2020
Nhờ bài hát của người bà, Arjan Dodaj, từ một người vô thần trở thành giám mục Albania
Năm 1993, anh Arjan Dodaj 16 tuổi từ Albania vượt biển đến Ý. Sau một thời gian sống và làm việc tại đây, Arjan đã khám phá ra đức tin mà từ bé người bà đã dạy cho anh qua các bài hát. Arjan trở thành linh mục. Cách đây ba năm trở lại cha Albania. Đức Thánh Cha đã bổ nhiệm cha làm giám mục phục tá Tirana.
Cuộc điện thoại bất ngờ
Từ Tirana, thủ đô Albania, ngày 09 tháng 4 vừa qua một điều bất ngờ gây ngạc nhiên đã xảy đến với cha Arjan Dodaj: cha nhận được cuộc điện thoại báo tin Đức Thánh Cha Phanxicô bổ nhiệm cha làm giám mục phụ tá giáo phận Tirana-Durazzo. Đây là câu chuyện của cha Arjan Dodaj, một trong nhiều câu chuyện nhỏ tuyệt vời mà cuộc sống hàng ngày của Giáo hội được dệt nên.
Ra đi
Vào năm 1993, sau khi chủ nghĩa cộng sản sụp đổ ở Albania, lúc đó cha Arjan là một thanh niên 16 tuổi tìm cách rời bỏ đất nước. Cha kể lại: “Như các thanh niên khác, nhiều lần tôi đã tìm cách ra đi nhưng không thành công. Và tạ ơn Chúa lần cuối cùng con tàu đã đưa chúng tôi tới bến an toàn. Cuộc phiêu lưu thật khó diễn tả, nó như một cuộc xuất hành đầy hiểm nguy”.
“Đêm 15 tháng 9 năm 1993 chúng tôi khởi hành. Đêm đó biển rất yên bình, Chúa bảo vệ chúng tôi. Tôi vẫn còn nhớ rõ tâm trạng của tôi khi ra đi. Tất cả những gì liên quan đến sự hiện hữu của tôi trên cõi đời này: gia đình, quê hương, bạn bè; tôi cảm thấy mình bị tách rời trong đau đớn những tình cảm này. Nhưng vì tương lai, vì muốn giúp đỡ gia đình nghèo khổ tôi phải ra đi”.
Nhờ những người bạn di cư đến Ý trước, Arjan tìm được nơi trú ngụ ở khu vực Cuneo, Dronero. Tại đây, anh học nghề hàn, cụ thể là hàn các khung xe đạp. Sau đó, anh còn làm nhiều công việc khác, như xây dựng và làm vườn.
Ảnh hưởng từ những người bạn tốt
Đời sống đức tin của Arjan bắt đầu từ những cuộc gặp gỡ với các bạn tốt của giáo xứ gần đó. Arjan nói: “Tôi làm việc rất nhiều, thường là hơn mười tiếng một ngày và vì vậy vào buổi tối tôi rất mệt mỏi. Tôi không có nhiều bạn. Những người bạn nói với tôi rằng có một nhóm thanh niên tốt trong giáo xứ, do cha Massimo hướng dẫn. Mặc dù mệt nhưng rồi tôi cũng đã đến tham gia buổi gặp gỡ với cha Massimo. Cha nói với chúng tôi về Cộng đoàn Đức Maria, một hiệp hội gồm các gia đình và cá nhân sống linh đạo Đức Mẹ, nâng đỡ nhau trong mọi lãnh vực cuộc sống. Sau những lần sinh hoạt với Cộng đoàn, tôi thực sự rất thích hiệp hội này. Tôi đã tìm thấy tình gia đình, điều mà tôi cần trong giai đoạn rất tế nhị của tuổi trẻ”.
Lãnh bí tích Rửa tội, trở thành linh mục
Arjan đã được rửa tội, và vào năm 1997 anh bắt đầu tìm hiểu và xin học chủng viện. Cha mẹ ở quê nhà không chấp nhận quyết định trở thành linh mục của Arjan, nhưng anh đã cố gắng vượt qua khó khăn này. Mười năm sau đến Ý, tại Đền thờ Thánh Phêrô, Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã đặt tay phong chức linh mục cho Arjan.
