2020
Lời trách mắng dễ thương
Yêu ai thì ta hay trách người đó !
Vâng ! Thường thì vậy ! Hễ người ta còn yêu ai đó thì người ta trách người mình yêu. Đáng sợ nhất là khi người ta im lặng. Im lặng với đồng nghĩa là chấm hết để rồi còn trách là còn yêu.
Khi ta sống chung, sống gần và sống với ai đó mà người ta phản ứng bằng cách im lặng và không nói lời nào là ta đủ hiểu tâm trạng cũng như tâm tình của người đó. Như hai vợ chồng, khi còn yêu còn thương là người ta còn đối thoại và thậm chí còn tranh luận cũng như trách móc nhau. Khi tình yêu đã cạn thì có đánh họ cũng chả khai có hành hạ thì họ cũng không thèm nói. Thái độ im lặng mới là thái độ đáng sợ nhất trong cuộc đời con người.
Nhìn vào tương quan giữa Chúa Giêsu và các môn đệ thì ta thấy tương quan rất khác. Dù các môn đệ bỏ Thầy, chối Thầy nhưng Thầy không bao giờ bỏ các môn đệ của Thầy để rồi ta thấy Chúa không im lặng với các môn đệ. Ta thấy các môn đệ rơi vào cảnh ngộ bị trách yêu : “Sau cùng, Người tỏ mình ra cho chính Nhóm Mười Một đang khi các ông dùng bữa. Người khiển trách các ông không tin và cứng lòng, bởi lẽ các ông không chịu tin những kẻ đã được thấy Người sau khi Người trỗi dậy”.
Cũng dễ hiểu thôi ! Niềm tin vào một con người đã chết và vùi trong huyệt mộ mà sống lại xem ra là chuyện hão huyền và chuyện không bao giờ có trong cuộc đời. Các môn đệ kém tin và cứng tin là chuyện rất bình thường. Và từ trước đến giờ chưa nghe nói đến chết sống lại chứ đừng nói đến chuyện thấy.
Điều ta thấy nơi các môn đệ rất dễ thương đó là sau những lần trách móc đó, các ông dường như không lẫy cũng chẳng hờn. Gần nhất đó chính là tông đồ trưởng Phêrô. Phêrô đã bị trách, bị mắng xối xả : “Satan, hãy lui ra đàng sau Thầy … Gà chưa gáy 2 lần thì anh đã chối Thầy 3 lần …” Rồi khi thương Thầy, muốn bảo vệ sinh mạng Thầy thì Phêrô lấy gươm quất ngay tên đầy tớ và tưởng được khen nhưng lại nhận được thái độ không ủng hộ từ phía Thầy.
Nếu như tự ái cũng như tự cao tự đại, có lẽ Phêrô là người bỏ Thầy đi từ lâu lắm rồi, từ cái lúc mà bị nguyền rủa là Satan chứ không đợi đến lúc chối Thầy ở vườn Dầu. Ta lại bắt gặp được tình thương của Phêrô dành cho Thầy sao mà mãnh liệt quá, sao mà nồng nàn quá.
Con người, ai ai trong thân phận làm người, ắt hẳn không tránh khỏi những lúc con tim mềm yếu. Mềm thì mềm thật nhưng yếu chắc chắn là không bởi lẽ sau khi tin nhận Thầy đã sống lại thật thì các tông đồ và nhất là Phêrô đã không ngần ngại thí mạng vì Thầy. Thí mạng đến đỉnh điểm của Phêrô như mọi người đều nghe tương truyền lại là Ngài xin được đóng đinh ngược với Thầy vì không xứng đáng với tình thương của Thầy dành cho mình.
Và, tưởng nghĩ nếu nhu ngày hôm nay, Chúa Giêsu hiện diện với chúng ta, chắc chắn chúng ta cũng nghe những lời mắng yêu như Thầy đã mắng các môn đệ xưa. Đơn giản là lòng tin của ta vào Chúa Giêsu cũng chả hơn gì các môn đệ và còn thậm chí tệ hơn các môn đệ nữa.
Nhìn vào thực trạng của cuộc sống, không ít Kitô hữu và ngay cả bản thân ta, nhiều lần nhiều lúc ta cũng chẳng để cho Đức Kitô Phục Sinh sống trong đời mình. Ta cũng sẽ chẳng bao giờ dại để đi nói với mọi người rằng tôi không tin Chúa nhưng chính trong cung cách sống và nhất là hành động của ta, tất cả đã nói lên niềm tin của chúng ta.
