Aenean nec eros. Vestibulum ante ipsum primis in faucibus orci luctus et ultrices posuere cubilia curae. Suspendisse sollicitudin velit sed leo.

Chuyên mục
  • Bài giảng
  • Các loại khác
  • Chia sẻ
  • Chưa phân loại
  • GH Hoàn Vũ
  • GH Việt Nam
  • Giáo dục
  • Hạnh các Thánh
  • HĐGM Việt Nam
  • Kinh Thánh
  • Phim giáo dục
  • Phụng vụ
  • Sách
  • Suy niệm Chúa nhật
  • Suy niệm hàng ngày
  • Tài liệu giáo dục
  • Tài liệu phụng vụ
  • Thần học
  • Thánh ca
  • Thánh lễ
  • Thánh lễ trực tuyến
  • Thư chung
  • Thư viện
  • Tin tức
  • Triết học
  • Tư liệu
  • UBGD Công giáo
  • Video
From Gallery
Stay Connected
UyBanGiaoDucHDGM.net
  • Trang chủ
  • Thư chung
    • HĐGM Việt Nam
    • UBGD Công giáo
  • Tin tức
    • GH Việt Nam
    • GH Hoàn Vũ
  • Phụng vụ
    • Thánh lễ
    • Thánh lễ trực tuyến
    • Suy niệm hàng ngày
    • Suy niệm Chúa nhật
    • Tài liệu phụng vụ
  • Giáo dục
    • Chia sẻ
    • Tài liệu giáo dục
  • Thư viện
    • Sách
      • Kinh Thánh
      • Triết học
      • Thần học
      • Các loại khác
    • Video
      • Bài giảng
      • Thánh ca
      • Phim giáo dục
      • Hạnh các Thánh
      • Tư liệu
  • Liên hệ
Give Online

Tác giả: Anmai

Home / Anmai
26Tháng Ba
2026

THỰC HÀNH SỐNG SỰ HIỆN DIỆN CỦA THIÊN CHÚA – ĐOẠN ĐỐI THOẠI THỨ TƯ

26/03/2026
Anmai
Chia sẻ, Giáo dục
0

THỰC HÀNH SỐNG SỰ HIỆN DIỆN CỦA THIÊN CHÚA – ĐOẠN ĐỐI THOẠI THỨ TƯ

Thầy Lawrence
WHĐ (26/3/2025) – Một nhà báo đã hỏi Đức Giáo hoàng Lêô XIV là nên đọc quyển sách nào ngoài sách về Thánh Augustine để hiểu ngài. Ngài nói rằng cuốn sách mô tả đời sống tâm linh của ngài trong nhiều năm đó là cuốn: “Thực hành sống sự hiện diện của Thiên Chúa – The practice of the presence of God”. Đây là phần thứ tư của tập sách này với bản dịch Việt ngữ của Tô Linh.

CUỘC ĐỐI THOẠI THỨ TƯ

* Con đường đến với Thiên Chúa.

* Sự từ bỏ trọn vẹn.

* Cầu nguyện và chúc tụng gìn giữ linh hồn khỏi chán nản.

* Thánh hóa các công việc thường ngày.

* Cầu nguyện và sự hiện diện của Thiên Chúa.

* Cốt lõi của đời sống đạo.

* Sự nhìn nhận chính mình.

* Thêm những kinh nghiệm riêng tư khác.

Rất nhiều lần, thầy trò chuyện với tôi bằng tấm lòng hoàn toàn cởi mở về con đường đến với Thiên Chúa, như tôi đã kể lại ở trên.

Thầy nói rằng: Tất cả cốt tại một điều duy nhất, đó là dứt khoát từ bỏ một cách chân thành mọi sự mà ta nhận thấy không dẫn ta đến cùng Thiên Chúa. Để từ đó, ta có thể tập cho mình thói quen trò chuyện liên lỉ với Ngài, trong sự tự do và giản dị. Ta chỉ cần nhận biết Thiên Chúa đang hiện diện cách mật thiết với mình, rồi ngỏ lời với Ngài trong từng giây phút: để xin Ngài soi sáng thánh ý trong những việc còn hồ nghi; để thực hiện cho đúng đắn những điều ta thấy rõ Ngài đòi hỏi; và để dâng lên Ngài các việc trước khi làm, cũng như tạ ơn Ngài khi đã hoàn tất.

Trong cuộc tâm giao ấy với Thiên Chúa, ta cũng hãy không ngừng chúc tụng, thờ lạy và yêu mến Ngài vì lòng nhân hậu và sự trọn hảo vô cùng của Ngài.

Thầy khuyên: ta chớ nản lòng vì những lỗi phạm của mình, nhưng phải cầu xin ơn Ngài với lòng tín thác trọn vẹn, cậy dựa vào công nghiệp vô cùng của Đức Kitô. Thiên Chúa chẳng bao giờ từ chối ban ơn cho ta trong từng hành động. Thầy nghiệm thấy điều ấy rất rõ: Ngài chỉ không ban ơn khi tư tưởng thầy xao nhãng khỏi sự hiện diện của Ngài, hay khi thầy quên cầu xin sự trợ giúp của Ngài mà thôi.

Thiên Chúa không bao giờ ngừng ánh sáng trong những điều ta còn hồ nghi, miễn là ta không có ý định nào khác ngoài việc làm đẹp lòng Ngài.

Thầy khẳng định: việc thánh hóa bản thân không hệ tại ở việc thay đổi các việc làm, mà cốt ở chỗ: ta làm vì Thiên Chúa những điều mà người đời thường làm vì bản thân. Thật đáng thương khi thấy biết bao người lầm lẫn phương tiện với cứu cánh, cứ mải mê bám víu vào những việc đạo đức nào đó, mà lại thực hiện chúng một cách rất bất toàn, vì những động cơ nhân loại hay lòng vị kỷ.

Cách thế tuyệt hảo nhất mà thầy tìm được để đến với Thiên Chúa, là chu toàn các công việc thường ngày, không nhằm làm đẹp lòng người đời (x. Gl 1,10; Ep 6,5–6), mà là làm hết sức có thể hoàn toàn vì lòng yêu mến Thiên Chúa.

Thầy chia sẻ: thật là một ảo tưởng lớn khi cho rằng giờ cầu nguyện phải khác biệt với các giờ khác. Bởi lẽ, ta có bổn phận phải gắn bó với Thiên Chúa qua hành động trong giờ làm việc, cũng nghiêm ngặt hệt như qua việc cầu nguyện trong giờ cầu nguyện vậy.

