Aenean nec eros. Vestibulum ante ipsum primis in faucibus orci luctus et ultrices posuere cubilia curae. Suspendisse sollicitudin velit sed leo.

Chuyên mục
  • Bài giảng
  • Các loại khác
  • Chia sẻ
  • Chưa phân loại
  • GH Hoàn Vũ
  • GH Việt Nam
  • Giáo dục
  • Hạnh các Thánh
  • HĐGM Việt Nam
  • Kinh Thánh
  • Phim giáo dục
  • Phụng vụ
  • Sách
  • Suy niệm Chúa nhật
  • Suy niệm hàng ngày
  • Tài liệu giáo dục
  • Tài liệu phụng vụ
  • Thần học
  • Thánh ca
  • Thánh lễ
  • Thánh lễ trực tuyến
  • Thư chung
  • Thư viện
  • Tin tức
  • Triết học
  • Tư liệu
  • UBGD Công giáo
  • Video
From Gallery
Stay Connected
UyBanGiaoDucHDGM.net
  • Trang chủ
  • Thư chung
    • HĐGM Việt Nam
    • UBGD Công giáo
  • Tin tức
    • GH Việt Nam
    • GH Hoàn Vũ
  • Phụng vụ
    • Thánh lễ
    • Thánh lễ trực tuyến
    • Suy niệm hàng ngày
    • Suy niệm Chúa nhật
    • Tài liệu phụng vụ
  • Giáo dục
    • Chia sẻ
    • Tài liệu giáo dục
  • Thư viện
    • Sách
      • Kinh Thánh
      • Triết học
      • Thần học
      • Các loại khác
    • Video
      • Bài giảng
      • Thánh ca
      • Phim giáo dục
      • Hạnh các Thánh
      • Tư liệu
  • Liên hệ
Give Online

Tác giả: Anmai

Home / Anmai
12Tháng Năm
2020

Ổ gà ngày xưa …

12/05/2020
Anmai
Chia sẻ, Giáo dục
0

O ga ngay xua

Mừng tuổi 80 của Mẹ

Nhớ 10 năm linh mục của con

          “Fête de Mères” trên đất Pháp, nhắc con nhớ về Mẹ thật nhiều. Quá nửa đời người mà con cứ như thằng bé, mỗi lần nghĩ về Mẹ là nước mắt cứ chực rưng rưng. Lần đầu tiên trong đời, con phải xa Mẹ lâu đến thế; chưa đầy một năm mà con ngỡ đã từ lâu lắm. Vả lại, tuổi già như trái chín cây? của Mẹ đã làm con nơm nớp lo lắng đủ điều. Mẹ vẫn bình an chứ Mẹ ? Nhưng chắc rằng Mẹ đã khóc con đến cạn khô nước mắt … Biết Mẹ trông tin con lắm, Mẹ hãy nghe con kể chuyện.

          Chiều nay trên đường đến nhà một bà giáo tây để học đàm thoại tiếng pháp, con ghé vào một tiệm bán hoa ven đường. Người ta đông lắm. Trong những ngày này, ai ai cũng hướng lòng về Mẹ mình. Con cũng thế, để nhớ về Mẹ ở xa, con tìm mua một ít hoa để tặng bà giáo mừng ngày lễ Các Bà Mẹ. Bên này mhiều hoa lắm, loại nào cũng đẹp cũng xinh, khiễn con cứ mãi tần ngần.  Cô chủ tiệm ơi, tôi là người ngoại quốc mới đến Paris, tôi muốn mua một ít hoa để tặng bà giáo dạy tiếng pháp nhân ngày lễ Các Bà Mẹ, xin cô vui lòng cho tôi một lời khuyên?. Cô gái bán hàng đảo mắt quanh một vòng rồi tủm tỉm nhìn con trả lời :  Tuỳ túi tiền, ông có thể mua bất cứ  loại hoa nào và màu gì, trừ màu đỏ, màu dành cho tình nhân?.

          Vẫn biết đó là một bài học hay về văn hoá xứ người, nhưng chẳng hiểu làm sao, sau một hồi lần lựa, cuối cùng con đã chọn mua một chậu trường sinh đầy hoa màu đỏ thắm. Dường như con bị chi phối bởi một động lực huyền bí nào đây, chứ bình thường, con trai Mẹ đâu dám liều đến thế. Phải chăng trong thâm tâm con muốn nói với Mẹ rằng : Mẹ ơi, con yêu Mẹ lắm và thầm mong cho Mẹ ‘trường sinh bất tử’. Không biết bà giáo nghĩ gì trong lòng, chứ bề ngoài đã đón nhận món quà với ánh mắt cảm động và lóng lánh niềm vui. Mẹ ơi, con tin rằng vào chính giờ phút ấy bên nhà, Mẹ cũng đang cảm thấy phơi phới nhẹ lòng.

          Suốt hai giờ đàm thoại hôm nay, tự dưng được xoay quanh chủ đề về Mẹ. Con đã lắng nghe tâm sự của một bà mẹ tây bốn con ngoài lục tuần, và cũng đã nói với bà rất nhiều về Mẹ, đặc biệt là những ảnh hưởng của Mẹ trong việc chọn lựa lý tưởng cuộc đời. Mẹ ơi, với tiếng pháp, con chưa đủ ngôn từ, dù tâm tư đầy ap. Bây giờ con viết lại cho Mẹ bằng thứ tiếng Mẹ đã dạy con, để thêm một lần nữa, con muốn nói vói Mẹ rằng : Mẹ ơi, một đời con mang ơn Mẹ.