Cha Arjan kể lại: “Năm 1993, năm tôi đến Ý, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã đến thăm Albania. Đất nước vừa thoát khỏi chế độ độc tài, nó giống như một đường hào mở, nhiều khốn cùng và nghèo đói, nhưng đồng thời cũng là một khát khao lớn cho sự mới lạ. Tôi cũng vậy, giống như nhiều trẻ em và nhiều người khác, tôi nhớ đến hàng ngàn người đi theo chiếc xe của Giáo hoàng từ Tirana đến Shkoder. Hình ảnh Đức Giáo Hoàng luôn ở trong tôi. Và cũng trong thời gian đó, hình ảnh của Mẹ Têrêsa của chúng tôi cũng đã để lại nhiều dấu ấn nơi tôi. Khi chúng tôi thoát khỏi chế độ độc tài, Mẹ là người đã trao cho chúng tôi niềm an ủi, dịu dàng, tình yêu thương, lòng tốt và hy vọng”.
Trở về quê hương
Sau khi được chịu chức, cha Arjan làm việc tại một số giáo xứ và trở thành giáo sĩ của cộng đoàn Albania ở Roma. Vào năm 2017, Đức Tổng Giám mục của Tirana, Đức cha George Anthony Frendo đã xin cha Arjan nếu có thể trở về quê nhà phục vụ trong giáo phận. Bề trên của Cộng đoàn Đức Maria, cha Giacomo Martinelli, và ĐHY Angelo De Donatis, giám quản Roma đồng ý. Cha trở về Albania theo diện hồng ân đức tin (fidei donum).
Giám mục
Tân giám mục chia sẻ: “Tôi không bao giờ nghĩ đến việc mình sẽ trở thành giám mục. Tôi rất hạnh phúc được sống và phục vụ tại quê hương, với giáo dân, những người được giao phó cho tôi. Tôi đón nhận việc bổ nhiệm này của Đức Thánh Cha Phanxicô với niềm tin vào Chúa, vào Đức Mẹ và với sự vâng phục Giáo hội”.
Biết Chúa qua những bài hát của bà
Đức cha tiếp tục nói về hành trình đến với đức tin của mình: “Tôi được sinh ra trong một bối cảnh ở một đất nước mà không may mọi dấu hiệu gợi lại đức tin đều bị cấm. Trong những năm đầu cuộc đời, tôi chưa bao giờ được nghe nói về sự hiện diện của Chúa. Cha mẹ tôi bị chủ nghĩa cộng sản ảnh hưởng nên không bao giờ nói về Chúa cho tôi. Nhưng tạ ơn Chúa, ông bà tôi thì ngược lại, tôi thấy họ cầu nguyện với Chúa. Lần đầu tiên tôi được tiếp xúc với những điều thuộc về Thiên Chúa giống như một điệp khúc được lặp đi lặp lại trong tâm trí. Bất chấp những lời đe dọa, bà tôi vẫn tiếp tục sống kinh nghiệm cầu nguyện. Bà tôi không được học nhưng đã biết giáo lý và cầu nguyện qua các bài hát. Chỉ khi đến Ý, tôi mới khám phá ra nhiều điều. Tôi nhớ lại khi còn bé, trong khi dọn dẹp nhà cửa bà thường hát cầu nguyện thế là tôi cũng hát theo bà. Ví dụ kinh Kính Mừng, bà đọc phần thứ nhất và dạy tôi phần thứ hai. Tôi tin đây là cách Chúa gieo hạt giống đức tin trong tôi”.
Như thế, nhờ người bà, nhờ hạt giống đức tin bà gieo trong âm thầm, với năm tháng đã có cơ hội nảy mầm mà giờ đây từ một người vô thần chàng thanh niên Arjan đã trở thành Kitô hữu, linh mục và giám mục.
Ngọc Yến
2020
Làm sao Chúa Giêsu có thể, ngay lập tức, biến nỗi buồn thành niềm vui?
Làm sao Chúa Giêsu có thể, ngay lập tức, biến nỗi buồn thành niềm vui?
Khi chúng ta buồn sầu hay bị thất vọng, điều đó dễ lôi kéo chúng ta đến việc từ bỏ và thậm chí còn rơi vào sự tuyệt vọng lớn hơn. Tuy nhiên, các trình thuật Tin mừng về sự phục sinh của Chúa Giêsu khích lệ chúng ta kiên trì và tin tưởng vì Ngài có thể mang lại điều tốt đẹp hơn từ chính nỗi buồn của chúng ta.
