2020
Gót sen hồng
Gót sen hồng…
5/7/2020 11:35:26 AM
Khi nói đến việc chăm sóc sắc đẹp, phái nữ thường chỉ quan tâm đến việc chăm sóc da mặt, vóc dáng, mái tóc, đôi tay mà quên đi một bộ phận cũng quan trọng không kém đó là đôi chân. Một đôi chân sần sùi, gót chân nứt nẻ chắc chắn sẽ làm cho ai đó mất đi sự tự tin.
Gót sen xem ra cũng đẹp nếu như biết nâng niu và cũng đáng yêu lắm chứ ! Cố nhạc sĩ tài hoa họ Trịnh cũng đã “tô” một chút cho gót sen hồng trong Ru Tình của ông :
… Ru em đầu cơn gió, em hong tóc bên hồ
Khi sen hồng mới nở, nụ đời ôi thơm quá
Ru em tình khi nhớ, ru em tình lúc xa
Ru cho bầy lá nhỏ, rụng đầy một mùa Thu
Ru khi mùa mưa tới, ru em mãi yêu người
Ru em hoài bé dại, một hồn thơm cây trái
Ru em chờ em nói, trên môi tình thoát thai
Ru em ngồi yên đấy, ru tình à ..ơi
Ru em hài nhung gấm, ru em gót sen hồng
Ru bay tà áo rộng, vượt tình tôi chấp cánh …
Đâu đó trong văn chương cũng diễn tả bước chân đi của phụ nữ : “Tiếng vàng vội gọi con hầu, Gót sen nhè nhẹ dạo mau về nhà.”
Gót sen trong văn chương và nhạc tình họ Trịnh là như vậy. Gót sen của em rất đẹp để cho tôi ru và gót chân nhẹ để cho tôi trân trọn. Trong Kinh Thánh, ta lại bắt gặp không phải gót sen mà là gót đạp người khác trong trang Tin Mừng mà Thầy Giêsu như trối trăng với các môn đệ : Kẻ đã cùng con chia cơm sẻ bánh lại giơ gót đạp con.
Thật thế, Chúa Giêsu dùng hình ảnh gót chân xem ra rất gần trong cuộc sống. Khi không hài lòng con gì đó, người ta hay dùng gót chân để chà đạp. Với con người mình không ưa hay là kẻ thù thì tự nhiên tâm lý con người hay chà đạp người khác. Từ chà đạp đây không dừng ở gót chân mà bằng nhiều cung cách khác nữa.
Lời Chúa Giêsu nói xem ra đăng đắng sao sao í : “Kẻ đã cùng con chia cơm sẻ bánh”. Và đâu đó thì cũng tương tự như câu này : “Kẻ giơ tay chấm chung một đĩa với Thầy, đó là kẻ nộp Thầy”.
Chấm chung một chén, cùng chia cơm sẻ bánh là những ngữ nghĩa để nói đến tình thân nghĩa thiết giữa thầy và trò như Thầy Giêsu và các môn đệ. Thế nhưng rồi, ta vẫn có thể nới rộng ra trong tương quan giữa chồng và vợ, giữa con cái và cha mẹ, giữa anh em với nhau, giữa những người thân với nhau.
Cảm nghiệm chua xót mà Chúa Giêsu nhắc nhớ các môn đệ xưa chắc có lẽ mỗi người chúng ta đều hơn một lần nếm thử. Có những người đầu ấp tay gối, có những người chung tình chung lối và trao cho nhau cả cuộc đời nhưng đến một lúc nào đó lại quay lưng.
Đọc, nghe lời Chúa nói như thế này trong ta trào tràn nhiều tâm tư, nhiều suy nghĩ. Thế nhưng trên tất cả mọi sự, ta hãy suy nghĩ và hành động tích cực chứ đừng chỉ dừng lại ở chỗ trả thù hay dùng chiêu “mắt đền mắt răng đền răng” như luật cũ.
Dẫu biết rằng môn đệ bội bạc, dẫu biết rằng bị người đời chê bai và đem treo lên cây thập giá thế nhưng rồi Chúa vẫn tha và tha cho đến tận cùng. Tâm tình tha thứ và lời mời gọi yêu thương của Chúa vẫn như còn vang vọng cho đến ngày hôm nay.