          Bắt đầu từ đâu đây Mẹ ơi ?! Nếu con có thể kể về những tháng ngày trong bụng Mẹ hoặc thời thơ ấu hạnh phúc trên gối Mẹ thuở nào, thì quả là con không nói về những kinh nghiệm của chính mình, nhưng về một cậu bé nào khác đấy. Thế nhưng con như có linh cảm rằng mình đã nghiệm được phan nào tình ý của Mẹ ngay từ cái thuở bang sơ ấy.

          Biết bao lần trong đời con đã tự hỏi : việc ngam nhìn một bà mẹ ột ệt với bào thai hay một chú bé đang say sưa ôm đôi bầu sửa, phải chăng là một điều bất xứng !? Nhưng thú thật, con đã chẳng vượt qua được “cơn cám dỗ” này. Con muốn hình dung lại tuổi thơ của mình và thậm chí còn ước mơ trở về cái thời bé bỏng ngày xưa.

          Mẹ ơi, vì hình ảnh sống động ấy đã nung nấu trong trái tim con một tình yêu tha thiết dành cho Mẹ. Cánh chim bay nhảy khap bốn phương trời hôm nay đã từng yếu đuối mong manh như thế trong cung lòng vòng tay của Mẹ. Người Việt mình thường ví von :  “Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”

          Thật vậy, con nào có thể chứa đâu cho hết, nói mấy cho vừa. Con chỉ muốn nhắc lại nơi đây một vài kỷ niệm khó quên để biết rằng Mẹ luôn có mặt bên con trong đời, bằng sự tận tâm chăm sóc hay tin tưởng nguyện cầu, góp phần quan trọng hình thành và nuôi dưỡng nơi con lý tưởng linh mục. Con lên tám tuổi, trước ngày rước lễ lần đầu, Mẹ đã bị Cha Sở quở trách giữa nhà thờ vì có thằng con trai đọc kinh quá lớn tiếng, lấn át hết mọi người, thậm chí đọc cả phần dành riêng cho linh mục.

          Sở dĩ như thế là vì con đã thuộc lòng hầu hết những bài kinh dài vắn từ thuở còn đưa võng nằm nôi, Mẹ đọc ngan nga đưa con vào giấc ngủ. Mẹ chẳng bao giờ quên nhắc con phải đọc một câu kinh nào đó trước mỗi món quà, khi ăn cơm và lúc đi ngủ. Mẹ cũng đã mất nhiều thời giờ giúp con chuẩn bị và sốt sắng tham dự những thánh lễ “dỏm” con dâng bằng chăn màn, khoai khô và nước chè đậm. Mẹ tập cho con trang trí bàn thờ và không quên ngắt những cánh hoa dại cài lên áo con, sau lưng và trước ngực.

          Mẹ đã chẳng bật cười khi khi há miệng chắp tay đón nhận lát khoai khô mà con vừa trao, vừa dám tuyên bố với Mẹ rằng : “Đây là Mình Thánh Chúa?. Mẹ còn quì gối cúi đầu làm dấu thánh giá khi con “ban phép lành” cuối lễ … Nhiều lần “làm lễ” quá cẩu thả, con bị Mẹ phạt, bắt làm lại từ đầu. Hôm nào đi vắng suốt ngaỳ, khi trở về, Mẹ thường hỏi : hôm nay ở nhà, con đà dâng lễ chưa …

           Có phạm thánh không Mẹ ơi, sao con thấy dễ thương quá !

          Lơn hơn một chút, khi con được phân công giúp lễ, dù mấy bận bịu, không bao giờ Mẹ vắng mặt ở nhà thờ. Chính tay Mẹ đã chuẩn bị y phục và chải đầu rẽ ngôi cho con, đưa con đến tận cửa phòng thánh, rồi vội vàng tìm chỗ nơi đầu hàng ghế giữa lòng nhà thờ để dễ bề quan sát. Những lúc ấy, nhìn bàn thờ thì ít, Mẹ nhìn con nhiều hơn, Mẹ con mình hiểu nhau qua ánh mắt, phải thế không ?

          Còn nữa, con còn nhớ những đồng bạc giấy mới tinh Mẹ đã gom góp suốt tuần và trang trọng trao vào tay con mỗi lần đi tham dự thánh lễ thiếu nhi ngày Chúa Nhật. Mẹ đã tập cho con ý thức và niềm vui chung góp, đến độ có lần con đã không chịu đi dự thánh lễ vì Mẹ đi vắng chẳng ai cho tiền mới tinh như của Mẹ.  Mãi đến hôm nay, mỗi lần cầm trên tay tiền giấy mới, con còn nhớ lại khung cảnh ngaỳ xưa; tiếc  lắm, chẳng dám tiêu, cứ muốn để dành cho việc chung góp.

          Mẹ ơi ! những việc  thật nhỏ đó, Mẹ đã làm với tất cả tâm tình, niềm tin  và hoài bão. Mẹ đã đầu tư cho con trai Mẹ những trương mục thiêng liêng vô giá. Mẹ đã khắc ghi vào tâm can đứa trẻ những hình ảnh và âm thanh đầu tiên rất linh nghiệm đến suốt đời không thể xoá nhoà. Con đã vào tiểu chủng viện ở tuổi mười hai, lên đại chủng viện khi quê hương tàn cơn chinh chiến.

