2023
SỨ ĐIỆP CỦA ĐỨC THÁNH CHA NHÂN NGÀY THẾ GIỚI CẦU NGUYỆN CHO ƠN GỌI
LẦN THỨ 60, NĂM 2023
ƠN GỌI: ÂN SỦNG VÀ SỨ VỤ

Anh chị em, các bạn trẻ thân mến!
Đây là lần thứ 60 chúng ta cử hành Ngày Thế giới Cầu nguyện cho Ơn gọi, được thánh Phaolô VI thiết lập vào năm 1964, trong Công đồng chung Vatican II. Sáng kiến quan phòng này tìm cách hỗ trợ mọi thành phần Dân Chúa, cá nhân và cộng đoàn, đáp lại lời mời gọi và sứ vụ mà Chúa trao phó cho mỗi người trong thế giới ngày nay, giữa những đau khổ và hy vọng, thách đố và thành tựu.
Năm nay, tôi mời anh chị em suy tư và cầu nguyện theo chủ đề “Ơn gọi: Ân sủng và Sứ vụ”. Ngày này là một cơ hội quý báu để chúng ta nhớ lại với sự ngạc nhiên rằng ơn gọi của Chúa là ân sủng, là hồng ân trọn vẹn, và đồng thời là một sự dấn thân mang Tin Mừng đến cho người khác. Chúng ta được mời gọi làm chứng cho đức tin, một đức tin liên kết chặt chẽ giữa đời sống ân sủng, qua các bí tích và sự hiệp thông Giáo hội, với hoạt động tông đồ của chúng ta trên thế giới. Được Chúa Thánh Thần hướng dẫn, các Kitô hữu được chất vấn để đáp lại lời mời gọi đi đến những vùng ngoại vi hiện sinh và những bi kịch của con người, luôn ý thức rằng sứ vụ là công việc của Chúa; chúng ta không thực hiện một mình, nhưng luôn luôn trong sự hiệp thông Giáo hội, cùng với anh chị em, và dưới sự hướng dẫn của các mục tử Giáo hội. Bởi vì, điều này luôn là giấc mơ Thiên Chúa: chúng ta sống với Người trong tình hiệp thông yêu thương.
“Được chọn trước cả khi tạo thành vũ trụ”
Tông đồ Phaolô mở ra trước mắt chúng ta một chân trời kỳ diệu: trong Đức Kitô, Chúa Cha “đã chọn chúng ta trước cả khi tạo thành vũ trụ, để trước thánh nhan Người, chúng ta trở nên tinh tuyền thánh thiện, nhờ tình thương của Người. Theo ý muốn và lòng nhân ái của Người, Người đã tiền định cho ta làm nghĩa tử nhờ Đức Giêsu Kitô” (Ep 1, 4-5). Những lời này cho phép chúng ta nhìn cuộc sống theo nghĩa trọn vẹn nhất: Thiên Chúa đã “cưu mang” chúng ta theo hình ảnh và giống Người và mong muốn chúng ta trở thành những người con của Người. Chúng ta được tạo dựng bởi tình yêu, vì tình yêu và với tình yêu, và chúng ta được tạo dựng để yêu thương.
Nơi cuộc đời chúng ta, tiếng gọi này được khắc ghi trong sự hiện hữu con người chúng ta và là bí quyết hạnh phúc nhờ tác động của Thánh Thần theo những cách thức luôn luôn mới. Tiếng gọi soi sáng tâm trí, củng cố ý chí chúng ta, khiến chúng ta kinh ngạc và làm con tim chúng ta bừng cháy. Đôi khi, Thánh Thần đến với chúng ta theo những cách hoàn toàn bất ngờ. Như đối với tôi, vào ngày 21/9/1953, khi đang trên đường đến dự lễ kỷ niệm hàng năm của trường, tôi được thôi thúc đến nhà thờ xưng tội. Ngày hôm đó đã thay đổi cuộc đời tôi và để lại dấu ấn đến tận bây giờ. Lời mời gọi tự hiến của Chúa được thực hiện dần dần theo một con đường: trong cuộc gặp gỡ của chúng ta, với những hoàn cảnh nghèo khó, trong những lúc cầu nguyện, khi chúng ta thấy một chứng tá rõ ràng về Tin Mừng, hoặc đọc một điều gì đó mở mang tâm trí chúng ta. Khi chúng ta nghe lời Chúa và cảm thấy lời Chúa nói trực tiếp với chúng ta, trong lời khuyên của anh chị em, trong những lúc ốm đau hay buồn phiền… Trong mọi cách kêu gọi chúng ta, Chúa thể hiện sự sáng tạo vô biên.