Bà Maria Mađalêna đã khóc một lúc và sau đó trở nên mừng vui khôn xiết.
Alonso de Andrade, trong cuốn sách Suy niệm hằng ngày, thế kỷ 19, về các mầu nhiệm nơi đức tin thánh thiện của chúng ta, đã làm nổi bật sự kiên trì của thánh nữ Maria Mađalêna và cách mà bà đã được khen ngợi vì điều đó.
“Hãy để ý đến cách mà thánh Phêrô, thánh Gioan và thánh nữ Maria Mađalêna khi đến mộ để tìm Chúa Kitô, và cách mà các môn đệ đã bỏ đi vì không tìm thấy xác của Chúa. Nhưng thánh nữ Maria Mađalêna vẫn đứng ở cửa tiếp tục khóc than vì sự vắng bóng của Ngài, và bà xứng đáng được nhìn thấy người đang sống và vinh quang của Đấng mà bà tìm kiếm như đã chết.
Cần hiểu rằng, nếu chỉ tìm kiếm thôi sẽ không đủ để thấy Ngài, để nhận biết Ngài, trừ khi, như Maria Mađalêna, chúng ta cố gắng tìm kiếm với lòng kiên trì; và điều đó hoàn toàn xứng đáng để chúng ta nếm hưởng vinh quang phục sinh của Ngài, với niềm tin sống động cùng với lòng thành kính, tìm kiếm, dõi theo và suy gẫm về Cuộc Khổ Nạn và cái chết của Chúa, giống như hối nhân thánh thiện này đã ngồi cạnh ngôi mộ.”
Hơn nữa, câu chuyện về cuộc gặp gỡ giữa thánh nữ Maria Mađalêna và Chúa Giêsu tại ngôi mộ đoan chắc với chúng ta rằng Thiên Chúa có thể ngay lập tức biến nỗi buồn thành niềm vui.
“Điều này thật dễ dàng đối với Thiên Chúa, vì trong chốc lát Ngài an ủi những người nghèo túng, biến đổi khóc than thành vui cười và buồn sầu thành niềm vui. Phúc thay người tin tưởng vào Thiên Chúa. Hãy chiêm ngắm niềm vui sướng của vị thánh này ngay khi nhìn thấy Người yêu dấu của lòng mình, người mà bà thương khóc như đã chết, nay vinh quang hơn và rực rỡ hơn mặt trời. Với nhiệt tâm, bà đã phủ phục dưới chân Chúa, nơi bà đã tìm ra được phương thuốc cứu chữa cho tội lỗi của mình… Từ đó hãy rút ra mọi lợi ích tuyệt vời cho tâm hồn bạn, bằng cách nói chuyện với Chúa rồi Ngài sẽ an ủi bạn lúc bạn đau khổ, giống như đã an ủi bà thánh Maria Mađalêna. Cũng thế, Ngài sẽ nhân đôi niềm vui của bạn, đáp ứng những mong muốn của bạn một cách hoàn hảo hơn bạn có thể nghĩ đến.”
Nếu bạn đang gặp phải khó khăn trong cuộc sống, hãy tin tưởng vào Thiên Chúa và tình yêu của Ngài dành cho bạn. Ngài có thể không cho bạn niềm vui ngay bây giờ, nhưng nếu bạn kiên trì trong đức tin, Ngài hoàn toàn có thể biến nỗi buồn đó thành niềm vui, đến nỗi bạn không thể tưởng tượng được.
Sự sống có vẻ ảm đạm nhưng Chúa đang kiểm soát mọi sự: “Người không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, nhưng là Thiên Chúa của kẻ sống, vì đối với Người, tất cả đều đang sống” (Lc 20,38).
Philip Kosloski
Nguyễn Sao Băng chuyển ngữ từ Aleteia
2020
Kitô hữu và vấn đề tiền bạc
Ai cũng biết rằng trong đời sống thường ngày của chúng ta, tiền bạc là một phương tiện không thể thiếu được, vì nhờ nó mà ta có thể thỏa mãn được những nhu cầu thiết yếu trong đời sống. Chẳng hạn: Tiền mua gạo, tiền mua lương thực thực phẩm, tiền mua thuốc men chữa bệnh, tiền mua sắm quần áo, đồ dùng cần thiết, tiền để có phương tiện đi lại giao lưu, gặp gỡ, thăm viếng người thân, bạn bè, tiền để tổ chức cưới hỏi, ma chay, tiệc tùng lễ mừng sinh nhật vv… Tắt một lời, tiền không phải là tất cả, nhưng hầu như tất cả mọi việc thì rất cần tiền!