          Và không biết là may mắn hay rủi ro, khi mãn đại chủng viện, con bước vào đời bằng bảy năm đợi chờ trong mái ấm gia đình, được chia xẻ tận cùng với Mẹ Cha nếp sống nông dân thấm mồ hôi nước mắt, nhưng cũng đầy những kỷ niệm và bài học quí giá cho cuộc đời. Suốt những năm tháng dài nhọc nhằn đó, hình ảnh người phụ nữ đẹp nhất trong con vẫn là Mẹ. Sợ con ngã lòng thất vọng, Mẹ luôn tan tuỵ với con như một đứa trẻ, cho dù con đã quá tuổi trưởng thành. Mẹ đã dành cho con rất nhiều ưu tiên trong những phương tiện nhỏ hẹp của gia đình lúc ấy.

          Con còn nhớ mỗi lần vào bàn ăn, Mẹ luôn ưu ái bới cho con những bát cơm trắng. Thấy con ngần ngại chối từ, Mẹ cắt nghĩa rằng an cơm độn khoai sắn sẽ quên hết những gì đã học. Mẹ ơi, có thật thế không ? Sao nhiều bài học con đã trót quên, còn tình Mẹ ngày thêm sâu đậm. Giữa bao điều con không thể quên là câu chuyện về ba ổ gà mái.

          Năm ấy trong nhà chỉ còn có Cha Mẹ và con, Mẹ dọn bữa cơm tối ngoài sân khi nắng chiều vừa tắt. Nhìn ba con gà mái tơ đang tranh nhau những hạt cơm rơi rớt, nghĩ rằng để Cha Mẹ vui, con đã cao hứng đề nghị: “Con trắng thuộc về Cha, con nổ là của Mẹ, phần con cô màu vàng. Con sẽ làm ba cái ổ rơm trên giàn chuồng heo, gà ai đẻ nhiều trứng nhất, người ấy thắng cuộc”.

          Ngược lai, như để chiều ý con, cả Cha lẫn mẹ đều vui vẻ hưởng ứng cái trò trẻ con ấy. Chỉ mấy hôm sau, cả ba con gà đều đồng loạt nhảy ổ và bắt đầu cho trứng. Gà mái tơ làm công việc ấy rất thất thường, khiến cho cuộc chơi càng thêm hấp dẫn. Con lanh nhiệm vụ kiểm trứng mỗi chiều và thông báo kết quả cho cả nhà vào giờ cơm tối. Tuần lễ đầu, ba ổ trứng luôn sít soát bằng nhau: một, hai rồi ba trứng. Cả ba con mái bắt đầu được nuôi ăn kỹ hơn; trong giờ cơm, gà của ai quấn quít bên chân người ấy. Dường như lũ gà cũng cảm hứng cuộc chơi, nên khi chỉ một con đẻ, cả ba con đều “cục tác…” .

          Sang tuần lễ sau, ổ gà vàng của con đã vượt lên dẫn đầu, dần dần bỏ xa, rồi gấp đôi hai ổ gà của Cha và Mẹ. Con rất thích thú về ổ gà của mình và hay đùa rằng mình có tay nuôi gà lấy trứng, không sợ thất nghiệp. Dù thua, Mẹ chảng thèm “ganh tỵ” với con tí nào, lai hay tìm dịp biện luận: “Điều ấy chứng tỏ tương lai của con còn sáng sủa lắm, chứ không hoàn toàn tối tăm đâu, đừng nản lòng !?

          Cho đến một ngày, con bất ngờ khám phá ra sự may mắn của mình. Tưởng con đã đi nghỉ trưa như thường lệ, Mẹ trèo lên chỗ để ba ổ gà. Chợt nhìn thấy, con dừng lại, nép mình sau cánh cửa để quan sát. Mẹ nhẹ nhàng lấy một quả trứng nơi ổ gà của Mẹ, cẩn thận đặt vào ổ gà của con, rồi vội vàng bước xuống với một nụ cười mãn nguyện.

          Thì ra Mẹ đã làm như thế Mẹ ơi ! Con bắt quả tang sự “gian lận” của Mẹ rồi ! Con chạy cắm đầu vào phòng và trên giường nằm khóc tức tưởi, mặc cho hạnh phúc, cảm xúc dâng trào. Để niềm vui của Mẹ được trọn vẹn, vào cuối cuộc chơi, con đã im lặng nhận lấy phần thắng mà nghe sống mũi cay xè, cất giấu tận đáy lòng hình ảnh cảm động mình đã nhìn thấy. Cha về nhì với vẻ mặt không quen nói dối vì đã đồng tình để ổ gà của mình chịu chung số phận.

          Mẹ ơi, Mẹ luôn có đủ hy sinh để yêu thương, có đầy sáng kiến để chăm sóc. Mẹ quả cảm nhẫn nại đến chừng nào! Mẹ đã truyền cho con sự sống, hướng dẫn con bao ý tứ tâm tình. Và trong những ngày tháng khó khăn đen tối nhất của cuộc đời, tình mẫu tử thiêng liêng dịu dàng đó đã dấy lên trong con sức mạnh chiến đấu, niềm tin chiến thắng. Ba ổ trứng đã biến thành ba bầy gà con xinh xắn, xúm xít chút chít quanh sân nhà. Cuối cùng, lũ cháu đàn con của chúng đã “hy sinh”góp phần làm tăng thêm niềm vui cho mọi người quanh mâm bàn ngày con trở về “vinh qui bái tổ”, hai hôm sau khi chịu chức linh mục. Ngày lễ tạ ơn tại quê nhà, trời đã vào đông mà vẫn đầy nắng ấm. Con xúng xính trong chiếc áo lễ mới màu vàng có thêu mấy chiếc hoa hồng đỏ thắm đầy gai, cũng sau lưng và trước ngực.