Sáng kiến và ân ban Chúa chờ chúng ta đáp lời. Ơn gọi là “sự đan xen giữa sự chọn gọi của Thiên Chúa và sự tự do của con người”, một tương quan năng động và thú vị giữa Thiên Chúa và tâm hồn con người. Hồng ân ơn gọi giống như một hạt giống thiêng liêng nảy mầm trong mảnh đất cuộc sống của chúng ta, mở lòng chúng ta ra với Thiên Chúa và với tha nhân, để chúng ta có thể chia sẻ với họ kho tàng mà chính chúng ta đã tìm được. Trong ơn gọi, điều cơ bản là: Thiên Chúa gọi chúng ta trong tình yêu và chúng ta, với lòng biết ơn, đáp lại Người trong tình yêu. Chúng ta nhận ra rằng chúng ta là những người con được cùng một Cha yêu thương, và chúng ta coi nhau như anh chị em. Khi đã “thấy” rõ điều này, thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu thốt lên: “Cuối cùng tôi đã tìm thấy ơn gọi của tôi: ơn gọi của tôi là tình yêu. Thật vậy, tôi đã tìm được vị trí của mình trong Giáo hội… Trong lòng Mẹ Giáo hội, tôi sẽ là tình yêu”.
“Tôi là một sứ vụ trên mặt đất này”
Chúng ta đã nói, lời kêu gọi của Thiên Chúa bao gồm việc “sai đi”. Không có ơn gọi nào nếu không có sứ vụ. Không có hạnh phúc và sự tự nhận thức đầy đủ trừ khi chúng ta mang đến cho người khác cuộc sống mới mà chúng ta đã tìm thấy. Tiếng gọi yêu thương của Thiên Chúa là một kinh nghiệm không cho phép chúng ta im lặng. Thánh Phaolô nói: “Khốn thân tôi nếu tôi không rao giảng Tin Mừng!” (1Cr 9,16). Và Thư thứ Nhất của Thánh Gioan bắt đầu bằng những lời: “Điều chúng tôi đã nghe và thấy, đã chiêm ngưỡng và đã chạm đến – Lời nhập thể –chúng tôi loan báo cho cả anh em, để niềm vui của chúng ta được nên trọn vẹn” (1,1-4).
Cách đây 5 năm, trong Tông huấn Gaudete et Exsultate, tôi đã nói với tất cả những ai đã được rửa tội rằng: “Anh chị em cần xem toàn bộ đời mình như một sứ vụ” (Số 23). Vâng, bởi vì mỗi người chúng ta đều có thể nói: “Tôi là một sứ vụ trên trái đất này; đó là lý do tại sao tôi có mặt ở đây trên thế giới này” (Evangelii Gaudium, 273).
Là Kitô hữu, sứ vụ chung của chúng ta là sống niềm vui ở những nơi chúng ta hiện diện, qua hành động và lời nói, về kinh nghiệm được ở với Chúa Giêsu và các thành viên trong cộng đoàn Người, đó là Giáo hội. Sứ vụ đó được thể hiện trong các hoạt động thương xót, trong một lối sống chào đón và nhẹ nhàng phản ánh sự gần gũi, cảm thương và dịu dàng, trái ngược với nền văn hóa lãng phí và thờ ơ. Trở thành người thân cận, như người Samari nhân hậu (Lc 10,25-37), giúp chúng ta hiểu được “cốt lõi” ơn gọi Kitô: noi gương Chúa Giêsu Kitô, Đấng đến để phục vụ chứ không phải để được phục vụ (Mc 10,45).
Hoạt động sứ vụ này không phát sinh đơn giản từ khả năng, kế hoạch và dự án của chính chúng ta, cũng không phải từ ý chí tuyệt đối hay nỗ lực thực hành các nhân đức; đó là kết quả của một trải nghiệm sâu xa với Chúa Giêsu. Chỉ như vậy, chúng ta mới có thể làm chứng cho một Con Người, một Cuộc Sống, và như vậy mới trở thành “tông đồ”. Chỉ khi đó, chúng ta mới có thể tự coi mình như “được đóng ấn, thậm chí được in nhãn, bởi sứ vụ mang ánh sáng, phúc lành, tạo sức sống, nâng dưỡng, chữa lành và giải thoát” (Evangelii Gaudium, 273).