Đời ta, có khi bị thử thách một chút xíu là ta tìm đủ mọi cách để thoát ra cái khó khăn đó bằng cách chạy theo ma thuật, chạy theo bói toán thay vì đến với Chúa. Hoặc có khi ta đẩy Chúa ra khỏi cuộc đời bằng thái độ kém tin hay bất tín với Chúa. Có người, chỉ vì vài lý do đơn giản mà cũng chả đâu ra đâu nhưng cũng đã quay lưng với Chúa.
Thái độ sống của chúng ta quá bám víu vào quyền lực, vào danh vọng, về vật chất cũng đủ tố cáo chúng ta về hành vi kém tin vào Chúa hay nói đúng hơn là minh chứng cho chúng ta thờ của cải vật chất và loại trừ Chúa. Mỗi người chúng ta tự kiểm điểm được niềm tin của ta vào Chúa chứ không cần ai khác.
Ngày hôm nay, Chúa cũng trách chúng ta để rồi chúng ta nhìn lại niềm tin cũng như thái độ sống của chúng ta.
Cứ nhìn lại cuộc đời, nhiều lúc người khác bị sóng gió ba đào còn hơn cả chúng ta nhưng họ không hề than thân trách phận. Còn ta, chỉ một chút xíu thôi là ta đã la toáng lễn cũng như không còn tin vào Chúa nữa.
Trong những ngày gần cuối tuần Bát Nhật Phục Sinh, niềm tin vào Chúa lại được gợi lên cho mỗi người chúng ta. Đặc biệt trong mùa đại dịch này, nhà nhà, người người đang phải đối diện với những khó khăn ngay trước mắt chúng ta thì chúng ta trả lời với Chúa như thế nào về niềm tin của chúng ta vào Chúa.
Chúa còn yêu nên Chúa còn trách và ngược lại, khi còn được trách là khi đó ta thấy mình còn được Chúa yêu. Hãy can đảm, hãy mạnh dạn như các tông đồ xưa và nhất là Phêrô, ta hãy mạnh dạn và can đảm làm chứng về Chúa và cho Chúa.
Gương mẫu mà chúng ta bắt gặp đó chính là thái độ của các môn đệ khi bị điệu ra các hội đường và công nghị. Dù gặp muôn ngàn gian nan thử thách và có khi phải ngồi tù nhưng các môn đệ vẫn xác tín niềm tin của mình vào Chúa Giêsu Phục Sinh.
Phần ta, ngày hôm nay, ta không còn gặp phải cảnh bắt bớ tù đày nữa. Ta gặp thách đố niềm tin ngày hôm nay là sống và làm chứng cho sự thật. Xin Chúa thêm ơn cho mỗi người chúng ta để khi nghe lời mắng yêu của Chúa, ta biết cân chỉnh cuộc đời của ta sao cho phù hợp hơm với Thánh ý của Chúa và nhất là xin cho mỗi người chúng ta mạnh dạn lên đường loan báo Tim Mừng Phục Sinh như lời căn dặn của Chúa với các môn đệ ngày xưa.
2020
Các nhà lãnh đạo doanh nghiệp Tây Ban Nha tổ chức hỗ trợ các dòng tu chiêm niệm
Một nhóm các doanh nhân ở Tây Ban Nha đã cùng nhau đưa ra sáng kiến “TuClausuraMiClausura” để giúp đỡ và hỗ trợ cho các cộng đoàn dòng chiêm niệm không thể tự chu cấp cho cuộc sống vì đại dịch Covid-19.
Sáng kiến có chủ đề: “lá phổi của linh hồn chúng ta cần sự hỗ trợ của bạn hôm nay.”
Bình thường, nhiều cộng đoàn dòng tu chiêm niệm tự hỗ trợ cuộc sống của mình bằng việc làm và bán các sản phẩm hay sản xuất các sản phẩm nông nghiệp, bên cạnh các đóng góp và đầu tư. Nhưng khi toàn quốc gia đang ở trong tình trạng cách ly xã hội do sự đe dọa lây lan của virus corona, các cộng đoàn đan tu này không có các khách hàng mua sản phẩm.