Lời cầu nguyện của thầy chẳng là gì khác, ngoài cảm thức về sự hiện diện của Thiên Chúa; khi ấy, linh hồn thầy chẳng còn cảm thấy điều gì khác, ngoại trừ Tình Yêu Thần Linh. Và khi những giờ cầu nguyện đã qua, thầy không thấy có gì khác biệt, bởi thầy vẫn tiếp tục ở lại với Thiên Chúa, chúc tụng và ngợi khen Ngài hết sức mình. Chính vì thế, thầy sống trọn đời trong niềm vui liên lỉ; dù thầy vẫn hy vọng rằng khi mình đã trở nên vững mạnh hơn, Thiên Chúa sẽ cho thầy được chịu chút đau khổ nào đó.

Thầy xác tín: một lần cho mãi mãi, ta phải đặt trọn niềm tín thác nơi Thiên Chúa và toàn hiến cho Ngài, với niềm xác tín rằng Ngài sẽ chẳng bao giờ lừa dối ta. Ta chớ nản lòng khi làm những việc rất nhỏ bé vì lòng yêu mến Thiên Chúa. Bởi lẽ, Thiên Chúa không xét giá trị công việc dựa trên vẻ lớn lao của nó, nhưng dựa trên tình yêu mà ta đặt vào đó. Ta cũng đừng ngạc nhiên nếu lúc đầu ta thường thất bại trong những cố gắng của mình. Bởi rồi đây, một thói quen sẽ được hình thành, và chính thói quen ấy sẽ khiến mọi hành động diễn ra một cách tự nhiên, chẳng cần ta phải gắng sức nhiều, mà lại đem đến niềm vui rất đỗi lớn lao.

Toàn bộ cốt lõi của đời sống đạo nằm trọn trong Đức Tin, Đức Cậy và Đức Mến. Nhờ thực hành ba nhân đức ấy, ta được kết hợp với thánh ý Thiên Chúa. Mọi sự khác đều là thứ yếu, và chỉ là phương tiện giúp ta đạt tới cứu cánh, để rồi nhờ Đức Tin và Đức Mến, ta được hòa mình trọn vẹn vào cứu cánh ấy.

Mọi sự đều có thể đối với người tin; mọi sự sẽ bớt khó khăn hơn đối với người cậy trông; mọi sự trở nên dễ dàng hơn với người yêu mến; và mọi sự càng dễ dàng hơn nữa với người biết kiên trì thực hành ba nhân đức ấy.

Thầy nói rằng: Mục đích cuối cùng ta phải đặt ra cho đời mình là trở nên những người thờ phượng Thiên Chúa cách trọn hảo nhất có thể ngay trong đời này, như ta vẫn hy vọng sẽ được như thế trong cõi vĩnh hằng.

Khi bước vào đời sống thiêng liêng, ta phải xét mình tận đáy lòng để nhận ra thực trạng tâm hồn của mình. Khi ấy, ta sẽ thấy mình xứng đáng chịu mọi sự khinh chê, và quả thật chẳng xứng đáng mang danh Kitô hữu. Ta là kẻ phải chịu đủ mọi cảnh khốn cùng và vô vàn biến cố; những điều luôn gây ra những thay đổi thất thường về sức khỏe, về tâm tính, cũng như về các trạng thái bên trong và bên ngoài của ta. Tóm lại, ta là những con người mà Thiên Chúa muốn làm cho khiêm nhường bằng nhiều đau khổ và lao nhọc, cả bên trong lẫn bên ngoài. Sau khi nhận thức được điều ấy, ta sẽ chẳng còn ngạc nhiên khi gặp phải những thử thách, cám dỗ, hay những sự trái ý từ phía người đời. Trái lại, ta phải đón nhận và chịu đựng những điều ấy bao lâu Thiên Chúa muốn, và xem chúng như những điều rất hữu ích cho ta.

Linh hồn càng khao khát sự trọn lành bao nhiêu, thì càng phải lệ thuộc vào ân sủng Thiên Chúa bấy nhiêu.

Khi một người trong cộng đoàn, người mà thầy có bổn phận phải mở lòng, hỏi thầy rằng bằng cách nào thầy đã đạt tới một cảm thức thường xuyên về sự hiện diện của Thiên Chúa, thầy trả lời rằng: Ngay từ bước chân đầu tiên vào tu viện, thầy đã đặt Thiên Chúa làm Cứu Cánh của mọi tư tưởng và ước muốn, làm Đích Điểm mà tất cả phải quy hướng về và dừng lại nơi đó.

Trong thời gian tập viện, thầy đã tận dụng những giờ cầu nguyện riêng để hướng lòng về Thiên Chúa, hầu thuyết phục tâm trí và in sâu vào lòng sự hiện hữu của Đấng Thần Linh. Thầy làm điều này không bằng những suy lý trau chuốt hay những bài suy niệm cầu kỳ, nhưng bằng những tâm tình sốt sắng và sự quy phục dưới ánh sáng đức tin. Nhờ phương thế ngắn gọn và chắc chắn này, thầy tự luyện tập việc nhận biết và yêu mến Thiên Chúa. Thầy quyết tâm sống liên lỉ trong cảm thức về sự hiện diện của Ngài, và nếu có thể, chẳng bao giờ lãng quên Ngài nữa.

Thầy chia sẻ: Khi việc cầu nguyện đã giúp tâm trí thầy thấm nhuần những tâm tình cao cả về Đấng Vô Cùng, thầy đi vào làm công việc được giao trong bếp (vì thầy là người nấu ăn cho cộng đoàn). Tại đó, sau khi đã xem xét từng việc bổn phận đòi hỏi, việc nào phải làm, lúc nào và cách nào, thầy dành mọi khoảng thời gian trống, cả trước lẫn sau công việc, để cầu nguyện.

Khi bắt đầu công việc, thầy thưa với Thiên Chúa, với lòng tín thác của người con: “Lạy Thiên Chúa của con, vì Chúa đang ở cùng con, và giờ đây con phải vâng lệnh Chúa mà lo toan những việc bên ngoài này; con nài xin Chúa ban ơn để con vẫn được ở lại trong sự hiện diện thánh của Ngài. Xin Chúa giúp con chu toàn công việc này cho tốt đẹp; xin đón nhận mọi việc con làm, và ôm trọn mọi tâm tình của con.”

Trong khi làm việc, thầy tiếp tục cuộc trò chuyện thân tình với Đấng Tạo Hóa, nài xin ơn Ngài và dâng lên Ngài mọi hành động.