Ngày hôm nay, giữa những nổi trôi của cuộc đời, không thiếu những người mà như người đời thường nói “ăn cháo đái bát” hay “không có nhân có nghĩa” nên chăng ta thanh thản và bình an với họ. Ngay cả Chúa Giêsu mà còn bị huống hồ gì là mỗi người chúng ta.
Và cũng đừng quên quy luật nhân quả trong cuộc đời. Khi ta giơ chân đạp người khác có ngày ta đạp phải gai hay người khác cũng sẽ đạp lại chúng ta. Tốt hơn hết hãy mềm lòng, hãy tha thứ và yêu thương như Chúa đã yêu chúng ta.
Phải chăng đứng trước nhân tình thế thái như vậy, ta hãy xin Chúa thêm ơ cho chúng ta để chúng ta đừng bao giờ giơ gót đạp người khác, nhất là người cùng chấm chung một chén và cùng sẻ chia một bánh với ta. Dĩ nhiên không phải dễ nhưng nhờ ơn Chúa ta sẽ sống được lời mời gọi của Chúa.
Hãy để cho đôi chân ta là gót sen hồng cho đời ta phơi phới. Hãy chăm chút gót chân ta nhẹ nhàng trên mỗi bước đi của cuộc đời, Ngày mỗi ngày, ta giơ gót đạp người khác hay khoe gót sen hồng là lựa chọn sống của mỗi người chúng ta. Nếu như chúng ta khe khẽ bước từng bước chân trên cuộc đời và bước nhẹ bên đời người khác chắc chắn lòng chúng ta mãi mãi bình an.
2020
Ở lại
Ở lại
Đọc Tin Mừng theo Thánh Gioan, ta bắt gặp tâm tình “ở lại” của Chúa Giêsu nhiều lần nói với các môn đệ. Khái niệm “ở lại” trong Tin Mừng Thánh Gioan mang ý nghĩa đặc biệt. Động từ này không chỉ diễn tả sự cư ngụ trong một khoảng không gian, nhưng nói lên sự gắn bó, liên kết, hiệp thông thiêng liêng với Chúa.
“Ở lại” là tâm tình của người môn đệ trung tín với Thầy mình, kể cả lúc gian nan tăm tối. Chính Chúa Giêsu luôn luôn ở lại trong Chúa Cha.
Ta thấy Chúa Giêsu luôn kết hiệp mật thiết với Chúa Cha bằng lời cầu nguyện và bằng lòng trung thành. Các tác giả Tân ước kể lại, vào lúc khởi đầu một ngày mới, hoặc sau một ngày làm việc vất vả, Chúa Giêsu thường lánh ra nơi thanh vắng để cầu nguyện. Chúng ta không biết rõ nội dung lời cầu nguyện của Chúa Giêsu những lúc ấy, nhưng chắc chắn đó là những tâm tình trìu mến và gắn bó thâm sâu. Chắc chắn Chúa Giêsu thân thưa với Chúa Cha về sứ mạng của Người và về những khó khăn Người gặp phải.
Quan trọng nhất và trước nhất, đó là những tâm tình của người con thảo đối với Cha mình. Những giây phút cầu nguyện này tiếp thêm nghị lực cho Người, để Người đi cho đến cùng sứ mạng Thiên sai, mặc dù phải trải qua biến cố thập giá. Vào lúc cao điểm của thử thách, tức là trên cây thập giá, Chúa Giêsu vẫn “ở lại” với Chúa Cha bằng niềm phó thác: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha” (Lc 23,46).
Nhìn vào cuộc đời cũng như tâm tình của Chúa Giêsu, ta thấy ngày hôm nay con người bất an bởi lẽ quá bận rộn. Chính vì bôn ba nhiều quá, bận rộn nhiều quá nên có chăng chỉ là sự bình an giả tạo, sự bình an ở bên ngoài.
Từ suy nghĩ đó, ta nhìn lại trong tư cách là Kitô hữu, ta tiến bước như thế nào với Chúa trong đời sống của mình.
Quá bận rộn việc mưu sinh dễ dẫn đến chuyện thiếu thời giờ chiêm ngắm Thiên Chúa. May ra dành chút thời gian đến nhà thờ để tham dự Thánh Lễ nhưng không có thời gian ở lại bên Chúa. Dần dần, con người đi theo tôn giáo theo chủ nghĩa bận rộn.