Nhóm doanh nhân giải thích: “1/3 số nữ tu chiêm niệm sống ở Tây Ban Nha và hoàn cảnh hiện tại đang ảnh hưởng nặng nề do việc bán trực tiếp các sản phẩm thủ công của họ bị suy giảm; trong hầu hết các trường hợp, đây là nguồn thu nhập chính của các tu viện và đan viện.”
Nhận được lời cầu nguyện cách nhưng không, nên giúp đỡ cách nhưng không
Ông Santos Blancos, một trong những người cổ võ sáng kiến nói: “Rất khó để biết rõ về nhu cầu của các cộng đồng chiêm niệm kiên cường, khiêm hạ và khắc khổ, không bao giờ kêu than và luôn hy sinh cho người khác.” Ông Ivan Jacques, cũng là một trong những người cổ võ sáng kiến, nói thêm: “Chúng tôi quyết định liên kết và thực hiện những gì mỗi chúng tôi biết làm. Nếu chúng tôi nhận được lời cầu nguyện của họ cách nhưng không, chúng tôi muốn giúp họ cách nhưng không để họ tiếp tục cầu nguyện cho chúng tôi.”
Mục tiêu của chiến dịch là nhằm tạo điều kiện cho các doanh nghiệp, gia đình, cơ sở và giáo xứ có thể giúp đỡ bằng cách đóng góp thời gian và công việc của họ, hoặc đóng góp tài chính cho lối sống trong nhiều trường hợp mà thế giới chưa biết đến.
Chiến dịch sẽ chuyển tất cả các khoản đóng góp thông qua Quỹ Declausura, là tổ chức đã giúp đỡ và thúc đẩy đời sống đan tu từ 14 năm nay. Chiến dịch cho biết 100% tất cả các khoản quyên góp sẽ được chuyển đến các tu viện và đan viện thiếu thốn. (CNA 16/04/2020)
Hồng Thủy – Vatican
2020
Giá trị cao quý của ngành y, đừng đánh mất lần nữa!
Giá trị cao quý của ngành y, đừng đánh mất lần nữa!
Cùng nhìn lại một chút, thái độ này trong xã hội Việt Nam trước lúc xảy ra đại dịch ra sao? Đã từng có người vác dao đòi chém một bác sĩ của Bệnh Viện Huyết Học Tp. HCM, vì ông này đòi hàng chục triệu đồng mỗi bệnh nhân, chỉ để hứa sẽ xét nghiệm và chích thuốc giảm đau cho họ. Hàng loạt thân nhân tố cáo một phó giám đốc một bệnh viện quận, người gặp riêng họ để thu tiền mổ dịch vụ, không có một tờ hoá đơn. Đài truyền hình VTV đưa phóng sự chuyện bệnh viện Xanh-pôn Hà Hội cắt đôi que thử HIV và viêm gan B, gian lận tiền y cụ bất chấp thiệt hại vô vàn người khám bệnh… Nếu có nói về các bác sĩ, không ít người Việt Nam đã từng nghĩ ngay rằng đó là một tầng lớp giàu có, kiếm tiền dễ như trở bàn tay, trên đau khổ của người nghèo, qua việc vẽ ra vài toa thuốc, vài loại xét nghiệm, bán y cụ… mà căn bệnh thật vốn chẳng cần đến thế. Người nhập viện thường kể cho nhau nghe kinh nghiệm phải để ý thái độ của nhân viên y tế. Nếu họ không vui, phải làm cho họ vui bằng quà cáp, phong bì kín đáo, gồng mình chi tiền, mong được đối xử tử tế qua những ngày đau đớn…
Vẫn biết rằng còn đó những bác sĩ phục vụ rất tận tâm, nhưng dường như con số này không vực dậy nổi thành kiến của dân chúng, vốn đã ít nhiều bị tổn thương khi chẳng may phải vài lần nhập viện hay đi khám.