Khi đã xong việc, thầy xét mình xem đã chu toàn bổn phận ra sao: Nếu làm tốt, thầy dâng lời tạ ơn Thiên Chúa, nếu không, thầy xin Ngài tha thứ nhưng chẳng hề nản chí. Thầy điều chỉnh lại lòng mình, và tiếp tục thực hành sự hiện diện của Thiên Chúa như thể mình chưa từng đi lạc khỏi Ngài. Thầy nói: “Chính nhờ biết đứng dậy sau những lần sa ngã, và nhờ những hành vi đức tin và đức mến được lặp đi lặp lại không ngừng, mà tôi đã đạt tới trạng thái này: Giờ đây, đối với tôi, việc không nghĩ đến Thiên Chúa còn khó khăn hơn nhiều so với việc phải tập nghĩ đến Ngài lúc ban đầu.

Vì Thầy Lawrence đã tìm được những lợi ích lớn lao khi bước đi trong sự hiện diện của Thiên Chúa, nên điều tự nhiên là thầy tha thiết khuyên người khác cũng sống như vậy. Tuy nhiên, gương sống của thầy còn thuyết phục hơn mọi lý lẽ mà thầy có thể đưa ra. Chính dung mạo của thầy đã là một lời giáo huấn, nơi đó toát ra một vẻ đạo đức dịu dàng và bình an, khiến những ai nhìn thấy không thể không xúc động. Người ta nhận xét rằng, ngay cả trong lúc công việc bếp núc hối hả nhất, thầy vẫn giữ được sự hồi tâm và hướng thượng. Thầy không bao giờ hấp tấp, cũng chẳng lười biếng; thầy làm mọi sự đúng lúc, với một sự điềm tĩnh và an hòa không gián đoạn. Và thầy nói: “Giờ làm việc đối với tôi không khác gì giờ cầu nguyện. Giữa những tiếng ồn ào, lanh canh trong nhà bếp, khi nhiều người cùng lúc gọi tôi vì những việc khác nhau, tôi vẫn gặp gỡ Thiên Chúa trong một sự bình an sâu thẳm, chẳng khác gì khi tôi quỳ gối trước Thánh Thể.”

Tô Linh

Chuyển ngữ từ: basilica.ca

Read More
26Tháng Ba
2026

TÂM THẦN PHÂN LIỆT

26/03/2026
Anmai
Giáo dục, Tài liệu giáo dục
0

TÂM THẦN PHÂN LIỆT

Tâm thần phân liệt là một rối loạn tâm thần nặng, kéo dài, thuộc nhóm rối loạn loạn thần, ảnh hưởng đến cách một người suy nghĩ, cảm nhận, diễn giải thực tại và hành xử trong đời sống hằng ngày. Đây không phải là tình trạng “đa nhân cách”, cũng không đơn giản chỉ là “thần kinh yếu” hay “suy nghĩ tiêu cực quá mức”, nhưng là một bệnh lý tâm thần thực sự, có thể làm suy giảm sâu sắc khả năng học tập, lao động, chăm sóc bản thân, duy trì các mối quan hệ và hòa nhập xã hội. Tổ chức Y tế Thế giới cho biết bệnh này ảnh hưởng khoảng 23 triệu người trên toàn cầu; ước tính khoảng 1 trên 345 người nói chung và khoảng 1 trên 233 người trưởng thành. Bệnh thường khởi phát vào cuối tuổi vị thành niên hoặc giai đoạn đầu tuổi trưởng thành, và nam giới thường có xu hướng khởi phát sớm hơn nữ giới.

Cần nói cho thật chính xác rằng tâm thần phân liệt không phải là một tình trạng duy nhất giống hệt nhau ở mọi bệnh nhân. Biểu hiện của bệnh rất đa dạng. Có người nổi bật với ảo giác và hoang tưởng; có người lại chủ yếu sống thu mình, giảm cảm xúc, giảm động lực, học tập và làm việc sa sút; cũng có người rối loạn chú ý, trí nhớ và khả năng tổ chức đời sống hằng ngày. Vì thế, trong thực hành lâm sàng hiện nay, người ta thường mô tả triệu chứng của tâm thần phân liệt theo ba nhóm lớn: triệu chứng loạn thần hoặc “dương tính”, triệu chứng “âm tính”, và triệu chứng nhận thức. Cách phân chia này được NIMH và nhiều tài liệu chuyên môn dùng để giúp hiểu đúng hơn về bệnh.

Trước hết là triệu chứng dương tính. Từ “dương tính” ở đây không có nghĩa là “tốt”, mà là những biểu hiện được “thêm vào” so với hoạt động tâm thần bình thường. Nhóm này bao gồm hoang tưởng, ảo giác, tư duy vô tổ chức, lời nói vô tổ chức và đôi khi hành vi rất lạ lùng hoặc kích động. Đây thường là những biểu hiện khiến người thân dễ nhận ra nhất, vì bệnh nhân có vẻ như đang mất dần khả năng phân biệt giữa điều có thật và điều không có thật. Các nguồn uy tín như WHO, NIMH, NHS và Mayo Clinic đều mô tả tâm thần phân liệt như một rối loạn thường gắn với tình trạng loạn thần, nghĩa là người bệnh có thể không còn nhận định đúng thực tại trong một số giai đoạn.

Hoang tưởng là những niềm tin sai lệch, bền vững, không phù hợp với thực tế, và người bệnh vẫn giữ niềm tin ấy ngay cả khi đã có bằng chứng rõ ràng bác bỏ. Thí dụ, họ có thể tin rằng mình đang bị theo dõi, bị đầu độc, bị người khác cài thiết bị nghe lén, hoặc tin rằng các thông điệp trên truyền hình, mạng xã hội, biển số xe, ánh mắt người khác đều nhắm riêng vào mình. Điểm quan trọng là những niềm tin ấy không chỉ là “nghi ngờ nhiều” hay “sợ hãi vu vơ”, nhưng là sự xác tín méo lệch đến mức chi phối hành vi và cảm xúc của người bệnh. Hoang tưởng là một trong những biểu hiện kinh điển của loạn thần.

Ảo giác là tri giác xuất hiện dù không có kích thích thật từ bên ngoài. Trong tâm thần phân liệt, ảo giác thính giác là thường gặp nhất, đặc biệt là nghe thấy tiếng nói mà người khác không nghe được. Những tiếng nói ấy có thể bình phẩm, ra lệnh, đe dọa, chế giễu hoặc tranh luận với người bệnh. Ngoài ra còn có thể gặp ảo giác nhìn, ngửi, nếm hoặc cảm giác cơ thể, nhưng chúng ít điển hình hơn. Điều cần nhấn mạnh là đối với người bệnh, trải nghiệm này là thật; vì vậy nếu người xung quanh chỉ đơn giản gạt đi rằng “không có gì đâu”, đôi khi bệnh nhân không thể tiếp nhận được, bởi cảm giác họ đang trải qua là hoàn toàn sống động đối với chính họ.