Chính vì thế, cần lắm sự chiêm ngắm Thiên Chúa, cần lắm sự lắng nghe lời Chúa. Muốn được như vậy, không có cách nào khác hơn là ở lại bên Chúa.
Có thể làm việc tốt, có thể ta làm việc bác ái, có thể ta hy sinh chuyện này chuyện kia để lo cho người này người nọ nhưng thiếu chiêm niệm để rồi thiếu bình an. Nói như thế, có người sẽ nghĩ và phản bác ngay rằng chiêm niệm không phải là không làm gì ?
Nhìn vào cuộc đời Thánh Phaolô và trong thư của Ngài. Thánh Phaolô chia sẻ rằng khi Thiên Chúa chọn Ngài thì Ngài không lên đường đi loan báo về Chúa ngay nhưng Ngài chiêm ngắm mầu nhiệm Chúa Giêsu Kitô. Thánh Phaolô không đi làm ngay nhưng cầu nguyện và nhìn ngắm Thiên Chúa. Phaolô phải lòng Thiên Chúa khi ở lại bên Chúa để chiêm ngắm Chúa, lắng nghe Chúa. Và đây chính là từ khóa để không phạm sai lầm.
Ở lại trong tình yêu Thiên Chúa phải chăng là điều căn cốt trong đời Kitô hữu.
Ta cần dừng lại để biết mình ở thái cực nào. Có khi ta quá bận rộn hay có khi ta thái quá trong đời sống chiêm niệm. Ta cần phải quân bình đời sống tâm linh của ta.
Ta tự vấn mình : tôi có đang yêu Chúa không ? Tôi có chắc Chúa chọn tôi hay tôi sống đời Kitô hữu của mình thế này, làm những việc thế kia.
Tôi làm việc này việc kia nhưng con tim của tôi như thế nào ? Khi làm việc như thế, ta có kèm theo việc chiêm niệm không ? Có thể ta làm việc gì đó chỉ vì đánh bóng tên tuổi của ta, lưu danh của ta chứ không hề vinh danh Chúa.
Ở lại trong Chúa và phục vụ đó chính là lối đi trong đời sống chúng ta.
Nói tới đây tôi lại nhớ đến hình ảnh của thuyền và biển của nhà thơ Xuân Diệu rất dễ thương để nghĩ đến chuyện ở lại :
Chỉ có thuyền mới hiểu
Biển mênh mông nhường nào
Chỉ có biển mới biết
Thuyền đi đâu, về đâu
Những ngày không gặp nhau
Biển bạc đầu thương nhớ
Những ngày không gặp nhau
Lòng thuyền đau – rạn vỡ
Nếu từ giã thuyền rồi
Biển chỉ còn sóng gió”
Nếu phải cách xa anh
Em chỉ còn bão tố.
Có thể ví von như vậy cho đời thêm vui. Nếu phải cách xa Chúa, đời Kitô hữu của ta chỉ còn bão tố mà thôi. Chính vì thế, cần lắm sự hiện diện và ở lại bên Chúa như Chúa mời gọi.
Ta được mời gọi phải dành thời gian cho Chúa trong phục vụ người khác. Ta thử xét xem ta dành bao nhiêu thời gian mỗi ngày để chiêm ngắm mầu nhiệm Chúa Giêsu và sau đó tôi làm việc thế nào ? Ta có làm nhiều đến độ xa lạ chính mình hay tôi làm việc với việc phục vụ tin Mừng
“Ở lại trong Thầy” sẽ giúp chúng ta tìm được niềm vui trong cuộc sống hiện tại. Vì chúng ta xác tín Chúa đang cùng đi với chúng ta trên mọi nẻo đường dương thế. Dù phong ba bão táp, dù thử thách đau thương, chúng ta vẫn an toàn, như con thơ ngủ yên trong tay mẹ hiền. Hạnh phúc chẳng phải tìm đâu xa, chỉ đơn giản là hãy “ở lại trong Thầy”, để được Người che chở, chúc lành và hướng dẫn.
Và điều quan trọng nhất rằng ta có ý thức đời ta có giá trị, ý nghĩa, sinh hoa trái cho đời khi tựa như cành nho gắn liền cây nho. Từ nay ta sẽ ở lại trong Chúa nhiều hơn trong thực tại của cuộc sống của ta bằng việc thực hành hai điều trên đây: siêng năng suy niệm Lời Chúa và rước Thánh Thể.