Hình ảnh Tin Mừng của kinh nghiệm này là hai môn đệ Emmau. Sau cuộc gặp gỡ với Chúa Giêsu phục sinh, các ông nói với nhau: “Dọc đường, khi Người nói chuyện và giải thích Kinh Thánh cho chúng ta, lòng chúng ta đã chẳng bừng cháy lên sao?” (Lc 24, 32). Nơi các môn đệ đó, chúng ta có thể thấy “tâm hồn bừng cháy, đôi chân luôn chuyển động”. Đây cũng là hy vọng của tôi cho Ngày Giới trẻ Thế giới sắp tới ở Lisbon, mà tôi vui mừng chờ đợi, với khẩu hiệu: “Đức Maria trỗi dậy và vội vã lên đường (Lc 1,39). Cầu mong mọi người nam nữ cảm thấy được mời gọi đứng dậy và vội vã lên đường, với trái tim bừng cháy.
Được kêu gọi và quy tụ cùng nhau
Thánh sử Marcô thuật lại khi gọi 12 môn đệ, Chúa Giêsu gọi tên từng người một. Người chỉ định các ông ở với Người và được sai đi loan báo Tin Mừng, chữa lành bệnh tật và trừ quỷ (Mc 3,13-15). Do đó, Chúa đã đặt nền móng cho cộng đoàn mới của Người. Nhóm Mười Hai là những người thuộc các tầng lớp xã hội và ngành nghề khác nhau; không ai trong số họ là người thuộc thành phần quan trọng. Các Tin Mừng cũng nói về những lần kêu gọi khác, như ơn gọi của 72 môn đệ được Chúa Giêsu sai đi từng hai người một (Lc 10, 1).
Giáo hội chính là Ekklesía, từ Hy Lạp nghĩa là tập hợp gồm những người được kêu gọi, triệu tập để hình thành cộng đoàn các môn đệ truyền giáo của Chúa Giêsu Kitô dấn thân chia sẻ tình yêu với nhau (Ga 13, 34; 15, 12) và loan truyền tình yêu đó cho tất cả những người khác, để vương quốc của Thiên Chúa hiển trị.
Trong Giáo hội, tất cả chúng ta đều là những người phục vụ, tùy theo sự đa dạng của ơn gọi, đặc sủng và thừa tác vụ của chúng ta. Ơn gọi chung của chúng ta là hiến mình trong tình yêu triển nở và được thể hiện cụ thể nơi cuộc sống của các giáo dân nam nữ, những người tận tụy nuôi dưỡng gia đình như một Giáo hội nhỏ tại gia và hoạt động như men Tin Mừng để đổi mới các lĩnh vực khác nhau của xã hội; nơi chứng tá của những người nam nữ thánh hiến, những người hoàn toàn phó thác cho Thiên Chúa vì ích lợi của anh chị em mình như một dấu chỉ tiên báo về Nước Thiên Chúa; nơi các thừa tác được thụ phong – phó tế, linh mục và giám mục – được đặt để phục vụ việc rao giảng, cầu nguyện và cổ võ sự hiệp thông của Dân thánh Thiên Chúa. Chỉ trong tương quan với những ơn gọi khác, bất kỳ ơn gọi cụ thể nào trong Giáo hội mới bộc lộ đầy đủ bản chất đích thực và sự phong phú của nó. Nhìn dưới ánh sáng này, Giáo hội là một “bản giao hưởng” ơn gọi, với mọi ơn gọi khác biệt nhưng hiệp nhất, hài hòa và liên kết với nhau trong việc “ra đi” để chiếu tỏa khắp thế giới sự sống mới của vương quốc Thiên Chúa.
