2023
Ý cầu nguyện của Đức Thánh Cha tháng 10/2023: Cầu cho Thượng Hội Đồng
Trong video ý cầu nguyện của Đức Giáo Hoàng cho tháng 10, Đức Thánh Cha Phanxicô mời gọi chúng ta không ngừng lắng nghe và đối thoại xuyên suốt Thượng Hội Đồng: “Mọi người cùng tham gia, không ai bị loại trừ”.
Mở đầu video, Đức Thánh Cha nói: “Truyền giáo là trung tâm của Giáo hội, và càng quan trọng hơn khi Giáo hội đang trong tiến trình Thượng hội đồng. Chỉ có năng động hiệp hành này mới thúc đẩy ơn gọi truyền giáo của Giáo hội tiến lên – tức là lời đáp trả của Giáo hội đối với mệnh lệnh loan báo Tin Mừng từ Chúa Giêsu”.
Đức Thánh Cha cũng nhắc rằng Thượng hội đồng không phải là kết thúc nhưng đúng hơn, “chúng ta đang tiếp tục một cuộc hành trình mang tính Giáo hội. Đây là một cuộc hành trình mà chúng ta bước đi, giống như các môn đệ trên đường Emmau, lắng nghe Thiên Chúa là Đấng luôn đến gặp gỡ chúng ta. Ngài là vị Thiên Chúa của những điều bất ngờ.”
Hơn nữa, điều qua trọng là: “Qua cầu nguyện và phân định, Chúa Thánh Thần giúp chúng ta thực hiện ‘việc tông đồ bằng đôi tai’, nghĩa là lắng nghe bằng đôi tai của Thiên Chúa để nói bằng lời của Thiên Chúa. Nhờ như vậy, chúng ta đến gần trái tim của Chúa Kitô. Sứ mạng và tiếng nói của chúng ta vốn đưa chúng ta đến với Người và phát xuất từ Người. Tiếng nói này vén mở cho chúng ta thấy trọng tâm của sứ mạng là đến với mọi người, tìm kiếm mọi người, chào đón mọi người, bao gồm mọi người, mà không loại trừ bất cứ ai.”
Đức Thánh Cha kết luận với lời mời gọi: “Chúng ta hãy cầu nguyện để Giáo hội biết lắng nghe và đối thoại như một lối sống ở mọi cấp bậc, để Giáo hội được Chúa Thánh Thần hướng dẫn đến các vùng ngoại vi của thế giới”.
Cha Frédéric Fornos SJ, Giám đốc Quốc tế Mạng lưới Cầu nguyện Toàn cầu của Đức Thánh Cha, nhận xét về thời điểm quan trọng này mà Giáo hội đang sống rằng: “Trong giai đoạn thứ ba của Thượng Hội Đồng, Đức Thánh Cha Phanxicô mời gọi chúng ta cầu nguyện để cho ‘lắng nghe và đối thoại’ trở thành ‘phong cách’ của đời sống Giáo Hội ở mọi cấp độ, vì đây là một ân sủng. Chỉ bằng cách này, chúng ta mới có thể lắng nghe Chúa Thánh Thần và để cho Ngài hướng dẫn, điều này đòi hỏi phải cầu nguyện và phân định, “Hãy để mình được Chúa Thánh Thần hướng dẫn”, và như ngài nói ngay sau đó, điều này giả định trước việc lắng nghe nhau. Đây không phải là kết quả của chiến lược và chương trình, mà là sự lắng nghe lẫn nhau giữa anh chị em. Chính Thánh Thần của Chúa mở ra những nẻo đường mới cho chúng ta. Chính Ngài là Đấng giúp nhận ra sứ mạng của Chúa Kitô ngày nay và dẫn chúng ta đến các vùng ngoại biên của thế giới: “đến với mọi người, tìm kiếm mọi người, chào đón mọi người, thu hút mọi người, không loại trừ bất cứ ai.’”
Phiên họp đầu tiên của Đại hội thường kỳ lần thứ XVI của Thượng Hội Đồng sẽ diễn ra từ ngày 4 đến ngày 29 tháng 10 năm 2023. Trong cuộc họp này, các giám mục và những tham dự viên khác tụ họp lại để suy ngẫm về kết quả của quá trình lắng nghe trước đó. Thượng Hội đồng này sẽ có hai phiên họp Đại hội như vậy được tổ chức cách nhau một năm, từ ngày 4 đến ngày 29 tháng 10 năm 2023 và vào tháng 10 năm 2024.
2023
Một Ca Đoàn hiệp hành trong một Giáo Hội hiệp hành
Tổng Giáo phận Sàigòn – Tp.HCM
1. Ca đoàn – Ban hát – Ban hợp xướng: là một Đoàn thể Tông Đồ hiệp thông hiệp hành với nhau tạo nên một tập thể “Đồng tâm nhất trí hay Đồng thanh nhất trí” trong một giáo xứ.
“Ca đoàn như một Cộng đoàn trong Cộng đoàn các tín hữu hay Cộng đoàn Dân Chúa – Giáo Hội – Thân mình Đức Kitô. Là một hội đoàn, một hội hát, một ban hợp ca, đồng ca…, một “đoàn thể tông đồ” trong Cộng Đoàn Dân Chúa, trong Giáo xứ… có nhiệm vụ hay sứ mạng hát lễ, cất hát… những bài ca, các thánh thi, thánh vịnh, vinh tụng ca… trong nhà thờ, trong các cuộc cử hành phụng vụ…” (Hướng dẫn Mục vụ Thánh nhạc, số 29).
Ca đoàn được mời gọi, quy tụ lại với nhau như một Cộng đoàn, một lối sống Tin Mừng trong Cộng đoàn các tín hữu được các Kitô hữu, như các chi thể hợp thành Thân Mình Đức Kitô. Theo dòng lịch sử cứu độ Thiên Chúa tự tỏ lộ, mặc khải chính mình như là Đấng yêu thương con người, muốn kề cận gặp gỡ con người, nên đã mời gọi quy tụ, tuyển chọn, thánh hóa và thánh hiến con người bằng cách quy tụ con người vào một Cộng đoàn Dân Chúa, Cộng đoàn Giáo Hội.
Hay nói cách khác, Kinh Thánh mặc khải cho chúng ta biết trong lịch sử Thiên Chúa tìm mọi cách để cứu độ con người, không như những cá nhân lẻ loi, đơn độc, nhưng đưa con người vào trong một Cộng đoàn, kết giao thành một Cộng đoàn. Cộng đoàn các tín hữu là những người đã được rửa tội, được mời gọi, được quy tụ lại nhân danh Đức Kitô, để sống với nhau như một Giáo Hội.
