2023
Bàn về chữ “tình” chữ “nghĩa” trong đời sống gia đình
Theo các chuyên gia về hôn nhân gia đình thì một khi cuộc hôn nhân không còn trọn nghĩa vẹn tình nữa thì cho dù có sống với nhau nhiều năm tháng đi chăng nữa thì cũng sẽ đến ngày phải “tan đàn xẻ nghé”. Tình trạng ly hôn ngày nay được nói đến rất nhiều, chẳng hạn đối với đôi vợ chồng trẻ thì người ta gọi đó là “Ly hôn xanh”, còn đối với các cặp trung niên hay lão niên thì đó là “Ly hôn xám”. Như một nhà thơ đã mô tả ngắn gọn như sau:
“Anh đi đường anh, tôi đường tôi,
Tình nghĩa đôi ta có thế thôi.
Đã quyết không mong xum họp mãi,
Bận lòng chi nữa lúc chia phôi?” (Thơ Thế Lữ).
Được biết, theo thống kê hàng năm, số vụ ly hôn càng ngày càng tăng không kể tuổi tác, trình độ văn hóa, giai cấp giàu nghèo vv. Chuyện ly hôn không của riêng ai, nó trở nên phổ biến khiến cho cả xã hội phải lên tiếng báo động. Tác giả bài viết có tựa “Gia đình trẻ Việt ngày càng thiếu sự gắn bó và bền vững” trên trang thanhnien.vn ngày 26-9-2022 đã cho biết như sau:
“Thống kê của Viện nghiên cứu Gia đình và Giới vào năm 2018, trung bình cả nước ta có trên 60.000 vụ ly hôn mỗi năm, chiếm tỷ lệ 30% tổng số cặp đôi. Điều này đồng nghĩa với việc cứ 10 cặp đôi kết hôn thì có đến 3 cặp ly hôn. Trong số các cặp đôi ly hôn, 70% số vụ thuộc về các gia đình trẻ trong độ tuổi từ 18-30, 60% ly hôn sau từ 1-5 năm chung sống, nhiều trường hợp chỉ kết hôn được vài tháng hoặc vài ngày.”
Tác giả bài báo cho biết tiếp: “Thống kê cũng cho thấy tỷ lệ ly hôn tập trung cao tại những thành phố lớn. Đơn cử tại TP.HCM, bình quân cứ 2,7 cặp kết hôn thì có 1 cặp ly hôn (chiếm hơn 35%). Độ tuổi ly hôn dưới 35 chiếm 30%. Trung bình mỗi tháng, TP.HCM có từ 80-100 vụ ly hôn tại mỗi quận, huyện.”
Riêng về các nguyên nhân gây ra các vụ ly hôn của các đôi vợ chồng, tác giả bài viết trên đã nêu cụ thể: “Thực tế, thống kê của Viện nghiên cứu Gia đình và Giới cũng chỉ ra nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến khủng hoảng hôn nhân. Trong đó, 27,7% là mâu thuẫn về lối sống, 25,9% đến từ ngoại tình, yếu tố kinh tế chiếm 13%, bạo lực gia đình chiếm 6,7%, sức khỏe chiếm 2,2% và sống xa nhau nhiều ngày chiếm 1,3%. Tất cả những khủng hoảng kể trên đều dẫn đến kết cục ly hôn khi không thể tìm được hướng giải quyết.” [1]
Dù xuất phát từ nguyên nhân nào đi nữa thì việc hai vợ chồng quyết định ly hôn (hay ly thân) cũng nói lên một điều chính yếu này, đó là họ không còn tình còn nghĩa gì với nhau nữa, dù cho đời sống hôn nhân đã kéo dài cả mấy chục năm và nhiều trường hợp hai người đã có con đàn cháu đống! Một nhà xã hội học, cũng là chuyên gia tâm lý đã nhận định như sau: “Kẻ thù lớn nhất của hôn nhân chính là sự nhàm chán. Càng ở với nhau lâu mà hai bên không nỗ lực vun đắp thì sẽ nhàm chán thôi, mà nhàm chán thì tình yêu sẽ mất đi. Đấy là tính tất yếu của mọi mối quan hệ. Tình cảm không phải là bất biến, tình cảm là một thứ có thể thay đổi. Nếu người ta không nuôi dưỡng, họ sẽ mất tình cảm ấy”.
Sau đây, qua bài viết này, tôi mạn phép đề cập chi tiết hơn đến chữ tình chữ nghĩa trong hôn nhân để từ đó khẳng định rằng hôn nhân sẽ không hạnh phúc và bền vững nếu chỉ có tình mà thiếu nghĩa, hoặc chỉ có nghĩa mà vắng tình. Vì rằng cả hai yếu tố tình và nghĩa sẽ được coi như chất keo sơn giúp gắn chặt hôn nhân như bóng với hình.
1.- Chữ TÌNH trong đời sống hôn nhân
Trước hết, chúng ta bàn đến chữ Tình trong đời sống hôn nhân. Một danh nhân đã nói: “Không có tình thì không có gia đình” (Lord Byron). Điều đó rất chính xác, nó cho thấy vai trò cực kỳ quan trọng và thiết yếu của tình yêu trong đời sống lứa đôi.
Thánh Au-gus-ti-nô đã từng nói “Cứ yêu đi, rồi muốn làm gì thì làm” (Ama et fac quod vis). Ngạn ngữ La-tinh có câu “Tình yêu chiến thắng tất cả” (Amor vincit omnia). Điều đó chứng tỏ là tình yêu là yếu tố hàng đầu, quyết định hạnh phúc vợ chồng và sự bền vững của đời sống hôn nhân. Bởi vậy khi trao nhẫn cưới cho nhau trong lúc cử hành Bí tích Hôn phối, đôi bạn đã khẳng định như sau: “Anh/em …, nhận chiếc nhẫn này để làm bằng chứng tình yêu và lòng chung thủy của anh/em. Nhân danh Cha, và Con, và Thánh Thần.”
Một khi tình yêu và lòng chung thủy đã được xác tín và tuyên bố công khai như vậy, thì từ lúc này đôi bạn phải trung thành với cam kết của mình dù cuộc đời có thay đổi thế nào đi nữa. Đức thánh Giáo hoàng Gio-an Phao-lô II trong Tông huấn những bổn phận gia đình Ki-tô hữu (FC) đã nhấn mạnh như sau: “Đối với đôi bạn Kitô hữu, ơn bí tích là một ơn gọi và đồng thời cũng là một lệnh truyền phải trung thành mãi mãi, bất chấp các thử thách và khó khăn với một lòng quảng đại tuân theo ý Chúa: ‘Điều Thiên Chúa đã phối hợp thì người ta không được phân ly’ (Mt 19,6) ” (FC số 20).
Cũng trong Tông huấn này, Đức thánh Giáo hoàng Gio-an Phao-lô nhắn nhủ tiếp: “Chỉ có một tinh thần hi sinh cao cả mới giúp gìn giữ được và kiện toàn được sự hiệp thông trong gia đình. Thực vậy, sự hiệp thông này đòi hỏi mọi người và mỗi người biết quảng đại và mau mắn mở lòng ra để thông cảm, bao dung, tha thứ cho nhau và hòa giải với nhau. Không gia đình nào mà không biết rằng sự ích kỷ, những bất hòa, những căng thẳng, những xung đột đã làm hại cho sự hiệp thông gia đình biết chừng nào, và đôi khi còn có thể làm tiêu tan sự hiệp thông ấy: chính từ đó mà phát xuất muôn hình thức chia rẽ khác nhau trong đời sống gia đình” (FC số 21).
Riêng thánh Phao-lô, ngài đã có những lời khuyên thiết thực sau:
“Anh em là những người được Thiên Chúa tuyển lựa, hiến thánh và yêu thương. Vì thế anh em hãy có lòng thương cảm, nhân hậu, khiêm nhu, hiền hòa và nhẫn nại. Hãy chịu đựng và tha thứ cho nhau, nếu trong anh em người này có điều gì phải trách móc người kia. Chúa đã tha thứ cho anh em, thì anh em cũng vậy, anh em phải tha thứ cho nhau” (Cl 3, 12-13); “Người làm vợ hãy phục tùng chồng, như thế mới xứng đáng là người thuộc về Chúa. Người làm chồng hãy yêu thương chứ đừng cay nghiệt với vợ…” (Cl 3, 18-19).
“Vì lòng kính sợ Đức Ki-tô, anh em hãy tùng phục lẫn nhau. Người làm vợ hãy tùng phục chồng như tùng phục Chúa, vì chồng là đầu của vợ cũng như Đức Ki-tô là đầu của Hội thánh, chính Người là Đấng cứu chuộc Hội thánh, thân thể của Người. Và như Hội thánh tùng phục Đức Ki-tô thế nào, thì vợ cũng phải tùng phục chồng trong mọi sự như vậy” (Eph 5, 21-33).
Một đặc điểm nổi bật trong hôn nhân Ki-tô hữu, đó là sự hy sinh vì người yêu và tình yêu vợ chồng dành cho nhau dõi theo tình yêu Thiên Chúa yêu nhân loại và tình yêu Đức Ki-tô dành cho Hội thánh. Chúng ta biết rằng, hy sinh có hai nghĩa, nghĩa thứ nhất là chết (ngừng mọi hoạt động của cơ thể), nghĩa thứ hai là chịu thiệt hại, mất mát quyền lợi về vật chất, tinh thần hoặc một bộ phận nào đó trên cơ thể nhằm một mục tiêu cao cả hoặc một lý tưởng tốt đẹp (Theo Wikipedia).
