thứ tư sau Chúa Nhật IV Phục Sinh
Thứ tư sau Chúa Nhật IV Phục Sinh
Ca nhập lễ
Lạy Chúa, tôi sẽ ca tụng Chúa giữa muôn dân, và tôi sẽ tường thuật danh Chúa cho các anh em – Allêluia.
Lời nguyện nhập lễ
Lạy Chúa là nguồn sống của các tín hữu, là vinh dự của kẻ thấp hèn, là hạnh phúc của người công chính; này chúng con đang khao khát trông chờ những hồng ân Chúa hứa, xin nghe lời chúng con tha thiết nài van và ban cho được thoả lòng ước nguyện. Chúng con cầu xin…
Bài Ðọc I: Cv 12, 24 – 13, 5a
“Hãy dành Saolô và Barnaba riêng cho Ta”.
Trích sách Tông đồ Công vụ.
Trong những ngày ấy, lời Chúa được lan rộng và tiến triển. Nhưng Barnaba và Saolô, sau khi hoàn tất sứ mạng, đã rời Giêrusa-lem, đem theo Gioan cũng gọi là Marcô.
Bấy giờ trong Hội Thánh Antiôkia có những tiên tri và tiến sĩ, trong số đó có Barnaba, Simon cũng gọi là Nigê, Luxiô người thành Xyrênê, Manahê bạn của vua Hêrôđê lúc còn thơ ấu, và Saolô. Ðang khi các ông làm việc thờ phượng Chúa và ăn chay, thì Thánh Thần phán bảo các ông rằng: “Hãy để riêng Saolô và Barnaba cho Ta, để làm công việc mà Ta đã chỉ định”. Vậy sau khi ăn chay cầu nguyện, họ đặt tay trên hai ông và tiễn đưa hai ông lên đường.
Ðược Thánh Thần sai đi, hai ông xuống Xêlêucia, rồi từ đó vượt biển sang Cyprô. Khi đến Salamina, hai ông rao giảng lời Chúa trong các hội đường Do-thái.
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv 66, 2-3. 5. 6 và 8
Ðáp: Chư dân, hãy ca tụng Ngài, thân lạy Chúa, hết thảy chư dân hãy ca tụng Ngài
Hoặc đọc: Alleluia.
Xướng: Xin Thiên Chúa xót thương và chúc phúc lành cho chúng con, xin chiếu giãi trên chúng con ánh sáng tôn nhan Chúa, để trên địa cầu người ta nhìn biết đường lối của Ngài, cho chư dân thiên hạ được biết rõ ơn Ngài cứu độ.
Xướng: Các dân tộc hãy vui mừng hoan hỉ, vì Ngài công bình cai trị chư dân, và Ngài cai quản các nước địa cầu.
Xướng: Chư dân, hãy ca tụng Ngài, thân lạy Chúa, hết thảy chư dân hãy ca tụng Ngài. Xin Thiên Chúa chúc phúc lành cho chúng con, và cho khắp cùng bờ cõi trái đất kính sợ Ngài.
Alleluia
Alleluia, alleluia! – Chúa Kitô đã sống lại và chiếu soi chúng ta, là những kẻ Người đã cứu chuộc bằng máu của Người. – Alleluia.
Phúc Âm: Ga 12, 44-50
“Ta là sự sáng đã đến thế gian”.
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.
Khi ấy, Chúa Giêsu lớn tiếng nói rằng: “Ai tin vào Ta thì không phải là tin vào Ta, nhưng là tin vào Ðấng đã sai Ta. Và ai thấy Ta là thấy Ðấng đã sai Ta. Ta là sự sáng đã đến thế gian, để bất cứ ai tin Ta, người ấy sẽ không ở trong sự tối tăm. Nếu ai nghe lời Ta mà không tuân giữ, thì không phải chính Ta xét xử người ấy, vì Ta đã đến không phải để xét xử thế gian, nhưng là để cứu độ thế gian. Ai khinh dể Ta, và không chấp nhận lời Ta, thì đã có người xét xử: lời Ta đã nói sẽ xét xử người ấy trong ngày sau hết. Bởi vì Ta đã không tự mình nói ra, nhưng Cha là Ðấng sai Ta, chính Người đã ra lệnh cho Ta phải nói gì và phải công bố gì. Và Ta biết rằng lệnh của Người là sự sống đời đời. Những điều Ta nói, thì Ta nói theo như Cha đã dạy”.
Ðó là lời Chúa.
Lời nguyện tiến lễ
Lạy Chúa, chúng con tin Chúa sẽ thực hiện trong thánh lễ này một cuộc trao đổi thật kỳ diệu, là làm cho bánh và rượu chúng con dâng tiến trở nên Mình và Máu thánh Ðức Kitô, để chúng con được thông phần vào thiên tính của Chúa. Xin cho chúng con biết ăn ở thế nào cho phù hợp với chân lý chúng con tin nhận. Chúng con cầu xin…
Lời Tiền Tụng
Lạy Chúa, chúng con tuyên xưng Chúa mọi lúc, nhất là trong đêm (ngày, mùa) cực thánh này, chúng con càng hãnh diện tung hô Chúa khi Ðức Ki-tô đã được hiến tế làm Chiên Vượt Qua của chúng con, thật là chính đáng, phải đạo và đem lại ơn cứu độ cho chúng con.
Nhờ Người con cái sự sáng được sinh ra để sống muôn đời, và khi các cửa Nước Trời được mở ra đón các tín hữu, vì nhờ sự chết của Người, chúng con khỏi phải chết, và trong sự sống lại của Người, chúng con được phục sinh.
Vì thế, với niềm hân hoan chứa chan trong lễ Phục Sinh, toàn thể nhân loại trên khắp địa cầu đều nhảy mừng. Cũng vậy, các Dũng thần và các Quyền thần không ngừng hát bài ca chúc tụng vinh quang Chúa rằng:
Thánh! Thánh! Thánh!.
Ca hiệp lễ
Chúa phán:”Chính Thầy đã chọn các con từ trong thế gian, và đã cắt đặt để các con đi, và mang lại hoa trái, và để hoa trái các con tồn tại” – Alleluia.
Lời nguyện hiệp lễ
Lạy Chúa, xin phù trợ chúng con là đoàn dân của Chúa. Chúa đã lấy bánh bởi trời mà nuôi dưỡng chúng con, xin cũng giúp chúng con từ bỏ nếp sống cũ và hân hoan bước vào đời sống mới nhờ kết hợp với Ðức Kitô phục sinh. Người hằng sống và hiển trị muôn đời.