Và Giáo Hội được thiết lập như một Cộng đoàn, nên được gọi là “Dân Thiên Chúa”, dân được thánh hiến cho Chúa, hoàn toàn thuộc về Chúa, dưới sự che chở phù trì, bảo trợ của Chúa – Giáo Hội cũng là “Thân Mình Đức Kitô”: Người là Đầu và tất cả đều là các chi thể hiệp thông cùng một sự sống và tình yêu, cùng hoạt động với nhau, hài hòa liên đới với nhau như các bộ phận mang trách nhiệm tương tác với nhau, hiệp thông với Đức Kitô và với nhau.
Và Giáo Hội là “Đền Thờ Chúa Thánh Thần”, để các tín hữu là một dân tư tế, tôn thờ, chuyên lo việc phụng tự, cử hành các mầu nhiệm thánh, hy lễ cứu độ, chúc tụng, ngợi khen, tạ ơn và cầu khấn.
Ca đoàn sống hiệp hành giữa lòng Cộng đoàn Giáo Hội, “đồng tâm nhất trí”, một lòng một ý với nhau (đồng nghị), cùng nhìn về một hướng, hiệp thông với nhau và đồng hành, cùng một dự án sinh hoạt, cùng nhau đi tới để thi hành sứ vụ thánh nhạc, thi hành ý Chúa, đúng với ơn gọi của mình.
Như chứng từ của các tín hữu tiên khởi trong Công Vụ Tông Đồ (Cv 4, 32); như trong từ ngữ hiệp hành, từ cội nguồn và lịch sử Giáo Hội, luôn hàm ý: Cùng nhau quy tụ – Cùng nhau hội nghị, trao đổi ý kiến, bàn luận và phân định – Để cùng tham gia, cộng tác và đồng hành với nhau, cùng nhau đi tới đích điểm – hướng tới Thiên Chúa, cùng đi với Đức Kitô, Đấng đã kêu mời và tập hợp chúng ta, để chúng ta cùng hành trình, đồng hành với Người và với nhau. Người cũng chính là con đường cho chúng ta đi, là “Đạo” của chúng ta. Người như ngọn đèn soi cho chúng ta bước nhờ sức mạnh thúc đẩy linh hứng của Chúa Thánh Thần.
Vì hiệp hành bởi tiếng hay nguyên ngữ “Synodos” = gồm “Syn”: cùng nhau, và “hodos”: con đường.
Ca đoàn sống đúng với định nghĩa, bản chất đích thực và lý do hiện hữu của mình, chẳng phải là “hiệp hành” đó sao? Như mọi thành viên được kêu mời và tập hợp lại trong cùng một lối sống Tin Mừng cách riêng biệt, đặc thù, hay ơn gọi chuyên biệt, đặc biệt, hay như là “đặc sủng”, là lòng yêu mến thánh nhạc và phụng vụ. Các Kitô hữu, các thành viên được tuyển chọn giữa Cộng đồng dân Chúa nhờ vào khả năng chuyên môn về âm nhạc để thi hành thừa tác vụ hát thánh ca trong các thánh lễ và các nghi lễ cử hành Phụng vụ. Ca đoàn hiệp hành sống động giữa lòng Cộng đoàn Dân Chúa, dùng lời ca tiếng hát mà thánh hóa chính mình và giúp thánh hóa các tín hữu khác.
2. Ca đoàn – Hiệp hành – “Hiệp nhất và Đa dạng”
Như thế, Ca đoàn được thiết lập, sinh hoạt và hiện hữu, hiện diện trong Cộng đoàn Giáo Hội như một hội đoàn, một đoàn thể Tông đồ với cùng một dự án thánh nhạc phụng vụ, cùng một tâm tình, một chí hướng trong sự “hợp nhất và đa dạng”.
Bởi lẽ, Ca đoàn như một Ban hợp xướng, có nghĩa là cùng hát, cùng xướng lên một ca khúc, gồm nhiều giọng ca, nhiều bè hát khác nhau, có các ca viên có chuyên môn, năng khiếu tự nhiên hay chịu khó luyện tập… Hợp xướng được cất lên bởi một “hội hát” mang sắc thái trình bày, diễn tả bằng giọng ca gồm nhiều bè, nhiều giọng cùng với tiếng đàn, nhịp trống.
Thánh nhạc là một loại hình diễn tấu tập thể, một môn nghệ thuật có khả năng liên kết thống nhất, tình cảm, ý chí và tư tưởng của con người, “hiệp nhất trong đa dạng” và “đa dạng trong sự hiệp nhất” các giọng ca bè hát trầm bổng, cao thấp để “hiệp hành” cùng nhau thể hiện sự hòa điệu, hợp âm và đi tới nội dung ý nghĩa đích thực của âm nhạc là siêu thoát, rung động, chạm tới cõi siêu việt, mênh mông vô biên vô tận, vào “trái tim” con người hay “nâng cao tâm hồn” lên tới Thiên Chúa qua một tác phẩm âm nhạc. Hợp xướng như thế được nhìn nhận như là “đỉnh cao” của nghệ thuật hát bè, hòa hợp với các cung giọng nam cao và nữ cao, hay nam trung và nam trầm, nữ trung và nữ trầm v.v…. làm phong phú màu sắc hòa âm, tấu lên các giai điệu truyền cảm khác nhau.
Ca đoàn như một ban hợp xướng, một “hợp âm” mỗi khi vang lên thì các thành tố trong hợp âm phải chuẩn xác về cao độ và âm thanh, dung hòa về âm lượng và đồng nhất về âm sắc. Hay có thể nói, các âm thanh và nốt nhạc giữa các giọng phải hòa quyện với nhau, sự đồng đều, hòa hợp.
Như các bè phải cân bằng dung hợp, bè này không lấn át, đè nén bè kia (còn phải biết nhường nhau). Tất cả mọi ca viên trong từng bè, mọi ca viên trong bản hợp xướng phải hiệp thông, tương tác, tương hợp với nhau, nghĩa là cho tiếng hát của mình “hiệp hành” với các ca viên khác để cùng hướng tới một sự thống nhất, hài hòa, đồng thanh tương ứng tuân theo những quy định của tác giả và tác phẩm, để hát đúng các yêu cầu… tạo nên bản hợp xướng
Để đạt tới nghệ thuật diễn tả và thể hiện, truyền cảm hứng và “nâng tâm hồn” con người lên tới chân trời mênh mông siêu thoát của thế giới tinh thần rộng mở, vẻ đẹp đích thực của thánh nhạc, là “gặp gỡ” với Thiên Chúa trong hợp xướng cần có những hiểu biết về kỹ thuật thanh nhạc, hiểu biết về thánh nhạc, phụng vụ…, phải có thời gian luyện tập cùng nhau thì mới có thể hát hay, hát đẹp và hòa điệu. Nói khác đi, đó chẳng phải là “hiệp hành” sao? Vì phải cùng nhau khởi hành, cùng nhau bước đi với, cùng nhau hòa chung một nhịp điệu, cùng hòa ca, cùng hòa âm, phối kết.