Ân sủng và sứ vụ: hồng ân và nhiệm vụ
Anh chị em thân mến, ơn gọi là một hồng ân và một nhiệm vụ, một nguồn sống mới và niềm vui đích thực. Ước mong các sáng kiến cầu nguyện và hoạt động liên quan đến Ngày này củng cố ý thức về ơn gọi trong các gia đình, các cộng đoàn giáo xứ, các cộng đoàn đời sống thánh hiến, các hiệp hội và phong trào Giáo hội. Xin Thần Khí của Chúa phục sinh xua tan sự thờ ơ của chúng ta và ban cho chúng ta những món quà của sự cảm thông và đồng cảm, để sống mỗi ngày như những người được tái sinh với tư cách là con cái của Thiên Chúa là tình yêu (1 Ga 4, 16) và đến lượt mình, trao ban tình yêu đó cho người khác. Mang sự sống đến mọi nơi, nhất là những nơi bị loại trừ và bóc lột, nghèo đói và chết chóc, để nới rộng những không gian yêu thương, để Thiên Chúa ngự trị trọn vẹn hơn trên thế giới này.
Ước mong lời nguyện của Thánh Phaolô VI cho Ngày Thế giới Ơn gọi lần đầu tiên, ngày 11/4/1964, đồng hành với chúng ta trên hành trình của chúng ta:
“Lạy Chúa Giêsu, Mục Tử thần linh chăn dắt các linh hồn, Đấng đã gọi các tông đồ để làm cho các ông thành những ngư phủ lưới người, xin tiếp tục thu hút đến với Chúa những tâm hồn nhiệt thành và quảng đại của những người trẻ, để làm cho họ trở thành những môn đệ và thừa tác viên của Chúa; xin cho họ được chia sẻ niềm khao khát của Chúa về ơn cứu chuộc tất cả mọi người,… Xin mở ra trước mắt họ những chân trời trên toàn thế giới… để, qua việc đáp lại lời kêu gọi của Chúa, họ nối dài sứ vụ của Chúa trên trái đất này, xây dựng Nhiệm thể Chúa là Giáo hội, và trở thành ‘muối đất’ và ‘ánh sáng thế gian’ (Mt 5, 13)”.
Xin Đức Trinh Nữ Maria đồng hành và bảo vệ anh chị em. Với phép lành của tôi.
Roma, Gioan Lateranô, ngày 30 tháng 4 năm 2023, Chúa nhật IV Phục Sinh.
2023
CHA THÁNH MAXIMILIAN KOLBE & BẢN THIẾT KẾ CON TÀU VŨ TRỤ BAY LÊN MẶT TRĂNG
2023
Mục tử của các tín hữu sắc tộc
Mục tử của các tín hữu sắc tộc
Chung tay kiến tạo giáo xứ từ những ngày đầu tiên, linh mục Antôn Vũ Thanh Hòa trở thành vị chánh xứ tiên khởi của giáo xứ Thánh Phaolô (giáo hạt Madagui, giáo phận Ðà Lạt), đứng đầu một giáo xứ rộng lớn với gần 2.000 tín hữu.
Tình cha bao la
Theo tuyến đường quốc lộ 20 về hướng Đà Lạt, đến địa bàn xã Phước Lộc, rẽ trái vào khoảng chừng 3 cây số, chúng tôi đến giáo xứ Thánh Phaolô. Cha sở Antôn Vũ Thanh Hòa đang khệ nệ vận chuyển đồ đạc, nồi niêu, hoa kiểng. Tự tay sắp xếp mọi thứ lên chiếc xe ô tô do ngài cầm lái, cha niềm nở tiếp khách với nụ cười thật tươi: “Mình cùng các em lễ sinh đang chuẩn bị vào giáo họ Bình An, cách đây 7 cây số, để trồng cây, khiêng đá làm đường đi cho những nhà chòi xung quanh suối và sẽ dùng bữa trưa ở đó. Nhà chòi là nơi các em học giáo lý, vừa là nơi tham quan và ở đó cũng có nhà máy nước phục vụ cộng đồng”.
Trải dài suốt xã Phước Lộc, huyện Đạ Huoai, tỉnh Lâm Đồng, giáo xứ Thánh Phaolô (trước đây là một trong 6 giáo họ của giáo xứ Đạm B’Ri) được thành lập vào ngày 7.8.2019 với 465 hộ gia đình Công giáo, đa phần là đồng bào Châu Mạ. Do kết cấu địa hình nhiều đá, rất khó khoan giếng nên bà con thiếu nước dùng quanh năm. Hiểu được tình trạng này, cha Antôn đã cho khoan giếng sâu 120 mét, đào ao gần suối khe và làm nhà máy nước sạch đáp ứng nhu cầu thiết thực của bà con, bất kể lương giáo. Hiện tại, nhà máy nước sạch ở giáo xứ và giáo họ Bình An đang là hai “địa chỉ” cung cấp nước sử dụng cho các gia đình với giá 5.000đ/bình 20 lít.