Covid-19 buộc chúng ta thay đổi suy nghĩ
Nay, cơn đại dịch đang đánh thức mọi người, từ y đức của bác sĩ đến định kiến của dân chúng. Nó gần như buộc mỗi người nhìn nhận lại giá trị của người làm ngành y. Không còn thời gian cho những nhũng nhiễu và toan tính phi đạo đức, dù đó là toan tính của nhân viên y tế hay của phía bệnh nhân. Trước mắt chỉ có sự sống và cái chết, sống cùng nhau hoặc sẽ chết cùng nhau. Bệnh tật và bình an của bệnh nhân gắn liền với đau khổ và an vui của bác sĩ. Những bác sĩ hàng tháng không được về gia đình, họ mòn mỏi mong ngóng bệnh nhân lành bệnh, đau đáu ước mong đại dịch qua đi, vì giờ đây hai niềm hạnh phúc đã gắn liền, hạnh phúc của bệnh nhân và cộng đồng gắn liền với hạnh phúc đoàn tụ và nghỉ ngơi của người bác sĩ. Chỉ còn ước ao đau khổ sớm chấm dứt trên khuôn mặt mỗi người, nhân viên y tế như được trở lại với giá trị “thiên thần” vốn có của ngành nghề cao quý này. Người bệnh và cộng đồng như lập tức biết gạt qua định kiến, đặt lại niềm tin và sự tôn trọng đối với giới bác sĩ.
Năm 1964, Louis Lasagna, Hiệu trưởng của Trường Y khoa tại Đại học Tufts, đã thêm vào lời thề y đức đầy trang trọng (truyền thống gọi là lời thề Hippocrates) mà mỗi sinh viên y khoa phải tuyên đọc trước khi ra trường điều này: “Tôi sẽ luôn nhớ rằng nghệ thuật của việc chữa bệnh hay của khoa học, cần sự ấm áp, cảm thông, và sự hiểu biết, điều đó có thể lớn hơn con dao của bác sĩ phẫu thuật hoặc thuốc của người dược sĩ.” Nếu điều này và nhiều điều khoản khác trong lời thề về y đức có phải làm người bác sĩ trả giá bằng nhiều hy sinh và vất vả, thì lúc này chính là thời điểm mà người thầy thuốc chống dịch nếm cảm rõ nhất cái giá đắt đỏ ấy.
Tâm thức nhân bản đã trở lại
Việc cộng đồng xã hội nhanh chóng thay đổi thái độ từ bất mãn sang trân trọng, yêu mến và biết ơn giới y khoa cho thấy lâu nay dân chúng (ít là một bộ phận lớn) vốn không hề đánh mất tâm thức về tương quan nhân văn với giới y khoa. Những định kiến và bất mãn nảy sinh lâu nay vốn chỉ là kết quả của những tổn thương, mà xu thế thương mại hoá ngành y khoa đã trót gây ra cho dân chúng. Truyền thống đạo đức vẫn còn đó trong thâm sâu mỗi người. Thái độ tôn trọng được lấy lại hiện nay cho thấy người dân luôn chân nhận mối tương quan với giới thầy thuốc như một mối tương quan cao đẹp của tình người, nhìn nhận họ như những chiến sĩ với sứ mệnh cao cả trên sự sống thể lý và tâm lý của những cá nhân khác, chứ không đơn thuần là một ngành nghề kiếm tiền. Khi người bác sĩ không còn biểu hiện của việc nhũng nhiễu, cảm thức nhân bản của cộng đồng dành cho họ được hồi sinh.
Cái nhìn Ki-tô giáo về người thầy thuốc
Dưới góc độ của Ki-tô giáo, hành vi chữa lành của Chúa Giê-su cho chúng ta một cái nhìn sâu xa hơn ý nghĩa của việc chăm sóc y tế. Thông qua bệnh tật và đau khổ thể lý, Chúa Giê-su chọn đi vào tương quan yêu thương và cứu vớt toàn bộ con người bệnh nhân, đi vào tình bạn tâm hồn và giải thoát họ bằng tin vui rằng họ thực sự là công trình của Thiên Chúa, xứng đáng được yêu thương, giữ gìn và cứu chuộc (x. Ga 9, 1-5). Vì vậy, việc Chúa Giê-su chữa lành bệnh tật của một người luôn gắn liền với sự cứu vớt nhân phẩm và giá trị toàn diện của họ, nên phải đồng thời với việc dẫn vào ơn tha thứ (x. Mc 2, 9; Lc 5, 20; Mt 9, 5) và giúp họ “đừng phạm tội nữa” (Ga 5, 14); nó đi đôi với mối quan tâm lau khô nước mắt người thân: “bà đừng khóc nữa” (Lc 7, 13); nó không thể tách rời với trách nhiệm đưa người bệnh về lại với vòng tay yêu thương của gia đình và cộng đồng (x. Lc 5, 24; Mt 8, 4; Mc 1, 44); và còn hướng dẫn người được chữa lành bước vào đời sống mới trong đức tin (x. Ga 9, 35-29).