Như thế các thành viên trong Ca đoàn phải có tai nghe tốt để không hát sai, không hát chênh phô, không làm hỏng giai điệu… Lắng nghe nhau hát và để cho nhau hát những gì được phân chia hay từng phần hay đồng ca cũng là “hiệp hành” trong lời ca tiếng hát, cùng nhìn về một hướng…. Ca đoàn làm nên các ca viên và các ca viên làm nên Ca đoàn vì tinh thần và tính hiệp hành này.
Như từng người tín hữu, bất kể chức năng nhiệm vụ hay trách nhiệm của mình trong Giáo Hội đều là một chủ thể làm nên Giáo Hội và là con người của Giáo Hội, cùng nhau bước đi theo Đức Kitô và cùng đi trên một con đường là Đức Kitô, ca đoàn cũng thế.
Giáo Hội là Thân Mình mầu nhiệm của Đức Kitô, các ca viên trong một Ca đoàn trong Cộng đoàn Giáo Hội cũng diễn tả mầu nhiệm ấy, diễn tả không những bằng việc quy tụ quanh Đức Kitô nhưng còn bằng sự hiệp nhất nên một trong Người, trong Thân Mình của Người.
Nhờ tham dự Thánh Lễ, cử hành phụng vụ bí tích Thánh Thể, chúng ta được nâng lên đến sự hiệp thông với Người và với nhau, đó cũng là được “hiệp hành” với Người và với nhau mà chúc tụng ngợi khen cảm tạ Thiên Chúa.
Sự hiệp hành của Ca đoàn làm phát sinh và phát triển đức mến giữa các ca viên. Đức mến là dây liên kết trọn hảo. Đức mến chính là tâm điểm của “hiệp hành” làm nên Ca đoàn hiệp hành, đưa Ca đoàn thăng tiến và tới được đích điểm của thánh nhạc là “nâng tâm hồn” lên tới Chúa, làm vinh danh Chúa; là ra khỏi chính mình, xuất thần, vào cõi siêu việt, vào chân trời vô biên của Thiên Chúa…. Sự hiệp hành này sẽ chiến thắng mọi chia rẽ phàm nhân, để tất cả được nên một trong Chúa.
Thư 1Cr 12, 4-11: Đặc sủng tuy nhiều, nhưng chung một cội nguồn.
Có nhiều đặc sủng khác nhau, nhưng chỉ có một Thần Khí. Có nhiều việc phục vụ khác nhau, nhưng chỉ có một Chúa. Có nhiều hoạt động khác nhau, nhưng vẫn chỉ có một Thiên Chúa làm mọi sự trong mọi người. Thần Khí tỏ mình ra nơi mỗi người một cách, là vì ích chung. Người thì được Thần Khí ban cho ơn khôn ngoan để giảng dạy, người thì được Thần Khí ban cho ơn hiểu biết để trình bày. Kẻ thì được Thần Khí ban cho lòng tin; kẻ thì cũng được chính Thần Khí duy nhất ấy ban cho những đặc sủng để chữa bệnh. Người thì được ơn làm phép lạ, người thì được ơn nói tiên tri; kẻ thì được ơn phân định thần khí; kẻ khác thì được ơn nói các thứ tiếng lạ; kẻ khác nữa lại được ơn giải thích các tiếng lạ. Nhưng chính Thần Khí duy nhất ấy làm ra tất cả những điều đó và phân chia cho mỗi người mỗi cách, tuỳ theo ý của Người….
Như thế, không có chia rẽ trong thân thể, trái lại các bộ phận đều lo lắng cho nhau. Nếu một bộ phận nào đau, thì mọi bộ phận cùng đau. Nếu một bộ phận nào được vẻ vang, thì mọi bộ phận cũng vui chung. Vậy anh em, anh em là thân thể Đức Kitô, và mỗi người là một bộ phận …
…. Trong các ân huệ của Thiên Chúa, anh em cứ tha thiết tìm những ơn cao trọng nhất. Nhưng đây tôi xin chỉ cho anh em con đường trổi vượt hơn cả…. (1Cr 12, 14-31)
… “Hiện nay đức tin, đức cậy, đức mến, cả ba đều tồn tại, nhưng cao trọng hơn cả là đức mến” (1Cr 13, 1-13).
3. Ca đoàn – Hiệp hành để xây dựng, kiến tạo sự hiệp hành trong Cộng đoàn Dân Chúa.
“Vậy, thưa anh em, phải kết luận thế nào? Khi anh em hội họp, người thì hát thánh ca, người thì chỉ huy, người thì đệm đàn, người thì giảng dạy, người thì nói lời mặc khải, người thì nói tiếng lạ, người thì giải nghĩa: tất cả những điều ấy đều phải nhằm xây dựng Hội Thánh” (x. 1Cr 14, 26-27). … “Nhưng hãy làm mọi sự cách trang nghiêm và có trật tự…” (1Cr 14, 40).
Vai trò và nhiệm vụ của Ca đoàn trong thời điểm này là hiệp hành để xây dựng, kiến tạo tinh thần hiệp hành trong Cộng đoàn Dân Chúa.
Vì góp phần trong công việc cử hành phụng vụ, thờ phượng Thiên Chúa, nên Ca đoàn có một vai trò và nhiệm vụ cao cả linh thánh như một đặc sủng. Mỗi ca viên đảm nhận tác vụ âm nhạc trong cử hành thánh như các tác viên không có chức thánh khác (đọc sách, giúp lễ, trao Mình Thánh Chúa trong thánh lễ …)
Ca đoàn thể hiện, diễn tả những hình thể nghệ thuật thánh nhạc sao cho thật hay, thật đẹp, theo các giai điệu cung giọng cung bậc xứng hợp, trang trọng để tôn vinh thờ phượng Thiên Chúa và thánh hóa các tín hữu – đây chính là “Hiệp hành” với hết tâm tình và lời cầu nguyện, vừa cảm động, vừa có lòng yêu mến, có hồn, có lửa sống động, có sức nâng tâm hồn các tín hữu lên cùng Thiên Chúa, lên tới đỉnh thiêng của sự gặp gỡ và hiệp nhất với Thiên Chúa.
Ca đoàn tỏa chiếu trên cộng đoàn các tín hữu họp nhau lại, nhân danh Đức Kitô và Giáo Hội, một nguồn sáng rực rỡ “như thấy được dung mạo” gương mặt “vinh quang” của Đấng Phục Sinh ngay “ở đây và lúc này” trong cuộc cử hành Thánh Lễ.