          Khi con đến cho Mẹ chịu lễ, cầm Mình Thánh Chúa trong tay, không ai nói với ai mà cả hai cùng nức nở, vì hồi tưởng lại những lát khoai ngô ngày nào… Cũng chính hôm ấy, giữa hằng ngan tín hữu đưa tay làm dấu khi con ban phép lành đầu tay cuối lễ, con biết chắc chắn Mẹ là người hạnh phúc nhất, vì đã từng giúp con nuôi nấng ấp ủ giấc mơ thánh thiện này từ khi con còn tấm bé, bằng cả đời hy sinh cầu nguyện.

          Xa quê hương, xa gia đình, nhân ngày “Fête de Mères”, con viết đôi điều về Mẹ. E rằng con quá đơn sơ dông dài khi nhắc lại những cảm nhận rất mộc mạc riêng tư ấy. Tự đáy lòng, con muốn góp một cung, chung một nhịp cho bản trường ca bất tận tôn vinh tình mẫu tử thiêng liêng, mà mỗi một người con luôn cảm thấy réo rắt rung lên tận đáy tâm hồn, dù Mẹ đang còn hay đã mất.

          Hơn nữa, vào những tháng này hằng năm, khi niên học chấm dứt, cũng là ngày mùa của Giáo hội. Những cuộc lễ phong chức và kỷ niệm thụ phong linh mục đây đó diễn ra, cũng đầy niềm vui và nước mắt. Mỗi tân chức không thể quên công khai nói lên lòng biết ơn của mình đối với gia đình, vì ơn gọi Chúa trao hầu như cũng đã tượng hình từ chính mái ấm mẹ cha, như hạt giống nẩy mầm từ lòng đất. Cám ơn Cha Mẹ, cám ơn Cha Mẹ ngàn lần !

          Mới đó mà con sắp mười năm linh mục, còn Mẹ bước vào tuổi tám mươi. Tuổi già mong manh, thánh thiện của Mẹ vẫn là sự đỡ nâng cần thiết cho bước chân con trên đường sứ vụ xa gần. Nhớ lắm Mẹ ơi ! Con mong ngày về để gặp lại Mẹ, để kể Mẹ nghe về những năm tháng dài miệt mài nơi đất khách, để được Mẹ nấu đãi cho niêu cơm gạo mùa nóng hổi thơm phức và chả cá kho dưa cải mặn mà… Con phải dừng đây thôi Mẹ ơi !

 Paris 20.6.1999

Giuse Châu Ngọc Tri

Read More
12Tháng Năm
2020

Hậu đại dịch covid-19: Anh em đừng sợ!

12/05/2020
Anmai
Giáo dục, Tài liệu giáo dục
0

Federico Lombardi, S.J.
Lm. Phaolô Nguyễn Thanh Tuấn chuyển ngữ từ vaticannews.va/it

 Bài viết mới của cha Federico Lombardi nhìn về hậu đại dịch covid-19: Thế giới cũng tràn đầy những điều tốt lành. Nhiệm vụ là phải nhận ra chúng và làm cho chúng được biết đến, bởi vì chỉ nơi đó, chúng ta được dẫn đi xa hơn và hướng cái nhìn lên cao.

«Đừng sợ! Bởi vì Ta sẽ ở với ngươi!». Đó là điệp từ trong tất cả Kinh Thánh. Đó là những lời từ chính Thiên Chúa hay nhân danh Ngài đến với những người được Ngài kêu gọi cho sứ vụ đòi hỏi phải cố gắng và bất ngờ, qua những cách thế vẫn còn chưa được biết, như Môsê trước bụi cây rực cháy hay như Maria trước Sứ thần.

«Các ngươi đừng sợ!». Đây là những lời từ các tiên tri gửi đến đoàn dân bị áp bức bởi nỗi thống khổ, như khi họ ở ngõ cụt không có lối thoát giữa Biển Đỏ và những chiến xa của quân Ai Cập. Chúa Giêsu cũng nhiều lần lập lại những lời ấy cho các môn đệ của mình, tới «Đàn chiên bé nhỏ» đi theo Người, hoặc hướng đến những người sẽ phải chịu sự bách hại vì danh của Người. Đối với những điều như thế, Chúa Giêsu khẳng định rằng họ không phải sợ bất cứ thế lực con người nào, bởi vì chúng có thể lấy đi sự sống của thể xác nhưng không phải của linh hồn và bởi vì trong thời gian thử thách Thiên Chúa sẽ không bỏ rơi họ.

Điệp từ tuyệt vời «Anh em đừng sợ!», như chúng ta ghi nhớ, đã được nhắc lại cách mạnh mẽ trong khoảng thời gian rất gần với chúng ta nơi thánh Gioan Phaolô II khi bắt đầu triều đại giáo hoàng của Ngài và hướng đến toàn thể nhân loại: «Các con đừng sợ hãi! Hãy mở những cánh cửa cho Đức Kitô!». Xét cho cùng, niềm tin vào Đức Kitô Đấng Cứu Chuộc mới chính là sự giải thoát vĩ đại và dứt khoát cho mọi người khỏi nỗi sợ hãi.

Đại dịch, ngay cả khi nó sẽ được vượt qua cách ổn định nhờ một loại vắc-xin hiệu quả, trong mọi trường hợp, nó sẽ để lại cho chúng ta cái hậu của sự bất an, thậm chí chúng ta nói đến nỗi sợ hãi tiềm ẩn, sẵn chờ để tái diễn. Hiện giờ, chúng ta biết rằng, bất chấp mọi nỗ lực và dấn thân đúng đắn để giảm thiểu những nguy cơ, thì các loại virus khác hoặc những thế lực khác sẽ xuất hiện và nằm ngoài sự kiểm soát có khả năng khiến chúng ta bất ngờ và làm khủng hoảng những sự an tâm và an toàn của chúng ta. Bởi vì sự an toàn tuyệt đối trên trái đất này là không tồn tại, là không thể. Và nó sẽ không bao giờ tồn tại ngay cả trong tương lai.