Sự tận tuỵ của Chúa Giê-su thể hiện qua việc sẻ chia đau khổ với bệnh nhân tới độ bị xua đuổi và cô đơn thay cho bệnh nhân. Khi người phong hủi đã được chữa lành và về lại với bầu khí nồng ấm của gia đình và cộng đồng, thì Chúa Giê-su lãnh lấy nỗi cô đơn bị xua đuổi vào nơi hoang mạc thay cho anh (x. Mc 1, 45). Sự sẻ chia đau khổ tận căn nhất cuối cùng được Ngài thể hiện trên Thập Giá. Như thế, việc chữa lành của Chúa Giê-su trở thành dấu chỉ của tình yêu cá vị mà Thiên Chúa dành cho con người, công trình tuyệt diệu mà Ngài sẵn sàng cứu chuộc ngay cả khi phải trả bằng giá máu của Người Con Một (x. Ga 9, 1-5).
Người thầy thuốc Công Giáo trở thành người mang sứ mệnh bước theo Chúa Giê-su, thông qua cửa ngõ bệnh tật thể lý của người bệnh, để biểu lộ hình ảnh sống động về sự ân cần chữa lành của Đức Ki-tô đầy thương xót dành cho mỗi một bệnh nhân, là công trình quý báu do chính Thiên Chúa đã tạo dựng và cứu chuộc. Đó là một ơn gọi, một sứ mệnh thiêng liêng, vượt xa hơn hẳn một ngành nghề.
Kết luận
Không phải ngẫu nhiên mà truyền thống các trường y khoa phương tây, từ thời Hippocrates cổ đại cho đến hôm nay, luôn bắt các tân bác sĩ tuyên đọc lời thề y đức trước khi ra trường. Rất nhiều trường y trên thế giới còn trang trọng mời gọi mỗi người hãy thề trước Sách Thánh và Đấng mình tôn thờ bằng đức tin. Với người Ki-tô giáo, điều đó lại càng đẹp và đúng nghĩa hơn.
Virus Corona đã buộc chúng ta dừng lại và chân nhận giá trị đích thực mà người thầy thuốc phải xây dựng, cũng như thái độ tương xứng mà cộng đồng cần có đối với họ. Xã hội, chính sách, pháp luật… cần có sự tôn trọng và nâng đỡ xứng đáng cho những hy sinh cao quý về tâm, về kiến thức và cả đời sống cá nhân của người làm ngành y. Thiếu sót ý thức của một bên nào, dù của người trong ngành hay của chính sách xã hội, cũng đều có thể huỷ hoại giá trị của một thành phần rất quan trọng, mà truyền thống Việt Nam vốn có lý do để gọi họ cách trân trọng là “thầy”.
Cám ơn đại dịch Covid-19 vì một hồi chuông thức tỉnh. Một mai đại dịch qua rồi, liệu chúng ta có vụng về đánh mất giá trị ấy một lần nữa không? Lm. Trần Thái, SDB – CTV Vatican News
Tình trạng Việt Nam trước đại dịch
2020
Sứ vụ mục tử của linh mục trong thời gian đại dịch: gần gũi tín hữu trong “cơn đói” Thánh Thể
Đức Hồng y Stella tin rằng trong hoàn cảnh đại dịch, từ sự thúc đẩy của Chúa Thánh Thần và từ tiếng nói nội tâm, mỗi linh mục đều có những sáng kiến để gần gũi với tín hữu đang “đói” Thánh Thể. Đức Hồng y hy vọng rằng khi đại dịch qua đi, các linh mục cũng được nhớ đến với sự cảm kích như đối với các y bác sĩ, những người hy sinh chăm sóc cho bệnh nhân giữa đại dịch.