Nhờ sức mạnh “siêu hình” thanh thoát của nghệ thuật thánh nhạc, Ca đoàn có thể vươn lên, hiệp hành hướng tới vẻ đẹp rạng ngời của Phụng Vụ và đích điểm của cầu nguyện là khát mong tìm về gặp gỡ Thiên Chúa và kết hợp với Người. Đó chính là hiệu quả và đích điểm của ơn cứu độ. Như thế, họ có thể giúp cộng đoàn cử hành mầu nhiệm cứu độ trong những điều kiện thuận lợi khi chính họ thông phần mật thiết vào các ơn ích của mầu nhiệm đó.
“Khi ta nâng chén chúc tụng mà cảm tạ Thiên Chúa, há chẳng phải là dự phần vào Máu Đức Kitô ư? Và khi ta cùng bẻ Bánh Thánh, đó chẳng phải là dự phần vào Thân Thể Người sao? Bởi vì chỉ có một Tấm Bánh, và tất cả chúng ta chia sẻ cùng một Bánh ấy, nên tuy nhiều người, chúng ta cũng chỉ là một thân thể” (1Cr 10,16-17).
4. Ca đoàn – Hiệp hành là tham gia và hòa nhập vào sứ vụ loan báo Tin Mừng của Giáo Hội
Sự hiệp thông hiệp hành trong Ca đoàn là dấu chứng nói lên rằng Đức Kitô là con đường dẫn tới Thiên Chúa – Vì hiệp hành là hiệp thông với nhau và đồng hành cùng nhau đi tới, hướng tới Thiên Chúa. Hiệp hành là con đường vươn tới, và đích điểm của hiệp hành chính là sự hiệp nhất trọn vẹn với Thiên Chúa.
Ca đoàn làm chứng cho Đức Kitô, đóng vai trò thâu kết và liên kết muôn người trong Giáo Hội, trong giáo xứ, trong gia đình, xã hội và thế giới. Ở bất cứ nơi đâu, người có tinh thần hiệp hành sẽ lan tỏa hiệp hành và thu hút người khác vào hiệp hành, vào Đạo, vào với chính Thân Mình Đức Kitô là Giáo Hội. Ca đoàn thực hiện sứ mạng loan báo Tin Mừng bằng tinh thần hiệp hành và hiệp lực khi hát trong nhà thờ, trong gia đình, trong xã hội… để tất cả mọi người được trở nên con cái Thiên Chúa trong gia đình của Chúa, để tất cả mọi người được nhận biết chân lý và được ơn cứu độ… (1Tm 2, 3-4).
Qua đặc sủng hát thánh ca với tâm tình hiệp hành, Ca đoàn có thể như tiếng hát ngân lên trong thế giới, như tiếng mời gọi muôn dân tham gia vào con đường của Giáo Hội, vào Đạo dẫn đến sự sống vĩnh hằng, tới hạnh phúc đời đời, tới Thiên Chúa là Tình Yêu và là Sự Sống… là Chân Thiện Mỹ, là Quê Hương, là Cùng Đích…
Tiếng hát ngọt ngào của Ca đoàn có sức thu hút và có hiệu quả tỏa lan ảnh hưởng của sự hiệp hành ra thế giới chung quanh mình…
Muốn chạm tới tâm hồn người nghe, tiếng hát của Ca đoàn cần phải chất chứa tinh thần hiệp hành, hiệp lực, người hát cần phải có tâm hồn đạo đức và tâm tình cầu nguyện, yêu mến Chúa, có lòng thương yêu con người và biết rung cảm để diễn đạt tất cả bằng lời ca tiếng hát của một đời sống đức tin đích thực.
Ca đoàn cũng thi hành sứ mạng “Phúc âm hóa” âm nhạc, thánh hóa bài ca giọng hát trong phụng vụ, để thờ phượng, chúc tụng cảm tạ Thiên Chúa. Vì thế, Ca đoàn phải biểu lộ sự thánh thiện và diễn tả được đỉnh cao và vẻ đẹp nghệ thuật thánh nhạc. Để đạt được những điều đó, yếu tố quan trọng chính là tinh thần hiệp hành, không độc diễn, không lẻ loi đơn độc, độc điệu cá nhân, nhưng hài hòa phối kết, hòa điệu hiệp thông với mọi người đề hiệp hành cùng với mọi người hướng tâm hồn lên với Chúa.
Như hoa hướng dương… hướng về mặt trời, Ca viên cùng nâng tâm hồn lên, hiệp hành trong lời ca tiếng hát…như đưa cả nhân loại và muôn loài thụ tạo lên Thiên Chúa, là Đấng sáng tạo, thánh hóa và cứu độ muôn người.
Sứ mạng của ca đoàn là loan báo Tin Mừng cho muôn dân. Khởi đi từ cuộc cử hành phụng vụ trong nhà thờ ra đến xã hội, Ca đoàn hiện diện ở bất cứ nơi đâu có những con người hiệp hành và phát huy sự hiệp hành ấy. Ca đoàn loan báo và cổ vũ ý nghĩa của hiệp hành cũng là ý nghĩa căn bản của cuộc sống trên đời này, ý nghĩa và bản chất của Giáo Hội, của con đường Đức Kitô…. để trong Người mà tất cả có thể đạt tới sự hiệp nhất chung cuộc… Sự hiệp nhất vạn thể trong Thiên Chúa là tất cả mọi sự cho mọi người. Và như thế, mọi người được ở cùng Thiên Chúa, được tháp nhập vào mối tương quan tương thuộc cấu thành bản tính duy nhất của Người, nghĩa là được thông phần vào một sự sống đích thực với Thiên Chúa.
Thư Ep 1, 1- 11:
Người cho ta được biết thiên ý nhiệm mầu: thiên ý này là kế hoạch yêu thương Người đã định từ trước trong Đức Kitô. Đó là đưa thời gian tới hồi viên mãn là quy tụ muôn loài trong trời đất dưới quyền một thủ lãnh là Đức Kitô. Cũng trong Đức Kitô, Thiên Chúa là Đấng làm nên mọi sự theo quyết định và ý muốn của Người, đã tiền định cho chúng tôi đây làm cơ nghiệp riêng theo kế hoạch của Người…
Chúng ta có thể tìm thấy yếu tố cốt lõi làm nảy sinh căn tính và chân tính của Giáo Hội, cũng như bản chất của Đạo Kitô, đó chính là hiệp thông đồng hành, là “hiệp hành” cùng nhau đi tới Thiên Chúa, đạt tới Thiên Chúa. Và có Chúa là có Thiên Đàng và sự sống đời đời. Mất Chúa là mất tất cả.