Chắc chắn chúng ta phải mong đợi từ khoa học và từ các thể chế xã hội và chính trị, nói chung từ lý trí của con người, một sự trợ giúp thiết yếu để lấy lại sự bình yên cần thiết cho một cuộc sống cá nhân và xã hội cách an vui và «bình thường». Nhưng vẫn còn đó nhu cầu về một cái gì sâu hơn mà những câu trả lời này thì chưa đủ.

Chúng ta có thể sống tự do khỏi những nỗi sợ hãi tận căn cho bản thân chúng ta, cho những người thân yêu, và cho tương lai của chúng ta không? Đâu là chìa khóa để sống trong an bình và từ đó để có cuộc sống thực sự tốt đẹp ngay trên trái đất này, mặc cho bao khó khăn không thể tránh khỏi phát sinh mỗi ngày? Chúng ta biết rằng mỗi chúng ta đều có tính cách riêng, đặc điểm và lịch sử riêng của mình, đó là những điều vốn ảnh hưởng sâu đậm đến thái độ của mỗi người. Có người rất lo lắng và yếu đuối, nhưng không do lỗi của họ; có người cách tự nhiên hết sức bình tĩnh, lạc quan, và đó là một ân ban. Nhưng lời của Chúa được gửi đến tất cả và là lời mời gọi mọi người hãy phó thác với niềm tin vào một tình yêu đi trước chúng ta, dõi nhìn chúng ta và đồng hành cùng chúng ta.

Ngày nay, chúng ta thường có sự dè dặt nói đến «Sự quan phòng» của Thiên Chúa. Dường như với chúng ta, đó là một từ có nguy cơ cho bổn phận chính đáng của Kitô hữu trong thế giới, vì chúng làm cho chúng ta trở nên thụ động và ít trách nhiệm. Nhưng đây là một cái bẫy. Quên đi sự quan phòng của Chúa có nghĩa là làm mất đi cảm thức rằng tình yêu của Chúa bao bọc chúng ta và đồng hành cùng chúng ta, ngay cả khi đôi mắt của chúng ta thường vẫn không thể nhận ra điều đó. Trong Bài giảng trên núi, Chúa Giêsu mời gọi chúng ta hãy mở đôi mắt – «Các con hãy xem những chú chim trên bầu trời, nhìn vào những bông hoa huệ ngoài đồng …» – và đừng để chúng ta hoàn toàn bị cuốn vào những mối bận tâm tức thời về sự sung túc chóng qua của mình. Hơn cả chim trời và muôn hoa, con mắt khi mở ra có thể nhìn thấy bao dấu chỉ khác của tình yêu và niềm hy vọng được gieo khắp hành trình bước đi mỗi ngày của chúng ta, trong những hoàn cảnh và con người chúng ta gặp gỡ, trong những lời nói và việc làm của họ. Mỗi người trong chúng ta nhận ra đó là một ân ban khi gặp những người mà họ biết cách nhìn về họ và giúp chúng ta nhìn họ bằng ánh mắt thấu hiểu và cái nhìn bình tâm. Thế giới tràn đầy không chỉ những tin xấu, mà cả những tin tốt. Nhiệm vụ là phải nhận ra những điều tốt đẹp và làm cho chúng được biết đến, bởi vì chỉ nơi đó, chúng ta được dẫn đi xa hơn và hướng cái nhìn lên cao, tới cội nguồn của tình yêu, tới đích đến của niềm hy vọng.

Và rồi Chúa Giêsu kết thúc những lời dạy về sự quan phòng bằng một lời khuyên rất khôn ngoan: «Ngày nào có cái khổ của ngày ấy». Chúng ta không được để những lo lắng của ngày hôm nay, của ngày mai và tất cả tương lai đang chờ đợi chúng ta chồng chất lên chúng ta: Chúng sẽ  nghiền nát chúng ta. Chúng ta phải nghĩ rằng mỗi ngày đều có lý do của đau khổ, mà cũng là của ân sủng. Chúng ta phải tin rằng mỗi ngày chúng ta sẽ được ban ân sủng cần thiết để vác lấy gánh nặng. Ân sủng cần thiết để tìm kiếm nước Thiên Chúa và sự công chính của nó ngay trong đời này và sự sống vĩnh cửu. Thánh Têrêsa Avila cho chúng ta một từ giúp mở rộng trái tim và chân trời của chúng ta, vượt lên trên mọi trở ngại: «Không có gì làm rối lòng bạn, không có gì làm bạn sợ hãi. Mọi thứ đi qua, còn Thiên Chúa không thay đổi. Với sự kiên trì sẽ có được mọi thứ. Ai có được Thiên Chúa thì chẳng thiếu gì. Chỉ mình Ngài là đủ.» Liệu đức tin của chúng ta có biết gợi hứng cho chúng ta trên hành trình dài phía trước, để sẽ là một hành trình thông minh và khôn ngoan, thực sự tự do từ những lời khuyên tồi tệ của những nỗi sợ hãi sâu kín, tự do trong niềm hy vọng với nỗi sợ trước cái chết?./.

Các bạn có thể đọc thêm bài đã viết trong loạt bài “Nhìn xa hơn cuộc khủng hoảng covid-19” của cha Federico Lombardi theo link sau:

Bài 1: Hậu Covid-19: Chúng ta sẽ gặp lại nhau với cái nhìn nào?