Mỗi năm, nhân dịp thứ Năm Tuần Thánh, ngày kỷ niệm Chúa Giê-su thiết lập chức linh mục, Đức Hồng y Beniamino Stella, Tổng trưởng Bộ Giáo sĩ, thường trả lời một cuộc phỏng vấn về đề tài liên quan đến các linh mục. Năm nay, trong bối cảnh đại dịch Covid-19, thứ Năm Tuần Thánh năm nay khác với những năm trước. Cụ thể, hôm 09/04, Đức Thánh Cha không cử hành Thánh lễ truyền Dầu vào ban sáng, ban chiều ngài cử hành lễ Tiệc Ly tại bàn thờ Ngai tòa của đền thờ thánh Phê-rô, nhưng không có nghi thức rửa chân, cũng không có dâng lễ vật, không có đặt Mình Thánh chầu Thánh Thể.
Giống như ngài, tất cả các linh mục, đặc biệt là vào những ngày trong Tam nhật thánh, đang trải nghiệm những cách thức mới để ở gần với Dân Chúa khi sử dụng truyền thông xã hội. Họ tìm cách sống sứ vụ mục tử cách viên mãn, không quên lịch sử Kinh Thánh dạy rằng ngay cả trong những thời điểm đen tối và bi thảm, Chúa đề nghị những không gian thay thế để ngợi khen và phục vụ Người. Trả lời phỏng vấn của báo Quan sát viên Roma, Đức Hồng y Stella đã nói về điều này và hy vọng rằng khi đại dịch chấm dứt, dân chúng sẽ nhìn vào các linh mục với lòng biết ơn tương tự như đối với sự dấn thân anh hùng của các bác sĩ, y tá, nhân viên y tế và những người gìn giữ trật tự. Sau đây là nội dung bài phỏng vấn Đức Hồng y Stella.
** Năm nay, do đại dịch, Thánh lễ truyền Dầu vào thứ Năm Tuần Thánh không được cử hành tại nhiều giáo phận nhưng được dời vào thời gian khác. Thưa Đức Hồng y, làm sao các linh mục lập lại lời thề hứa linh mục trong bối cảnh khẩn cấp bi kịch này?
– Lịch sử Kinh Thánh nhiều lần thuật lại với chúng ta những tình huống khủng hoảng nặng nề và bi kịch đối với người dân, trong đó ngay cả Đền thờ cũng bị phá hủy và không thể thực hành việc thờ phượng. Những lời của ngôn sứ Giê-rê-mi-a đã diễn tả tình cảnh tuyệt vọng này: “Ngay cả ngôn sứ và tư tế cũng đang lang thang khắp xứ và không biết phải làm gì” (14:18). Tuy nhiên, trong những hoàn cảnh dường như vô vọng này, Thiên Chúa đề nghị những không gian khác để ca ngợi và phục vụ Người; bằng cách này, Người cũng thanh tẩy chúng ta khỏi một số kế hoạch mục vụ bị cáo buộc của chúng ta và một số hình thức quá bên ngoài, đôi khi có thể che khuất vẻ đẹp của Tin Mừng và sự tươi mới của nghi thức phụng vụ.
Được biết, trong Thánh lễ truyền Dầu, được gọi như thế là vì trong Thánh lễ này, Đức giám mục thánh hóa các loại dầu dùng cho các bí tích rửa tội, thêm sức, truyền chức thánh và xức dầu bệnh nhân, nghi thức có việc lập lại lời thề hứa của linh mục; những lời hứa này diễn tả rõ ràng các các cam kết liên quan đến đời sống và sứ vụ mà các linh mục thề hứa vào ngày thụ phong linh mục. Giờ đây, nếu những lời hứa này nhắm thể hiện căn tính sâu sắc của linh mục, nghĩa là ngài không được thụ phong để thỏa mãn chính mình, nhưng là một dấu hiệu sống động của Chúa Kitô Mục tử tốt lành, Đấng hiến mạng sống cho anh em của mình, vào Thứ Năm Thánh chúng ta có cơ hội canh tân những lời thề hứa này không chỉ bằng môi miệng và trong lời cầu nguyện của Thánh lễ truyền Dầu, nhưng lần này, bằng cách mang trên vai mình sự đau khổ vô cùng của dân tộc Kitô giáo và của nhân loại, bằng cách trở thành những người chuyển cầu cạnh bên lòng Chúa.