Người ta kể rằng khi về hưu, cựu Thủ tướng Trung Quốc Chu Dung Cơ có một bài viết tựa đề Hiểu đời, là một tâm sự tuổi già, nói về sức khỏe, về tiền bạc, về cuộc sống… Dưới đây là đoạn trích về tiền trong bài viết của ông:
“Tiền không phải là tất cả nhưng không phải không là gì. Đừng quá coi trọng đồng tiền, càng không nên quá so đo, nếu hiểu ra thì sẽ thấy nó là thứ ngoại thân, khi ra đời chẳng mang đến, khi chết chẳng mang đi. Nếu có người cần giúp, rộng lòng mở hầu bao, đó là một niềm vui lớn.
“Nếu dùng tiền mua được sức khỏe và niềm vui thì tại sao không bỏ ra mà mua? Nếu dùng tiền mà mua được sự an nhàn tự tại thì đáng lắm chứ! Người khôn biết kiếm tiền biết tiêu tiền. Làm chủ đồng tiền, đừng làm tôi tớ cho nó”.
Ngày nay, người ta truyền tai nhau “bài vè” rất châm biếm về tiền bạc, như sau:
Tiền là tiên là phật,
Là sức bật của tuổi trẻ,
Là sức khỏe của tuổi già,
Là cái đà của danh vọng,
Là cái lọng để che thân,
Là cái cân của công lý.
Ông bà ta ngày xưa còn nói mạnh thế này: “Có tiền mua tiên cũng được”. Nói như thế để thấy rằng dường như tiền bạc có một sức mạnh vạn năng. Vì thế mới có câu: “Mạnh vì gạo/ bạo vì tiền” hay câu khác: “Miệng nhà giàu có gang có thép”.
Tiền mạnh như thế nhưng trước sau như một, tiền chỉ đáng là một tên đầy tớ tốt mà thôi. Nếu tiền làm chủ ta, thống trị đời ta thì hiển nhiên là biết bao bi kịch sẽ xảy ra.
Chắc hẳn chúng ta ai cũng biết đến vụ án ly hôn nổi tiếng giữa hai vợ chồng ông bà chủ tập đoàn ca-phê Trung Nguyên với câu nói nổi tiếng của ông chủ ca-phê này, đó là câu “Tiền nhiều để làm gì?”.
Còn nhớ ngày 20-2-2019, trong phiên tòa xét xử ly hôn, ông Đặng Lê Nguyên Vũ, chủ tịch HĐQT kiêm Tổng giám đốc Tập đoàn cà phê Trung Nguyên và vợ là bà Lê Hoàng Diệp Thảo, chủ tịch HĐQT kiêm Tổng giám đốc Công ty cà phê hòa tan Trung Nguyên, không ngừng tranh cãi gay gắt về khối tài sản cả 10 ngàn tỷ đồng và trách nhiệm của hai bên. Quá bực bội và thất vọng, ông chủ Trung Nguyên đã lớn tiếng thốt lên với vợ: “Tiền để làm gì? Tiền nhiều để làm gì mà để ngày hôm nay ngồi như thế này?”.
Câu nói này nhanh chóng gây bão trên mạng xã hội với nhiều ý kiến khác nhau. Người ta không ngừng đặt ra những câu hỏi và suy ngẫm về giá trị thật sự của đồng tiền, liệu tất cả có đáng để hai người từng là vợ chồng đầu ấp tay gối, nay lại tranh nhau đến “sứt đầu mẻ trán” hay không?
Riêng đối với người Ki-tô hữu, tiền bạc cũng rất cần như bao người khác, nhưng chúng ta sống theo tinh thần của Tin Mừng, nên sẽ có sự chọn lựa khác cho riêng mình. Đó là không ham mê tiền bạc, không tôn thờ tiền bạc và biết khôn ngoan trong sử dụng tiền bạc.