Bài 2: Hậu Covid-19: Cơ hội để xếp đặt trật tự cuộc sống chúng ta

 

 

Federico Lombardi, S.J.
Lm. Phaolô Nguyễn Thanh Tuấn chuyển ngữ từ vaticannews.va/it

Read More
12Tháng Năm
2020

Bữa ăn và sự gặp gỡ

12/05/2020
Anmai
Phụng vụ, Tài liệu phụng vụ
0

Là nguồn cần thiết bổ sung năng lượng, là thời khắc thụ hưởng vui tươi, bữa ăn còn là dịp để đối thoại, trao đổi và chia sẻ. Một tình cảm hiệp thông rất đặc biệt nối kết những người đồng bàn. 

Trong thế giới Kinh Thánh và ngoài xã hội nữa, bữa ăn đánh dấu những biến cố lớn trong đời sống gia đình và cộng đoàn: tiệc thôi nôi, đám cưới, những cam kết xã hội và chính trị. Người ta mời khách dùng bữa. Ý nghĩa biểu trưng vẫn luôn là: nối kết những khách mời, khơi dậy sự hiệp thông tinh thần và hòa hợp tâm hồn.

Ăn bánh

Ăn bánh là “nuôi sống mình”. Trong một xã hội nông nghiệp như xã hội của Kinh Thánh thì ngũ cốc là lương thực cơ bản. Hình thức của chiếc bánh có khác nhau. Đó là tấm bánh hay ổ bánh: bằng lúa mạch, lúa mì, hạt kê hay lúa mì nâu. Đôi khi, bột bánh được làm cho mềm đi bằng mật ong hay dầu. Hạt ngũ cốc không thôi cũng là lương thực cơ bản. Cách đơn giản nhất để chuẩn bị bữa ăn bằng ngũ cốc là rang hay nướng.

Quạ phục vụ bữa ăn

Ngôn sứ Êlia gặp khó khăn khi thi hành nhiệm vụ. Trốn cuộc truy sát của vua Akháp, ông chạy vào sa mạc, nơi không mấy hiếu khách mà ta có thể chết đói ở đấy. Nhưng Thiên Chúa lo lắng và bảo đảm cho sự sống còn của ông. Cứ đến trưa, một con quạ mang bánh và thịt đến. Trước khi đêm xuống, cũng con quạ ấy (hay một con khác?) lại xuất hiện. Và sự việc cứ tiếp tục như thế cho đến khi vị ngôn sứ không còn ở trong tình trạng nguy hiểm nữa. Như thế, Êlia có thể lên đường đi Sarépta (ngôi làng mà Thiên Chúa muốn ông đến), nhờ những bữa ăn mà quạ phục vụ trưa tối. Bản văn này cho ta biết về các giờ ăn. Người Israel cổ ăn bữa trưa và bữa tối, ngồi trên đất. Họ cũng dùng những bữa ăn dặm nhẹ gồm: trái cây khô (chà là, vả, nho), hạt đào lạc (pistaches), quả hạnh (amandes), quả óc chó (noix).

Khi đậu lăng thành giấm chua

Một câu chuyện khác về bữa ăn. Hai anh em sinh đôi: Êsau và Giacóp. Êsau là đứa con yêu của cha; Giacóp là đứa con yêu của mẹ. Một ngày kia, Êsau đi săn như thường lệ. Anh tìm con mồi để chuẩn bị món ăn mà cha anh yêu thích. Đấy là ngày Isaác chúc lành đặc biệt cho người con trưởng. Biết được chuyện, bà mẹ bảo Giacóp bắt hai con dê non trong đàn để bà làm món mà ông Isaác yêu thích. Đánh lừa người cha mù lòa, Giacóp được lầm tưởng là Êsau và chiếm lấy sự chúc lành dành cho anh mình. Hiển nhiên, Êsau đến sau với bữa ăn đã “biến thành giấm”!

Rõ ràng, bữa ăn không đem lại cơ hội cho Êsau, người mà trước đó cũng vừa mới “nhường” quyền trưởng nam cho Giacóp để đổi lấy một tô cháo đậu lăng. Chắc chắn, đậu lăng là họ đậu được biết đến nhiều nhất, nhưng người Israel cổ cũng ăn cả đậu gà (pois chiches) và rau quả như:  dưa chuột, hành tây, tỏi…

Và thức uống?

Người ta uống rượu nho, hoặc là nước nho ép có đường hoặc là nước ép cho lên men. Đôi khi được cho thêm hương vị, rượu nho được pha loãng nếu quá đậm. Hơn nữa, rượu nho không phải là thức uống có cồn duy nhất được biết đến. Chekhar, nghĩa là thức uống làm cho say, hoặc chỉ một loại rượu làm từ quả cây cọ, chà là, một loại bia làm từ lúa mạch, hoặc một thức uống lên men khác. Kinh Thánh còn nói đến một loại hèm làm từ quả lựu.   Để giải khát khi làm việc đồng áng, người ta uống một loại giấm pha với nước.

Gia vị và biểu tượng

Trong thế giới Kinh Thánh, những giao ước đôi khi được gọi là “giao ước muối” (tiếng Hípri là berith mélah), bởi vì muối thêm vị cho món ăn nhưng nhất là vì nó bảo quản tránh khỏi hư hoại. Muối trở thành biểu tượng của sự trường tồn và trung tín của giao ước được ký kết. Những tập quán của người Ả Rập ở đầu thế kỷ giúp ta hiểu rõ hơn về biểu tượng này. Để kết thúc một hiệp ước hay làm cho tình bạn bất phân ly, người Ả Rập cùng nhau nhúng hai miếng bánh của cùng một chiếc bánh vào trong muối và ăn chúng. Họ tuyên thệ rằng: “Hãy làm điều này nhờ bánh và muối ở giữa chúng ta”. Từ đó có thành ngữ Ả Rập  “traître jusqu’au sel” (phản bội đến cả muối, nghĩa là, phá hủy giao ước). Và thành ngữ “avoir mangé un boisseau de sel” (ăn một vốc muối) có nghĩa là “bạn vong niên”.