Chu đáo chăm lo cho đoàn chiên bằng tình thương của một người cha, ngài giới thiệu việc làm cho người trẻ, lo việc cho người lớn, giúp đỡ những gia đình đơn thân, khuyến khích trẻ đến trường… Bên cạnh chương trình khuyến học của giáo phận trợ giúp 40 em, cha Antôn nhận giúp thêm 20 em và đỡ nâng những em có hoàn cảnh đặc biệt, đau ốm, kém may. Thương những gia đình chưa có nơi ở tươm tất, ngài mời gọi ân nhân góp sức xây nhà tình thương (50 – 80 triệu đồng/căn), hoặc tu sửa nhà cũ giúp các hộ dân có nơi an cư.
![]() |
| Bà con giáo dân chuẩn bị quà cứu trợ mùa dịch |
Là một trong số các gia đình này, vợ chồng anh Giuse K’Joan vui mừng vì không còn những ngày tháng sống trong ngôi nhà cũ 25 mét vuông, mái dột chắp vá. Nhà Joan cũng có vườn tược, nhưng lao động quanh năm cũng chỉ đủ chi dùng cho gia đình 5 thành viên, chưa bao giờ dám nghĩ đến việc có được ngôi nhà mới khang trang hơn 50 mét vuông như hiện tại. Nam giáo dân 28 tuổi xúc động: “Cảm ơn cha và các ân nhân đã thương giúp, gia đình tôi mới có được nơi ở tốt đẹp. Chẳng biết làm gì hơn, mỗi ngày chúng tôi cầu nguyện Chúa ban ơn lành cho cha xứ cùng các mạnh thường quân”.
Quan tâm đến đời sống của bà con trong bối cảnh 5 năm liên tục canh tác cây điều bị mất mùa, cha Antôn chủ động chia sẻ với buôn làng lúc gặp khó khăn, khi giao mùa; giúp thực phẩm, chi phí thuốc men cho người già cả đau ốm, người kém may… Không chỉ lo cho những nhu cầu thức thời, ngài còn trăn trở tìm phương cách lưu giữ nghề truyền thống dệt thổ cẩm của bà con, khuyên nhủ người trẻ lập gia đình khi đủ tuổi. Cùng giáo dân chăm sóc khu vườn sầu riêng của giáo xứ, ngài những mong sẽ có thêm nguồn chăm lo các nhu cầu mục vụ trong những tháng ngày sắp tới.
Còn nhớ khi dịch Covid-19 bùng phát ở TPHCM và Bình Dương vào năm 2021, cha sở và bà con giáo dân lại cùng chung tay chia sẻ yêu thương đến tha nhân. Bảy xe rau củ và nhu yếu phẩm đã nhanh chóng lăn bánh về nơi cần giúp. Đến lúc “dịch ghé thăm” giáo xứ vào đầu tháng 12.2021, những giáo dân thiện nguyện kín mít trong những bộ đồ bảo hộ giúp cha xứ trao 6 tấn gạo, hơn 600 thùng mì, rau củ đến các gia đình, không phân biệt lương giáo. Phối hợp với địa phương trong mùa dịch và cùng với giáo dân của ngài, cha Antôn chủ động hướng dẫn cộng đồng cách phòng bệnh và cách chăm sóc người bệnh, người cao niên; hỗ trợ thuốc men cho những người có nhu cầu; khuyến khích người dân tiêm vắc xin và ngài là người tiên phong tiêm trước.
![]() |
| Nguyện đường giáo xứ Thánh Phaolô nhìn từ bên ngoài |
10 năm hồng phúc
Dịch bệnh qua đi, đời sống dần đi vào ổn định, cha Antôn Vũ Thanh Hòa cùng cộng đoàn Dân Chúa hăng say tỏa lan tinh thần Hiệp hành theo lời mời gọi của giáo hội, qua những buổi học hỏi về Hiệp hành trong giáo xứ; qua các bài giáo lý về Hiệp hành mà ngài sẻ chia; bằng vũ điệu vui nhộn trong bài ca Hiệp hành của giới trẻ; logo của Thượng Hội đồng Giám mục về con đường Hiệp hành cũng được gắn trang trọng trên vách nứa của nguyện đường. Vào trung tuần tháng 5.2022, giáo xứ tổ chức buổi thỉnh ý hiệp hành với sự hiện diện của Ban thư ký và cha đặc trách về Hiệp hành của giáo phận nhằm hun đúc thêm tinh thần hiệp thông nơi cộng đoàn tín hữu.