Tất cả được quy tụ trong chân trời hiệp thông hoàn vũ của Nước Thiên Chúa, nơi Đấng là Cội Nguồn Sự Sống hiển trị và Tình Yêu siêu vượt tiếp đón tất cả để “vĩnh viễn ở cùng tất cả mọi người” (Kh 4,21).
Vì cuộc cử hành Thánh Lễ lôi kéo chúng ta vào hiệp hành, mà tự bản chất, hiệp thông đồng hành hay “hiệp hành”, cùng nhau đeo theo Đạo đến với Chúa, là truyền giáo, là Phúc Âm hóa.
Ca đoàn có thể tỏ cho mọi người thấy Đức Kitô một cách cụ thể nơi hoạt động thánh nhạc của Ca đoàn, nơi cuộc sống bản thân trong Cộng đoàn Giáo Hội. Hiệp hành và rao giảng Tin Mừng cứu độ là hai hoạt động luôn gắn kết mật thiết với nhau, tựa như sự thống nhất giữa truyền thống sống động giữa “quy luật đức tin” (lex credendi) với “quy luật cầu nguyện” (lex orandi) với nhau, giữa “quy luật cử hành” (lex celebrandi) với “quy luật sống” (lex vivendi) – tất cả hợp nhất trở thành một thực tại… Để rồi khi dân Thiên Chúa được quy tụ lại với nhau thành một Cộng đoàn đồng tâm nhất trí, hiệp hành với nhau, thì lúc đó mới có được sự khả tín thực sự, mới có thể thuyết phục được thế giới… và mời gọi được thế giới vào sự hiệp hành trong Giáo Hội…
Vì thế, chúng ta chẳng “mắc nợ gì ai ngoài món nợ tình yêu tương thân tương ái” (Rm 13,8). Tình yêu mời gọi tình yêu, nên sau khi được Thánh Thể biến đổi, chúng ta đi góp phần biến đổi thế giới xung quanh bằng chính ân huệ hiệp thông mà chúng ta lãnh nhận trong cuộc cử hành phụng vụ. Chúng ta vui mừng bước đi với niềm xác tín rằng mình đang theo chân Đức Kitô đến với mọi người để xây dựng tình hiệp thông như một lễ vật ngát hương trong Nước Thiên Chúa. Vì “điều chúng tôi đã thấy và đã nghe, chúng tôi loan báo cho cả anh em nữa, để chính anh em cũng được hiệp thông với chúng tôi” (1Ga 1,3)
Ca đoàn có thể kiến tạo và loan báo tình hiệp thông, hiệp hành như một lễ vật ngát hương dâng lên Thiên Chúa và như tiếng mời gọi mọi người tìm đến Nước Thiên Chúa. Vì “điều chúng tôi đã thấy và đã nghe, chúng tôi loan báo cho cả anh em nữa, để chính anh em cũng được hiệp thông… (hiệp hành) … với chúng tôi” (1Ga 1,3).
Ngày 14.05.2022
Trích: Tập san Hương Trầm của Ủy ban Thánh nhạc / Hội đồng Giám mục Việt Nam, số 34
2023
Sứ điệp Đức Thánh Cha gởi cộng đoàn Công giáo Việt Nam
Sứ điệp Đức Thánh Cha gởi cộng đoàn Công giáo Việt Nam
Gửi cộng đoàn Công giáo Việt Nam nhân dịp công nhận
Thoả thuận về Qui chế cho Đại diện thường trú của Toà Thánh
và Văn phòng Đại diện thường trú của Toà Thánh tại Việt Nam
Quý Giám mục, Linh mục, anh chị em Tu sĩ và cộng đồng Dân Chúa tại Việt Nam thân mến,
Nguyện xin ân sủng và bình an của Chúa ở cùng anh chị em. Chúng ta hãy vui mừng tạ ơn Chúa, vì tình yêu của Chúa vĩnh cửu và luôn mãi tín trung.[1]
Tôi ao ước gửi thư này đến anh chị em, nhân dịp công nhận Thoả thuận giữa Chính phủ nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và Toà Thánh về Qui chế cho Đại diện thường trú của Toà Thánh tại Việt Nam. Đức tin của Hội Thánh Công giáo trên quê hương của anh chị em được sinh ra và lớn mạnh qua bao thế hệ, đã đặt nền tảng trên giới răn: “Ngươi phải yêu mến Chúa là Thiên Chúa ngươi hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi” (Mt 22, 37-38). Quả vậy, đức ái là thước đo của đức tin, và đức tin là linh hồn của đức ái, và chớ quên rằng lòng yêu mến Thiên Chúa và yêu thương tha nhân là hai mặt của cùng một đồng tiền.[2]
Theo chiều hướng của các tương quan tốt đẹp được ghi nhận trong những năm vừa qua, cùng với niềm hy vọng vị Đại diện Toà Thánh sẽ là cầu nối để phát triển quan hệ song phương, tôi đã vui mừng chào đón ông Võ Văn Thưởng, Chủ tịch nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, nhân dịp chuyến thăm chính thức đến Vatican ngày 27 tháng 7 vừa qua. Cuộc gặp này có ý nghĩa quan trọng trong tiến trình tăng cường mối quan hệ giữa Toà Thánh và Việt Nam. Về dân tộc Việt Nam, thánh Gioan Phaolô II đã nói rằng ai cũng biết và đánh giá cao chứng từ về lòng can đảm trong công việc, về sự kiên trì trong hoàn cảnh khó khăn, về cảm thức gia đình cũng như các đức tính tự nhiên khác.[3]
Dựa trên sự tin tưởng lẫn nhau được xây dựng từng bước trong nhiều năm qua, và được củng cố bằng các chuyến thăm thường niên của phái đoàn Toà Thánh cũng như các cuộc họp của Nhóm làm việc chung giữa Việt Nam và Toà Thánh, cả hai bên đã có thể cùng nhau tiến tới và sẽ còn tiến nữa, nhờ nhìn nhận những điểm tương đồng và tôn trọng những khác biệt. Hơn thế nữa, hai bên đã có thể đồng hành, lắng nghe nhau và hiểu nhau. Dù mỗi bên có sự khác biệt về lịch sử và kinh nghiệm sống, điều đó không thể ngăn cản cùng nhau đi tìm con đường tốt nhất để phục vụ thiện ích của dân tộc Việt Nam và Hội Thánh.