Ki-tô hữu và lý do không ham mê tiền bạc
Thông thường con người tìm mọi cách để có tiền vì cần tiền để tiêu xài, nhưng sau đó thì bị đồng tiền thu hút và họ rơi vào vòng xoáy của cơn mê tiền bạc. Đúng như người xưa thường nói “Đồng tiền liền khúc ruột”. Nghĩa là đối với người ta tiền bạc trở nên người bạn thiết thân không thể nào rời bỏ được. Nó được xem là da thịt của mình, là máu mủ ruột rà của mình, là sự sống của mình…
Kinh nghiệm cho thấy, ham mê tiền bạc là một cám dỗ không trừ một ai. Càng có quyền hành, càng có địa vị, càng có chức tước càng dễ bị lôi kéo vào cơn mê tiền bạc. Đó chẳng những là một tính xấu nguy hiểm mà còn là một nguy cơ khiến ta sống ngược lại với Tin Mừng của Chúa.
ĐGM GB Bùi Tuần (hưu dưỡng Gp Long Xuyên) đã chia sẻ về vấn đề này, như sau: [1]
“Cần tiền là chuyện không tránh được, nhưng mê tiền là tính xấu, đầy nguy hiểm.
“Nguy hiểm vì nó dễ làm cho con người trở nên cứng cỏi, thiếu bác ái với người nghèo, giống như người giàu có trong Phúc Âm đã xử tệ với người hành khất tên La-da-rô (x. Lc 16, 19-31).
“Nguy hiểm vì nó dễ xúi con người phạm những tội bất công hại người, tương tự như trường hợp Giu-đa bán Chúa (x. Mt 26, 15).
“Nguy hiểm vì nó dễ làm cho con người trở nên loại Pha-ri-sêu giả hình tỏ vẻ đạo đức, ‘kinh kệ dài dòng, nhưng lại nuốt trôi gia tài những bà góa’ (x. Mt 23, 14).
“Nguy hiểm vì nó dễ làm ta coi thường những sự thánh, giống như những người đổi chác tiền bạc mà Chúa đã đuổi ra khỏi đền thờ (x. Mt 21, 12-16).
“Nguy hiểm, vì nó cũng dễ đẩy ta vào số phận chết không kịp chuẩn bị, như người phú hộ nọ trong Phúc Âm đang lúc mải miết tính toán tiền bạc, thì thần chết ập tới lôi đi (x. Lc 12, 16-21).
“Trong một thế giới mà ảnh hưởng của đồng tiền bao trùm quá rộng từ kinh tế, chính trị, văn hóa, đến cả luân lý, đạo đức, thì những lời cảnh cáo của Chúa sẽ bị coi như lạc lõng. Chúa biết, nhưng Người đã nói: ‘Dù trời đất qua đi, Lời Ta sẽ không qua đi bao giờ’ “ (Lc 21, 23).
ĐTC Phan-xi-cô, trong bài giảng thánh lễ sáng ngày 18-10-2018 tại nhà nguyện thánh Marta, đã nhắc đến ba cách thức sống nghèo trong đời sống của người Ki-tô hữu, trong đó ngài nhấn mạnh là người môn đệ phải sống nghèo với con tim không dính bén với giàu sang.
Ngài giải thích: Cách thức sống nghèo đầu tiên của người môn đệ là không dính bén với tiền bạc và sự giàu có. Đó là điều kiện để bắt đầu hành trình của người môn đệ. Nó bao hàm một “con tim khó nghèo”, đến nỗi nếu trong việc tông đồ, cần những tổ chức và cơ cấu mà dường như cho thấy sự giàu có, hãy sử dụng chúng thật tốt – nhưng đừng dính bén.
Thực thế, người thanh niên giàu có trong Tin Mừng đã làm Chúa Giêsu cảm động nhưng anh không thể theo Người bởi con tim anh dính bén với của cải. Nếu ai muốn theo Chúa Giêsu, hãy chọn con đường nghèo khó và nếu giàu có thì đó là bởi Thiên Chúa đã ban nó để phục vụ người khác, nhưng con tim thì đừng dính bén. Người môn đệ không sợ nghèo khó, mà ngược lại, người ấy cần phải sống nghèo. [2]
Chúng ta nhớ lại Lời Chúa phán: “Nếu người ta được cả thế giới mà phải thiệt mất mạng sống, thì nào có lợi gì?” (Mt 16, 26).