Ngày 24.11.2022, cha Hòa kỷ niệm tròn 10 năm lãnh nhận thánh chức linh mục. Khẩu hiệu “Thiên Chúa là tình yêu” trong đời thánh hiến không ngừng thôi thúc ngài trở nên khí cụ tỏa lan tình yêu Thiên Chúa trên mọi nẻo đường. Trong tinh thần hiệp hành với Giáo hội, ngài góp phần chăm lo cho đời sống đức tin của cộng đoàn Dân Chúa ngày thêm sốt mến, trong đó có đồng bào tín hữu sắc tộc.
Như một cơ duyên, từ khi là thầy giúp xứ, cho đến khi làm linh mục phụ tá xứ Đạm B’Ri trong 7 năm liền, cha Antôn luôn gắn bó với giáo hữu sắc tộc. Trong khoảng thời gian giúp xứ Đạm B’Ri, ngài đến coi sóc giáo họ Phaolô, lập ca đoàn, giáo lý viên, giáo lý cho thiếu nhi. Khi trở thành chủ chăn, cha tiếp tục thành lập các hội đoàn, đào tạo huynh trưởng, ca trưởng, người đánh đàn nhà thờ… Nhận thấy nhiều em sắc tộc có khả năng cảm âm tốt, ngài mua đàn organ và trao tặng cho mỗi em mang về nhà tập luyện. Được các sơ dòng Phaolô và anh chị trong xứ hướng dẫn, nhiều em sau 2 – 3 tháng đã có thể đánh đàn ở nhà thờ.
![]() |
| Điểm phục vụ nước sạch cho bà con tại giáo xứ Thánh Phaolô |
Dày công kiến tạo giáo xứ hơn 3 năm tuổi, cha Antôn Vũ Thanh Hòa chăm chút cho ngôi nguyện đường là căn nhà cấp 4 thêm tươm tất bên trong, thú vị bên ngoài bởi những họa tiết đậm chất văn hóa sắc tộc. Để đủ chỗ cho bà con tín hữu dự lễ, ngài cơi nới nguyện đường thêm rộng rãi bằng mái tôn, vách tôn, vách nứa. Bên cạnh việc chăm lo đời sống đức tin, ngài còn đặc biệt lưu tâm đến việc bảo tồn ngôn ngữ của đồng bào tín hữu. Tuần tự mỗi ngày Chúa nhật, các em thiếu nhi được học giáo lý và tham dự thánh lễ bằng tiếng bản địa hoặc tiếng Việt, nhằm giúp các em gìn giữ tiếng mẹ đẻ, vừa hòa nhập với cộng đồng xã hội.
Nhằm tạo sự hài hòa giữa văn hóa truyền thống và tôn giáo trong đời sống thường nhật, những lễ hội truyền thống của bà con sắc tộc cũng được bảo tồn trong tinh thần hội nhập cách khéo léo tại giáo xứ non trẻ. Trong đó, tục dựng cây nêu vào ngày lễ Noel, Phục Sinh, ngày Tết, lễ hội vẫn được duy trì với nét mới là cây thánh giá nhỏ trên đầu cây nêu. Những vũ điệu, tiếng chiêng trống truyền thống bên cây nêu xưa, nay được kết hợp với những bài Thánh Vịnh hát mừng Chúa vào những dịp lễ Tết, lễ trọng trong năm. Mỗi khi Xuân về, bà con trong xứ lại cùng nhau gói bánh nếp, loại bánh truyền thống của đồng bào với hình thù bên ngoài như chiếc bánh tét quen thuộc.