Theo giáo huấn trong Thư gửi Diognetus, một bản văn từ thế kỷ thứ hai sau Công nguyên, các Kitô hữu ở trong thế gian nhưng không thuộc về thế gian, nên dấu ấn cuộc sống của họ là ưu tiên thực thi bác ái, bằng cách sống Phúc Âm giữa lòng dân tộc và đồng hành với dân tộc qua nỗ lực phát triển quân bình về xã hội và kinh tế. Như vậy, các tín hữu Công giáo, hoặc qua việc xây dựng Hội Thánh bằng cách cộng tác vào sinh hoạt mục vụ với tinh thần đồng trách nhiệm, hoặc một cách đặc biệt, đem tinh thần Phúc Âm vào các thực tại trần thế, họ sẽ thể hiện căn tính của mình là người Kitô hữu tốt và là công dân tốt. Trong viễn cảnh này, khi thực hiện được những điều kiện thuận lợi cho việc thực hành tôn giáo cách tự do, các tín hữu Công giáo sẽ có thể tăng cường đối thoại và mang lại niềm hy vọng cho đất nước.
Anh chị em là con cái của Hội Thánh và đồng thời là công dân Việt Nam, như Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI năm 2009 đã nhắc lại cho các Giám mục Việt Nam: “Hội Thánh kêu gọi các tín hữu hãy chân thành dấn thân xây dựng một xã hội chính trực, liên đới và công bằng. Hội Thánh tuyệt đối không có ý định thay thế các vị lãnh đạo chính quyền, nhưng chỉ ước mong có thể tham gia cách chính đáng vào đời sống của đất nước, để phục vụ dân tộc, trong tinh thần đối thoại và cộng tác với sự tôn trọng”.[4]
Ngày nay, hơn bao giờ hết, chúng ta cần thực thi bác ái một cách cụ thể, nghĩa là phải có một quyết định hành động cụ thể cho con người, như đã được thực hiện trong mầu nhiệm Vượt qua và được Hội Thánh không ngừng thể hiện trong suốt dòng lịch sử, vì “trong mọi nơi và ở bất kỳ hoàn cảnh nào, các Kitô hữu … được mời gọi lắng nghe tiếng than khóc của người nghèo khổ”.[5] Chính tinh thần này đã không ngừng thúc đẩy cộng đoàn Công giáo của anh chị em có những đóng góp tích cực và ý nghĩa để phục vụ dân tộc, đặc biệt trong đại dịch Covid-19. Quả vậy, nhờ sự khuyến khích của từng Giám mục và Hội đồng Giám mục, Hội Thánh tại Việt Nam đã chứng tỏ mình là men trong xã hội, bằng cách đồng hành với sự phát triển của xã hội và đóng góp vào sự phát triển ấy với tư cách là những tín hữu có trách nhiệm và đáng tin.
Trong Thư Mục vụ năm nay, các Giám mục của anh chị em đã nhắc nhở và thúc đẩy anh chị em tham gia vào đời sống cộng đoàn qua việc yêu thương nhau, chân thành lắng nghe và thực thi đức ái, ngay cả với những anh chị em không cùng niềm tin, bằng cách quan tâm chăm sóc những người yếu kém và những người cùng khổ nhất.
Anh chị em tại Việt Nam thân mến, các tín hữu Công giáo vốn luôn sẵn sàng đáp ứng những nhu cầu thường ngày của tha nhân một cách hiệu quả và tham gia đóng góp cho thiện ích chung trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội trên đất nước mình; anh chị em được mời gọi thực thi giáo huấn của Chúa Giêsu là trở thành “ánh sáng của thế gian và muối của đất” để “ánh sáng của các con chiếu tỏa trước mặt thiên hạ để họ thấy những việc làm tốt lành của các con và tôn vinh Cha các con trên trời” (Mt 5, 16).
Sáu mươi năm trước, trong thông điệp gửi toàn thế giới để kêu gọi mọi người chung sức xây dựng hoà bình, thánh Gioan XXIII đã viết: “Chúng ta hi vọng rằng, khi gặp gỡ và đàm phán với nhau, người ta sẽ nhận thức rõ hơn mối dây liên kết họ với nhau phát xuất từ chỗ cùng mang chung một bản tính nhân loại, và họ cũng khám phá ra rằng một trong những đòi hỏi sâu xa nhất của bản tính nhân loại chung là giữa họ với nhau và giữa các dân tộc, chính tình yêu phải ngự trị, chứ không phải nỗi sợ hãi, và tình yêu ấy biểu lộ qua sự cộng tác chân thành, đa dạng, đem lại nhiều thiện ích”.[6]
Tôi nài xin Thiên Chúa soi sáng và hướng dẫn anh chị em, để trong cuộc sống và trong các tương quan với chính quyền dân sự và với tất cả mọi người, không phân biệt tôn giáo, sắc tộc hay văn hoá, anh chị em biết cách làm chứng cho tình yêu và lòng bác ái của Chúa Giêsu, để tôn vinh Thiên Chúa.
Để kết thúc bức Thư thân tình này, tôi hi vọng rằng anh chị em, quý Giám mục, Linh mục, Tu sĩ và toàn thể Dân Chúa, sẽ trở nên can đảm theo gương Chúa Giêsu. Xin Đức Mẹ La Vang đồng hành cùng anh chị em, và nhờ lời chuyển cầu đầy tình mẫu tử của Đức Mẹ, xin Chúa là Cha giàu lòng thương xót chúc lành và ban muôn ân sủng cho toàn thể Hội Thánh Công giáo tại Việt Nam, cũng như cho đất nước và dân tộc Việt Nam yêu dấu.
Franciscus
Vatican, ngày 8 tháng 9 năm 2023
Lễ Sinh Nhật Đức Mẹ
[1] cfr. Angelus, 10 novembre 2013.
[2] cfr. Angelus, 26 ottobre 2014.
[3] cfr. Giovanni Paolo II, Radiomessaggio al popolo del Viet Nam, 10 maggio 1984.
[4] Benedetto XVI, Discorso ai Vescovi della Conferenza Episcopale del Viet Nam in visita ad limina apostolomm, 27 giugno 2009.
[5] Evangelii gaudium, n. 191.
[6] Giovanni XXIII, Pacem in terris, n. 67.