Rối loạn tư duy và lời nói là một biểu hiện trung tâm khác. Người bệnh có thể nói lan man, chệch đề, câu trước không nối được với câu sau, dùng từ bất thường, đang nói giữa chừng thì ngừng lại, hoặc diễn đạt rất khó hiểu. Trong trường hợp nặng, ngôn ngữ có thể trở nên rời rạc đến mức gần như mất mạch lạc. NIMH mô tả đây là “thought disorder” hay những kiểu suy nghĩ bất thường; Mayo Clinic và các tài liệu khác cũng nhấn mạnh đến tư duy và hành vi vô tổ chức như một phần quan trọng của bệnh.

Kế đến là triệu chứng âm tính. Gọi là “âm tính” vì chúng phản ánh sự suy giảm hoặc mất đi những chức năng vốn có ở một con người bình thường. Bệnh nhân có thể giảm biểu lộ cảm xúc, khuôn mặt ít thay đổi, giọng nói đơn điệu, ít nói, mất hứng thú, giảm động lực, giảm khả năng khởi xướng công việc, khó duy trì quan hệ xã hội, thu mình, bỏ bê học tập hoặc công việc và giảm cảm giác vui thích trong các hoạt động từng yêu thích. Đây là nhóm triệu chứng thường bị hiểu lầm nhất, vì người ngoài dễ cho rằng bệnh nhân “lười”, “lạnh lùng”, “không cố gắng”, “vô cảm” hoặc “khó gần”, trong khi thực tế đây có thể là biểu hiện trực tiếp của bệnh.

Một trong những điểm làm tâm thần phân liệt trở nên nặng nề là chính triệu chứng âm tính nhiều khi kéo dài hơn và làm suy giảm chức năng xã hội bền bỉ hơn cả các cơn loạn thần rầm rộ. Người bệnh có thể không còn muốn gặp ai, không còn thiết tha với việc học hay việc làm, không thấy hứng thú với cuộc sống, nói năng nghèo nàn, ít chăm sóc bản thân. Gia đình thường đau lòng vì thấy người thân “không còn là chính mình”, sống ngày càng xa cách, ít biểu lộ niềm vui nỗi buồn, như thể cả thế giới cảm xúc bị làm cho cùn đi. Đây là lý do vì sao điều trị tâm thần phân liệt không thể chỉ nhắm đến việc hết ảo giác hay hết hoang tưởng, mà còn phải phục hồi động lực sống, kỹ năng xã hội và khả năng tự lập.

Nhóm thứ ba là triệu chứng nhận thức. NIMH nêu rõ rằng người bệnh có thể gặp khó khăn về chú ý, tập trung và trí nhớ; những khó khăn này khiến họ khó theo dõi một cuộc trò chuyện, khó học cái mới, khó nhớ lịch hẹn, khó tổ chức công việc hoặc sắp xếp một ngày sống bình thường. “Trí nhớ làm việc” là một chức năng đặc biệt quan trọng: nó giúp ta giữ thông tin trong đầu đủ lâu để xử lý, lập kế hoạch, quyết định điều gì làm trước làm sau và hoàn thành chuỗi hành động. Khi chức năng này suy giảm, đời sống thường nhật của bệnh nhân có thể rối tung: thức dậy không biết phải làm gì trước, quên giữa chừng, không theo nổi các chỉ dẫn nhiều bước, khó duy trì việc làm hoặc việc học.

Chính nhóm triệu chứng nhận thức này thường tồn tại dai dẳng, kể cả trong những giai đoạn người bệnh không còn loạn thần rầm rộ. Vì vậy, có những bệnh nhân sau khi cơn cấp đã ổn hơn, không còn nói chuyện hoang tưởng nhiều nữa, nhưng vẫn rất khó quay trở lại nếp sống bình thường, vì họ còn bị ảnh hưởng nặng ở khả năng tập trung, ghi nhớ, hoạch định và điều hành hành vi. Ở khía cạnh phục hồi lâu dài, đây là một phần rất quan trọng, vì mức độ hoạt động nhận thức có liên quan chặt chẽ đến khả năng sinh hoạt độc lập và chức năng hằng ngày. NIMH thậm chí nhấn mạnh rằng mức độ chức năng nhận thức là một trong những yếu tố dự báo tốt nhất cho khả năng thích nghi đời sống của bệnh nhân.

Nói như vậy để thấy rằng, giữa các đợt loạn thần rõ rệt, bệnh nhân thường không hẳn “trở lại bình thường hoàn toàn”. Ở nhiều người, giai đoạn giữa các cơn vẫn có thể còn những nét lập dị trong hành vi, giảm giao tiếp xã hội, động lực suy giảm, cảm xúc nghèo nàn, tư duy chậm, chú ý kém và khả năng tổ chức đời sống giảm sút. Mức độ tồn lưu này khác nhau giữa từng người, nhưng việc nhìn nhận đúng nó rất quan trọng để gia đình không đánh giá sai rằng “đã hết bệnh rồi mà sao vẫn không làm được gì”.

Về thời gian và chẩn đoán, cần cẩn thận với cách diễn đạt. Câu nói “triệu chứng dương tính kéo dài ít nhất sáu tháng” chưa thật chuẩn nếu hiểu theo nghĩa riêng nhóm triệu chứng dương tính phải kéo dài sáu tháng. Trong các tiêu chuẩn chẩn đoán hiện hành, điều được yêu cầu là có dấu hiệu rối loạn liên tục trong ít nhất 6 tháng, trong đó có ít nhất 1 tháng với các triệu chứng giai đoạn hoạt động đáng kể như hoang tưởng, ảo giác hoặc lời nói vô tổ chức, trừ khi đã được điều trị sớm. Nói cách khác, toàn bộ diễn tiến bệnh kéo dài tối thiểu 6 tháng, chứ không phải bắt buộc mọi biểu hiện dương tính đều phải rầm rộ đủ 6 tháng. Đây là một điểm chuyên môn cần nói cho thật chính xác.

Về tần suất mắc bệnh, con số 1% từng được dùng khá phổ biến trong nhiều tài liệu cũ hoặc các bài giảng nhập môn. Tuy nhiên, dữ liệu cập nhật của WHO hiện nêu tỷ lệ thấp hơn: khoảng 0,29% dân số chung và khoảng 0,43% ở người trưởng thành. Vì vậy, nếu muốn nói chặt chẽ theo nguồn cập nhật, nên trình bày rằng tâm thần phân liệt “không hiếm, nhưng cũng không phổ biến tới mức 1% dân số chung như cách nói khái quát trước đây”. Việc dùng số liệu mới giúp bài viết chính xác hơn.