Ngồi bàn ăn

Phục vụ bàn ăn thay đổi tùy theo giai cấp xã hội. Người nghèo ngồi quanh một mâm ăn sâu lòng mà mỗi người lấy thức ăn bằng tay. Trong những gia đình có điều kiện, người ta đặt những ghế và bàn riêng (những chân ghế mà người ta đặt mâm ăn trên đó). Từ thế kỷ V trước Công nguyên, người ta mới thấy các vua chúa, và những nhân vật đặc biệt (nhất là trong những đại tiệc) nằm dài ra ăn trong khi các bà vẫn ngồi.

Sách Châm Ngôn 23,1-3,6-8 và Huấn Ca 31,12-24 cho chúng ta những mẫu “quy chuẩn” khi ngồi bàn ăn: “Khi con ngồi ăn với kẻ có chức quyền, hãy để ý kỹ người đối diện.  Nếu con vốn tham ăn, hãy đặt dao kề cổ. Đừng thèm thuồng cao lương mỹ vị của hắn, vì đó là thứ đồ ăn phỉnh gạt. […] Chớ ăn bánh của quân xấu bụng, đừng thèm thuồng cao lương mỹ vị của hắn. Vì lòng hắn nghĩ sao, con người hắn như vậy. Hắn mời con: “Ăn uống đi nào!” Nhưng đâu phải hắn có lòng với con. Mẩu bánh vừa nuốt vào, con đã phải thổ ra. Mất công toi bao nhiêu lời tốt đẹp” (Cn 23, 1-3,6-8)

“Khi ngồi trước mâm cao cỗ đầy, đừng hả họng thốt lên: “Chà! Thịnh soạn quá!” Hãy nhớ rằng: mắt hau háu là điều chẳng hay. Có thụ tạo nào tệ hơn con mắt? Gặp chi nó cũng phát khóc (vì thèm). Miếng người khác đã nhằm, con đừng đưa tay tới, đừng giành với họ trên cùng một đĩa. Hãy suy bụng ta mà nghĩ ra bụng người, làm việc gì cũng phải đắn đo cân nhắc. Những món đã dọn ra, hãy ăn làm sao cho xứng một con người, đừng nhai nhồm nhoàm kẻo bị khinh chê. Hãy tỏ ra có giáo dục mà buông đũa trước. Đừng háu ăn kẻo người ta bực mình. Chung mâm với nhiều người, con đừng cầm đũa trước. Người có giáo dục thì chút ít cũng vừa, trên giường nằm sẽ không tức bụng. Ăn chừng mực sẽ ngủ thoải mái, thức dậy sớm, tâm hồn được thảnh thơi; kẻ ăn uống quá độ thì mất ngủ đã đành, mà còn bị thượng thổ hạ tả. Nếu đã bị ép phải ăn, hãy đứng lên ra ngoài mà ói, con sẽ thấy dễ chịu. Con ơi, hãy nghe ta, chớ có khinh thường, sau này con sẽ thấy là ta nói đúng: Trong mọi việc con làm, hãy giữ chừng giữ mực, thì chẳng bệnh tật nào chạm tới con. Chủ nhà hào hoa, người người ca tụng, thiên hạ còn kể mãi về lòng tốt của ông. Chủ nhà sẻn so, cả làng đàm tiếu, thiên hạ có kể về sự hẹp hòi đó thì cũng phải thôi” (Hc 31,12-24)

Bữa tiệc Thánh Thể

Có những lời nói và hành động của Đức Giêsu liên quan đến tính chất xã hội của bữa ăn. Vì thế, khi Đức Giêsu phân phát bánh cho đám đông, Ngài không làm theo kiểu mạnh ai nấy tự phục vụ; Ngài bảo mọi người “quy tụ lại thành những nhóm 100 hay 50 người”, như thế là làm thành những bàn ăn. Và chỉ khi đó thì bữa ăn chính thức mới bắt đầu. Cùng nhau ăn, trao đổi với nhau những lời nói, tăng thêm giá trị thiêng liêng cho thú vui yến tiệc. Trong Kinh Thánh, bữa ăn là nơi khơi gợi lên sự hòa giải, tái lập những giao ước đã bị phá vỡ. Đàng khác, phản bội đang khi người ta tin tưởng cùng ngồi ăn với nhau, đó sẽ là sự phản bội tệ hại nhất trong mọi sự phản bội.

Theo các Tin Mừng, chính quanh một bàn ăn mà Đức Giêsu đã quy tụ các môn đệ với nhau lại lần cuối cùng. Chia sẻ bánh và rượu trở nên biểu tượng của quà tặng mà Chúa đã làm bằng chính con người mình dành cho số đông người, là giao ước mà Ngài thiết lập với mỗi người. Nhất là nó tượng trưng cho sự kết hiệp từ nay ngự trị giữa những ai “ăn bánh và uống chén này” trong khi chờ đợi bữa đại yến tiệc cùng với Ngài trong Nước Trời.