2023
NHỮNG ĐỨC TÍNH LÀM NGƯỜI
|
NHỮNG ĐỨC TÍNH LÀM NGƯỜI
Vào tới đất hứa, hai trăm năm đầu, dân Ít-ra-en chưa tổ chức thành quốc gia quân chủ. Họ chỉ có các thủ lãnh, còn gọi là các thẩm phán. Vị thủ lãnh cuối cùng và cũng là vị thủ lãnh được mến mộ nhất là ngôn sứ Samuel (x. Hc 46,23-20)
Để làm tròn nhiệm vụ một thủ lãnh lúc đó, không phải dễ. Phải là người có uy, có dũng, có tài, có đức mới đủ sức lãnh đạo một dân nổi tiếng là “cứng đầu cứng cổ”. Phải làm sao vừa có khả năng giúp dân chống ngoại xâm, vừa có khả năng giúp họ luôn trung thành với giao ước, không chạy theo lối sống của các dân ngoại chung quanh. Một nhiệm vụ đầy khó khăn, thế nhưng Samuel đã làm tròn (x. 1 Sm 7,2-17). Đạo đức, can đảm, sáng suốt, thanh liêm, khiêm tốn, đó là những đức tính nổi bật nơi con người của Samuel. Chính nhờ đó, mà nền quân chủ của Ít-ra-en đã ra đời (x. 1 Sm 8,6-22). Tuy nhiên, sẽ không có được một Samuel như vậy nếu ngay từ tấm bé ông đã không biết chuyên cần rèn luyện bản thân. Sách Samuel đã làm nổi bật điểm đó một cách ý nhị khi đang kể về thời niên thiếu của Samuel, đã xen vào một đoạn nói đến đám con hư hỏng của cụ Hêli, để rồi trở lại kết luận: “Còn trẻ Samuel, cứ lớn lên và càng được đẹp lòng cả Giavê lẫn người ta” (x. 1 Sm 2,18-26).
Để sống cho ra sống, để trở thành một con người đầy khí phách và hiên ngang, trưởng thành về mọi mặt, Samuel và biết bao người đã nỗ lực. Và họ đã đạt tới được. Còn chúng ta đây, tại sao không?
I. HÃY SỐNG CHO RA NGƯỜI, NẾU BẠN MUỐN SỐNG CHO RA NGƯỜI KITÔ HỮU.
1. “Nhân bất nhân, nhân tai! Nhân tai”
Đã là người, ai cũng phải có nhân cách. Nhân cách không phải chỉ là thói ăn nết ở riêng của mỗi người, nhưng quan trọng hơn, còn là những phẩm chất và phong cách mà ai cũng phải có, để xứng đáng được gọi là người. Về điều này, cụ Phan Bội Châu đã để lại cho ta một câu đáng suy nghĩ: “Nhân bất nhân, nhân tai! Nhân tai!”, nghĩa là: “Làm người mà chẳng sống ra người, thế có phải là người được ư? Thế có phải là người được ư? Đã không ra người được, tức là cầm thú. Cái tội vô nhân cách chẳng đau đớn lắm hay sao?” (Khổng học đăng II, trang 525).
2. Học làm người:
Muốn sống cho ra người để “nhìn lên không hổ với trời, ngó xuống không thẹn với đất”, ta cần phải học làm người. Quả thực, khi sinh ra, tuy được gọi là người, nhưng ta chưa “thành nhân”. Để được gọi là “đạt nhân”, phải gồm vẹn toàn cả bốn mặt: trí thức, đạo đức, thể lực và tài nghệ. Chính vì vậy mới cần có giáo dục. Giáo là khai sáng, dạy bảo, dục là nuôi dưỡng. Một nền giáo dục đầy đủ phải gồm cả trí dục, đức dục, thể dục và huấn nghệ. Trong các mặt trên, đức dục thường bị coi nhẹ, thế nhưng nó lại là phần quan trọng, nếu không nói là nòng cốt để giúp ta nên người, bởi vì: “Giáo dục mà bỏ lãng đức dục, chỉ lo thi đua lấy bằng cấp, thì càng cất thêm nhiều trường học bao nhiêu sẽ càng phải xây thêm nhiều bót cảnh sát, toà án, trại giáo hoá, nhà tù và bệnh viện hơn bấy nhiêu” (Feurzinger).
Nếu việc trau dồi nhân cách, tập luyện các đức tính làm người, là điều thiết yếu đối với một con người bình thường, thì đối với Kitô hữu chúng ta, nó lại càng thiết yếu hơn. Công đồng Vaticanô II đã khẳng định: “Không có những đức tính ấy không thể có đời sống Kitô hữu đích thực” (TĐ4). Nếu không có đời sống Kitô hữu đích thực, chẳng những ta không ướp mặn được trần gian này, mà không khéo còn “gây thêm ô nhiễm môi sinh” vì trở thành những tấm men ôi, những ngọn đèn mờ! (x. Mt 5,13-16; 1Cr 10,31-33).
Vậy, để có thể vươn tới con người trưởng thành về mặt nhân bản, ta cần trau dồi những đức tính nào?
II. CÁC ĐỨC TÍNH NHÂN BẢN QUAN TRỌNG A. Đối với bản thân
1. CẦN: siêng năng làm việc và làm đến nơi đến chốn.
Siêng năng chính là chiếc chìa khoá đầu tiên mở ra cho ta cánh cửa tương lai. Có chăm chỉ học hành, cần mẫn làm việc, ta mới hoàn thiện được bản thân, đem lại cho mình và cho xã hội một cuộc sống xứng đáng là con người, đồng thời góp phần hoàn thành chương trình của Thiên Chúa trên đời ta và trên thế giới.
Muốn làm việc cho có kết quả, cần suy tính, cần chuẩn bị trước những gì cần. Khi đã bắt tay vào việc, cần tận tâm, tận lực, như thể “Chúa sinh ra tôi chỉ vì một việc tôi đang làm mà thôi. Làm hẳn hoi việc đó xong là đủ nên thánh!” (ĐGH Gioan 23, Nhật ký tâm hồn, số 140). Không bao giờ ỷ lại, làm biếng. Không để ngày mai việc gì có thể làm ngay hôm nay.
2. KIỆM: tiết độ, chừng mực (x. SGLC1809).
– Về tiền bạc: không bủn xỉn nhưng cũng không “vung tay quá trán”. Tập sống giản dị, không đua đòi chạy theo những nhu cầu giả tạo. Biết tiết kiệm và gìn giữ của công.
– Về sức khoẻ: ăn uống, nghỉ ngơi, giải trí điều độ. Tránh những chất kích thích. Năng tập thể dục để có “một đầu óc minh mẫn trong một thân thể cường tráng”.
– Về thời giờ: quý trọng thời giờ. Luôn đúng giờ, đúng hẹn, giờ nào việc nấy. Cần xây dựng cho mình một nếp sống có trật tự, theo một thời khoá biểu.
3. LIÊM: trong sạch, không tham lam.
Trong sạch về tiền bạc, không tham danh tham lợi, dù túng thiếu nghèo đói vẫn không gian tham. Đây là đức tính liên quan đến điều răn 7, 10 và tinh thần nghèo khó của Tin mừng.
4. CHÍNH: ngay thẳng, đứng đắn.
Tâm hồn ngay thẳng, trong sáng và đứng đắn. Đức tính này liên quan đến các điều răn 6,8,9.
Điều khó khăn nhất là sống ngay thẳng với chính mình. Muốn vậy, cần có can đảm đối diện với lương tâm của mình và tập nhận định sự việc, con người, dưới ánh sáng Tin mừng, theo cái nhìn của Đức Kitô.