Cũng cần làm rõ một điểm khác: nam giới không nhất thiết mắc nhiều hơn hẳn nữ giới ở mọi khảo sát, nhưng nam giới thường khởi phát sớm hơn, và ở nhiều trường hợp diễn tiến chức năng có thể nặng nề hơn. WHO khẳng định khuynh hướng khởi phát sớm hơn ở nam. Một số số liệu dân số khác cho thấy chênh lệch theo giới có thể không lớn hoặc thay đổi tùy cách đo, dân số khảo sát và định nghĩa bệnh. Bởi vậy, phát biểu thận trọng và chính xác nhất là: bệnh thường khởi phát sớm hơn ở nam giới; còn tần suất và mức độ nặng có thể khác nhau theo từng nghiên cứu.

Phần nói rằng rối loạn nhân cách kiểu tâm thần phân liệt là “dạng nhẹ của tâm thần phân liệt” cũng cần chỉnh cho đúng. Theo Hiệp hội Tâm thần Hoa Kỳ, schizotypal personality disorder là một rối loạn nhân cách, có những nét gần với phổ tâm thần phân liệt như tư duy kỳ dị, khó khăn trong quan hệ gần gũi, cách nhìn nhận méo lệch và hành vi lạ, nhưng nó không đồng nghĩa với tâm thần phân liệt, cũng không nên được hiểu đơn giản là “phiên bản nhẹ” của bệnh này. Hai tình trạng có liên hệ trong phổ bệnh lý, song là các chẩn đoán khác nhau.

Một điều rất quan trọng trong giáo dục sức khỏe tâm thần là phải biết phân biệt triệu chứng loạn thần với tính cách khác người. Có người sống hướng nội, ít nói, hơi lập dị, thích ở một mình, giao tiếp vụng về, nhưng họ vẫn biết rõ đâu là thực đâu là không thực, vẫn học tập, làm việc, tự chăm sóc bản thân và không có ảo giác, hoang tưởng. Trường hợp ấy không thể vội gán là tâm thần phân liệt. Chẩn đoán bệnh này đòi hỏi đánh giá chuyên khoa cẩn thận, phải loại trừ các nguyên nhân khác như rối loạn khí sắc có loạn thần, rối loạn phân liệt cảm xúc, tác động của chất kích thích, bệnh lý thần kinh, hoặc các tình trạng y khoa khác.

Về nguyên nhân, không có một nguyên nhân đơn lẻ duy nhất. Các nguồn chuyên môn nhìn nhận đây là bệnh lý có cơ chế phức hợp, liên quan đến yếu tố di truyền, phát triển thần kinh, môi trường, stress, và ở một số trường hợp là tác động của chất gây nghiện. NIMH nhấn mạnh rằng tâm thần phân liệt được nhìn dưới góc độ phát triển thần kinh; còn Mayo Clinic cũng mô tả nhiều yếu tố nguy cơ như tiền sử gia đình, các yếu tố quanh thai kỳ, stress và sử dụng chất. Điều này có nghĩa: bệnh không phải do “yếu đức tin”, “ý chí kém”, “nuôi dạy sai” hay “suy nghĩ quá nhiều” mà ra. Những cách gán lỗi ấy vừa sai vừa làm tăng mặc cảm cho người bệnh và gia đình.

Cũng vì bệnh là một rối loạn thực sự của chức năng não bộ và tâm thần, nên điều trị cần bài bản, kiên trì và nhiều thành phần. Thuốc chống loạn thần vẫn là nền tảng trong điều trị các triệu chứng loạn thần. Đồng thời, WHO và NIMH đều nhấn mạnh vai trò của các can thiệp tâm lý – xã hội: giáo dục tâm lý cho bệnh nhân và gia đình, trị liệu, hỗ trợ kỹ năng sống, phục hồi chức năng, hỗ trợ học tập – nghề nghiệp và can thiệp gia đình. Với giai đoạn loạn thần đầu tiên, các chương trình chăm sóc chuyên biệt theo nhóm đa ngành như coordinated specialty care cho thấy kết quả tốt hơn khi được triển khai sớm.

Điểm then chốt là can thiệp sớm. NIMH cho biết người bệnh thường có kết quả tốt hơn nếu được chăm sóc sớm ngay sau khi các triệu chứng loạn thần xuất hiện. Điều này rất quan trọng trong thực tế, vì nhiều gia đình chần chừ quá lâu, nghĩ rằng con em mình chỉ đang stress, thất tình, suy nghĩ quá nhiều hoặc “bị ai nói xấu nên buồn”, để rồi đến khi bệnh bùng phát mạnh mới đưa đi khám. Càng trì hoãn, nguy cơ học hành đổ vỡ, mất việc, xung đột gia đình, tự bỏ nhà đi, dùng chất, tự hại hoặc làm tổn thương người khác trong cơn loạn thần càng tăng.

Khi sống chung với người bệnh, gia đình cần nhớ rằng tranh cãi gay gắt để “thắng lý” trước một hoang tưởng thường ít hiệu quả. Điều cần hơn là giữ giọng điệu bình tĩnh, tránh chế nhạo, tránh kích thích thêm xung đột, khuyến khích khám chuyên khoa, theo dõi việc dùng thuốc và tạo môi trường sống đều đặn, ít căng thẳng. Các chiến lược phục hồi hướng đến độc lập, kỹ năng xã hội, kỹ năng sống và hòa nhập nghề nghiệp được WHO đánh giá là có vai trò quan trọng trong điều trị lâu dài.

Tóm lại, nói cho đúng nhất, tâm thần phân liệt là một rối loạn loạn thần nặng và kéo dài, trong đó người bệnh có thể xuất hiện các triệu chứng loạn thần như hoang tưởng, ảo giác, tư duy và ngôn ngữ vô tổ chức; đồng thời còn có những triệu chứng âm tính như thu mình xã hội, giảm cảm xúc, giảm động lực, ít nói; và các triệu chứng nhận thức như giảm chú ý, giảm trí nhớ làm việc và giảm khả năng lập kế hoạch. Nhiều khó khăn của bệnh không chỉ nằm ở cơn loạn thần cấp tính, mà còn ở sự suy giảm chức năng xã hội, nghề nghiệp và đời sống hằng ngày kéo dài sau đó. Tuy nhiên, bệnh có thể được điều trị và phục hồi tốt hơn nếu được phát hiện sớm, dùng thuốc đúng, có hỗ trợ tâm lý – xã hội và có gia đình đồng hành đúng cách.

Nếu người bệnh đang có dấu hiệu nghe tiếng nói ra lệnh, kích động mạnh, mất ngủ nhiều ngày, hoang tưởng nặng, có ý định tự sát hoặc gây nguy hiểm cho người khác, đó là tình huống cần được hỗ trợ y tế khẩn cấp ngay.