Kính mến người mục tử hết lòng vì đoàn chiên, nữ giáo dân Maria Ka Nhội cảm nhận: “Cha Antôn là cha sở và cũng là người cha yêu thương trong đại gia đình giáo xứ rộng lớn”. Người phụ nữ 43 tuổi, thỉnh thoảng phụ giúp nấu cơm trong nhà xứ khẳng định đồng bào thêm yêu kính ngài bởi sự hy sinh, khiêm nhường: “Giáo dân lao động, cha cũng chung tay. Ngài sống giản đơn, bữa cơm có khi chỉ với ít thịt kho, canh đọt mây hoặc rau rừng, nhưng luôn quan tâm nâng đỡ người cần giúp”.
Cha Antôn Vũ Thanh Hòa cảm nhận từng ngày trong cuộc đời mục vụ là niềm hạnh phúc bên đoàn chiên được trao phó. Trên bước đường sắp tới, ngài ao ước: “Mong rằng khi điều kiện cho phép, giáo xứ sẽ làm được nhà giáo lý để các em có nơi học tươm tất. Và đặc biệt là ngôi thánh đường khang trang sẽ hiện diện nơi đây, giúp cộng đoàn có nơi thờ phượng xứng hợp, ngõ hầu hun đúc đời sống đức tin ngày càng thêm sốt mến và sinh nhiều hoa trái thiêng liêng”.
BÍCH VÂN
2023
Vị linh mục mở ra ngành lịch sử tự nhiên của Canada
Vị linh mục mở ra ngành lịch sử tự nhiên của Canada
Từ sự tình cờ vào thuở nhỏ, cha Léon Abel Provancher đã say mê khám phá vạn vật và được vinh danh là người khởi đầu cho ngành lịch sử tự nhiên ở Canada.
Cha Léon Abel Provancher sinh ngày 10.3.1820 ở thị trấn Bécancour, thuộc tỉnh bang Quebec và qua đời ngày 23.31892 ở Cap-Rouge, cùng tỉnh bang. Bên cạnh sứ vụ của một linh mục cha chánh xứ, cha đã có nhiều đóng góp quan trọng cho khoa học và được vinh danh là “cha đẻ ngành lịch sử tự nhiên của Canada”.
![]() |
Có duyên với học bổng và giải thưởng
Niềm đam mê về khoa học tự nhiên của vị linh mục bắt đầu manh nha trong những năm tháng thời thơ ấu, hay nói đúng hơn là từ lúc cậu bé Léon Abel Provancher nhìn thấy một vỏ sò hóa thạch được công nhân tìm được trong quá trình đào giếng. Sau đó, Provancher thích thú học tên của những loài thực vật. Năm 1834 (lúc 14 tuổi), cậu bé giành được học bổng, cho phép nhập học ở Tiểu Chủng viện Nicolet của Quebec. Thậm chí ở độ tuổi này, kiến thức liên quan lĩnh vực thực vật học và nông nghiệp của Provancher cũng đã mang về nhiều giải thưởng cho cậu suốt thời gian học tập tại đây.
Tiếp tục theo ơn gọi, đến năm 24 tuổi, tức vào năm 1844, vị chủng sinh trẻ được truyền chức linh mục. Trong vòng 4 năm kế tiếp, ngài đã phục vụ ở nhiều xứ đạo. Năm 1848, cha tiếp tục bắt tay vào lĩnh vực trồng trọt. Việc lui tới nhiều giáo xứ khác nhau cho phép vị linh mục nghiên cứu hệ thực vật và động vật của Canada. Tháng 9.1854, cha Provancher trở thành cha sở giáo xứ Saint Joachim, và ngài trải qua 8 năm tại đây, lâu hơn nhiều so với thời gian ở những giáo xứ trước đó. Cha đổ công sức bồi đắp cho giáo xứ Saint Joachim và thử nhiều cách để tìm ra những nguồn thu mới cho giáo dân.
Năm 1857, lấy bút danh Émilien Dupont, cha hoàn thành quyển Essai sur les insectes et les maladies qui affectent le blé (tạm dịch: Tiểu luận về các loài côn trùng và những bệnh ảnh hưởng đến lúa mì). Đây là quyển sách dùng để tham gia cuộc thi do chính phủ tài trợ với hy vọng có thể tìm ra giải pháp cho vấn đề liên quan đến một loại ruồi gây ảnh hưởng đến hoa màu của những người nông dân địa phương. Cha Provancher đoạt giải ba trong cuộc thi này.