Để giữ tâm hồn luôn trong sáng, nên tập sống dưới cái nhìn của Thiên Chúa, luôn nhớ đến phẩm giá cao quý của mình và làm mọi việc không vì tư lợi hay tiếng khen, nhưng vì vinh danh cho Thiên Chúa.
Về thể chất: quần áo, tóc tai luôn sạch sẽ, giản dị, gọn gàng. Chỗ ở, đồ dùng: sạch sẽ, thứ tự, ngăn nắp. Giữ vệ sinh nơi công cộng, đường phố.
5. DŨNG: dũng cảm, tự chủ, cương nghị, bền chí (SGLC 1808).
Đây là chiếc chìa khoá thứ hai giúp ta mở cánh cửa tương lai. Người có đức “dũng” là người có nghị lực, biết làm chủ chính mình trong mọi tình huống, luôn hành động theo lý trí, biết bền lòng theo đuổi mục tiêu đến cùng dẫu gặp gian nan thử thách. Muốn tập đức Dũng, cần rèn luyện ý chí. Việc gì đã cân nhắc đắn đo và quyết định, thì cương quyết làm đến cùng. Gặp khó khăn, thất bại không nản, chỉ coi là những dịp trui luyện thêm bản thân.
B. Đối với người
1. NHÂN: yêu thương hết mọi người.
Đức Nhân là “linh hồn” của mọi tương quan với người khác. Tập sống yêu thương bằng cách đối xử như người bạn tốt với mọi người quanh mình. Ta muốn người khác yêu thương và kính trọng ta thế nào, thì hãy yêu thương và kính trọng họ trước như vậy. Tuy nhiên, là người Kitô hữu, chúng ta còn phải tập yêu thương, như chính Chúa Giêsu đã yêu thương chúng ta (x. Ga 15,12-13).
2. NGHĨA: lòng biết ơn, gắn bó thuỷ chung.
Là người, ta cần biết đáp lại tấm lòng yêu thương của người khác đối với mình, những người ta có bổn phận phải đền ơn đáp nghĩa. Trước hết, là những người đã có công sinh thành ra ta, nuôi dưỡng và dạy dỗ ta, rồi đến những người bằng cách này hay cách khác đã làm ơn, giúp đỡ ta.
3. LỄ: lịch sự, lễ phép.
Lễ phép hay lịch sự, là những cách bày tỏ ý kính trọng đối với người quanh ta. Nó là những quy định giúp cuộc sống giữa mọi người với nhau được êm đẹp, thân ái. Nền tảng của phép lịch sự là sự công bằng, và đức bác ái. Coi thường phép lịch sự, một cách nào đó cũng là coi thường người khác, và coi thường cả chính mình.
4. TRÍ: khôn ngoan, sáng suốt (SGLC 1806).
Người có trí, là người biết:
– Thông minh khi XEM: chăm học hỏi, quan sát (hiếu học, cầu tiến), biết hệ thống hoá những gì đã học hỏi, quan sát (có trật tự).
– Sáng suốt khi XÉT: bình tâm, khách quan, thận trọng.
– Khôn ngoan khi LÀM: có óc tổ chức: tiên liệu, thực tế, làm việc có phương pháp. Có óc sáng kiến: biết cải tiến cách làm việc. Khi làm việc, gặp những việc khó khăn hoặc phức tạp, biết chia chúng ra nhiều phần nhỏ, đơn giản hơn để dễ giải quyết.
5. TÍN: giữ lời hứa, đáng tin cậy.
Uy tín là một bảo vật đắt giá, chỉ có thể mua sắm được bằng chính danh dự của mình. Uy tín là kết quả của sự thành thật, tận tâm, tinh thần trách nhiệm và lòng chung thuỷ. Để có được chữ Tín với mọi người:
– Đừng bao giờ bịa đặt, nói những điều sai sự thật.
– Không bao giờ hứa liều, hứa suông.
– Luôn cố gắng giữ lời hứa bằng mọi cách, dù có bị thiệt hại đến mấy cũng phải cố gắng giữ lời hứa (Tv 14.15,4).
III. KIÊN NHẪN TỪNG NGÀY
Ta không thể tập mọi đức tính trong một ngày, một tháng, hay một năm là xong. Nhưng phải chuyên cần tập luyện hằng ngày và tập dần dần từng đức tính một. Muốn thế, cần biết mình phải tập đức tính nào trước, đức tính nào sau, và phải tập như thế nào. Để làm điều đó, ta có thể dựa vào bảng liệt kê những tật xấu ta hay mắc phải, mà tập những đức tính ngược lại. Muốn thành công, ta cần nhớ ba điều sau:
1. Không tham lam ôm đồm, và cũng không nóng vội. Thánh Phanxicô Salê đã kiên trì suốt 20 năm trời, để tập tính hiền lành. Và ngài đã thành công.
2. Xét mình hằng ngày. Đặc biệt, trong các dịp tĩnh tâm hằng năm nên nhìn lại tổng quát. Cần có một quyển sổ để theo dõi. Có thể ghi nhật ký tâm hồn, như Đức Giáo Hoàng Gioan 23 đã làm.
3. Khiêm tốn, nhẫn nại, lạc quan và cậy trông vào Chúa. Đức Giêsu đã làm gương trước. Ba mươi năm sống trong gia đình Nadarét, Ngài cũng đã từng nỗ lực vươn lên hằng ngày như chúng ta để chúng ta có thể bắt chước được như Ngài.
Lời Chúa:
1. Chúa phán với Giôsuê rằng: “Mạnh mẽ lên, can đảm lên! Vì chính ngươi sẽ cho dân này chiếm đất ấy làm gia nghiệp, đất mà Ta đã thề với tổ tiên chúng là Ta sẽ ban cho. Tuy nhiên, ngươi phải mạnh mẽ và rất can đảm! Đừng run khiếp, đừng sợ hãi, vì Gia-vê Thiên Chúa của ngươi, sẽ ở với ngươi bất cứ nơi nào ngươi đi tới” (Gs 1,6.9b).
2. “Còn Đức Giêsu cứ tấn tới thêm về khôn ngoan, vóc dáng và ân sủng trước mặt Thiên Chúa và trước mặt người ta” (Lc 2,52).
Câu hỏi:
Hôm nay bạn quyết định cho mình điều gì? Bạn thực hiện điều đó ra sao?
|

Vào tới đất hứa, hai trăm năm đầu, dân Ít-ra-en chưa tổ chức thành quốc gia quân chủ. Họ chỉ có các thủ lãnh, còn gọi là các thẩm phán. Vị thủ lãnh cuối cùng và cũng là vị thủ lãnh được mến mộ nhất là ngôn sứ Samuel (x. Hc 46,23-20)