Sự hy sinh trong tình yêu Ki-tô hữu luôn hàm chứa sự đau khổ, mất mát, thiệt thòi. Thực vậy, tình yêu trong hôn nhân đòi hỏi đôi bạn phải hy sinh hết mình vì bạn đời của mình và vì hạnh phúc gia đình. Đó là cách chứng minh tình yêu cụ thể nhất. Thánh nữ Tê-rê-xa Hài Đồng Giê-su đã nói: “Yêu là hy sinh, chưa hy sinh thì chưa gọi là yêu”. Hy sinh cũng là điều kiện để bảo tồn và gia tăng sự hiệp thông, hiệp nhất trong gia đình.
Người ta thường nói ví von rằng hoa hồng nào mà chẳng có gai. Cuộc tình nào mà chẳng có nước mắt và đau khổ. Hôn nhân đích thực không phải là thiên đàng của những mộng mơ viễn tưởng mà trái lại đó là một trường đào tạo, một cuộc chiến đấu cam go của những anh hùng. Như có người đã nói: “Hôn nhân không phải là luống hồng mà là bãi chiến trường” (Danh ngôn).
Thực vậy, khi bước vào đời sống hôn nhân gia đình là chúng ta chấp nhận đi vào con đường khổ giá, con đường mà Chúa Giêsu đã mời gọi mọi môn đệ cùng đi với Ngài. Tác giả D. Wahrheit trong cuốn sách tựa đề “Cẩm nang hạnh phúc gia đình Ki-tô” đã chia sẻ như sau: “Ngày thành hôn trước mặt Giáo hội, hai người nam nữ nên vợ nên chồng. Bí tích hôn phối đưa hai người lên đường, hé mở cho họ thấy sự thánh thiện mà tay trong tay họ cùng nhau đạt tới. Cuộc lễ long trọng trong nhà thờ mới chỉ là một khởi hành. Đức tin không là một cây đũa thần để họ làm phép lạ. Họ chỉ biết rằng, con đường mà trên đó họ cùng nắm tay tiến bước với Chúa Kitô là một con đường hẹp. Con đường ấy được trải đầy những thập giá mà họ phải vác lấy từng ngày…”
Như vậy, nếu phải chiến đấu, phải nỗ lực để có được một tình yêu chân chính trong một cuộc hôn nhân bền vững, thì ta phải dõi theo những gì mà Chúa đã dạy. Ngài đã nói: “Không có tình thương lớn hơn tình thương của người hi sinh mạng sống mình cho bạn hữu” (Ga 15,13). Sự đau khổ và sự chết của Đức Ki-tô đã giải thích cho ta hiểu rằng vì yêu và vì hạnh phúc của chúng ta, Ngài đã hi sinh đến chết (x. Ga 10, 17; Pl 2, 8). Đó là một Tình Yêu đích thực, tình yêu có sức mạnh cứu chuộc, thăng hoa và biến đổi.
2.- Chữ NGHĨA trong đời sống hôn nhân
Có nhiều cách lý giải chữ “Nghĩa” trong đời sống hôn nhân gia đình. LM Giuse Đinh Lập Liễm trong bài giảng “Nghĩa tào khang” (cuốn Chia sẻ Lời Chúa trong thánh lễ Hôn phối) đã diễn giải như sau:
“Vợ chồng là nghĩa tào khang,
Chồng hòa vợ thuận nhà thường yên vui.”
“Nghĩa” là một trong năm đức tính cao quý của con người trong xã hội ta ngày xưa. Đó là: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín. Ngược với chữ “lợi”, chữ nghĩa chỉ đức tính tốt, làm theo điều phải. Chữ nghĩa hàm chứa tính cách bất vụ lợi như “nghĩa cử”; tính cách trung thành và hy sinh như “nghĩa bộc:, “nghĩa tử”; tính cách khí khái, hăng hái, dấn thân như “nghĩa khí”. Trong mạch văn “vợ chồng là nghĩa tào khang” mà vợ chồng là một định chế, thì chữ nghĩa là đức tính căn bản của vợ chồng, để được dùng định nghĩa cho hôn nhân. Nó là một trong 5 tương quan trong xã hội: Trung, hiếu, nghĩa, lễ, tín. Nó là một định chế trong 5 định chế: quân thần, phụ tử, phu phụ, huynh đệ, bằng hữu. Chữ nghĩa ở đây bao hàm ý nghĩa của một định chế tốt, được xã hội công nhận. [2]
Trong đời sống hôn nhân gia đình, chữ Nghĩa luôn được nhắc đến song song với chữ Tình. Người ta thường nói “Tình-nghĩa vợ chồng” là vậy. Nhà văn Hoàng Hữu Các trong bài viết “Giá trị của chữ tình, chữ nghĩa” trên trang Gia đình và Xã hội ngày 28-6-2011 đã nhận xét như sau:
“Người ta yêu nhau vì tình và sống với nhau lâu dài vì nghĩa. Chính các gia đình Việt Nam đã chứng minh điều đó. Các thế hệ cha ông chúng ta lấy vợ không có tình yêu, thậm chí còn không được tìm hiểu. Chẳng hạn:
“Nhà mình do má tìm cho
Nết ăn nết ở cũng do má tìm.”
Vậy mà họ sống với nhau êm thấm cả đời, sinh con đàn cháu đống. Bây giờ yêu nhau hoàn toàn tự do, tìm hiểu rất kỹ, thậm chí còn sống thử trước khi cưới, vậy mà tỷ lệ ly hôn ngày càng tăng và nạn bạo lực gia đình đã đến mức phải báo động. Liên tiếp có những vụ án đau lòng, chồng giết vợ, vợ thiêu sống chồng và nhiều nơi đã phải xây nhà tạm lánh cho những bà vợ trốn khỏi những trận đòn của những kẻ vũ phu.
Tình yêu mặn nồng mấy rồi cũng nhạt dần qua năm tháng, nhưng thời gian cũng có thể làm cho nghĩa vợ chồng ngày một mặn mà hơn. Cái nghĩa được hình thành và củng cố tấm lòng vợ chồng dành cho nhau. Cùng chung sức vượt qua khó khăn xây dựng vun vén tổ ấm gia đình, bát cháo chén thuốc khi đau ốm, sự quan tâm chu đáo trong những việc nhỏ nhất như cái ăn, cái mặc, tất cả làm nên nghĩa vợ chồng và thành điểm tựa của nhau trong suốt cuộc đời. Có khi chỉ vì yêu một cái lúm đồng tiền mà người đàn ông cưới hẳn cả một cô gái. Nhưng khi nếp nhăn hằn sâu trên gương mặt thì cái lúm đồng tiền không còn nữa mà chỉ còn cái nghĩa ở đời với nhau. Nghĩa vợ chồng được hình thành từ rất nhiều bao dung, nhiều tha thứ, nhiều chấp nhận. Nếu cứ đòi hỏi nhau nhiều quá, soi nhau nhiều quá mà không biết chấp nhận cá tính của nhau thì không hình thành được nghĩa vợ chồng và như thế thì những năm tháng sống chung sẽ là tù ngục; tờ hôn thú sẽ là bản án chung thân.
Người ta yêu nhau một thời và sống chung với nhau một đời. Khi chữ tình nhẹ dần thì chữ nghĩa nặng hơn, đó là nền móng của gia đình, nền móng này phải được xây dựng từ trong văn hóa sống.” [3]
Chúng ta biết rằng, khởi đầu của hôn nhân luôn là một tình yêu nồng ấm mà đôi bạn tự nguyện trao ban cho nhau. Tình yêu ấy nó như một hạt giống cần được nuôi dưỡng thường xuyên như một cái cây cần đất, nước, khí và ánh sáng thì mới mong phát triển và sống lâu bền được. Vai trò của Nghĩa chính là yếu tố cần thiết để nuôi dưỡng tình yêu. Như người ta thường nói: “Hôn nhân chia nửa quyền lợi và gấp đôi nghĩa vụ” (Arthur Schopenhauer). Và “Trong hôn nhân, gặp nhau là bước đầu, sống chung với nhau là bước kế tiếp, làm việc chung với nhau mới làm nên một gia đình êm ấm ” (James Thurber).
Cái nghĩa vụ mà câu nói trên đề cập chính là chữ “Nghĩa” mà chúng ta đang bàn. Nghĩa chính là sợi dây ràng buộc đôi bạn trong một cuộc sống chung, chịu trách nhiệm chung và cùng chia sẻ định mệnh chung. Ông bà ta thì nói ngắn gọn: “Trong gia đình có Kẻ xay lúa, có người bồng em”, hoặc “Đàn ông xây nhà, đàn bà xây tổ ấm”, hay “Vợ chồng như đũa có đôi”. Không ai có thể là “người khách lạ” trong gia đình của mình được. Cái nghĩa-vợ-chồng nó thúc đẩy chúng ta chung lưng đấu cật, đồng lao cộng khổ vì hạnh phúc của hôn nhân và để gia đình được êm ấm lâu dài.
Trong bài giảng hôn phối có tựa “Chung lưng đấu cật”, LM Đinh Lập Liễm (sách đã dẫn) đã chia sẻ như sau:
“Thành ngữ chung lưng đấu cật có nghĩa là cùng góp sức và dựa vào nhau trước khó khăn chung. Muốn xây dựng được một mái ấm gia đình, vợ chồng luôn phải chung sức chung lòng, kề vai sát cánh mới mong đi đến thành công. Có câu thơ sau:
Em về cắt rạ đánh tranh, / Chẻ tre, chẻ lạt cho anh lợp nhà.
Sớm khuya hòa thuận đôi ta, / Hơn ai gác tía, lầu hoa một mình.