Lm. Anmai, CSsR

Read More
24Tháng Ba
2026

VĂN PHÒNG TỔNG THƯ KÝ FABC GỬI THƯ PHÂN ƯU VÀ THÔNG BÁO ĐẾN CÁC THÀNH VIÊN VỀ SỰ QUA ĐỜI CỦA ĐỨC HỒNG Y GIOAN BAOTIXITA PHẠM MINH MẪN

24/03/2026
Anmai
GH Việt Nam, Tin tức
0

VĂN PHÒNG TỔNG THƯ KÝ FABC GỬI THƯ PHÂN ƯU VÀ THÔNG BÁO ĐẾN CÁC THÀNH VIÊN VỀ SỰ QUA ĐỜI CỦA ĐỨC HỒNG Y GIOAN BAOTIXITA PHẠM MINH MẪN

Lm. William LaRousse
WHĐ (24/3/2026) – Sau đây là toàn văn thư phân ưu và thông báo của Văn phòng Tổng Thư ký Liên Hội đồng Giám mục Á châu (FABC) gửi đến các thành viên và quý thân hữu về sự qua đời của Đức Hồng y Gioan Baotixita Phạm Minh Mẫn.

THÔNG BÁO

NGÀY: 23 THÁNG 3 NĂM 2026

TỪ: VĂN PHÒNG TỔNG THƯ KÝ LIÊN HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC Á CHÂU (FABC)

GỬI ĐẾN: THÀNH VIÊN GIA ĐÌNH FABC VÀ QUÝ THÂN HỮU

VỀ: SỰ QUA ĐỜI CỦA ĐỨC HỒNG Y GIOAN BAOTIXITA PHẠM MINH MẪN

Đức Hồng y Gioan Baotixita Phạm Minh Mẫn, nguyên Tổng Giám mục Tổng Giáo phận Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam, đã qua đời vào lúc 17 giờ 22 phút ngày 22 tháng 3 năm 2026, tại Trung tâm Mục vụ của Tổng Giáo phận, hưởng thọ 92 tuổi. Ngài đã sống ơn gọi linh mục hơn 61 năm, thi hành sứ vụ giám mục hơn 32 năm, và là Hồng y hơn 22 năm.

Ngài sinh ngày 05 tháng 3 năm 1934 tại tỉnh Cà Mau, Việt Nam. Ngài được truyền chức linh mục ngày 25 tháng 5 năm 1965, thuộc Giáo phận Cần Thơ, Việt Nam. Ngài được Đức Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II bổ nhiệm làm Giám mục phó Giáo phận Mỹ Tho vào ngày 22 tháng 3 năm 1993, và được tấn phong Giám mục ngày 11 tháng 8 năm 1993. Cũng chính Đức Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã bổ nhiệm ngài làm Tổng Giám mục Tổng Giáo phận Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 10 tháng 3 năm 1998, và nâng ngài lên hàng Hồng y ngày 21 tháng 10 năm 2003. Đức Thánh Cha Phanxicô đã chấp thuận đơn từ nhiệm của ngài vào ngày 22 tháng 3 năm 2014.

Ngài đã từng phục vụ với tư cách là Phó Chủ tịch Hội đồng Giám mục Việt Nam, đồng thời là thành viên của Bộ Phụng tự và Kỷ luật các Bí tích, cũng như Bộ Loan báo Tin mừng cho các Dân tộc của Tòa thánh.

Chúng tôi chân thành chia sẻ nỗi đau buồn và gửi lời phân ưu đến Đức Tổng Giám mục Giuse Nguyễn Năng, Tổng Giám mục Tổng Giáo phận Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh, Chủ tịch Hội đồng Giám mục Việt Nam, đến toàn thể Hội đồng Giám mục, cũng như gia quyến, thân hữu của Đức Hồng y Gioan Baotixita Phạm Minh Mẫn, và toàn thể cộng đoàn dân Chúa thuộc Tổng Giáo phận Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh, nơi ngài đã phục vụ.

Xin quý vị hiệp ý cầu nguyện cho Đức Hồng y Gioan Baotixita Phạm Minh Mẫn trong các Thánh lễ và các giờ cầu nguyện.

Kính chúc quý vị dồi dào ơn thánh và luôn hiệp thông trong Đức Kitô,

Lm. William LaRousse

Trợ lý Tổng Thư ký FABC

Văn Việt

Chuyển ngữ từ: Văn phòng Hội đồng Giám mục Việt Nam

Read More
11Tháng Hai
2026

THƯ GỬI SINH VIÊN, HỌC SINH CÔNG GIÁO NHÂN DỊP MỪNG XUÂN BÍNH NGỌ

11/02/2026
Anmai
Thư chung, UBGD Công giáo
0

ỦY BAN GIÁO DỤC CÔNG GIÁO

trực thuộc

Hội Đồng Giám Mục Việt Nam

THƯ GỬI SINH VIÊN, HỌC SINH CÔNG GIÁO

NHÂN DỊP MỪNG XUÂN BÍNH NGỌ

 

Các con thân mến,

Trong những ngày của tháng Chạp này, khi đi qua các khu vực trang trí tết xưa, với vật dụng đơn giản của người miền tây nam bộ, những ký ức về tết của cha trong độ tưổi của các con, mang lại nhiều cảm xúc đặc biệt. Từ việc dọn dẹp cho đến trang hoàng nhà cửa, từ việc lặt lá những cây mai cho đến vệ sinh lau chùi các vật dụng trên bàn thờ, …Tất cả như mong muốn một cái tết thật đẹp cho gia đình, cầu mong những điều tốt lành nhất cho cuộc sống. 365 ngày của Ất Tỵ dường như đã trôi qua thật nhanh trong công việc và nhịp sống hàng ngày. Giờ đây, chúng ta chuẩn bị bước vào một chu kỳ mới của thời gian trong cuộc đời mình, mang tên Năm Bính Ngọ 2026. Được khởi sự bằng Tết Cổ Truyền của dân tộc, chắc chắn rằng, ai trong chúng ta cũng ước nguyện cho một năm mới tốt đẹp, an lành, hạnh phúc và thành công nhất. Trước thềm năm mới đang đến rất gần, cha muốn nhắn gửi đến các con một vài suy nghĩ của mình, để chúng ta cùng chào đón năm mới trong tinh thần của một người con Chúa.