2020
Linh mục Diego Fares: “Đức Bergoglio, người quyến rũ tâm linh”
Linh mục Dòng Tên Diego Fares, triết gia, tổng biên tập tạp chí Văn minh Công giáo đã biết Đức Phanxicô từ 43 năm nay, theo linh mục Fares, Đức Phanxicô có ơn phân định đặc biệt, chính vì vậy ngài hiểu được tâm hồn giáo dân và dấu chỉ của thời đại.
Linh mục Diego Fares là con thiêng liêng của Đức Jorge Bergoglio. Năm 1975, Đức Bergoglio đã nhận chủng sinh trẻ Fares vào chủng viện San Miguel, ở Buenos Aires khi người thanh niên trẻ 20 tuổi ở thành phố Mendoza xin vào Dòng Tên. Và từ đó cho đến bây giờ khi linh mục Fares sống ở Rôma và làm tổng biên tập tạp chí Văn minh Công giáo, ngài luôn ngưỡng mộ người đã và vẫn là thầy giáo, người cố vấn và nhất là một người bạn.

Đức Bergoglio không những đón nhận linh mục Fares vào Dòng Tên nhưng ngài còn là thầy giáo, người hướng dẫn thiêng liêng.
Trong một cuộc phỏng vấn với đài Radio Maria ở Argentina, linh mục cho biết: “Ngài dạy cho tôi các Bài tập Linh thao”. Và hôm nay ngài “vẫn là người của năm xưa… một người nhất quán, ngài kiên nhẫn hơn dù cách đây 40 năm ngài cũng đã rất kiên nhẫn.”
Khi còn là giáo sư thần học mục vụ, ngài đã giảng về “mục tử phải có mùi của đàn chiên” và về Thánh Âugutinô, ông Gióp, thần học gia Von Balthasar một cách rõ ràng đến kinh ngạc… Một ngày nọ ngài viết thuộc lòng trên bảng 30 đến 40 câu trích và khi tôi hỏi ngài làm sao ngài có thể nhớ, ngài nói ngài phải dậy lúc 4 giờ sáng để học.”
Linh mục Fares cho biết, trước khi Đức Bergoglio là giám mục thì họ không bao giờ nghĩ có một ngày ngài sẽ là giáo hoàng. Nhưng khi ngài là hồng y, thì họ có nghĩ: “Chúng tôi đã nói đùa và hỏi ngài… ‘Cha có bao giờ nghĩ cha là giáo hoàng không?’, Các bạn muốn nói ‘nếu Chúa làm một trong các chuyện trái khoáy này thì sẽ tốt cho Giáo hội sao!’, nhưng như một giấc mơ. Đúng là một cái gì không thể quên được, Chúa thực hiện giấc mơ này cho chúng ta.”
Điều mà linh mục Fares ngưỡng mộ nhất nơi Đức Bergoglio là khả năng phân định của ngài, nhưng không phải bất kỳ loại phân định nào: “Phân định (như Đức Phanxicô làm) là đặt mình ở địa vị người khác. Không phải là công việc trí thức. Không phải là thấy điều nào thuận tiện cho tôi, nhưng là điều Chúa Thánh Thần đòi hỏi tôi phải làm chứng. Can đảm nhận định những gì Chúa muốn là tốt cho dân Ngài, đó là một ơn mà chúng ta phải cân nhắc tác động của nó trên giáo dân. Bởi vì nếu chúng ta chọn từ bên ngoài để xem ai thắng và không biểu hiện bản thân thì đó không phải là phân định. Đức Bergoglio là người của phân định này. Sự lãnh đạo thiêng liêng và mục vụ của ngài ở nền tảng phân định phải được mở ra với Chúa Thánh Thần. Ngài hiểu tâm hồn con người và dấu chỉ thời đại. Đức Bergoglio là biểu kế tâm linh, ngài biết khi nào cần chăm sóc với lòng thương xót và kiên nhẫn, biết khi nào cần một cú hích để thắng trận chiến cho Chúa. Ngài hiểu ý nghĩa của thời gian, và ngài là người độc nhất trong lãnh vực này. Không phải ai cũng có ơn này. Chúa ban ơn này cho một số người và cho họ trở thành mục tử của mọi người.”