Mái ấm gia đình luôn được xây dựng do công lao của vợ chồng, không riêng của ai. Mỗi người xây đắp một phương diện. Phải biết vun xới cho gia đình, vì “của chồng công vợ” mà, đừng sống như chỉ có một mình mà hãy thực hiện lời dạy trong Thánh Kinh: “Tôi muốn trở nên mọi sự cho mọi người”, ít ra hãy thực hiện điều ấy cho người bạn đời.” [4]
Như vậy, ta thấy rằng cái Nghĩa trong đời sống hôn nhân gia đình chính là việc đôi bạn quan tâm đến nhau, thực hiện một cách tích cực và đầy đủ những đòi hỏi thuộc chức năng vai trò từng người trong đời sống chung vợ chồng. Người ta gọi đó là tình yêu trách nhiệm.
Ông bà ta thường nói lập gia đình, kết hôn, lấy vợ lấy chồng là đi “gánh vác”. Điều đó có nghĩa là khi bước vào đời sống hôn nhân, đôi bạn trở nên hai người bạn đời, bạn đường của nhau, cùng liên kết trong một cuộc sống, cùng chia sẻ một số phận và đồng trách nhiệm với nhau về mọi vấn đề trong gia đình. Tinh thần trách nhiệm đòi hỏi cả hai người phải nỗ lực hy sinh cái “Tôi” để lo cho cái “Chúng ta”. Khi kết hôn đôi bạn phải hy sinh những lợi ích riêng tư cá nhân để chu toàn bổn phận làm vợ làm chồng, bổn phận làm cha làm mẹ trong gia đình. Tinh thần trách nhiệm trong hôn nhân nhắc chúng ta đến hai việc, đó là sự quan tâm chăm sóc giữa hai bạn đời với nhau, hai là sự cộng tác tích cực của hai vợ chồng trong việc thực hiện bổn phận gia đình.
Sự chăm sóc và quan tâm đến nhau. Đây là dấu chỉ về một tình yêu đích thực, trưởng thành và tinh tế, như có người đã nói: “Ai thích hoa thì tìm cách ngắt hoa. Nhưng người yêu hoa thì tìm cách chăm sóc hoa”. Bản thân vợ chồng phải được chăm sóc, vun xới từng giờ, từng phút, từ chuyện nhỏ đến chuyện lớn, những lúc vui sướng cũng như lúc gian nan. Sự chăm sóc đôi khi đơn giản, nhỏ bé nhưng lại có vai trò to lớn trong cuộc sống vợ chồng. Sự quan tâm không chỉ thể hiện bằng lời nói mà còn qua những cử chỉ, hành động thiết thực, cụ thể. Chẳng hạn, hãy thường xuyên nói chuyện với nhau, lắng nghe nhau tâm sự, khen ngợi nhau khi cần thiết, chia vui sẻ buồn với nhau, nghĩ đến nhau những dịp đặc biệt như sinh nhật, bổn mạng, ngày kết hôn…Quả thực, sự quan tâm đến nhau được coi như chất keo giúp gắn kết hai bạn đời bền chặt mãi mãi.
Đồng cam cộng khổ, cùng chia sẻ trách nhiệm chung trong gia đình. Ngày nay, nhiều bạn trẻ tỏ ra thất vọng rất lớn về bạn đời của mình chỉ vì người ấy không quan tâm đến những việc chung của gia đình. Nhiều bà vợ than phiền các ông chồng lười biếng và ỷ lại vào sự đảm đang của vợ mà bỏ bê việc gia đình. Điều đó khiến người vợ mệt mỏi và thất vọng vì gia đình là của chung, hôn nhân là do hai người cùng kiến tạo và niềm hạnh phúc là do hai người cùng chia sẻ. Trên thực tế, ta thường nghe vợ than chồng mê game mà bỏ bê gia đình. Trong khi ấy, chồng phàn nàn vợ ghiền mạng xã hội hơn là chồng con. Điều đó dễ dẫn đến cảnh xào xáo bất an trong gia đình.
Trong cuốn “Những quy tắc trong đời sống vợ chồng”, tác giả đã đưa ra 3 cái “cùng” đối với đôi vợ chồng, đó là: Cùng nhau làm việc nhà, cùng nhau chăm sóc con cái, cùng nhau quyết định mọi việc trong gia đình. Tác giả đã phân tích như sau:
“Thật sai lầm khi người vợ ôm đồm hết mọi thứ và để người chồng đi làm về ‘ngồi chơi xơi nước’. Thứ nhất, vợ tập cho chồng thói quen ỷ lại, lười biếng và thiếu trách nhiệm. Thứ hai, vợ đang tự biến mình thành người giúp việc trong nhà, chứ không còn là vợ. Cuối cùng về lâu dài, việc này ảnh hưởng không nhỏ đến tình cảm của vợ chồng đôi bạn. Hôn nhân là sự hợp tác, chia sẻ, và mọi trách nhiệm đều phải được phân công với nhau.
Ngoài ra, là vợ chồng, đôi bạn nên trao đổi, thống nhất với nhau để đưa ra quyết định cho mọi việc dù lớn hay nhỏ trong gia đình. Có nhiều gia đình phần lớn mọi việc do chồng hay do vợ quyết định, người còn lại chỉ biết lắng nghe theo và ít khi tham gia ý kiến. Đó không phải là biểu hiện của một cuộc hôn nhân hạnh phúc. Nó thể hiện sự thiếu cân bằng về trọng lượng lời nói, vị thế của nhau trong hôn nhân. Để hôn nhân bền vững và hạnh phúc, một nguyên tắc cần tuân thủ nghiêm ngặt, đó là mọi việc quan trọng trong gia đình, cả hai vợ chồng đều phải bàn bạc, nêu ra ý kiến của mình để có quyết định thống nhất.” [5]
Có thể khẳng định điều này là sự thành công và bền vững của một cuộc hôn nhân không phải do tài năng của đôi bạn mà chính là do sự đồng tâm hiệp lực của cả hai người trong gia đình. Đó là biểu hiện cách sống thực sự có tình có nghĩa với nhau của đôi bạn đời.
3.- Hôn nhân sẽ ra sao nếu thiếu Tình và thiếu Nghĩa
Một danh nhân đã nói: “Hôn nhân là một công trình mà đôi bạn phải kiến tạo suốt đời (André Maurois). Công trình hôn nhân mà đôi bạn cam kết dấn thân thực hiện không giống các công trình vật chất khác của con người, trái lại đó là một ơn gọi và sứ mệnh được trao ban từ chính Thiên Chúa. Như Đức thánh Giáo hoàng Gio-an Phao-lô đã nói trong Tông huấn Gia đình Ki-tô hữu (FC) như sau: “Thiên Chúa đã tạo dựng con người theo hình ảnh Người, giống như họa ảnh của Người (x.St 1-26-27). Khi vì yêu mà kêu gọi con người bước vào cuộc sống, Người cũng mời gọi họ sống cho tình yêu. Thiên Chúa là Tình Yêu (x.1Ga 4,8) và nơi chính mình Người, Người cũng đang sống mầu nhiệm hiệp thông yêu thương giữa các ngôi vị . Khi tạo dựng nhân tính của người nam và người nữ theo hình ảnh Người và liên lỉ bảo toàn cho nhân tính ấy được hiện hữu, Thiên Chúa ghi khắc vào đó ơn gọi cũng như khả năng và trách nhiệm tương ứng, mời gọi con người sống yêu thương và hiệp thông (x.HC MV 12). Tình yêu là ơn gọi căn bản và bẩm sinh của mọi người.” [6]
Vậy có thể nói hôn nhân là công trình của tình yêu và trách nhiệm. Nhưng một khi hôn nhân không còn tình yêu và không duy trì trách nhiệm nữa thì hôn nhân sẽ sụp đổ. Lúc mới kết hôn, có thể đôi bạn nghĩ rằng tiền bạc, danh vọng, sắc đẹp, chức tước địa vị xã hội, bằng cấp…sẽ đem lại hạnh phúc và êm ấm cho gia đình, nhưng khi đã về sống với nhau rồi lúc đó cả hai đều vỡ mộng. Chúng ta quên một điều quan trọng này là điều làm nên một gia đình hạnh phúc, đó chính là sự nồng ấm của tình yêu và sự gắn kết bền chặt của nghĩa vụ. Nói cách khác, nếu hôn nhân không còn nghĩa, không còn tình gì nữa thì đó là một cuộc sống buồn chán và đáng thất vọng.
3.1. Hôn nhân thiếu Tình thì hôn nhân nhàm chán
Có thể nói trên thực tế để nhận ra một cuộc hôn nhân không còn tình yêu không phải là chuyện khó khăn lắm. Bởi vì khi hai vợ chồng lạnh nhạt trong tình yêu thì hôn nhân không còn là thiên đàng nữa, mà trái lại là “con đường dẫn đưa tới hỏa ngục” (Balzac). Nói cách khác, lúc đó hôn nhân không còn là cảnh “một túp lều tranh, hai trái tim vàng” nữa, mà là một “thảm họa” mà cả hai bạn đều sợ hãi và muốn thoát khỏi.
Nét tiêu biểu nổi bật nhất mà ta có thể đề cập tới liên quan cuộc hôn nhân không còn tình yêu, đó là sự nhàm chán vô vị. Nếu khi mới lấy nhau, đôi bạn luôn cảm thấy đời sống vợ chồng thật là vui vẻ, phấn khởi và ấm cúng, thì có thể chỉ sau một thời gian chung sống, vì lý do nào đó, họ rơi vào tình trạng bi quan, chán nản, thất vọng. Thực tế này xuất phát từ nguyên nhân tình yêu giữa hai người đã phai nhạt, cạn kiệt, thậm chí có khi còn tiêu tan hẳn. Dần dần cuộc sống chung trở nên nhàm chán, vô vị và đôi bạn cảm thấy cuộc sống hôn nhân chỉ còn là gánh nặng cho nhau mà thôi.