Trong khi tôn trọng những khoảng cách phòng ngừa mà chúng ta được yêu cầu, chúng ta có nhiều cơ hội để thể hiện sự gần gũi cách con người và thiêng liêng và làm chứng theo cách thức thích hợp việc dâng hiến cuộc sống của chúng ta cho đàn chiên. Trong sự thinh lặng của tâm hồn, đó là một lời cầu nguyện đích thực đẹp lòng Chúa Cha và như một thứ dầu thơm đổ xuống trên Dân Chúa xoa dịu nỗi cô đơn, sợ hãi và sự dữ. Tôi chắc chắn rằng vào sáng Thứ Năm Thánh, khi đau khổ trong tâm hồn vì không thể cử hành phụng vụ, không linh mục nào quên đặt mình trước Chúa để lập lại cách khiêm nhường và sâu sắc những lời thề hứa linh mục.
** Thưa Đức Hồng y, trong thời gian này các linh mục có thể thi hành sứ vụ của mình bằng cách nào?
– Tôi tin chắc rằng thời gian này đối với các linh mục, khi tự vấn trước Chúa và Dân Chúa, là một dịp thuận lợi để dừng lại, phân định và đánh giá bi kịch mà chúng ta đang sống, trong bối cảnh trách nhiệm sứ vụ của mình. Tôi thấy rằng trong những tuần gần đây, một mong muốn mới về truyền giáo và chăm sóc mục vụ cho dân Chúa thức tỉnh trong các linh mục và do đó, có một sự sáng tạo đang xuất hiện khiến chúng ta gần gũi với người dân, những người cảm thấy, với sự ngạc nhiên biết ơn của chúng ta, “cơn đói” bí tích Thánh Thể.
Có lẽ chưa bao giờ như hiện nay các cộng đồng nhận thức được trong lòng họ một nỗi nhớ thực sự nhà thờ của chính họ, những cuộc gặp gỡ huynh đệ ở đó và trên hết là cử hành Thánh Lễ. Các linh mục, đặc biệt là nhờ sử dụng phương tiện truyền thông xã hội và nhiều công cụ truyền thông kỹ thuật số được kích hoạt trong một loạt các sáng kiến trên web, cố gắng đưa ra nhiều thông điệp, lời cầu nguyện, bài giảng và suy niệm Lời Chúa, và nhiều hơn nữa. Đó là những cách mà qua đó các linh mục có thể thực thi sứ vụ thực sự ngay cả trong thời điểm xảy ra đại dịch, vẫn gần gũi, ngay cả khi ở xa.
** Thưa Đức Hồng y, Đức Hồng y đã tìm được những cách thế thú vị cho việc mục vụ?
– Để đối phó với tình trạng mệt mỏi và đau khổ tột cùng đã làm tê liệt năng lượng của chúng ta và buộc mọi người phải cô lập, các sáng kiến mục vụ khác để cho thấy sự hiện diện của chúng ta đã được thực hiện, không chỉ hiện diện ảo, nhưng bằng các cử chỉ và lời nói đi vào trái tim của các tín hữu. Ngay cả trong những mới mẻ sáng tạo này, Chúa Thánh Thần hoạt động và hỗ trợ hành trình của các tín hữu, trong giờ vượt qua sa mạc.
Tuy nhiên, có một khía cạnh không nên bỏ qua, một điều mời gọi các linh mục chú ý đặc biệt đến mục vụ, đó là: thời điểm khó khăn này có thể giúp mọi người khám phá lại chiều kích của Giáo hội tại gia, vẻ đẹp của lời cầu nguyện gia đình, tầm quan trọng của việc đọc Tin Mừng trong nhà riêng của họ.
Để giúp Dân Chúa tìm thấy chiều sâu trong mối quan hệ của họ với Thiên Chúa, tôi thấy rõ ràng rằng nhiều cha xứ, ví dụ, đang chuẩn bị cho các tờ rơi cho các gia đình tương tự như trong các Thánh lễ, trong đó cùng với các bài đọc Chúa nhật và một bài suy tư ngắn gọn, có một dấu hiệu nhắc nhở đặt tờ giấy ở giữa bàn; một cử chỉ Kitô giáo cần được chia sẻ; đọc kinh Lạy Cha hoặc một lời cầu nguyện kính Đức Mẹ. Chúng tôi cũng thấy những cành ô liu nhỏ và những bức vẽ Kinh Thánh của những đứa trẻ được trưng bày bên ngoài những ngôi nhà, như những biểu hiện sống động về đức tin của gia đình.