  1. Năm Mới, một truyền thống đẹp lòng Thiên Chúa

Dường như không có thời điểm nào trong năm mà chúng ta nhận được nhiều lời chúc như dịp đầu năm mới. Tâm tình, cách thức và sự phong phú trong những lời chúc này có thể cho phép người ta nghĩ rằng, đó là điều đẹp lòng Chúa. Thế nhưng, việc tuân theo truyền thống và ăn mừng Năm Mới trở nên khác hơn rất nhiều, nếu xét theo những gì Kinh Thánh đã nói. Nhiều Kitô hữu cố gắng tạo nên một liên kết nào đó giữa Năm Mới và Năm Hồng Ân mới (x. Lc 4, 19 và Is 61), nhưng Năm Hồng Ân này lại ám chỉ Năm Thánh cuối cùng sẽ mở ra kỷ nguyên thiên sai, với sự trở lại của Đấng Cứu Thế Giavê, kết quả là không có gì liên quan với Năm Mới theo truyền thống được tổ chức hàng năm.

“Đừng học đòi con đường của chư dân, …Các nghi thức của chư dân thật là hư ảo”(Gr 10, 2-3). Đây là một mệnh lệnh Chúa đã truyền trong Kinh Thánh, và ta có thể nhìn thấy xuyên suốt trong Lời của Người, Thiên Chúa nói đến “các dân tộc” là những người tôn thờ thiên nhiên (mặt trời, mặt trăng, các ngôi sao, cây cối, v.v.), các thần tượng do con người tạo ra và tất cả các sự thờ phượng khác, kể cả những phong tục và truyền thống liên quan đến một thần tính, khác với Thiên Chúa thật duy nhất. Người gọi những quốc gia này và phong tục của họ là “ngoại giáo”, trong ý nghĩa là những người tôn thờ thần giả, ngẫu tượng, xa lạ với Giao Ước của Thiên Chúa.

Tất cả những người trở lại đạo đều qui hướng vào một Thiên Chúa chân chính, khi được nói đến hay thực hành việc mừng Năm Mới. Bằng mọi giá, những người này không muốn bắt chước những người chấp nhận thái độ thế tục này của Năm Mới, vì họ không xem nhẹ tiếng nói và những lời dạy từ nơi Thiên Chúa của mình.

Những ý tưởng trên đây thật đáng chú ý, để chúng ta nhìn về cách thức đón mừng Năm Mới của mình. Chúng ta không có ý hạ thấp hoặc thẩm định bậc thang giá trị cho những phong tục tập quán hay các lễ nghi của những người xung quanh. Đức tin Kitô giáo cũng không loại trừ hay cấm đoán những nét văn hóa mang tính truyền thống, nhưng mời gọi chúng ta hướng về một đích điểm cao cả hơn, đó là cội nguồn và cùng đích cho tất cả mọi sự: Thiên Chúa Hằng Hữu, bằng tâm tình tạ ơn và hành động hoán cải. Vậy, chúng ta sẽ làm gì để mừng Năm Mới cho đẹp lòng Thiên Chúa ?

  1. Năm mới, những việc đáng phải làm
  2. Thờ phượng Thiên Chúa

Thực tế của đời sống đạo hằng ngày, có nhiều người trong anh chị em và bạn bè chúng ta, dường như chỉ thờ phượng Chúa trong hình thức bề ngoài, các thực hành đức tin chỉ để cho người khác thấy, hoặc cho người ta đừng đánh giá xấu về mình. Đó là hình ảnh và cách sống mà Chúa Giêsu đã khiển trách rất nhiều trong Phúc âm. Người đã đưa ra một chuẩn mực đúng cho việc thờ phượng rằng:“những người thờ phượng đích thực sẽ thờ phượng Chúa Cha trong thần khí và sự thật”(Ga 4, 23).

Vậy, trước thềm năm mới, chúng ta hãy bày tỏ sự thờ phượng Chúa qua việc cảm tạ Người, vì những ơn lành đã ban cho chúng ta trong suốt năm qua về vật chất lẫn tinh thần. Những điều này luôn là một sự thật, ngay cả khi chúng ta không muốn nhìn nhận nó. Đừng nghĩ những điều tốt mới là ân ban, còn điều chưa đẹp là do một sự trừng phạt hay đền bù nào đó. Cha luôn tin rằng: không có sự thù hận hay ghét bỏ nào có nguồn gốc từ nơi Thiên Chúa là Đấng nhân lành. Bởi thế, Thánh Phaolô luôn khuyến khích chúng ta:“Trong mọi hoàn cảnh và mọi sự, hãy nhân danh Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta, mà cảm tạ Thiên Chúa là Cha”(Ep 5, 20).

Tiếp đến, chúng ta hãy thờ phượng Chúa qua việc cầu nguyện. Những người thờ phượng đích thực, sẽ thực hành sự thờ phượng này bằng cách dâng hiến hết lòng, hết linh hồn và hết ý chí cho ý muốn của Thiên Chúa (x. Mt 22, 37). Niềm khao khát mãnh liệt cho vương quốc của Thiên Chúa được trị đến và thánh ý của Người được thực hiện, chính là nguồn mạch cho mọi lời cầu nguyện của họ, những lời cầu nguyện dựa trên các quy tắc và ước mong mà Chúa Giêsu đã dạy trong Kinh Lạy Cha (x. Mt 6, 9-13).

  1. Hiếu thảo với Cha Mẹ

Đây là một trong những lời mời gọi quan trọng nhất và cũng là một bổn phận lớn nhất, mà chúng ta phải đối diện trong đời sống của mình. Bổn phận này được hình thành trong hai mối tương quan gắn kết sâu nặng và mật thiết với nhau: cha mẹ và con cái. Cha mẹ dưỡng nuôi con cái, để dẫn dắt chúng từ sự lệ thuộc tuyệt đối trong dạ mẹ, đến sự độc lập của thời niên thiếu và sự trưởng thành khi chúng trở thành người lớn. Con cái quay lại chăm sóc cha mẹ của mình, nhất là trong giai đoạn tuổi già sức yếu, không đủ năng lực gánh vác những công việc mà các ngài đã làm để chăm lo gia đình.

Chữ Hiếu được nhắc đến trong những ngày đầu xuân, không chỉ vì đó là một vấn đề thuộc bản sắc văn hóa của người Việt, mà trên hết, đó là điều được mặc khải trong Cựu Ước: “Ngươi hãy thờ cha kính mẹ, để được sống lâu trên đất mà ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của ngươi, ban cho ngươi”(Xh 20, 12), và xác nhận trong Tân Ước:“Người làm con hãy vâng lời cha mẹ mình vì Chúa, vì đó là điều chính đáng. Hãy tôn kính cha và mẹ, đó là điều răn đầu tiên có kèm theo một lời hứa: để ngươi được hạnh phúc và hưởng một cuộc sống lâu dài trên mặt đất này”(Ep 6, 1-3). Chính vì thế, những ứng xử hàng ngày mà con cái luôn cần phải có đối với ông bà và cha mẹ, đó là tôn trọng, vâng lời và yêu thương.

Các con hãy ghi nhớ lời dạy của Đức Giáo Hoàng Phanxicô trong Tông Huấn Amoris Laetitia, nói về tầm quan trọng của lòng hiếu thảo trong gia đình:“Một gia đình mà thiếu sự kính trọng và chăm sóc ông bà, vốn là ký ức sống động của mình, sẽ là một gia đình rời rã; ngược lại, một gia đình mà còn nhắc nhở đến quá khứ là gia đình có tương lai”…. “Một xã hội mà con cái không biết kính trọng cha mẹ là một xã hội không có danh dự…đó là một xã hội được định để lắp đầy bằng những người trẻ cằn cõi và tham lam”. Ước mong rằng, chúng ta thực hành nhân đức này trong những ngày xuân, không phải là để cái tết thêm trọn vẹn, gia đình thêm ấm cúng, mà là một khởi đầu mới cho quyết tâm sống giới răn này trong suốt hành trình dương thế của mình. Một chút kinh nghiệm từ cuộc sống, cha nói với các con bằng niềm xác tín: nếu các con biết sống và siêng năng thực hành lòng hiếu thảo, Thiên Chúa sẽ luôn chúc lành cho cuộc sống và gia đình của các con.

  1. Hãy luôn sống là một công dân tốt

Sẽ không là bất thường hay lỗi nhịp khi nhắc đến tổ quốc và các nhà lãnh đạo trong phạm vi chữ Hiếu của mùa xuân, vì đó là sự mở rộng thật phong phú mà Giáo lý Giáo hội Công giáo ở số 2199, đã đề cập đến các mối tương quan của điều răn về lòng hiếu thảo. Thật vậy, ngoài mối liên hệ căn bản trong phạm vi gia đình ruột thịt mang tính phổ quát nhất, điều răn này còn vươn tới các bổn phận của học trò đối với thầy, thợ với chủ, kẻ thuộc cấp đối với người chỉ huy, công dân đối với tổ quốc và với tất cả những người điều hành đất nước. Chúng ta có thể đọc thấy điều này nơi những hướng dẫn mục vụ thật hài hòa của của Thánh Phaolô:“Trước hết, tôi khuyên ai nấy dâng lời cầu xin, khẩn nguyện, nài van, tạ ơn cho tất cả mọi người, cho vua chúa và tất cả những người cầm quyền, để chúng ta được an cư lạc nghiệp mà sống thật đạo đức và nghiêm chỉnh”(1Tim 2, 1-2).

Ngày đầu tiên của năm mới, chúng ta cử hành Thánh lễ trong ước nguyện cho năm mới bình an, cuộc sống được an cư lạc nghiệp, đó cũng chính là cầu nguyện cho quê hương tổ quốc và cho các nhà lãnh đạo quốc gia. Lời cầu nguyện này bao hàm cả lòng hiếu thảo và biết ơn của mình theo như điều răn Chúa đã dạy và Giáo hội hướng dẫn. Đồng thời, để sống sống đầy đủ hơn tinh thần của điều răn này, các con cũng hãy cố gắng chu toàn các bổn phận của một người công dân, mà các con sẽ học được trong từng giai đoạn của cuộc đời mình. Từ một phép lạ được tường thuật trong Phúc âm, Chúa Giêsu cũng đã dạy Phêrô và các tông đồ của mình một bài học như thế (x. Mt 17, 24-27).

  1. Lời chúc đầu xuân

Các con thân mến, với tên gọi dân gian: Năm Con Ngựa. Từ những phẩm chất tốt đẹp vốn có của loài vật này, người ta coi nó là biểu tượng cho sự trung thành và tận tụy, tài lộc và thành công. Hình ảnh những chú ngựa phi nước đại, hý vang cả một góc trời, còn biểu tượng cho sự kiêu hãnh, mạnh mẽ và tự do. Bước vào năm Bính Ngọ, cha mến chúc các con luôn mạnh mẽ trong tuổi đời, tận tụy trong học tập, kiêu hãnh trong đức tin, và sự ngoan hiền của các con sẽ luôn là tài lộc và thành công cho gia đình của mình. Các con hãy cố gắng tham dự đầy đủ các thánh lễ của những ngày đầu năm, vì đó là tâm tình và bổn phận cần phải có của một người đặt niềm tin nơi Chúa. Nguyện xin Đức Chúa ban phúc lành và gìn giữ các con. Xin Người luôn thương mến và ban bình an cho các con (x. Ds 6, 24 – 26).

CHÚC MỪNG NĂM MỚI BÍNH NGỌ 2026.

 

Vĩnh Long, ngày 24 tháng Chạp năm Ất Tỵ.

 

Phêrô Huỳnh Văn Hai

Giám mục Giáo Phận Vĩnh Long

Chủ tịch Ủy Ban Giáo Dục Công Giáo

 

 

Read More

Điều hướng bài viết

  • Previous page
  • Page 1
  • Page 2
  • Page 3
  • Page 4
  • …
  • Page 2.038
  • Next page
Bài viết mới nhất
THƯ MỜI THAM DỰ HỘI THẢO “NÂNG CAO TINH THẦN DẤN THÂN PHỤC VỤ VÀ TÁI CẤU TRÚC TRƯỜNG MẦM NON CÔNG GIÁO”
28/03/2026
THƯ GỬI SINH VIÊN, HỌC SINH CÔNG GIÁO NHÂN DỊP MỪNG LỄ CHÚA PHỤC SINH 2026
28/03/2026
CHÚNG TA ĐANG SỐNG, HAY CHỈ ĐANG TỒN TẠI?
27/03/2026
Video nổi bật
https://www.youtube.com/watch?v=Td144YDsaGo
Sự kiện sắp tới

There are no upcoming events at this time.

Ủy ban Giáo dục Công giáo – Trực thuộc Hội Đồng Giám Mục Việt Nam.

Liên hệ

72/12 Trần Quốc Toản, Phường 8, Quận 3, TP.HCM Get Directions

Phone: +84 931 436 131

Email: [email protected]

Ban chuyên môn
  • Ban Tài liệu và Truyền thông
  • Ban Giáo chức
  • Ban Kỹ năng và Giá trị sống
  • Ban Khuyến học
  • Ban Học viện Thần học
  • Ban Hội Học sinh – Sinh viên
Chuyên mục
  • Tin tức
  • Thư chung
  • Giáo dục
  • Phụng vụ
  • Thư viện
Bản quyền © 2020 thuộc về Ủy Ban Giáo Dục HĐGM VN. Design by JT.