Nhà thơ Lord Byron đã nói “Không có tình, không có gia đình”, điều đó có nghĩa là đời sống hôn nhân gia đình chỉ thực sự sống động và có ý nghĩa khi đôi vợ chồng giữ được ngọn lửa yêu thương luôn nồng cháy. Tuy nhiên một khi hôn nhân không còn chút gì hương vị nồng ấm của tình yêu nữa thì quả thực đời sống vợ chồng lúc đó thật là vô vị và nhàm chán!
Thực trạng kế tiếp của cuộc hôn nhân vắng tình yêu, đó là sự gặm nhấm của căn bệnh vô cảm, lạnh lùng giữa đôi bạn. Khi không còn tình yêu nữa, vợ chồng sẽ dễ dàng đối xử với nhau một cách vô tâm, lạnh lùng, cứng cỏi. Họ ở cạnh nhau, sống bên nhau nhưng như là những người khách lạ. Lúc này, căn bệnh vô cảm sẽ âm thầm hủy hoại mối quan hệ vợ chồng của đôi bạn. Người ta thường nói “Đồng sàng dị mộng”, ngay cả khi vợ chồng ngủ cùng giường, ăn cùng bàn, ở cùng nhà…nhưng tuyệt nhiên do thiếu tình yêu nên họ không còn hiện diện với nhau nữa, giữa họ dường như có một khoảng cách xa xa vời vợi!
Hiện nay, người ta nhận thấy rằng trong nhiều gia đình, vô cảm đã trở thành một thứ bệnh nguy hại với mức độ tàn phá kinh khủng. Nó không chỉ tấn công vào da thịt của con người nhưng là một thứ siêu vi gây tổn thương chính con tim con người. Có người đã khẳng định rằng “Vô cảm là mồ chôn của tình yêu con người”. Nhà tâm lý hiện sinh nổi tiếng nhất của Hoa Kỳ Rollo May cũng đã nói : “Hận thù không phải là thứ đối lập với tình yêu mà đó là sự vô cảm”. Đại văn hào Nga Maksim Gorky cũng nói: “Nơi lạnh nhất không phải là Bắc Cực mà là nơi thiếu vắng tình thương”. Nếu căn bệnh vô cảm trở nên nặng nề và kéo dài thì đó là dấu hiệu của một cuộc khủng hoảng trầm trọng trong mối quan hệ vợ chồng. Cuối cùng, điều gì đến sẽ phải đến, đó là viễn ảnh một cuộc chia tay không thể cứu vãn được.
Ngoài ra, hôn nhân thiếu tình yêu sẽ trở thành gánh nặng cho đôi bạn.
Vợ chồng sống với nhau muốn hạnh phúc lâu dài thì phải vừa có tình vừa có nghĩa. Nhưng một khi tình mất đi thì chỉ còn lại nghĩa. Nhằm tránh những đổ vỡ có thể nặng nề hơn, nhiều đôi bạn đành chọn cách sống chấp nhận thi hành nghĩa vụ vợ chồng một cách tối thiểu và miễn cưỡng. Lúc yêu nhau thì họ quyến luyến nhau, quan tâm chăm sóc nhau, họ tỏ ra cần nhau và muốn nương tựa vào nhau. Nhưng khi tình đã hết thì đời sống vợ chồng chỉ còn là gánh nặng mà đôi bạn cố gắng từng ngày chịu đựng cho xong bổn phận. Chúng ta biết rằng, hạnh phúc thực sự được xây dựng trên tình thương và sự hiểu biết nên ở đâu có hiểu, có thương và có sự chia sẻ thì ở đó có hạnh phúc. Nếu trong đời sống hôn nhân thiếu tình thương, thiếu tôn trọng, thiếu sự chia sẻ và đồng cảm, chắc chắn sẽ không hạnh phúc. Bằng chứng là rất nhiều cuộc hôn nhân phải đổ vỡ hay ít là phải bó buộc chịu đựng lẫn nhau.
Trong bài viết có tựa đề “Khi hôn nhân không có tình yêu”, tác giả đã đề cập đến hiện tượng sống tách biệt nhau giữa hai vợ chồng. Bài báo viết: “Đó là khi hai bạn đời không chung sống với nhau như vợ chồng. Cả hai có cuộc sống riêng và đều hài lòng với kiểu tồn tại đó. Thay vào đó, vợ hay chồng sẽ chọn cách làm mọi thứ mình thích mà không cần tham khảo ý kiến với bạn đời. Trong một cuộc hôn nhân không có tình yêu, cả hai không thể hiểu nhau và không sẵn lòng kề vai sát cánh bên nhau. Khi kết hôn, vợ/chồng không chỉ là bạn đời mà còn là người tư vấn cho các quyết định quan trọng. Do vậy, nếu đôi bạn không muốn hỏi bạn đời ý kiến khi đưa ra những kế hoạch, quyết định thì rõ ràng cuộc hôn nhân của họ là không có tình yêu.” [7]
Tóm lại, một cuộc hôn nhân không-tình-yêu thì nhạt nhẽo, không có kết nối của tình thương vợ chồng, thì chắc chắn sẽ ảnh hưởng không ít tới con cái và bầu khí gia đình. Khi con cái chứng kiến cảnh cha mẹ không hạnh phúc, không đầm ấm, không hòa thuận thì chúng sẽ cảm thấy thiếu thốn tình thương và sự bình an. Một đứa trẻ sẽ sống ra sao, sẽ học hành thế nào, sẽ nhìn cuộc đời cách nào nếu nó sống trong một gia đình cha mẹ luôn xung khắc, chửi bới đánh đập nhau, nếu chúng thường xuyên chứng kiến cảnh “cơm chẳng lành, canh chẳng ngọt” của cha mẹ chúng, nếu chúng không được hưởng sự ấm áp hạnh phúc từ chính tình thương của cha mẹ dành cho nhau…Nhiều đứa trẻ đã bỏ nhà ra đi chỉ vì chúng không còn tìm thấy trong gia đình một niềm vui hay an ủi nào nữa.
3.2. Hôn nhân thiếu Nghĩa thì hôn nhân chết yểu
Có thể nói hôn nhân thiếu Nghĩa thì hôn nhân đó khó tồn tại lâu dài được. Vì rằng do tính chất nhất thời nên đời sống tình cảm và những cảm xúc cháy bỏng trong tình yêu ban đầu thường sẽ thay đổi theo thời gian, theo không gian, theo hoàn cảnh và tâm trạng con người. Trong khi đó tình yêu đích thực thì hệ tại ở mức độ gắn bó, hợp tác giữa hai người, trở thành một sức mạnh kỳ diệu nâng đỡ con người hoàn thành vai trò và nhiệm vụ vợ chồng trong gia đình.
Một tác giả đã đề cập chữ “Nghĩa”, tức là vấn đề hôn-nhân-trách-nhiệm, như sau: “Trách nhiệm của vợ chồng trong cuộc sống gia đình là chăm sóc nhau, cùng có trách nhiệm trong nuôi dạy con cái, làm việc nhà, đóng góp tài chính gia đình. Có thể nói, yếu tố khởi đầu tạo nên gia đình chính là hôn nhân. Từ quan hệ hôn nhân tạo nên các mối quan hệ khác. Trong đó, hôn nhân là yếu tố nền tảng tạo sự bền vững của gia đình. Để duy trì được cuộc hôn nhân bền vững, mỗi người khi làm vợ, làm chồng không chỉ giữ gìn và thắp lửa tình yêu, chia sẻ niềm vui, nỗi buồn mà còn có trách nhiệm, bổn phận với nhau và với chính cuộc sống mà cả hai cùng tạo dựng. Nghĩa vụ, trách nhiệm đó được thể hiện qua việc vợ chồng cùng chăm sóc nhau, cùng có trách nhiệm trong nuôi dạy con cái, làm việc nhà và đóng góp tài chính.” [8]
Ngày nay, khá nhiều đôi bạn coi trọng chữ Tình mà bỏ qua chữ Nghĩa. Chính vì lẽ đó mà tuổi thọ của đời sống hôn nhân của họ xem ra quá ngắn. Nếu xét về mặt tình cảm ta nói đến hôn-nhân-vô-cảm, thì ở đây ta liên tưởng tới hôn -nhân-vô-trách-nhiệm, nghĩa là đôi vợ chồng không tích cực chu toàn nghĩa vụ với nhau và với gia đình. Dân gian có câu “Vợ chồng như đũa có đôi”, có nghĩa đôi bạn là một nửa của nhau (0,5 + 0,5 = 1), một cặp với nhau và họ cam kết đồng hành với nhau trọn đời. Vậy thì không có lý gì mà họ lại sao nhãng, lơ là việc hợp tác với nhau trong mọi công việc trong gia đình. Đây là một sai lầm lớn mà nhiều bạn mắc phải.
Chúng ta nên nhớ rằng đôi bạn nào biết chia sẻ, gánh vác trách nhiệm chung với nhau trong gia đình thì sẽ biến gia đình ấy luôn là một tổ ấm lý tưởng. Thực tế cho thấy, nhiều bạn trẻ sau một thời gian ngắn kết hôn tỏ ra khá thất vọng vì vợ hay chồng không biết chia sẻ trách nhiệm chung gia đình. Người ta lấy lý do bận công việc làm ăn, bận giao tiếp ngoài xã hội nên không còn sức lực, thời gian lo việc nhà nữa. Thông thường thì người vợ phải gánh hết những nhiệm vụ trong gia đình, với danh nghĩa là “nội tướng”. Điều đó xét ra thiệt thòi cho nữ giới. Ông bà ta thường nói, “Đàn ông xây nhà, đàn bà xây tổ ấm”. Điều đó không có nghĩa là trong gia đình có một sự phân công một cách cứng ngắc, cố định, mà đây chỉ hiểu là ai cũng có nhiệm vụ xây dựng, gánh vác việc chung trong gia đình, theo kiểu “Kẻ thì xay lúa, người thì bồng em”. Vợ chồng vì thế hãy tạo điều kiện để có thể làm việc với nhau để chu toàn trách nhiệm chung.
Như trên ta đã nhắc câu nói sau: “Trong hôn nhân, gặp nhau là bước đầu, sống chung với nhau là bước kế tiếp, làm việc chung với nhau mới làm nên một gia đình êm ấm” (James Thurber). Trong gia đình dường như lúc nào cũng có nhiều vấn đề phải giải quyết và đối phó, nếu hai bạn cùng hiệp lực, đồng tâm nhất trí nắm tay nhau thực hiện thì việc gì cũng xong. “Thuận vợ thuận chồng, tát bể Đông cũng cạn”. Sự thành công của hôn nhân không do tài năng của một người mà chính là do sự đồng tâm hiệp ý của cả hai người.
4. Tình và Nghĩa: chất keo gắn chặt hôn nhân
Như trên đã nói, một cuộc hôn nhân tốt đẹp, thành công, hạnh phúc thì không thể thiếu hai yếu tố Tình và Nghĩa được. Một cuộc hôn nhân trọn-tình và vẹn-nghĩa được sánh ví như một bông hoa đẹp vì sắc màu tươi thắm và sự hấp dẫn của mùi hương nồng nàn. Cái tình cái nghĩa nó quyện vào nhau như bóng với hình. Có bài thơ của người xưa thế này:
Muốn cho yên cửa, yên nhà / Chẳng gì hơn ở thuận hòa cùng nhau.
Dễ ai đội nón qua đầu, / Sao không nghĩ trước, nghĩ sau cho tầy.
Ái ân là nghĩa nặng thay! / Vợ chồng há phải một ngày dám quên.
Ở đời vô sự là tiên, / Mà điều êm đẹp hơn nơi cục cằn.
Chót đà cùng chiếu cùng chăn, / Lẽ nào con nhện mấy lần vương tơ. (Hồ Huyền Quy)
Một tác giả kinh nghiệm về đời sống hôn nhân gia đình đã nhận xét là trong hôn nhân luôn tồn tại chữ “Nghĩa” để người ta có thể níu chân nhau lại, giữ tay nhau thật chặt mà bước đi cùng nhau đến hết cuộc đời, bình lặng, an yên. Còn trong bài viết tựa “Tình và nghĩa: chất keo gắn chặt hôn nhân” trên trang tinmung.net, tác giả Trần Hữu Thuần đã bình luận như sau: [9]
“Trong các ngôn ngữ mà tôi được biết, có lẽ không có từ ngữ nào nói đến sự tương quan giữa hai người yêu nhau và chung sống với nhau chứa đựng nhiều ý nghĩa cho bằng cụm từ Tình Nghĩa Vợ Chồng của tiếng Việt chúng ta.
Tình là tình-yêu-đôi-lứa; Nghĩa là nghĩa-vợ-chồng. Hai thứ tình và nghĩa trộn lẫn lại làm thành phân bón, làm thành lương thực nuôi sống cuộc sống hôn nhân. Hôn nhân giữa đối thể và khách thể trong văn hoá Việt Nam chúng ta như thế khởi đầu bằng “Tình” và gắn bó bằng “Nghĩa”. Nàng Kiều khi phải bán mình chuộc cha biết “tình” nàng với chàng Kim giờ đây đã dứt, chỉ còn lại chút “nghĩa” cũng phải phụ phàng, nên đã nhờ cha nàng trả nghĩa:
Lạy thôi, nàng lại thưa chiềng,
Nhờ cha trả được nghĩa chàng cho xuôi. (Nguyễn Du, Truyện Kiều)
Chút “Nghĩa” đó chính là nét đặc trưng trong nền văn hoá dân tộc chúng ta. Cha mẹ chúng ta thường khuyên bảo con cái: “Vợ chồng sống với nhau phải có tình có nghĩa”. Khi bình thường, an vui cũng như sầu khổ, vợ chồng sống với nhau bằng “Tình”. Khi một trong hai người bệnh hoạn tai ương, hoặc gây nên lầm lỗi, nếu tình yêu phôi pha hoặc không còn nữa, vợ chồng vẫn sống bên nhau bằng “Nghĩa”. Nói cách khác, tình là phần việc của con tim, nghĩa là phần việc của lý trí. Con tim và lý trí đi chung với nhau để cuộc sống vợ chồng bền chặt. Cũng vì thế, mức độ ly dị ngày trước trong hôn nhân Việt Nam gần như không có. Người chồng có thể hời hợt khi gặp người vợ không như ý bằng cách chung chạ với người khác, vợ lẽ nàng hầu, nhưng vẫn không bỏ bê người vợ đang làm buồn lòng mình. Người vợ khi gặp phải chồng không ưng ý, vẫn sống chung trong một mái nhà, cho dẫu nhiều khi không còn chung chăn chung gối, để gia đình không bị đổ vỡ, nhờ vào chút “Nghĩa Phu Thê”.
Chàng ơi phụ thiếp làm chi,
Thiếp là cơm nguội để khi đói lòng. (Ca dao)”
Có thể nói nếu đôi bạn duy trì được mãi mối tình sâu nghĩa nặng thì điều đó sẽ luôn là một tiền đề cho một cuộc hôn nhân hạnh phúc bền lâu. Điều đó cũng khẳng định một thực tế đáng khen ngợi, đó là đôi bạn đã phát huy được đức tính chung thủy trong đời sống vợ chồng. Chữ “Nghĩa” ngày nay cũng hiểu như là sự trung tín, trung thành (Loyalty) vậy.
LM Nguyễn Hữu Thy, trong cuốn “Những suy tư đúng đắn về Hôn nhân và Gia đình Công Giáo”, đã nêu lên ba yếu tố quan trọng nhất mà một cuộc sống hôn nhân Công Giáo cần phải có để bảo đảm được sự tồn tại và hạnh phúc của mình. Đó là tình yêu, sự chung thủy và phép lành của Thiên Chúa. Về sự chung thủy, tác giả viết như sau: [11]
“Lời thề hứa hoàn toàn tự nguyện của hôn nhân là một cam kết bó buộc và bất khả tháo gỡ đối với các đôi vợ chồng. Tính chất đặc thù này của lời thề hứa hôn nhân hoàn toàn không phải là một gánh nặng bất khả kham, nhưng là một phương tiện hữu hiệu giúp cho các đôi vợ chồng rèn luyện và thăng tiến được chính con người mình cũng như bảo đảm cho cuộc sống hôn nhân của họ được bền vững trước các sóng gió cuộc đời. Chính nữ triết gia Hannah Arendt đã nhận định: Nếu không bị bó buộc phải thực thi các lời đã hứa, ta sẽ không khi nào duy trì được các căn tính của ta và bị giằng co xâu xé bởi đủ thứ mâu thuẫn…”
Ở đoạn kết thúc phần nói về sự chung thủy trong hôn nhân, tác giả nhấn mạnh như sau: “Sự chung thủy hôn nhân không chỉ giới hạn trong phạm vi sự chung thủy về tính dục, nhưng còn bao hàm trong hành động cụ thể của bản thân mỗi người nữa, đó là họ phải luôn công khai bày tỏ một cách dứt khoát: Tôi thuộc về vợ/ chồng tôi. Sự chung thủy hôn nhân đòi tôi phải thực sự tôn trọng vợ/ chồng tôi. Sự chung thủy hôn nhân đòi tôi phải quan tâm tới điều chính đáng mà vợ/ chồng tôi cần tới và mong ước. Sự chung thủy hôn nhân đòi hỏi phải luôn biết tận tâm an ủi và nâng đỡ người vợ/ chồng của mình. Sự chung thủy hôn nhân đòi hỏi phải luôn biết cầu nguyện cho nhau và biết tín thác cuộc sống lứa đôi của mình cho sự quan phòng đầy yêu thương và phép lành của Cha trên trời.” ./.
___________________
[1]https://thanhnien.vn/gia-dinh-tre-viet-ngay-cang-thieu-su-gan-bo-va-ben-vung-post1503856.html?utm_source=dable
[2] LM Giuse Đinh Lập Liễm – Bài Nghĩa Tào Khang – Chia sẻ Lời Chúa trong thánh lễ HP – NXB Đồng Nai 2017 trang 685
[3]https://giadinh.suckhoedoisong.vn/gia-tri-cua-chu-tinh-chu-nghia 172110627052153106.htm
[4] LM Giuse Đinh Lập Liễm – Bài Chung lưng đấu cật – Chia sẻ Lời Chúa trong thánh lễ HP – NXB Đồng Nai 2017 trang 469-470
[5] Alpha Books – Bài đd – NXB LĐ-XH năm 2018 trang 21
[6] Đức thánh Giáo hoàng Gio-an Phao-lô II, Tông huấn FC, số 11
[7] https://doanhnhanplus.vn/khi-hon-nhan-khong-co-tinh-yeu-372231.html
[8]http://giadinh.bvhttdl.gov.vn/trach-nhiem-cua-vo-chong-trong-cuoc-song-gia-dinh-cham-soc-nhau-cung-co-trach-nhiem-trong-nuoi-day-con-cai-lam-viec-nha-dong-gop-tai-chinh-gia-dinh/
[9] http://www.tinmung.net/GIADINH/QuanHeVoChong/2011/07/Tinh-va-nghia.htm
[10] Đức thánh Giáo hoàng Gio-an Phao-lô II, Tông huấn FC, số 21
[11] LM Nguyễn Hữu Thy – Những suy tư đúng đắn về Hôn nhân và Gia đình Công Giáo – TTMVCG.VN Gp Trier CHLB Đức năm 2012 trang 90-92
2023
Phỏng vấn Đức Hồng y Hollerich về Thượng hội đồng: Khám phá sự hiệp nhất trong việc phụng sự Thiên Chúa và phục vụ con người
Đức Hồng y Jean-Claude Hollerich, SJ, Tổng Giám mục Luxemburg
Andrea Tornielli
Tổng tường trình viên của Thượng hội đồng về tính Hiệp hành, Đức Hồng y Jean-Claude Hollerich, Tổng Giám mục Luxemburg, giải thích những thay đổi trong Đại hội sắp tới, nhấn mạnh Giáo hội được kêu gọi loan báo Tin Mừng với tất cả sự đa dạng của mình, trong khi vẫn luôn đặt Chúa Kitô ở trung tâm.
Sau khi thông báo về thành phần của các tham dự viên trong Đại hội Thượng Hội đồng Giám mục, Đức Hồng y Hollerich đã có những nhận định về tiến trình công việc trong một cuộc phỏng vấn với Truyền thông Vatican.
Andrea Tornielli (AT): Phiên họp thường kỳ của Thượng Hội đồng Giám mục vào tháng 10. 2023 sẽ bao gồm một số lượng đáng kể các thành viên bỏ phiếu không phải là Giám mục: linh mục, nam nữ tu sĩ, nam nữ giáo dân, với 50% là phụ nữ và đặc biệt chú trọng đến sự tham gia của người trẻ. Ý nghĩa của quyết định này là gì?
Đức Hồng y Jean-Claude Hollerich (ĐHY): Thực ra đây không phải là điều gì mới lạ, vì trong quá khứ đã có những thành viên có quyền bỏ phiếu nhưng không phải là giám mục. Không có cử tri nữ, nhưng có những thành viên không phải là giám mục. Do đó, có thể nói rằng nhóm nhỏ bây giờ trở nên lớn hơn.
Thượng hội đồng vẫn là [một Thượng hội đồng] của các giám mục, bởi vì giám mục luôn là mục tử của Giáo hội của ngài; người ta không thể thấy chức năng tách rời khỏi dân của ngài. Tôi là tổng giám mục của Luxembourg, khi tôi ở Roma, tôi nhớ Giáo hội của mình: tôi nghĩ đến những người tôi nhìn thấy ở hàng đầu tiên, hàng thứ hai, hàng thứ ba trong nhà thờ chính tòa, tôi nghĩ đến những người tôi gặp hàng ngày… và tôi nhớ họ. Một phần nhỏ những người này sẽ có mặt tại Thượng hội đồng để hiện diện với các mục tử của họ. Họ sẽ có một sứ mạng đặc biệt, họ đã có kinh nghiệm tuyệt vời về tính Hiệp hành trong các giáo phận, sau đó ở cấp Hội đồng giám mục và cuối cùng ở cấp Châu lục. Không phải tất cả các giám mục, những người sẽ tham gia đều có kinh nghiệm này. Do đó, nhiệm vụ của những thành viên mới này là trở thành chứng tá cho những gì họ đã trải qua để truyền đạt nó.
AT: Mặc dù vậy, Thượng hội đồng vẫn là “của các giám mục” phải không ạ?
ĐHY: Vâng, nó vẫn như vậy bởi vì các giám mục chiếm đa số! Việc phân định tùy thuộc vào các giám mục, đã được thực hiện ở các cấp khác nhau và cuối cùng đến với Đức Thánh Cha. Bây giờ là giai đoạn của các giám mục, nhưng có một vấn đề là sự phân định và vấn đề này đã được dân Chúa đề nghị. Có thể nói, các thành viên mới của Thượng Hội đồng đại diện cho thành phần dân Chúa ‘không thuộc hàng giám mục’.
AT: Có thể nói đó là một Thượng hội đồng giám mục kèm theo đại diện của dân Chúa không?
ĐHY: Nhưng giám mục cũng thuộc dân Chúa! Ít nhất tôi muốn thuộc về họ… nếu không tôi sẽ cảm thấy tồi tệ! Chúng ta cần hiểu những thành viên mới này nhiều hơn với tư cách là chứng tá và ký ức của tiến trình Thượng hội đồng cho đến nay.
Chủ đề của Thượng hội đồng
AT: ‘Thượng hội đồng về tính Hiệp hành’ là một tiêu đề khá kỹ thuật, nghe có vẻ xa vời với cuộc sống của mọi người. Tuy nhiên, đối với những người đã sống kinh nghiệm này, thì hoàn toàn ngược lại. Đức Hồng y có thể cho chúng con biết chủ đề của thượng hội đồng này là gì không?
ĐHY: Đó là điều này: Làm sao chúng ta có thể cùng nhau trở thành một Giáo hội truyền giáo, hôm nay và ngày mai. Làm sao chúng ta có thể là một Giáo hội Hiệp hành và truyền giáo
Tôi nghĩ điều quan trọng là phải nhấn mạnh điều này: đây không phải là một phân tích hay suy gẫm, không phải vậy! Chúng ta ở đó để sống Giáo hội như Thiên Chúa mong muốn cho thời đại của chúng ta, để loan báo Tin Mừng cho thế giới, cho những người đương thời của chúng ta. Và điều này là tuyệt vời.
Giáo hội luôn luôn có tính Hiệp hành. Thánh John Chrysostom nói rằng Thượng hội đồng và Giáo hội đồng nghĩa với nhau… Lộ trình chúng ta đang đi, sự tham gia của toàn thể dân Chúa, cho thấy rằng Chúa Thánh Thần đang dẫn dắt chúng ta theo cách để đưa vào thực hành những gì Công đồng Vatican II, và đặc biệt là Hiến chế Lumen gentium đã khẳng định.
AT: Vì vậy, trọng tâm của Đại hội đồng tiếp theo là cách thức hiện diện Giáo hội, chứ không phải các chủ đề cá nhân?
ĐHY: Vâng, và tôi tin rằng đây cũng là một phản ứng đối với căn bệnh của thời đại chúng ta. Bởi vì đặc trưng cho thời hậu hiện đại hay thời kỹ thuật số của chúng ta, như chúng ta có thể gọi, là chủ nghĩa cá nhân đang trở nên rõ rệt hơn mỗi ngày. Và chúng ta thấy rằng với chủ nghĩa cá nhân này, nhân loại không thể tồn tại: chúng ta cần các yếu tố cộng đoàn để tồn tại.
Tiếp đến, có hiện tượng phân cực ngày càng tăng, trong xã hội và trên các phương tiện truyền thông, ngay cả trong những cơ quan truyền thông được gợi hứng từ Công giáo.
Dân Chúa cùng nhau bước đi là một phản ứng lại đối với những khuynh hướng này. Nhưng ở đây cần lưu ý: không phải chúng ta đã “phát minh ra” Hiệp hành tính để đối phó với những khuynh hướng này, nhưng đúng hơn, chính Chúa Thánh Thần, trong giai đoạn này, đã khơi lại ước muốn về tính Hiệp hành vốn đã được các cộng đồng Kitô giáo tiên khởi trải nghiệm. Và đây là một cách thế để đối phó với những thách thức mà chúng ta phải đối diện, bởi vì nếu không, thì nhân loại sẽ gặp nguy hiểm.
Một cuộc đối thoại thiêng liêng
AT: Đức Giáo Hoàng thường nhấn mạnh tầm quan trọng của việc lắng nghe trong thời đại mà mọi người đều nói và mọi người đều tham gia vào các cuộc luận chiến, nhưng ít người lắng nghe…
ĐHY: Là một Giám mục, tôi thấy rằng khi tôi lắng nghe, đôi khi tôi thay đổi ý kiến, và điều đó tốt cho tôi. Giáo phận của tôi không lớn: đất nước tôi có 660.000 cư dân, nhưng giám mục có một đoàn chiên gồm những người ít nhiều đã học cùng những điều giống nhau, đôi khi ở cùng một nơi, với cùng các giáo sư. Họ nghĩ theo cùng một cách. Một điều rất hiển nhiên đó là, không phải mọi thành phần dân Chúa đều thấy các vấn đề. Theo nghĩa này, thật tốt khi có sự cởi mở này, học để biết lắng nghe.
Và thật tốt khi mọi người đến và lắng nghe các giám mục, bởi vì các giám mục không chỉ có vai trò lắng nghe mà còn có vai trò đưa ra câu trả lời và là mục tử của dân chúng.
Chúng ta không có Thượng hội đồng nghị viện tính, nơi đa số quyết định và mọi người tuân theo. Thượng hội đồng không phải là một quốc hội. Chúng ta muốn phân định ý Chúa, phải để Chúa Thánh Thần dẫn dắt.
AT: Tiến trình này diễn ra như thế nào?
ĐHY: Đó là một tiến trình thiêng liêng; và đó là lý do tại sao chúng ta có cuộc đối thoại thiêng liêng này, hay đúng hơn là cuộc đối thoại trong Thần Khí: đó là một cách lắng nghe và bước vào cuộc đối thoại để đi đến một kết luận chung nhưng không phải với thái độ chống đối. Rõ ràng là luôn cần có sự hoán cải trong tiến trình này: đôi khi chính giám mục phải hoán cải, đôi khi chính giáo dân cũng phải hoán cải.
AT: Điều xảy ra là ngay cả trong Giáo hội, người ta cũng phải đối diện với một não trạng chính trị, rằng người ta muốn ‘đếm’ để đạt được một số kết quả nhất định. Vậy thì điều gì thực sự tạo nên sự khác biệt?
ĐHY: Một nghị viện mang tính giáo hội nào đó thì thuộc nhiều hơn về Hiệp hành tính của những người anh em Tin Lành của chúng ta. Chúng ta phải thực hành tính Hiệp hành của Công giáo, đó là điều khác biệt. Chúng ta có các thừa tác vụ chức thánh, tính hiệp đoàn của các giám mục, trách nhiệm đối với Giáo hội, quyền tối thượng của Thánh Phêrô. Tất cả những điều này sẽ không bị xóa bỏ bởi tính Hiệp hành.
Đúng hơn, Hiệp hành tính là chân trời trong đó tính hiệp đoàn của các giám mục và quyền tối thượng của Đức Giáo Hoàng được thực thi, để cùng nhau tìm kiếm thánh ý Chúa.
Vì vậy, không có lý do gì để nói rằng: “Có luận điểm này, có hai lập trường này, bên nào chiếm đa số sẽ thắng và mọi việc sẽ được thực hiện như thế này”. Bởi vì điều đó phá hủy Giáo hội. Chúng ta không muốn điều đó. Chúng ta phải cùng nhau bước đi như một cộng đoàn Giáo hội.
Cùng nhau bước đi
AT: Cụ thể thì “cùng nhau bước đi” nghĩa là gì?
ĐHY: Khi chúng ta bước đi, Đức Kitô là trung tâm. Có người ở bên phải, có người ở bên trái, có người đi nhanh hơn về phía trước, có người đi chậm hơn và ở lại phía sau: đây là điều bình thường khi chúng ta cùng nhau bước đi. Chúng ta phải biết rằng một số căng thẳng trong Giáo hội là bình thường: đó có nghĩa là Giáo hội gần gũi với mọi người, bởi vì không phải mọi người đều suy nghĩ giống nhau về mọi Châu lục, về mọi vấn đề. Vì vậy, điều quan trọng là phải lắng nghe với sự tôn trọng, kể cả với các nền văn hóa khác nhau, tìm kiếm thánh ý Chúa, để cùng nhau quyết định con đường phía trước.
Vì có một số người “đặt” tôi ở bên trái, nên giả sử rằng tôi đang đi bên trái. Nếu tôi lấy Đức Kitô làm trung tâm và nhìn Người từ bên trái, tôi không chỉ thấy một mình Người, mà tôi thấy Đức Kitô với những người đang đi bên phải. Tôi không thể nhìn thấy Đức Kitô mà đồng thời không nhìn thấy người khác: điều đó có nghĩa là những người đi bên phải cũng là một phần của cộng đoàn của tôi. Nó có nghĩa là chúng ta phải cùng nhau bước đi. Tôi hy vọng trải nghiệm tương tự cũng xảy ra với những người đang đi bên phải, những người đi trước, những người đi sau…
Nếu Đức Kitô thực sự là trung tâm – và Chúa Thánh Thần là khí cụ và bảo đảm rằng Chúa Giêsu, Đấng đã chết và sống lại, là trung tâm – tất cả chúng ta đều là những môn đệ thừa sai.
AT: Tuy nhiên, đôi khi có vẻ như chúng ta đang bận rộn hoặc bận tâm đến điều gì đó khác, với các cấu trúc và chiến lược…
ĐHY: Giáo hội không thể lúc nào cũng bận rộn trong việc nói về cơ cấu, về tổ chức của mình. Bạn có thấy lạ không khi có một câu lạc bộ bóng đá mà bạn chỉ nói về luật mà chẳng chơi một trận nào? Sẽ không có nhiều người tham gia và ủng hộ câu lạc bộ đó! Đối với Giáo hội cũng vậy: đức tin của chúng ta được sống bằng việc phục vụ, trong Giáo hội và ngoài Giáo hội. Đó là đức tin được sống để phụng sự Thiên Chúa và phục vụ con người.
Sự mới lạ của giai đoạn Châu lục
AT: Đâu là trải nghiệm và cũng là nét mới lạ của giai đoạn Châu lục của Thượng Hội Đồng?
ĐHY: Thật là rất tốt đẹp, chúng tôi đã thấy điều mà các Hội đồng giám mục khác nhau đề xuất ở cấp Châu lục khác nhau.
Chúng tôi cũng thấy sự khác biệt: ví dụ, trong hầu hết các giai đoạn Châu lục, mọi người đều yêu thích hình ảnh của chiếc lều. Tuy nhiên, ở Châu Phi, họ lại không thích như vậy, vì lều đối với họ là lều của những người tị nạn, đó là lều của đau khổ, nghèo đói và họ thích hình ảnh gia đình của Thiên Chúa hơn. Họ giải thích rằng lều không thể được nới rộng, nó bị rách, trong khi gia đình có thể được nới rộng.
Lúc đó tôi nhận ra rằng chúng ta không thể trình bày chỉ một hình ảnh, mà là một số hình ảnh nói lên các nền văn hóa tôn giáo khác nhau của các dân tộc. Và tôi chắc chắn rằng những ai yêu thích hình ảnh chiếc lều có thể học được điều gì đó từ hình ảnh gia đình của Thiên Chúa, và ngược lại. Điều quan trọng là tham dự các Đại hội Châu lục, tôi đã tham dự không phải để nói, không phải để gây ảnh hưởng, nhưng để lắng nghe, để nhận ra sự đa dạng được trải nghiệm. Chúng tôi sẽ phải làm điều này tại Thượng Hội đồng Giám mục.
AT: Điều gì nổi lên từ 8 Tài liệu Cuối cùng, của các Châu lục và cũng là của Thượng hội đồng kỹ thuật số? Những chủ đề cá nhân hay là cách thức hiện diện của Giáo hội Hiệp hành?
ĐHY: “Thượng hội đồng kỹ thuật số” là một trải nghiệm đẹp… Từ tất cả các tài liệu, điều nổi lên là trải nghiệm đã có đó, niềm vui của mọi người. Ở châu Âu, ở châu Á, họ yêu cầu có thể lặp lại các Đại hội. Tôi đã lo lắng về châu Âu, bởi vì chúng tôi biết có những khác biệt lớn. Nhưng ở đây cũng vậy, mọi người muốn tiến lên, và chúng tôi phải tiến lên với những khác biệt của mình và cùng nhau bước đi. Chúng tôi phải xem xét điều gì là quan trọng đối với sự hiệp thông, tham gia, sứ vụ và trình bày điều đó trước Thượng Hội đồng Giám mục vào tháng Mười.
AT: Đức Hồng y đã làm việc như thế nào để nêu bật những đóng góp của các Châu lục khác nhau?
ĐHY: Theo các nhóm, theo cách thức Hiệp hành. Đó không phải là hoạt động của một cá nhân. Có một số nhóm làm việc về các chủ đề khác nhau: quyền tối thượng, thừa tác vụ chức thánh, thừa tác vụ Phép rửa, tính hiệp đoàn của các giám mục. Chúng tôi tự hỏi các Đại hội Châu lục nói gì về điều này và tập hợp lại với nhau, xét xem Huấn quyền của Giáo hội, các Giáo hoàng, Công đồng Vatican II, nói gì, để gộp lại tất cả những gì đã nổi lên trên lộ trình chung.
Mong đợi điều gì
AT: Chúng ta nên mong đợi điều gì từ Tài liệu làm việc (Instrumentum laboris)?
ĐHY: Tài liệu làm việc sẽ là một bản văn ngắn. Tài liệu này sẽ giúp chúng ta trong việc chia sẻ, tham gia, nhờ đó, các thành viên của Thượng Hội đồng có thể tự phát biểu ý kiến. Thật vậy, tôi hy vọng rằng các thành viên cũng sẽ được tự do để nói lên: chúng ta hãy bỏ nó đi, chúng ta hãy làm gì khác, bởi vì chúng ta có một Thượng Hội đồng hai năm ở phía trước nên không có gì phải vội vàng. Chúng ta không được đi đến một thỏa hiệp giả tạo. Chúng ta có thời gian để thực sự hiểu được lời mời gọi mà Thiên Chúa dành cho Giáo hội của Ngài trong thế giới ngày nay.
AT: Cụ thể thì điều gì sẽ xảy ra từ nay đến tháng 9?
ĐHY: Văn bản sẽ được gửi đi và trình bày cho các tham dự viên. Tôi nghĩ rằng chúng tôi sẽ còn rất nhiều việc phải làm, bởi vì có rất nhiều yếu tố mới cần xem xét từng điểm một. Và không chắc hẳn là những quyết định của chúng tôi – tường trình viên, tổng thư ký, thư ký đặc biệt – sẽ phải được tuân theo, bởi vì mọi thứ sẽ được đệ trình lên ban Cố vấn Thượng hội đồng và lên Đức Giáo hoàng.
Không có Hiệp hành tính mà không có Phêrô hoặc chống lại Phêrô. Mọi thứ đều được trình lên Đức Thánh Cha để được ngài đồng ý, và chúc lành, nếu không thì chúng tôi không thể tiếp tục. Chúng tôi là người Công giáo và chúng tôi muốn tiếp tục là người Công giáo!
Thu hút những người ở bên lề
AT: Là người đã từng tham dự các Đại hội ở các Châu lục khác nhau, vậy, Đức Hồng y có gặp phải những phản ứng “thờ ơ” hoặc bất kỳ sự kháng cự nào chưa?
ĐHY: Tôi nhận thấy hai cám dỗ. Trước hết, là đồng hóa mọi thứ vào các khuôn mẫu cũ. Đó là sự cám dỗ mà tôi gọi một cách thích hợp là ‘cánh hữu’, đó là nói rằng: chúng tôi muốn làm những gì chúng tôi vẫn luôn làm, chúng tôi không thực sự muốn lo lắng về điều gì đó mới lạ.
Nhưng cũng có cám dỗ của ‘cánh tả’, theo đó mọi vấn đề được coi là quan trọng trong Giáo hội phải được thảo luận tại Thượng hội đồng. Nhưng điều này là không thể. Thượng hội đồng có một chủ đề và chủ đề này là một nhiệm vụ đối với chúng ta: Hiệp hành, hiệp thông, tham gia, và sứ vụ. Thượng Hội đồng sẽ tập trung vào chủ đề này, chứ không phải tất cả những đề tài khác. Tôi không tranh luận về tầm quan trọng của các đề tài khác nhưng chúng tôi sẽ trình bày với Đức Thánh Cha, để ngài có thể suy tư về chúng theo cách ngài chọn. Nhưng Thượng hội đồng sẽ là về Hiệp hành tính.
AT: Làm thế nào Thượng hội đồng có thể trao đổi với một cá nhân, mà họ chưa tham gia trực tiếp cũng như chưa góp phần trong giai đoạn chuẩn bị cấp giáo phận?
ĐHY: Trước hết, tôi sẽ mời họ cầu nguyện, vì muốn làm theo ý Chúa thì phải cầu nguyện nhiều. Chúng ta cần có sự hỗ trợ bằng lời cầu nguyện của toàn thể Giáo Hội.
Và sau đó tôi sẽ yêu cầu họ cố gắng trải nghiệm Thượng hội đồng trong chính tâm hồn họ, trong cộng đoàn của họ – công việc hay giáo hội – bởi vì như thế lời cầu nguyện của họ sẽ không còn trừu tượng nữa.
Tôi mơ ước có được sự tham gia đông đảo vào việc cầu nguyện cho Thượng hội đồng. Đức Hồng Y Mario Grech đã nói một điều mà tôi thấy rất hay: chúng ta hãy cố gắng sống theo phong cách của Chúa Giêsu. Khi bạn nhìn thấy Giáo hội, bạn phải nhận ra Chúa Giêsu. Điều này rất quan trọng, nếu không thì làm sao chúng ta có thể rao giảng Tin Mừng nếu người ta không nhận ra Chúa Giêsu trong chúng ta?
Và để làm được điều đó, chúng ta cần hoán cải. Tính Hiệp hành không thể thực hiện được nếu không có sự hoán cải, và sự hoán cải này là bắt buộc đối với mọi người, bên trái, bên phải, và thậm chí cả trung tâm.
Nt. Anna Ngọc Diệp, OP
Dòng Đa Minh Thánh Tâm
2023
Ý nghĩa Huy hiệu và Khẩu hiệu của Đức Giám mục Tân cử Phêrô Kiều Công Tùng
Ý nghĩa Huy hiệu và Khẩu hiệu của Đức Giám mục Tân cử Phêrô Kiều Công Tùng
Ý NGHĨA HUY HIỆU VÀ KHẨU HIỆU
CỦA ĐỨC GIÁM MỤC TÂN CỬ PHÊRÔ KIỀU CÔNG TÙNG
HUY HIỆU
– Huy hiệu có nền chủ đạo màu đỏ, tượng trưng máu các Thánh tử đạo Việt Nam, trong đó có 11 vị tử đạo tại Phát Diệm, là hạt giống để cây đức tin của Giáo Hội Việt Nam không ngừng phát triển và trổ sinh hoa trái trong suốt dòng lịch sử hơn bốn thế kỷ qua.
– Hình ảnh trung tâm mô phỏng đoàn người (lấy từ logo Mục vụ năm 2023 của HĐGMVN) tượng trưng cho cộng đoàn Dân Chúa hiệp thông tại giáo phận Phát Diệm.
– Hình ảnh mô phỏng cuốn sách tượng trưng cho Lời Chúa và hình ảnh mô phỏng chim câu với đôi cánh như ngọn lửa tượng trưng cho sự hiện diện và hoạt động của Chúa Thánh Thần.
Ý nghĩa Huy hiệu: Với sứ vụ chủ chăn tại giáo hội địa phương, giám mục luôn ở giữa và sát cánh bên đàn chiên gồm nhiều thành phần, cùng nhau bước đi trong ánh sáng Lời Chúa và dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần để xây dựng và phát triển Nhiệm Thể Chúa Kitô trong tinh thần hiệp hành, sẵn sàng đi ra vùng ngoại biên thực thi sứ mạng loan báo niềm vui Tin mừng.
KHẨU HIỆU
Khẩu hiệu giám mục: “Spiritu ambulemus – Cùng đi trong Thần Khí”. Đây vừa là quyết tâm của chính giám mục vừa là lời mời gọi gửi đến cộng đoàn Dân Chúa, định hướng cho cả hành trình sứ vụ trong và cho Giáo hội, với tinh thần hiệp hành.
Chính Chúa Giêsu đã thi hành sứ vụ được Chúa Cha trao phó trong sự hướng dẫn và nhờ quyền năng của Thần Khí (x. Lc 4,1-2.14). Ngài hứa ban Thánh Thần để giúp các môn đệ tiếp nối sứ vụ của Ngài trong tình yêu và sự thật (x. Ga 14,26; 16,13).
Thánh Phaolô luôn xác tín sự trợ giúp của Chúa Thánh Thần trong cuộc sống và sứ vụ của người môn đệ (x. Rm 5,5). Và thánh nhân đã khuyên dạy các tín hữu bằng chính kinh nghiệm của mình:
Anh em hãy sống theo Thần Khí…
Hoa quả của Thần Khí là bác ái, vui mừng,
bình an, nhẫn nại, nhân từ, hảo tâm,
trung tín, dịu hiền, tiết độ…
Nếu chúng ta sống nhờ Thần Khí, chúng ta hãy bước đi trong Thần Khí”
(Gl 5,16.22-23.25).
Chúa Thánh Thần vẫn luôn hiện diện, thêm sức và dẫn dắt các kitô hữu trên hành trình đức tin hôm nay, tùy theo ơn gọi và sứ vụ của từng người. Mục tiêu Chúa Thánh Thần muốn tất cả cộng đoàn dân Chúa hướng đến là xây dựng Nhiệm thể Chúa Kitô – một Hội thánh hiệp hành.
Trong sứ vụ Giám mục, Đức Cha Tân cử Phêrô mong muốn quy tụ và luôn cùng với đàn chiên bước đi trong sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần.
2023
Ủy ban Kinh Thánh và Bản dịch Cựu ước
Lm. Giuse Ngô Đức Tài, MF
Thư ký Ủy ban Kinh Thánh / HĐGMVN
Sau khi đã hoàn thành bản dịch Kinh Thánh Tân ước và được Hội Đồng Giám mục phê chuẩn, Ủy ban Kinh Thánh đã tiếp tục công việc hiệu đính và phiên dịch bản văn Cựu ước, bắt đầu từ phần Ngũ Thư, bao gồm các sách: Sáng Thế, Xuất Hành, Lêvi, Dân Số và Đệ Nhị Luật.
Sau những tháng ngày làm việc nghiêm túc của các thành viên, bản văn Ngũ Thư đã được hoàn thành để trình cho Hội Đồng Giám Mục và đã được phê chuẩn trong Hội Nghị thường niên Kỳ I năm 2023 diễn ra tại Tòa Giám Mục Giáo phận Vinh từ ngày 17-21/04/2023 vừa qua.
Đây là niềm vui và cũng là sự khích lệ lớn lao cho toàn thể anh chị em trong Ủy ban Kinh Thánh. Chính vì thế, trong kỳ họp ngày 29/04/2023 tại Văn Phòng Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, số 72/12 Trần Quốc Toản, P. Võ Thị Sáu, Q.3, TP.HCM, Ủy Ban Kinh Thánh đã đề ra những mục tiêu kế tiếp, cố gắng hoàn thành từng phần sách còn lại của Cựu ước theo từng giai đoạn, bao gồm: Các sách Lịch sử, Các sách Ngôn sứ và các sách Khôn ngoan, trong kế hoạch tổng thể 5 năm như đã định, từ 2020-2025.
Ủy Ban Kinh Thánh hiện nay có tất cả 36 thành viên, là các chuyên viên Kinh Thánh và ngôn ngữ học, bao gồm quý Đức cha, quý cha, quý tu sĩ và anh chị em giáo dân của nhiều Giáo phận và các Dòng tu khác nhau trên khắp cả nước, dưới sự hướng dẫn của Đức cha Chủ tịch Vincent Nguyễn Văn Bản, Giám mục Giáo phận Hải Phòng, cùng với sự đồng hành của Đức cha Chủ tịch Ủy Ban Phụng tự, Emmanuel Nguyễn Hồng Sơn, Giám mục Giáo phận Bà Rịa.
Chúng ta cùng cám ơn những hy sinh thầm lặng của các thành viên Ủy ban Kinh Thánh, và cùng cầu nguyện cho các vị được thêm nhiều ơn khôn ngoan và lòng quảng đại, để tiếp tục dấn thân cho công việc chung của Giáo hội, là sớm hoàn thành bản dịch trọn bộ Kinh Thánh, đáp ứng nhu cầu mong mỏi của mọi thành phần Dân Chúa Việt Nam chúng ta.