Ki-tô hữu và lý do không tôn thờ tiền bạc
Nhiều người có nhiều tiền nhưng họ làm chủ nó và sử dụng nó vào những việc đem lại lợi ích cho bản thân, gia đình và xã hội. Trái lại, có rất nhiều người khác có tiền, quý tiền, mê tiền và tôn thờ tiền bạc như thần tượng của mình. Thay vì họ làm chủ tiền bạc thì đàng này, tiền lại sai khiến và khống chế họ.
Là Ki-tô hữu, chúng ta phải luôn cảnh giác trước nguy cơ rơi vào cái não trạng coi tiền là tất cả, là thần-tài, là vua, là chúa mà mình phải thờ.
“Chúng ta đều biết rằng trong Tin Mừng, Chúa Giê-su đã khuyến cáo và kêu gọi thật mạnh mẽ: “Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa, vừa làm tôi tiền của được” (Lc 16, 13). Chúa không cấm chúng ta làm ra tiền, Chúa cũng không cấm chúng ta để dành tiền của trong ngân hàng, mà Chúa nhắc nhở Ki-tô hữu luôn chú ý không được trở nên nô lệ của tiền bạc, không để mình trở thành kẻ làm tôi của thần Mammon.
“Tiền bạc và của cải là phương tiện chứ không là ông chủ. Đó là vị trí đúng đắn nhất của nó. Thật buồn cho Ki-tô hữu nào thay đổi vị trí đúng đắn của tiền bạc, nghĩa là đặt tiền bạc của cải vật chất thành trung tâm điểm của cuộc sống, thành ông chủ của chính họ”. [3]
Thánh Phao-lô cũng quan tâm nhắc bảo chúng ta về vấn đề tiền bạc. Ngài viết trong thư gửi cho Ti-mô-thê, như sau: “Thật thế, cội rễ sinh ra mọi điều ác, là lòng tham muốn tiền bạc, vì buông theo lòng ham muốn đó, nhiều người đã lạc xa đức tin và chuốc lấy bao nỗi đớn đau xâu xé” (1Tm 6, 10).
Ngạn ngữ Pháp có câu “Tiền bạc là tên đầy tớ trung thành nhưng lại là ông chủ gian ác”. Điều đó có nghĩa là nếu ta để cho tiền bạc làm chủ mình thì nó sẽ chỉ huy cả con người và cuộc sống mình theo ý hướng xấu của nó. Kinh nghiệm đời người cho thấy chữ “tiền” thì luôn đi đôi với “bạc”, tức là bạc tình, bạc nghĩa, bạc phúc, bạc ơn. Có thể nói, hơn phân nửa những vụ án mạng nghiêm trọng xảy ra hàng ngày đều xuất phát từ tiền bạc.
Thực vậy, tiền bạc gây cho người ta đau khổ nhiều hơn là đem lại cho họ hạnh phúc. Một danh nhân đã khẳng định thế này: “Tiền bạc chưa bao giờ và sẽ không bao giờ khiến con người hạnh phúc, trong bản chất nó không có gì có thể tạo ra hạnh phúc. Một người càng có nó nhiều bao nhiêu càng muốn nó nhiều bấy nhiêu”. (Benjamin Franklin)
Có một câu chuyện thế này. Cách đây nhiều năm, một nguyệt san xuất bản tại Luân Đôn có yêu cầu độc giả đưa ra một định nghĩa về tiền bạc và cho biết độc giả nào đưa ra câu định nghĩa hay nhất sẽ được thưởng. Tòa soạn đã nhận được cả ngàn câu định nghĩa và đây là câu định nghĩa đã trúng giải nhất.
– Tiền bạc là giấy thông hành đại đồng, với nó chúng ta có thể đi bất cứ nơi đâu trên thế giới, trừ lên trời là không được, với nó chúng ta có thể mua được mọi sự, trừ hạnh phúc.
Thánh Giacôbê đã nói về số phận người giàu có thế này: “Quả thế, mặt trời mọc lên tỏa ra sức nóng làm cho cỏ khô, khiến hoa rụng xuống, vẻ đẹp tiêu tan. Người giàu có cũng sẽ héo tàn như vậy trong các việc làm của họ” (Gc 1, 11).
Ngài viết tiếp: “Giờ đây, hỡi những người giàu có, các ngươi hãy than van rên rỉ về những tai họa sắp đổ xuống trên đầu các ngươi. Tài sản của các ngươi đã hư nát, quần áo của các ngươi bị mối ăn. Vàng bạc của các ngươi đã bị rỉ sét; và chính rỉ sét ấy là bằng chứng buộc tội các ngươi; nó sẽ như lửa thiêu hủy xác thịt các ngươi. Các ngươi đã lo tích trữ trong những ngày sau hết này. Các ngươi đã gian lận, mà giữ lại tiền lương của những thợ đi cắt lúa trong ruộng của các ngươi…” (Gc 5, 1–4).
Ki-tô hữu và việc sử dụng tiền bạc
Mọi người bất kể là ai đều có bổn phận làm việc để kiếm tiền nuôi thân và gia đình, tất nhiên họ có quyền giữ tiền và có quyền tiêu tiền. Đó là việc thường tình trong đời sống con người. Vấn đề quan trọng đặt ra cho mỗi chúng ta, đó là nguồn gốc tiền bạc mà chúng ta có và cách mà ta sử dụng nó như thế nào.
Trước hết, Chúa Giê-su cảnh giác chúng ta về lòng tham. Vì lòng tham thì vô đáy. Không phải người nghèo mà không tham. Cũng không phải người giàu có là hết tham. Mọi người đều có lòng tham. Người tham ít, người tham nhiều. Người tham cách này, người tham cách khác. Trong Tin Mừng Lu-ca, Chúa đã nhắc nhở thế này: “Anh em phải coi chừng, phải giữ mình khỏi mọi thứ tham lam, không phải vì dư giả mà mạng sống con người được bảo đảm nhờ của cải đâu” (Lc 12,15).
Chúng ta biết, tham lam là một trong bảy mối tội đầu. Do lòng tham nên ta có thể kiếm tiền một cách bất chính. Vì tham nên ta có thể ăn gian, nói dối trong kinh doanh buôn bán. Vì tham nên ta có thể lường gạt bằng mọi thủ đoạn để cái túi của mình đầy tiền. Vì tham nên ta có thể vi phạm đức công bằng và bác ái một cách nặng nề. Vì tham nên ta có thể hy sinh tất cả để bảo toàn quyền lợi bất chính của mình.
Người tham lam lại thường là người hà tiện nữa. Hà tiện chứ không phải là tiết kiệm. Hà tiện cũng hiểu theo nghĩa là keo kiệt, bủn xỉn, bần tiện. Vì hà tiện nên ta không dám chi tiêu để giúp đỡ tha nhân hay làm việc công ích. Vì hà tiện nên ta chỉ muốn thu tích cho đầy túi mà không biết cho đi, ban phát. Vì hà tiện mà ta làm ngơ không ngó ngàng gì tới cảnh khó nghèo, túng thiếu của người lân cận.
Trong Tin Mừng, Chúa đã nhắc bảo: “Anh em đừng tích trữ cho mình những kho tàng dưới đất, nơi mối mọt làm hư nát, và kẻ trộm khoét vách lấy đi. Nhưng hãy tích trữ cho mình những kho tàng trên trời, nơi mối mọt không làm hư nát, và kẻ trộm không khoét vách lấy đi” (Mt 6,19-20). Đối với Chúa, chúng ta có nhiều của cải hay có ít, điều đó không quan trọng. Vấn đề chính yếu là chúng ta không tôn thờ tiền bạc, không tham lam thu tích cho mình nhiều của cải, không kiếm tiền của cách bất chính, không hà tiện chắt bóp thái quá…Bởi như thế thì chúng ta khó lòng mà sống thanh thoát để tìm kiếm sự công chính trên trời.
Đối với Ki-tô hữu, Chúa luôn khuyến khích chúng ta biết ăn ở rộng rãi, sống quảng đại và sẵn sàng chia sẻ tiền của vật chất cho người anh em thiếu thốn. Vì chúng ta tâm niệm rằng: “Cho thì có phúc hơn là nhận”.
Thánh Phao-lô đã giảng giải rất rõ thế này: “Vấn đề không phải là bắt anh em sống eo hẹp để cho người khác bớt nghèo khổ. Điều cần thiết là phải có sự đồng đều. Trong hoàn cảnh hiện tại, anh em có được dư giả, là để giúp những người đang lâm cảnh túng thiếu, để rồi khi được dư giả, họ cũng giúp đỡ anh em, lúc anh em lâm cảnh túng thiếu. Như thế sẽ có sự đồng đều, hợp với lời đã chép : kẻ được nhiều thì không dư, mà người được ít thì không thiếu” (2Cr 8, 13 – 15).
Lời Chúa còn đây: “Hãy bán tài sản của mình đi mà bố thí. Hãy sắm lấy những túi tiền không hề cũ rách, một kho tàng chẳng thể hao hụt ở trên trời, nơi trộm cắp không bén mảng, mối mọt cũng không đục phá. Vì kho tàng của anh em ở đâu, thì lòng anh em cũng ở đó” (Lc 12, 33-34) ./.
Aug. Trần Cao Khải
__________________
[1]ĐGM GB Bùi Tuần – Nói với chính mình – NXB VH-VN năm 2015 – Trang 74
[2] vaticannews.va
[3] dongten.net
2020
Mang thai và bị bệnh coronavirus, cô Angela sinh con trong tình trạng hôn mê nhân tạo

Cô Angela Primachenko sinh con lúc cô được đặt trong tình trạng hôn mê.
Cô Angela Primachenko 27 tuổi, mang thai 34 tuần, bị bệnh coronavirus, cô chấp nhận đặt trong tình trạng hôn mê nhân tạo và hoàn toàn không biết chuyện gì sẽ xảy ra cho mình.
Tháng 3 vừa qua cô biết mình bị nhiễm coronavirus, được các bác sĩ khuyên cô nên sinh con trong tình trạng hôn mê nhân tạo, bây giờ con gái cô đã được 5 ngày.
Cô kể cho CNN: “Thật là một cảm giác không thể tưởng tượng được. Thật điên rồ để cố gắng hiểu những gì đã xảy ra cho tôi trong mưới ngày qua và sắp đặt mọi thứ lại trong đầu cho thứ tự!”
Cô Angela Primachenko sống ở Vancouver, Canada, cô là chuyên gia cảm giác vận động hô hấp, cô có triệu chứng ho và sốt tăng dần, cô vội vàng dùng mọi biện pháp để không bị bệnh. Cô Oksana, em gái sinh đôi của cô Angela kể: “Chị tôi hiểu mọi bất trắc. Chị tôi rất cẩn thận.” Khi biết kết quả dương tính, cô Angela đã đau nhiều, cô kể: “Tôi biết tôi không thể tiếp tục thở như thế này mà sống được.” Khi đó là ngày 26 tháng 3, cô vào bệnh viện chính nơi cô làm việc. Ba ngày sau cô được đặt trong tình trạng hôn mê nhân tạo.

“Tôi không biết mình đang ở đâu”
Trong khi cả nhà lo lắng, các bác sĩ quyết định để cô sinh con, phải làm cho phổi của cô còn chỗ để cô thở được hơn. Chồng của cô là David đồng ý và em bé gái Ava mạnh khỏe ra đời ngày 1 tháng 4. Còn với cô Angela thì rất yếu, ngày 5 tháng 4 cả gia đình còn nghĩ cô không qua khỏi. Cô Oksana kể: “Ngày hôm đó chúng tôi quá sợ.” Thật kỳ diệu, ngày hôm sau cô Angela đã có thể rút ống nội khí quản. Cô giải thích: “Tôi hoàn toàn lạc lối, tôi không biết mình ở đâu, tôi không còn thấy cái bụng tròn của tôi, tôi cũng không biết con gái tôi ở đâu.”
Khi cuối cùng được về nhà, cô đã có thể ôm chồng và đứa con gái 11 tháng trong tay. Còn em bé Ava vẫn còn ở bệnh viện, cô chưa thăm được khi thử nghiệm chưa âm tính: “Tôi muốn ôm con, thương con để bù cho những tuần đầu tiên tôi không hy vọng sống. Chúa đã làm phép lạ cho chúng tôi, cho mẹ con tôi được bình an. Còn về tên Ava của con gái, cô Angela Primachenko cho biết, tên này là “hơi thở của sự sống.”
Marta An Nguyễn dịch