Được hỏi về chứng từ của Đức Bergoglio đã tác động như thế nào trên đời sống của cha, cha Fares trả lời: “Trên tất cả, nhưng trong lãnh vực thiêng liêng, Đức Bergoglio đã dạy cho tôi cách giảng Linh thao và điều này rất quan trọng với tôi. Về mặt trí tuệ, tôi được khai trí để đọc các bài của các thần học gia Romano Guardini, Hans Urs Von Balthasar. Về mặt mục vụ, với Đức Bergoglio, chúng tôi biết giá trị các khu vực của chúng tôi, trong các khu phố chúng tôi gặp quê hương hùng vỹ của chúng tôi, nơi “người dân trung thành của Chúa” hình thành chúng tôi là linh mục, làm cho chúng tôi là người mục tử.”
Dân trung thành của Chúa
Linh mục Fares giải thích việc Đức Phanxicô dạy cho các linh mục làm thế nào để gặp dân trung thành của Chúa: “Thể loại ‘dân trung thành với Chúa’ không phải lúc nào cũng hiện diện. Có những lúc có như khi đi hành hương Đức Mẹ Luján là một trong các ví dụ. Kinh nghiệm hành hương Đức Mẹ Luján là kinh nghiệm duy nhất cho thấy người dân trung thành đi về với Đức Mẹ. Điều này giúp chúng tôi sống trong tinh thần Bergoglio.”
Khi được hỏi thành phần “dân trung thành” theo Đức Phanxicô là thành phần nào, linh mục Fares trả lời: “Chúng ta là dân của Chúa đi đến Luján. Những người bình thường nhưng đoàn kết với nhau trong một cộng đồng khi có lũ lụt hoặc khi có một điều gì tốt đẹp cần làm; khi chúng ta đến với nhau để tìm lợi ích chung. Ngược lại, chúng ta không còn là người dân trung thành khi chúng ta chia rẽ, gây nhau hoặc khi chúng ta tìm lợi ích riêng.”
Linh mục nói thêm, thể loại người dân trung thành không phải về mặt chính trị hay xã hội. Theo Đức Bergoglio đây là thể loại thần nghiệm, xuất hiện khi phần sâu nhất của con người phát sinh, chẳng hạn khi chiến đấu cự lại với cái ác, để bảo vệ các giá trị, khi đó tâm hồn của dân Chúa xuất hiện. Nhưng điều này không thể định nghĩa từ bên ngoài. Và người ta hiểu khi những người làm việc cho người nghèo và với những người nghèo nhất, khi cùng tham dự vào công việc của người nghèo. Vì vậy thật vô ích khi cố gắng giải thích điều này cho những người lợi dụng người dân để dành lá phiếu rồi sau đó phản bội lá phiếu này. Họ sẽ không bao giờ hiểu.”
Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch
2020
Ngày 14 tháng 5-2020, ngày cầu nguyện, ăn chay, làm việc từ thiện cầu nguyện cho đại dịch
Bài xã luận ở báo Avvenire của ông Marco Impagliazzo, Chủ tịch Cộng đoàn Sant’Egidio, Rôma Impagliazzo về ngày cầu nguyện, ăn chay, làm việc từ thiện vào ngày 14 tháng 5-2020
Đức Phanxicô và ông Marco Impagliazzo trong lần gặp tại Vatican năm 2018
Cầu nguyện và hành động
Ngày chúa nhật 3 tháng 5, khi kết thúc giờ Kinh Nữ Vương Thiên Đàng, Đức Phanxicô tuyên bố: “Tôi hoan nghênh đề nghị của Cao ủy Tình huynh đệ đề nghị ngày 14 tháng 5 là ngày tín hữu mọi tôn giáo cùng cầu nguyện, ăn chay và làm việc từ thiện để xin Chúa giúp nhân loại vượt qua đại dịch.”
Sáng kiến này xuất phát từ cuộc họp lịch sử của Đức Phanxicô và Đại giáo sĩ Ahmad Al-Tayyeb vào tháng 2 năm 2019. Lời kêu gọi của Cao ủy viết: “Chúng ta không quên dâng lên Chúa – mỗi người trong tín ngưỡng, trong tôn giáo, trong học thuyết của mình – lời cầu xin để chấm dứt đại dịch, xin Chúa cứu chúng ta khỏi bất hạnh này, xin cho các nhà khoa học tìm ra thuốc chữa. Và để chống lại các tác hại về sức khỏe, kinh tế và con người qua tai ương nguy hiểm này.”