** Thưa Đức Hồng y, cách thế nào giúp các linh mục tránh cám dỗ, như Đức Giáo hoàng cảnh giác trong những ngày qua, trở thành cha Abbondio? – Đây là một nhân vật linh mục hèn nhát trong một tiểu thuyết.
– Trước hết, đối với mỗi linh mục, phải xác tín trong tâm lòng là: việc đình chỉ phụng vụ và khoảng cách an toàn không bao giờ trở thành lý do để cô lập bản thân hoặc nghỉ ngơi. Tôi chắc chắn rằng các linh mục đã cảm động trước sự hy sinh của nhiều anh em linh mục chết vì bị nhiễm virus; trong đau khổ của họ và trong sự cách ly của các khoa bệnh, khi hướn về cõi vĩnh hằng, những linh mục này sẽ cầu nguyện và hiến mạng sống cho cộng đồng của họ, mang đến trước Chúa các đau khổ bệnh tật, những nhu cầu vật chất và thiêng liêng của người dân.
Với trái tim, họ sẽ nhìn thấy khuôn mặt của những người trẻ tuổi đang gặp khủng hoảng về đức tin và nhiều bà mẹ gặp khó khăn và đau khổ để hỗ trợ sự mệt mỏi và nỗ lực của các gia đình. Khi nói chuyện với một số linh mục, tôi đã rất cảm động khi nghe trên điện thoại, giọng nói nghẹn ngào nức nở thực sự vì sự bất lực của con người trong việc giúp đỡ các tín hữu trong bi kịch hiện tại. Do đó, tôi nhận thấy giá trị của lời cầu nguyện, cầu khẩn cho dân Chúa, đã được Đức Giáo hoàng Phanxicô nhấn mạnh rất nhiều lần, như khi ngài yêu cầu các linh mục “chiến đấu với Chúa” vì các tín hữu của họ. Tôi cũng nhận thấy sự mệt mỏi của các linh mục, kiệt sức vì trò chuyện với mọi người trên điện thoại di động của họ, những người cảm thấy tầm quan trọng của sự hỗ trợ tinh thần này trong sự tuyệt vọng của nhiều trái tim. Trái ngược với “Don Abbondio” đóng mình trong nhà xứ mà Đức Giáo hoàng đã nói đến, tôi cũng thấy vị linh mục trên băng ghế của nhà thờ, chờ đợi các tín hữu, sẵn sàng chúc lành và nói một lời hy vọng và an ủi.
Như Đức Thánh Cha đã khuyên chúng ta khi bắt đầu thảm kịch đau đớn này, tôi tưởng tượng rằng trong một số trường hợp, các mục tử cũng có thể xức dầu cho người bệnh hoặc mang Mình Thánh Chúa đến nhà của một người đang hấp hối. Tôi bị ấn tượng sâu sắc bởi tấm gương của các giáo dân – bác sĩ hoặc y tá – những người có thể bày tỏ đức tin của họ vào Chúa Giêsu Phục sinh, khi vẽ dấu thánh giá trên trán của người sắp chết. Chúng ta không bao giờ có thể quên cử chỉ của các linh mục đi qua trước quan tài của các tín hữu của họ và ban phép lành của Giáo hội, phó thác người quá cố đã đi đến cuộc sống vĩnh hằng cho trái tim nhân hậu của Chúa Cha.
Mỗi linh mục tốt lành sẽ có thể khám phá ra công thức của riêng mình, cử chỉ của chính mình, từ sự thúc đẩy nội tâm của người mục tử và sự thúc đẩy của tiếng nói của Chúa Thánh Thần, những điều buộc ngài phải hoạt động và tỉnh thức giữa dân tộc của mình, theo phong tục văn hóa và phụng vụ từ mỗi quốc gia. Tôi thực sự mong muốn một ngày nào đó khi chúng ta thoát khỏi đại dịch vô tận này, chúng ta có thể nghĩ đến các linh mục với lòng biết ơn và tình cảm tương tự như những người mà ngày nay rất nhiều người nói về bác sĩ, y tá, nhân viên y tế, nhân viên thực thi pháp luật hiện diện trên chiến trường cho đến độ anh hùng .
Hồng Thủy – Vatican