![]() |
| Cha đích thân khám phá và mô tả hơn 1.000 loài trước đây chưa từng được biết đến |
Nghiên cứu sâu về khoa học tự nhiên
Năm 1858 cha xuất bản Traité élémentaire de botanique (Chuyên luận cơ bản về thực vật học), quyển sách đầu tiên thuộc dạng này ở Canada. Sách được các viện giáo dục sử dụng cho công tác giảng dạy suốt nhiều năm, cho đến khi xuất hiện các quyển sách như Éléments de botanique et de physiologie végétale (Khái luận về thực vật học và sinh lý học thực vật) của Louis-Ovide Brunet (Quebec, 1870) và Cours élémentaire de botanique et Flore du Canada (Giáo trình cơ bản về thực vật và hệ thực vật của Canada) của Jean Moyen (Montreal, 1871). Năm 1861, vị linh mục hội ngộ ông Brunet, giáo sư ngành thực vật học của Đại học Laval, và cùng nhau, hai người thu thập các mẫu cây trên khắp lãnh thổ Canada. Đến thời điểm này, cha Provancher bắt đầu quan tâm đến những loài côn trùng ký sinh trong vườn nhà xứ. Thế là cha chuyển sang nghiên cứu ngành côn trùng học với ông William Couper, nhà côn trùng học người Mỹ và nhà tự nhiên học có ảnh hưởng lớn tại Canada vào nửa cuối thế kỷ 19. Thậm chí vị linh mục còn nhờ gởi sách từ New York và Washington đến Quebec để phục vụ cho việc học tập.
Năm 1862, cha Provancher rời giáo xứ Saint-Joachim và sang phục vụ ở giáo xứ Notre-Dame-de-Portneuf. Trước khi từ giã giáo xứ cũ, cha tạo nên vườn ươm dành cho cây ăn trái để làm hình mẫu cho nông dân địa phương, cũng như mang đến những sự trợ giúp khác. Cùng năm, cha công bố quyển sách tựa đề Le verger canadien (Vườn cây Canada), về hoa lan Canada và những thông tin cần thiết để nuôi trồng giống hoa này. Tiếp tục trong năm 1862, ngài nhận được khoản hỗ trợ tài chính từ chính phủ để hoàn thành công trình về các loài hoa của Canada. Năm 1868, cha Provancher phát hành chuyên san Le Naturaliste canadien (Nhà Tự nhiên học Canada) để tạo điều kiện cho các nhà khoa học chưa có tên tuổi công bố những phát hiện của họ, và từ đó khuyến khích những người nghiệp dư nghiên cứu về tự nhiên học.
Những năm sau, theo lời khuyên của Đức Tổng Giám mục Quebec, cha Provancher rời sứ vụ linh mục chánh xứ và tập trung vào việc nghiên cứu chuyên sâu về khoa học tự nhiên. Thế là cha di chuyển khắp Canada và lên đường đến Mỹ, châu Âu và Đất Thánh. Ngài tổ chức hai chuyến hành hương đến Jerusalem, với một chuyến do cha đích thân hướng dẫn.
Đến năm 1874, vị linh mục bắt đầu xuất bản Petite faune entomologique du Canada (Hệ động vật côn trùng của Canada), một dự án khổng lồ về nghiên cứu côn trùng nhỏ của Canada. Ban đầu công trình chỉ xuất hiện trên chuyên san Le Naturaliste canadien, và theo thời gian được hiệu đính, mở rộng và cuối cùng trở thành tuyển tập 3 quyển về mọi loài côn trùng từng được biết đến ở Canada vào thời điểm đó. Hệ động vật côn trùng của Canada trong một thời gian dài trở thành công trình có giá trị vô song về côn trùng học tại nước này.
Chính nhờ vào việc tìm hiểu và mô tả về bộ côn trùng bao gồm ong bắp cày và ong, cha Provencher mang đến sự đóng góp to lớn cho nỗ lực vì tiến bộ trong khoa học. Thay vì tổng hợp thông tin từ các nguồn khác như đã làm trước đây, ngài đích thân khám phá và mô tả hơn 1.000 loài trước đây chưa từng được biết đến. Một mình cha đã tìm được 1/10 các loài thuộc bộ cánh màng hiện được biết đến ở Canada. Nhờ vào sự đóng góp lớn lao cho khoa học, cha khẳng định được tên tuổi vững chắc và không thể thay thế được trong lịch sử ngành tự nhiên học của Canada.
GIANG VÔ YÊN