 

Aldina da Silva
Lm. Phaolô Nguyễn Minh Chính chuyển ngữ từ Parabole

Read More
12Tháng Năm
2020

Thư mục vụ của HĐGM Ba Lan: kỷ niệm 100 năm sinh nhật Đức Gioan Phaolô II

12/05/2020
Anmai
GH Hoàn Vũ, Tin tức
0

Hội đồng Giám mục Ba Lan nhắn nhủ các tín hữu nước này đừng sợ hãi, và hãy mở toang các cánh cửa cho Chúa Kitô, như lời dạy của thánh Gioan Phaolô II Giáo hoàng.

Thánh Gioan Phaolô II | Vatican News

Các giám mục Ba Lan đưa ra lời kêu gọi trên đây, trong lá thư mục vụ sẽ được đọc tại các nhà thờ trên toàn quốc Chúa nhật 17/5/2020 tới đây, nhân dịp kỷ niệm 100 năm sinh nhật của thánh Gioan Phaolô II- sinh ngày 18/5/1920.

Thư mục vụ gợi lại những thời điểm và những nét quan trọng nhất trong cuộc sống và hoạt động của thánh Giáo hoàng, và các giám mục nêu câu hỏi: “Đâu là sứ điệp thánh Gioan Phaolô II muốn gửi đến những người đồng hương của ngài trong tháng Năm năm 2020 này, trong thời điểm rất khó khăn đối với tất cả chúng ta, những người đang chiến đấu chống đại dịch coronavirus?”

Các giám mục trả lời bằng câu nói của Đức Gioan Phaolô II: “Anh chị em đừng sợ! Hãy mở toang các cánh cửa cho Chúa Kitô! Hãy mở biên cương các nước, các chế độ kinh tế, cũng như chính trị, các lãnh vực văn hóa, văn minh, phát triển! Anh chị em đừng sợ! Chúa Kitô biết trong con người có điều gì, chỉ có Chúa biết điều đó!”… Chúa Kitô biết điều gì mỗi người chúng ta mang trong mình ngày hôm nay, Chúa biết trọn vẹn những niềm vui, lo âu, hy vọng, sợ hãi và mong ước của chúng ta. Chỉ có Chúa biết câu trả lời cho những câu hỏi chúng ta đang đặt ra bây giờ”.

Trong thư, Hội đồng Giám mục Ba Lan cũng bày tỏ xác tín rằng “giả sử Đức Giáo hoàng Ba Lan sống ngày nay, chắc chắn ngài sẽ hiểu những người đang sống trong cô lập và cách ly. Ngài sẽ cầu nguyện cho các bệnh nhân, những người đã chết và gia đình họ”. Khi còn sống, ngài đã thường được điều trị trong nhà thương, không thể cử hành thánh lễ, và đã đau khổ vì anh ruột Edmund của ngài chết lúc 26 tuổi, như một bác sĩ trẻ bị lây bệnh từ một bệnh nhân. Vì thế, thánh Gioan Phaolô II hiểu và đánh giá cao công việc của các bác sĩ, y tá, các nhân viên cứu cấp và y tế. Ngài đã gặp và ngài thường cầu nguyện cho họ khi còn sống”.

Cũng trong thư mục vụ, Hội đồng Giám mục Ba Lan nhắc đến giáo huấn của Đức Giáo hoàng đồng hương, người đã viếng thăm 132 quốc gia và khoảng 900 thành phố, giáo huấn ấy ngày nay vẫn còn giá trị. Thư cũng nhắc lại lời Đức Hồng y Stanislaw Dziwisz, cựu bí thư của Đức Cố Giáo hoàng, kể lại: lúc Đức Gioan Phaolô II bị mưu sát, ngài vẫn bình tĩnh, mặc dù tình thế bi thảm và nguy cơ tử vong gần kề. Và mặc dù cảm thấy đau đớn vì vết thương, ngài không tỏ ra kinh hãi và trước khi bất tỉnh, ngài đã phó thác ngay cho Đức Mẹ Maria, và tha thứ cho kẻ đã bắn ngài”. (Vatican News 8-5-2020)

Nguồn: vietnamese.rvasia.org

Read More

Điều hướng bài viết

  • Previous page
  • Page 1
  • …
  • Page 1.795
  • Page 1.796
  • Page 1.797
  • …
  • Page 2.049
  • Next page
Bài viết mới nhất
BẮT ĐẦU CUỘC GẶP GỠ GIỚI TRẺ TAIZÉ CHÂU Á TẠI HỒNG KÔNG
04/05/2026
ĐỨC THÁNH CHA TIẾP BAN QUẢN TRỊ VÀ THÀNH VIÊN CỦA "QUỸ GIÁO HOÀNG"
04/05/2026
Chương trình MỤC VỤ HUẤN GIÁO  
04/05/2026
Video nổi bật
https://www.youtube.com/watch?v=Td144YDsaGo
Sự kiện sắp tới

There are no upcoming events at this time.

Ủy ban Giáo dục Công giáo – Trực thuộc Hội Đồng Giám Mục Việt Nam.

Liên hệ

72/12 Trần Quốc Toản, Phường 8, Quận 3, TP.HCM Get Directions

Phone: +84 931 436 131

Email: [email protected]

Ban chuyên môn
  • Ban Tài liệu và Truyền thông
  • Ban Giáo chức
  • Ban Kỹ năng và Giá trị sống
  • Ban Khuyến học
  • Ban Học viện Thần học
  • Ban Hội Học sinh – Sinh viên
Chuyên mục
  • Tin tức
  • Thư chung
  • Giáo dục
  • Phụng vụ
  • Thư viện
Bản quyền © 2020 thuộc về Ủy Ban Giáo Dục HĐGM VN. Design by JT.