Lời cầu nguyện sẽ dâng lên Chúa vào ngày thứ năm 14 tháng 5, để góp phần trong đau khổ và lo lắng gây ra vì đại dịch trong các tháng vừa qua trên toàn thế giới và cũng để tiếp tục tinh thần đối thoại liên tôn do Thánh Giáo hoàng Gioan-Phaolô II đưa ra trong ngày Assisi và được Đức Phanxicô củng cố với việc ký kết Abu Dhabi. Tinh thần Assisi vẫn còn thổi và càng thổi mạnh hơn. Là lời đáp trả cho thảm kịch chiến tranh và bây giờ là thành trì và nguồn hy vọng khi đại dịch đang tàn phá mọi châu lục, gieo cái chết, sợ hãi và khó khăn kinh tế cho mọi người. Virus tấn công các mối quan hệ xã hội, làm suy yếu các thể chế, đẩy các gia đình và các dân tộc rơi vào vực thẳm của sự bấp bênh tương lai. Đức Phanxicô đã cầu nguyện để chấm dứt nạn dịch từ khi Trung quốc còn cách ly, ngài mong muốn đối phó căn bệnh qua một mối ràng buộc mới giữa các dân tộc và Đấng Tạo hóa. Với siêu vi trùng vô hình đã giam hãm cả thế giới trong một khoảng không gian kín và trong một thời gian lơ lửng, ngài mong các văn hóa và tôn giáo mở ra, không phải chỉ trong suy ngẫm nhưng trong cả công việc từ thiện. Ngài muốn mở ra các khoảng không gian mới, phác họa một ý tưởng cho tương lai.
Thế giới toàn cầu hóa tưởng như lớn nhưng lại rất nhỏ. Cái ác đang sải bước, nó không biết đến tín ngưỡng, chính vì thế chúng ta cần có sự gặp gỡ gần gũi. Chiều thứ sáu 27 tháng 3, Đức Phanxicô đưa ra một viễn cảnh: “Ngài mời gọi chúng ta nắm lấy thời gian thử thách này như thời gian quyết định. Đây không phải là thời gian phán xét riêng của mỗi người, nhưng của mọi người: thời gian quyết định cái gì quan trọng và cái gì không quan trọng, phân biệt cái gì là cần thiết, cái gì không.”
Chúng ta phải vượt lên thời gian đóng khung, ngăn chặn, đóng tường, các đụng độ của các nền văn minh. Đức Phanxicô là người bảo vệ cho sự hiệp nhất của con người. Từ đó là mối quan tâm cho nghiên cứu khoa học tiến bộ, nhắc chúng ta nhớ, “chúng ta tất cả cùng ở trên một con thuyền, mong manh và mất định hướng”. Đúng vậy, con thuyền cũng là một con thuyền: “Thật vậy, điều quan trọng là tập hợp các năng lực khoa học, một cách minh bạch và bất vụ lợi, để tìm ra vắc-xin và phương pháp điều trị, đảm bảo mọi người ở mọi nơi trên thế giới đều nhận được sự chăm sóc y tế cần thiết”. Tự xem mình tất cả là thành viên của một gia đình nhân loại, học cách chăm sóc tạo vật không phải là một cái gì phải làm thêm để chúng ta không làm khi gặp khó khăn. Điều này ngày càng trở nên cần thiết trong thời đại toàn cầu hóa và mở rộng tầm nhìn.
Lịch sử – thứ mà chúng ta đã bỏ qua một bên để làm cho những câu chuyện nhỏ của chúng ta nổi trội – kêu gọi một sự thống nhất, đó là trụ cột của những gì hợp nhất để chúng ta phải bỏ qua những gì gây chia rẽ. Lời cầu nguyện chung ngày thứ năm 14 tháng 5 là biểu hiệu thiêng liêng và phổ quát của mọi người: bất chấp sự khác biệt, chúng ta không thể tự mình cứu mình, nhưng chỉ khi chúng ta gần nhau trong cộng đồng nhân loại, cùng chiến đấu chung cho tất cả mọi người, chúng ta mới cứu được nhau. Với ước mong các nhà cầm quyền dân sự trên thế giới thực sự chấp nhận để kết thúc đại dịch. Như Đức Phanxicô mời gọi, sự hợp tác chung này là con đường chúng ta phải đi.
Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch
