Aenean nec eros. Vestibulum ante ipsum primis in faucibus orci luctus et ultrices posuere cubilia curae. Suspendisse sollicitudin velit sed leo.

Chuyên mục
  • Bài giảng
  • Các loại khác
  • Chia sẻ
  • Chưa phân loại
  • GH Hoàn Vũ
  • GH Việt Nam
  • Giáo dục
  • Hạnh các Thánh
  • HĐGM Việt Nam
  • Kinh Thánh
  • Phim giáo dục
  • Phụng vụ
  • Sách
  • Suy niệm Chúa nhật
  • Suy niệm hàng ngày
  • Tài liệu giáo dục
  • Tài liệu phụng vụ
  • Thần học
  • Thánh ca
  • Thánh lễ
  • Thánh lễ trực tuyến
  • Thư chung
  • Thư viện
  • Tin tức
  • Triết học
  • Tư liệu
  • UBGD Công giáo
  • Video
From Gallery
Stay Connected
UyBanGiaoDucHDGM.net
  • Trang chủ
  • Thư chung
    • HĐGM Việt Nam
    • UBGD Công giáo
  • Tin tức
    • GH Việt Nam
    • GH Hoàn Vũ
  • Phụng vụ
    • Thánh lễ
    • Thánh lễ trực tuyến
    • Suy niệm hàng ngày
    • Suy niệm Chúa nhật
    • Tài liệu phụng vụ
  • Giáo dục
    • Chia sẻ
    • Tài liệu giáo dục
  • Thư viện
    • Sách
      • Kinh Thánh
      • Triết học
      • Thần học
      • Các loại khác
    • Video
      • Bài giảng
      • Thánh ca
      • Phim giáo dục
      • Hạnh các Thánh
      • Tư liệu
  • Liên hệ
Give Online

Tác giả: Anmai

Home / Anmai
09Tháng Sáu
2020

Phân biệt chủng tộc hay là tên gọi khác của lòng ‘tôn thờ bản thân’

09/06/2020
Anmai
GH Hoàn Vũ, Tin tức
0

Phân biệt chủng tộc hay là tên gọi khác của lòng ‘tôn thờ bản thân’

Nước Mỹ những ngày này đang sục sôi quanh vấn đề phân biệt chủng tộc sau cái chết của một người Mỹ gốc Phi trong tay cảnh sát. Phân biệt chủng tộc chẳng phải là vấn đề riêng của nước Mỹ hay của người da trắng nói chung, mà là của cả thế giới loài người.

  1. Chuyện không của riêng ai

Nước Mỹ những ngày này đang sục sôi quanh vấn đề phân biệt chủng tộc sau cái chết của một người Mỹ gốc Phi trong tay cảnh sát. Sự giận dữ của công chúng đã dẫn đến các cuộc biểu tình, và gây bạo loạn ở một số nơi; hơn nữa, nó đã bắt đầu trở thành một phong trào lan rộng ra nhiều vùng trên thế giới. Có lẽ đây là một trong những hiện tượng gây chia rẽ lớn nhất đối với nước Mỹ nói riêng và thế giới nói chung. Đó đây người ta đã phân tích và tranh cãi về nguồn gốc của nạn kỳ thị chủng tộc, về tính chính đáng của việc biểu tình, và về các chính sách gây thêm căng thẳng. Nhưng dù tranh cãi theo hướng nào chúng ta cũng phải thừa nhận rằng nó là hậu quả từ một lịch sử tội lỗi của người da trắng đối với người da đen. Tổ tiên của những cư dân gốc Phi này đã từng bị bắt làm nô lệ, bị xem như món hàng mua qua bán lại; và vì thế, họ bị chia cách với gia đình, bị tách khỏi cấu trúc cộng đồng dân tộc, bị cắt đứt khỏi gốc rễ quê hương và mất liên hệ với cội nguồn văn hoá. Nói ngắn gọn, họ bị vong thân. Vì thế, nếu những cư dân gốc Phi có lối sống ‘lạ lẫm’ ở đất Tây Phương thì cũng chẳng có gì khó hiểu!

Nhưng phân biệt chủng tộc (và phân biệt sắc tộc) chẳng phải là vấn đề riêng của nước Mỹ hay của người da trắng nói chung, mà là của cả thế giới loài người. Ngay trong lòng Châu Phi cũng không thiếu những dân tộc tỏ ra ‘kẻ cả’, xem thường những dân tộc khác, điển hình như Nigeria. Tương tự, ở Châu Á, não trạng ‘Đại Hán’ của người Trung Quốc dường như chưa bao giờ mai một. Nội cái tên nước cũng phần nào nói lên tính phân biệt chủng tộc của họ rồi. Nhưng đó chỉ là những ví dụ điển hình, còn xét cho cùng thì tất cả mọi dân tộc đều ít nhiều mang não trạng phân biệt và khinh miệt như thế, theo quy luật: nước mạnh xem thường nước yếu, dân tộc phát triển khinh rẻ dân tộc kém phát triển hơn.

Người Việt cũng không ngoại lệ; thậm chí, não trạng phân biệt chủng tộc của người Việt có thể được xếp vào loại mạnh. Đơn cử như nhiều người Việt hải ngoại gọi một số sắc dân khác là ‘bọn Mễ’, ‘bọn Thổ’, ‘bọn mọi đen’, vv. Còn ở trong nước, không ít người Kinh vẫn gọi những đồng bào dân tộc anh em là ‘dân thượng’, hay ‘dân tộc’, với hàm ý khinh miệt.

Và nếu xét theo quy mô nhỏ hơn, nhưng lại mang tính chung hơn, chúng ta có thể gọi vấn đề trên là não trạng ‘phân biệt đối xử’: nhóm phát triển hơn coi khinh nhóm kém phát triển; người mạnh hơn, khôn hơn xem thường người yếu thế hơn, kém trí hơn.

 

  1. Vấn đề nguyên nhân

Đâu là nguyên nhân của não trạng ‘phân biệt chủng tộc’? Có một hiện tượng đáng chú ý là khi một nhóm người bị khinh miệt, chính họ lại có nguy cơ gia tăng lòng phân biệt chủng tộc đối với các nhóm thấp kém hơn, như một cách tự nâng mình lên để giải toả sự ẩn ức. Nhưng nhìn chung, có thể nói nguyên nhân chính yếu khiến người ta dễ khinh thường người khác hay dân tộc khác là vì họ cho rằng mình thông mình hơn, tài giỏi hơn, dân tộc mình tiến bộ hơn, văn minh hơn.

Nhưng liệu thật sự có phải có những dân tộc thông minh thượng đẳng bên cạnh những dân tộc thấp kém trí tuệ? Có lẽ những bước phát triển của công nghệ đã khiến người ta loá mắt, và sự giải thích sai lầm trong quá khứ của thuyết tiến hoá và ngành di truyền học đã gây ra một tâm thức chung rằng những dân tộc nào còn sơ khai về khoa học và công nghệ chính là những dân tộc có gen di truyền kém cỏi hơn về trí tuệ. Nếu chúng ta nhìn lại lịch sử nhân loại ở tầm mức đủ xa và đủ rộng, đến cả trước thời gian xuất hiện chữ viết (cách nay tầm 5000 năm), chắc hẳn chúng ta sẽ có quan niệm khác. Như nhà nghiên cứu nổi tiếng Jared Diamond đã chỉ ra, không hề có bất cứ một bằng chứng nào cho thấy có sự khác biệt về khả năng trí tuệ ở tầm mức sinh học giữa các dân tộc trên thế giới. Nói cách khác, về cơ bản chẳng có dân tộc nào thông minh hơn dân tộc nào. Sự khác biệt về tiến bộ khoa học kỹ thuật không đến từ yếu tố di truyền chủng tộc, mà từ các điều kiện tự nhiên và diễn trình lịch sử, đúng như nhận xét xác đáng của Jared Diamond trong Súng, vi trùng và thép: “nguyên nhân nằm ở những ngẫu nhiên về địa lý và địa sinh học, cụ thể là sự khác biệt giữa hai lục địa [châu Âu và châu Phi] về diện tích, trục chính, chủng loại cây dại và thú hoang ở đó… Diễn trình lịch sử của mỗi dân tộc một khác, đấy là do những khác biệt giữa môi trường sống của các dân tộc, chứ không phải do những khác biệt sinh học giữa bản thân các dân tộc đó.”

Còn thế nào là văn minh, thế nào là tiến bộ? Tiêu chuẩn văn minh – tiến bộ lại do chính những người, những nước có sức mạnh về quân sự và khoa học kỹ thuật phát triển tự đặt ra. Vì vậy, thước đo căn bản của loại văn minh này chính là những bước tiến về khoa học công nghệ của một nhóm người, vốn kéo theo cấu trúc xã hội và hệ thống luật lệ để vận hành, cùng những gì tích hợp theo nó mà chúng ta có thể gọi chung là ‘văn hoá’. Chắc hẳn rằng cái hệ thống được xây đắp qua bao nhiêu thế kỷ đó có nhiều giá trị xứng đáng được gọi là văn minh. Nhưng liệu rằng những giá trị khác ngoài nó không được gọi là văn minh ư? Nói cho cùng, thước đo cho trí tuệ văn minh và khôn ngoan đích thật của con người phải thể hiện ở ‘chất lượng cuộc sống’, qua những yếu tố căn bản: hiểu biết và hài hoà với thiên nhiên, tương quan tốt lành với tha nhân, phát triển tính tự do và lòng thiện tâm (hay đời sống thiêng liêng nói chung). Xét trên nền tảng này, liệu chúng ta có gì hơn khi so sánh với những sắc dân sơ khai về mặt công nghệ, với những nhóm người có đời sống còn mang tính ‘săn bắt hái lượm’ và có cấu trúc xã hội kiểu bộ lạc? Liệu ta còn dám lớn tiếng tự khen mình là ‘văn minh’, khi nhìn lại sự lệ thuộc của mình vào cấu trúc xã hội hiện đại, vào những lối sống bị kiểm soát bởi công nghệ, những tội ác giết hại giữa con người với nhau, và một môi trường bị huỷ hoại?

 

  1. Nhìn về hướng giải quyết

Trước cuộc khủng hoảng này, nhiều cá nhân và tổ chức khắp nơi trên thế giới đang kêu gọi tinh thần hoà giải. Nhưng phải bắt đầu từ đâu và phải đi tới đâu? Hiện tại, người ta đang bắt đầu bằng biểu tình. Âu đó cũng là một cách tốt, vì nước Mỹ vốn được hình thành và phát triển từ các cuộc biểu tình và đấu tranh, dù nó thường có nguy cơ kèm theo một số hình thức cực đoan nhất định.

Giáo dục và thăng tiến công bình xã hội là một giải pháp tốt lành khác. Việc gia tăng sự hiểu biết, nhất là về lịch sử nhân loại và các loại hình thái xã hội, sẽ phần nào thu hẹp những định kiến hẹp hòi và sai lầm. Còn khi các cơ cấu bất công được giảm thiểu, con người sẽ có điều kiện để phát triển một cách đồng đều và cân bằng hơn.

Tuy nhiên, chắc chắn các giải pháp trên không bao giờ giải quyết rốt ráo được vấn đề. Có thể chúng giúp giảm thiểu phần nào não trạng phân biệt đối xử, nhưng thường thì chúng chỉ giảm thiểu ở biểu hiện bề mặt, hoặc biến thành một số hình thức nguỵ tạo tinh vi nào đó, thậm chí có thể mang tấm mặt nạ là ‘hành xử nhân văn’, nhưng bản chất không thay đổi nhiều. Lý do là vì căn bản của não trạng phân biệt chủng tộc không nằm ở cấu trúc xã hội, mà là ở thâm tâm con người. Nó là vấn đề của con người, của cái tôi.

Xét một cách sâu hơn nữa, gốc gác của não trạng đó chính là thứ tư duy tự lấy mình làm quy chuẩn cho mọi giá trị. Nói cách khác, đó là kiểu não trạng tự đặt mình thay cho vị trí của Thượng Đế, hay tự tôn thờ bản thân. Quả vậy, nếu thật lòng có đức tin vào Thiên Chúa, chúng ta phải thực sự nghiệm thấy sự bình đẳng của mỗi nhân vị, bởi tất cả đều được tạo dựng và mang hình ảnh của Người; vì thế, ở mức nào đó, có thể nói rằng đối diện với một con người là ta đang đối diện với Thiên Chúa. Lòng tin cũng phải thể hiện ở tâm niệm rằng thước đo của mọi giá trị không phải đến từ phạm vi của bản thân, mà từ phạm vi vượt trên mình. Ngoài ra, nếu không tự quy vào mình, chúng ta sẽ có tâm trí đủ rộng mở để thấy giá trị của những khác biệt, để hiểu rằng chính điều đó làm nên vẻ đẹp và sự phong phú của gia đình nhân loại.

Vì vậy, bên cạnh các giải pháp nói trên, thiết tưởng chúng ta cần chú trọng thêm hai giải pháp sau đây:

Thứ nhất, làm sao giúp nhau ý thức được rằng chúng ta đang là những thành phần của một xã hội mang cấu trúc và lịch sử của tội lỗi, của bất công. Ý thức này không chỉ đến từ những bài học lịch sử, mà còn phải từ các hoạt động dấn thân cho tha nhân, nhất là cho người nghèo và người bị gạt bên lề xã hội. Có như thế thì con mắt và trái tim của mỗi người mới được soi rọi để thấy rằng chẳng có gì đáng tự hào khi những ‘tiến bộ’, những thành công của mình hay của dân tộc mình thực ra là kết quả của một diễn trình lịch sử hà hiếp, cướp bóc và chinh phạt; chẳng có gì đáng kiêu ngạo khi chúng ta là hậu duệ của những kẻ giết người và áp bức tha nhân.

Thứ hai, làm sao giúp nhau thấy được điều ‘linh thiêng’ trong mỗi người. Nghĩa là phải nhấn mạnh đến giá trị tôn giáo nội tại của bản chất con người. Ví dụ, với Ki-tô giáo, giá trị đó là ‘hình ảnh của Thiên Chúa’, hay với Phật giáo là ‘Phật tính’. Vì vậy, thiết tưởng phải cổ võ nhau suy nghĩ, cảm nghiệm và thực hành những khía cạnh tinh thần thâm sâu nơi mỗi người, như tiếng nói lương tâm, lòng yêu mến sự thiên, vv.

Cộng gộp hai điều đó, mỗi người chúng ta sẽ thấy mình được mời gọi để xin lỗi nhau, tha thứ cho nhau, và cho nhau một cơ hội bắt đầu lại. Đó là bước đi hoà giải đích thực, và là cách chúng ta để cho mình được giải thoát khỏi cái vòng luẩn quẩn của thói phân biệt đối xử, vốn là tên gọi khác của thứ não trạng loại trừ Thiên Chúa.

Khắc Bá, SJ

Read More
09Tháng Sáu
2020

Các Giám mục Colombia tố cáo bạo lực, đe dọa các lãnh đạo xã hội và người dân bản địa

09/06/2020
Anmai
GH Hoàn Vũ, Tin tức
0

Trong những ngày vừa qua, trước tình hình căng thẳng của đất nước do những vụ tấn công bạo lực vào các lãnh đạo xã hội và người dân bản địa, qua một tài liệu về mục vụ xã hội, Hội đồng Giám mục Colombia đã lên tiếng tố cáo và yêu cầu chấm dứt ngay các hành động phi pháp này.

Gia tăng các vụ giết người

Trong tài liệu, các Giám mục chỉ cho thấy chỉ trong bốn tháng đầu năm 2020, con số vụ giết người liên quan đến nhóm người này đã gia tăng. Thực tế, đã có 8 cựu chiến binh Farc và 3 phụ nữ lãnh đạo xã hội và người bản địa của các vùng Meta và Vichada đã bị giết. Ngoài các vụ giết người, báo cáo còn tố cáo những vụ khủng bố liên tục nhắm đến các nhà lãnh đạo xã hội và các cộng đồng. Ở các đô thị, tác động của tình trạng này có liên quan đến thỏa thuận hòa bình với các nhóm du kích Farc.

Đàn áp trong các cuộc biểu tình

Hình sự hóa phản kháng xã hội là một trong những mối quan tâm chính được báo cáo nhấn mạnh. Có ít nhất năm cuộc biểu tình của công nhân chống lại các công ty dầu mỏ của Meta trong quý đầu của năm nay. Các cuộc biểu tình bùng nổ vì trong các biện pháp cách ly xã hội để ngăn chặn Covid-19, các công ty tiếp tục thăm dò, khai thác, vận chuyển dầu và các hoạt động khác, khiến dân chúng bị lây nhiễm.

Tài liệu tố cáo, trong các cuộc biểu tình này, có một hành vi thái quá của lực lượng an ninh nhà nước. Các nhân viên an ninh này bắt giữ và kỳ thị các nhà lãnh đạo cộng đồng, buộc tội họ làm hư hại tài sản tư nhân, chặn đường công cộng và kích động phá hoại và khủng bố.

Người dân bản địa bị tổn thương

Tiếp theo, báo cáo cho thấy hoàn cảnh dễ bị tổn thương của người dân bản địa Amazon gia tăng, có nguy cơ bị diệt chủng, do thiếu các dịch vụ y tế hiệu quả, lãnh thổ không được công nhận, các vụ tấn công trực tiếp chống lại các quyền tập thể đối với lãnh thổ, tự chủ như các dân tộc và an ninh.

Hòa giải bao hàm công bằng xã hội

Tài liệu nhấn mạnh: “Chúng tôi ý thức rằng hòa giải không chỉ giới hạn trong thực hành tha thứ và tìm kiếm hòa bình, nhưng trái lại, hòa giải bao hàm sự tiến triển ổn định cho tất cả những ai tham gia vào cuộc sống của các lãnh thổ này và trong công bằng xã hội”. HĐGM kêu gọi chính quyền và xã hội dân sự “từ bỏ thái độ dửng dưng trước các mối đe dọa các nhà lãnh đạo xã hội” và chú ý đến nhu cầu của người dân bản địa đang trong tình trạng bị bỏ rơi và dễ bị tổn thương, không chỉ đối với mối đe dọa của đại dịch Covid-19 mà còn vì “các áp lực, bạo lực và đe dọa đến từ các lĩnh vực khác”.

Ngọc Yến

Read More
09Tháng Sáu
2020

Hàng ngàn người ở Hồng Kông tham dự các Thánh lễ tưởng niệm vụ thảm sát Thiên An Môn

09/06/2020
Anmai
GH Hoàn Vũ, Tin tức
0

 

Khoảng 5.000 người đã tham dự các Thánh lễ được cử hành tại Hồng Kông hôm 04/06 vừa qua, nhân kỷ niệm lần thứ 31 vụ thảm sát của quân đội Trung Quốc giết chết hàng ngàn người biểu tình ủng hộ dân chủ.

Các Thánh lễ đặc biệt được cử hành tại 7 nhà thờ giáo xứ Công giáo; trong khi khoảng 10.000 người bất chấp lệnh cấm, tập trung tại công viên Victoria của thành phố với những ngọn nến thắp sáng nhân kỷ niệm 31 năm vụ thảm sát Thiên An Môn.

 

Từ vụ thảm sát năm 1989, các cuộc tụ họp với nến sáng đã trở thành một nét quen thuộc. Nhưng năm nay, chính quyền thành phố ủng hộ Bắc Kinh đã cấm việc này với lý do là nó có thể làm lây lan virus corona.

 

Liên hiệp các tổ chức Công giáo Hồng Kông ủng hộ Phong trào Dân chủ Yêu nước ở Trung Quốc đã tổ chức các Thánh lễ và các buổi cầu nguyện để tưởng nhớ ngày này. Khoảng 1.000 người Công giáo đã tham dự một Thánh lễ do Đức cha Giuse Hạ Chí Thành, giám mục phụ tá của Hồng Kông, cử hành tại nhà thờ Thánh giá. Trong bài giảng, Đức cha nói: “Chúng ta không muốn nhớ ngày 04/06 nhưng cũng không được quên nó” khi nhắc đến phần lớn người trẻ và sinh viên thiệt mạng tại quảng trường Thiên An Môn.

 

Ước tính 10.000 người đã bị giết khi 300.000 binh lính và xe tăng quân đội hành động để đè bẹp cuộc nổi dậy kéo dài 50 ngày chống tham nhũng chính trị và tìm kiếm cải cách dân chủ, tự do ngôn luận và liên kết.

 

Giám mục phụ tá của Hồng Kông cũng lo âu về luật an ninh mới và quyết định của chính quyền cộng sản Trung Quốc chấm dứt sự tự trị của Hồng Kông. Ngài nói: “Tình hình ở Hồng Kông đang xấu đi nhanh chóng. Không gian để bày tỏ tự do dường như đang thu nhỏ lại và nhỏ hơn.”

 

Cũng có các tín đồ thuộc các hệ phái đức tin khác tham dự Thánh lễ. Một người dân nói: “Đây là phản chiếu của việc Giáo hội bước đi với người dân và chia sẻ mối quan tâm của họ. Giáo hội phải chia sẻ những âu lo của thế giới. Giáo hội có nhiệm vụ ở bên người dân trong tình trạng xã hội đáng lo ngại.” (Ucanews 06/06/2020)

 

Hồng Thủy

Read More
09Tháng Sáu
2020

Các bí tích của Giáo Hội Công Giáo có nguồn gốc Kinh Thánh không?

09/06/2020
Anmai
Phụng vụ, Tài liệu phụng vụ
0

Xin cha giải thích giúp những thắc mắc sau đây :

1- Các bí tích của Giáo Hội Công Giáo có nguồn gốc Kinh Thánh không?

 

2- Anh  em Tin Lành chỉ tin có Kinh Thánh thôi. Như vậy, nếu chỉ nghe lời Chúa  trong Kinh Thánh thôi thì có đủ để được cứu rỗi hay không?

Trả lời :

  1. Như tôi đã nhiều lần giải thích là không phải bất cứ điều gì Giáo Hội dạy đều có ghi trong Kinh Thánh.

Thí dụ các tín điều về Đức Mẹ Vô Nhiễm Thai, (Immaculate Conception)  Đức Mẹ Lên Trời cả hồn xác (Assumption) Ơn bất khả ngộ (Ìnfallibility) của Đức Thánh Cha và của các Giám mục hiệp thông, Lễ kính các Thánh Nam nữ, Thánh Cả Giuse , các ân xá (Indulgences)… đều không có ghi trong Kinh Thánh.

 Chính vì chỉ tin có Kinh Thánh (Sola Scriptura), nên anh  em Tin Lành, nói chung,  đã phê bình Giáo Hội Công Giáo về nhiều điều họ cho là thiếu căn bản Kinh Thánh. Họ phê bình như vậy là vì họ không biết rằng Giáo Hội Công Giáo, ngoài Kinh Thánh,  Scriptures ) còn có Thánh Truyền, (Sacred Tradition) Mặc Khải (Revelation) và Quyền Giáo Huấn (Magisterium) là những nguồn chân lý mà Giáo Hội khai thác để dạy những điều mọi tín hữu phải tin và sống cho được lãnh nhận ơn cứu chuộc của Chúa Cứu Thế Giêsu.

Sau đây là bằng chứng về Thánh Truyền  và Quyền Giáo Huấn  của Giáo Hội đã được  ghi lại trong Kinh Thánh Tân Ước:

Thứ nhất về Quyền Giáo Huấn, Chúa Kitô đã trao cho các Tông Đồ trước khi Người về trời  như sau :

“Thầy đã được trao toàn quyền  trên trời dưới đất. Vậy anh  em hay đi… và dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh  em…” (Mt 28: 20)

Về Thánh Truyền, Thánh Phaolô  đã truyền cho môn đệ ngài là Timôthê  như sau:

“anh Timôthê, hãy bảo toàn giáo lý đã được giao phó cho anh, tránh những chuyện nhảm nhí, trống rỗng, và những vấn đề tri thức giả hiệu. Có những kẻ, vì chủ trương cái trí thức đó, nên đã lạc mất đức tin. Chúc anh  em được ân sủng.” (1 Tm 6: 20-21)

Hay rõ hơn nữa:

“Với đức tin và đức mến của một người  được kết hợp với Đức Kitô-Giêsu, anh hãy lấy làm mẫu mực những lời lành mạnh anh đã nghe tôi dạy. Giáo lý tốt đẹp đã trao phó cho anh, anh hãy bảo toàn, nhờ có Thánh Thần ngự trong chúng ta.” (2 Tm 1:  13-14)

Như thế đủ cho thấy là các Thánh Tông Đồ đã truyền lại cho các thế hệ nối tiếp cho đến ngày nay những giáo lý tinh tuyền của Kitô-Giáo, tức  là của chính Chúa Kitô đã giảng dạy cho các Tông Đồ và cho dân chúng thời đó và được truyền lại cho chúng ta ngày nay qua Giáo Hội, là Thân Thể Nhiệm Mầu (Mystical Body) của Chúa Kitô trong trần thế.

Riêng về các bí tích, thì Giáo Lý của Giáo Hội đã nói rõ bảy Bí Tích mà Chúa Kitô đã ban cho Giáo Hội như phương tiện cứu rỗi cần thiết mà mọi tín hữu được mong đợi đón nhận với đức tin vững chắc và lòng mến nhiệt thành về những lợi ích thiêng liêng lớn lao  của các bí tích này.(x SGLGHCG số 1210-1620)

Tất cả bẩy bí tích này đều có nguồn gốc Kinh Thánh  như sau:

1-Bí Tích Thánh Tẩy (rửa tội)

Trước hết, Chúa Giê su đã nói với một thủ lãnh Biệt phái tên là Ni-cô-đê-mô

đến thăm Chúa một đêm kia như sau:

Tôi bảo thật ông:
Không ai có thể vào Nước Thiên Chúa
Nếu không được sinh ra bởi nước và thần khí.” ( Ga 3:5)

Trước khi về Trời, sau khi hoàn tất công cuộc cứu chuộc nhân loại qua khổ hình thập giá, chết,sống lại và lên Trời, Chúa Kitô cũng truyền cho các Tông Đồ những điều quan trọng sau đây:

 “Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép                     Rửa Cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần..” (Mt 28:19)

Hoặc :

“Ai tin và chịu hép Rửa sẽ được cứu độ, còn ai không tin sẽ bị luận phạt.” (Mc16:16)

2- Bí Tích Thêm  Sức (confirmation)

Khi hiện ra với các Tông Đồ sau khi Người sống lại từ cõi chết, Chúa Giêsu  đã thổi hơi vào các ông và bảo: “Anh  em hãy nhận lấy Thánh Thần,”  (Ga 20:22)

Lại nữa, hai Tông Đồ Phê rô và Gioan được cử đến miền Samari để gặp dân mới theo Đạo ở đây. Khi đến nơi, “ hai ông cầu nguyện cho họ, đặt tay trên họ và họ nhận được Thánh Thần.”  (Cv 8 : 17)

3-Bí Tích Hòa Giải ( penance, reconciliation)

 Sau khi thổi hơi  để ban Thánh Thần cho các Tông Đồ, Chúa Giêsu đã long trọng truyền cho họ thi hành mệnh lệnh  sau đây:

 Anh em tha tội cho ai thì người ấy được tha 

Anh em cầm giữ ai thì người ấy bị cầm giữ” ( Ga 20: 23)

Lại nữa, trước  khi chiu khổ hình thập giá chết và sống lại, Chúa Giê-su cũng  đã trao cho Phêrô  chiều khóa Nước Trời và quyền cầm buộc hay tháo gỡ  như sau:

 “Thầy sẽ trao cho anh chìa khóa Nước Trời: dưới đất anh cầm buộc điều gì, trên trời cũng sẽ cầm buộc như vậy; dưới đất anh tháo gỡ điều gì trên trời cũng sẽ thao gỡ như vậy.” ( Mt 16: 19)

Quyền đó đã được trao lại cho các vị kế tục Phêrô cho đến ngày nay. Vì thế, Giáo Hội – qua Đức Thánh Cha là người kế vị  Thánh Phê rô trong nhiệm vụ chăn dắt đoàn chiên của Chúa, có quyền ra vạ tuyệt thông = Anathema = Excomunication)

Và giải vạ này cho những ại bị vạ; cũng như ban ân xá (indulgences) để tha hình phạt hữu hạn (temporal punishment) cho người còn sống hay cho các linh hồn đang được thanh luyện nơi Luyện tội (purgatory).

 Đây là điều các giáo phái Tin Lành không tin nên đã đả kích Giáo Hội Công Giáo cách vô căn cớ.

4- Bí tích Thánh Thể

Bí Tích quan trọng này đã được Chúa Giê su thiết  lập trong Bữa ăn sau cùng với Mười hai Tông Đồ khi Người cầm bánh, dâng lời chúc tụng  rồi bẻ ra trao cho các ông và nói: “anh  em cầm lấy mà ăn, đây là mình Thầy.Rồi Người cầm chến rượu, tạ ơn,  trao cho các ông và nói : “ Tất cả anh  em hãy uống chén này, vì đây là máu Thầy, máu giao ước đổ ra cho muôn người được tha tội.” ( Mt 26: 26-28; Mc 14: 22-24;  Lc 22:19-20; Ga 6;  1Cor 11: 23- 25)

Qua Bí Tích Thánh Thể, Giáo Hội tin có sự hiện diện thực sự (real presence) của Chúa Kitô dưới hai chất thể là bánh và rượu nho.Đây là điều anh  em Tin Lành không tin. Vã lại, vì họ không có Chức Linh Mục (Priesthood) hữu hiệu nên họ không thể có Bí Tích Thánh Thể  (The Eucharist) và các Bí Tích Hòa Giải (Reconciliation), Xức dầu bệnh nhân (Anointing of the sick) và Bí Tích Truyền Chức Thánh (Holy Orders ) là những Bí Tích chỉ có trong Giáo Hội Công Giáo và các Giáo Hội Chính Thống Đông Phương (Eastern Orthodox Churches) mà thôi;  ngoài bí tích Rửa Tội mà đa số các giáo phái khác như Tin Lành và Anh Giáo (Anglican) đều có.

Nhưng nếu nhóm nào –như giáo pháí  Bahai Hullad), không làm Phép Rửa với nước và Công Thức Chúa Ba Ngôi ( The Trinitarian Formula) thì bí tích không thành sự ( invalidly) nên nếu giáo hữu của họ muốn gia nhập Giáo Hội Công Giáo thì phải được rửa tội lại.

5-Bí tích Xức dầu ( Anointing)

Bí Tích này được ghi trong Thư Thánh Gia-cô-bê  như sau:

“ Ai trong anh em đau yếu ư? Người ấy hãy mời các kỳ mục của Hội Thánh đến; họ sẽ cầu nguyện cho người  ấy sau khi sức dầu nhân danh Chúa.”  (Gc 5: 14)

6- Bí Tích Truyền Chức Thánh ( Hoy Orders)

Trong thư gửi cho môn đệ ngài là Timô-thê, Thánh Phaolô đã căn dặn như sau:

“ Vì lý do đó, tôi nhắc anh phải khơi  dậy đặc sủng của Thiên Chúa, Đặc sủng anh đã nhận được khi tôi đặt tay trên anh.” ( 2 Tm 1: 6)

Như thế việc đặt tay để xin ơn Chúa Thánh Thần là điểm chính yếu trong Nghi thức Truyền Chức Thánh Phó tê, Linh mục và Giám mục trong Giáo Hội Công Giáo và Chính Thống Đông Phương.

7- Bí Tích Hôn Phối ( Matrimony)

Chính Chúa Giê su đã nhắc lại cho các Tông Đồ –  và  đặc biệt- là nhóm Biệt phái như sau về bí tích này:

“Các ông không đọc thấy điều này sao: thủơ ban đầu, Đấng Tạo Hóa đã làm ra con người có nam có nữ, và Người đã phán: “vì thế người ta sẽ lìa Cha mẹ  mà gắn bó với vợ mình, và cả hai sẽ thành một xương một thịt. Như vậy, họ không còn là hai, nhưng chỉ là một xương một thịt. Vậy sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly.” (Mt 19:  4-6)

Thánh Phaolô cũng nhắc cho tín hữu Ê-phê-sô về bí tích hôn phối như sau:

“Sách Thánh có lời chép rằng:  Chính vì  thế , người đàn ông sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai sẽ thành một xương một thịt. Mầu nhiệm này thực là cao cả.Tôi muốn nói về Đức Kitô và Hội Thánh. Vậy mỗi người trong  anh   em hãy  yêu vợ  như chính mình, còn vợ thì  hãy kính sợ chồng.” ( Ep 5:  31-33)

Tóm lại, tất cả bảy Bí Tích đều có nguồn gốc Kinh Thánh, tức là đều bắt nguồn từ ý muốn của Thiên Chúa cho con người thi hành để cộng tác với Chúa trong Chương Trình sáng tạo và cứu độ con người nhờ Chúa Kitô cho đến ngày mãn thời gian.

II- Chỉ nghe Lời Chúa không thôi có đủ cho con người được cứu độ không?

Nghe lời Chúa qua Kinh Thánh là điều rất quan trọng và cần thiết cho mọi thành phần dân Chúa trong Giáo Hội, vì “ người ta sống  không phải chỉ nhờ cơm bánh nhưng còn sống nhờ mọi lời từ miệng ĐỨC CHÚA phán ra.” (Mt 4: 4 ; Lc 4: 4;  Đnl 7:  3;)

Lời Chúa không những là thần lương nuôi sống linh hồn ta mà còn là đuốc sáng soi dẫn ta đi trên đường tìm kiếm Chúa và Vương Quốc bình an, hạnh phúc của Người, đúng như Phêrô đã tuyên xưng một ngày kia:

 “Thưa Thầy, bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai?   Thầy  mới có những lời đem lại sự sống đời đời.” (Ga 6: 68)

 Thánh Vinh 119, cũng ca tụng lời Chúa như sau:

 “ Lời Chúa là ngọn đèn soi cho con bước 

Là ánh sáng chỉ đường con đi”. (Tv 119: 105)

Như thế đủ cho thấy là việc nghe lời Chúa qua Kinh Thánh, qua Giáo Hội và trong chính lương tâm con người, là điều vô cùng cần thiết cho những ai muốn đi theo Chúa, muốn yêu mến Người và muốn được cứu rỗi để sống hạnh phúc đời đời với Chúa trên Nước Trời mai sau: .

Tuy nhiên, chỉ nghe lời Chúa như anh em Tin Lành tin và quảng bá (Sola Scriptura) thì chưa đủ để lãnh ơn cứu chuộc của Chúa Kitô..Muốn đầy đủ hơn thì cần thiết cho ta phải lãnh  nhận các Bí Tích rất quan trọng như Thánh Thể, Hòa Giái và Xức Dầu bệnh nhân … là những phương tiện thông ban ơn Chúa dồi dào cho những ai muốn lãnh nhận ơn cứu độ của Chúa Kitô  nhờ Hy Tế đền tội  mà Chúa đã dâng lên Chúa Cha trên thập giá năm xưa và nay còn tiếp tục dâng trên bàn thờ mỗi khi Thánh Lễ  được cử hành.

Vì thế, khi tham dự Thánh lễ, chúng ta  được lãnh ơn cứu chuộc  của Chúa Kitô như Giáo Hội dạy trong Hiến Chế Lumen Gentium  (Ánh Sáng muôn dân ) sau đây:

 “Mỗi lần hy tế thập giá được cử hành trên bàn thờ, nhờ đó “Chúa Kitô, Chiên vượt qua của chúng ta chịu hiến tế (1 Cor 5, 7) thì công trình cứu chuộc chúng ta được thực hiện.” ( LG 3)

Đó cũng là lý do tại sao Thánh Lễ được coi là “nguồn mạch và chóp đỉnh của tất cả đời sống Kitô Giáo”.Nghĩa là không thể sống trọn  vẹn đời sống Kitô Giáo mà không tham  dự Thánh Lễ  để  vừa được nghe lời Chúa  và nhất là  được  ăn thịt và uống máu Chúa Kitô là bảo chứng cho ta được sống đời đời như Chúa đã hứa:

“Ai ăn thịt và uống máu Ta 

Thì được sống muôn đời 

Và Ta sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết.” ( Ga 6: 54)

Mặt khác, là con người sống trên trần gian này, không ai có thể  tránh được nguy cơ của tội lỗi đến từ ma quỉ, thế gian và xác thịt. Do đó, nếu không siêng năng chạy đến với  Chúa qua  bí tích hòa giải  (xưng tội) thì làm sao nối lại được tình thân với Chúa,  sau khi  lỡ  sa ngã vì yêu đuối con người,  vì  ma quỷ và thế gian luôn cám dỗ với mọi dịp tội và gương xấu để lôi kéo ta ra khỏi thân tình với Chúa để làm nô lệ cho chúng và mất hy vọng được cứu rỗi?

Chính vì biết con người còn yếu đuối và dễ sa ngã,  nên Chúa Kitô  đã dự trù sẵn phương thế hữu hiệu là ban cho chúng ta bí tích hòa giải để giúp  ta trỗi dậy và   lấy lại thân tình với Chúa mỗi khi lỡ sa phạm tội vì yếu đuối  trong bản tính con người, và nhất là  vì ma quỷ cám dỗ cho ta phạm tội khiến mất tình thân với Chúa và mất hy vọng được cứu rỗi nhờ công nghiệp cứu chuộc của Chúa Cứu Thế Giêsu .

Thật vậy, ai dám nói là mình không bao giờ phạm tội để không cần phải xưng tội để được tha thứ?

Cũng không thể trực tiếp xưng tội với Chúa không cần qua trung gian của ai ( linh mục)  như anh em Tin Lành giảng dạy, vì Chúa Kitô  đã trao quyền tha tội này cho các Tông Đồ mà người kế vị các ngài là các Giám mục và phụ tá của Giám mục là  các linh mục trong toàn Giáo Hội.( Ga 20:23)

Do đó  không thể cứ hát Alleluia và nghe lời Chúa không thôi như anh  em Tin lành quảng bá thì  sẽ thiếu đi phần quan trọng nữa là  lãnh nhận các ơn ích thiêng liêng  qua các bí tích mà Chúa Kitô đã thiết lập và ban cho Giáo Hội xử dụng  để thánh hóa và ban ơn cứu rỗi cho con người cho đến ngày mãn thời gian.

Anh em Tin Lành không biết các Bí Tích quan trọng như Thêm Sức, (Confirmation) Thánh Thể (Eucharist) , Hòa Giải (reconciliation) Xức Dầu bệnh nhân (Anointing of the sick)..nên không biết những lợi ích thiêng liêng lớn lao của các Bí Tịch này.

Kinh nghiệm thiêng liêng cho mọi người tín hữu chúng ta  biết rằng: phải siêng năng cầu nguyện,  nghe lời Chúa và luôn chạy đến với hai bí tích rất quan trọng và cần thiết là Thánh Thể và Hòa giải để được ăn uống Mình Máu Chúa,  là linh dược nuôi sống linh hồn và cho ta sức mạnh cần thiết để đứng vững trong ơn nghĩa với Chúa cũng như  lấy lại ơn  nghĩa này  sau khi lỡ sa phạm tội  nặng  hay nhẹ , vì yếu đuối của bản năng, nhất là vì ma quỷ – ví như “ sư tử gầm thét rảo quanh tìm mồi cắn xé” để  mong  sát hại linh hồn chúng ta, như Thánh Phê rô đã lưu ý. (1 Pr  5: 8)

Tóm lai, muốn thăng tiến trong đời sống thiêng liêng, muốn lớn lên trong tình yêu Chúa, và muốn được cứu rỗi thì phải sử dụng mọi phương tiện cần thiết nói trên, như nghe lời Chúa, cầu nguyện và siêng năng lãnh nhận các bí tích Thánh Thể và Hòa giải là những phương  tiện cứu rỗi vô cùng cần thiết mà Chúa Kitô đã ban cho chúng ta qua Giáo Hội, là Thân Thể Nhiệm Mầu của Chúa trong trần gian, có mặt  và  hoạt động  cho đến ngày mãn thời gian, tức là ngày cánh chung hay tận thế. Amen

Ước mong những giải đáp trên thả mãn các câu hỏi đặt ra.

Lm  Phanxicô .Xaviê  Ngô Tôn Huấn.

Read More

Điều hướng bài viết

  • Previous page
  • Page 1
  • …
  • Page 1.646
  • Page 1.647
  • Page 1.648
  • …
  • Page 2.055
  • Next page
Bài viết mới nhất
TRONG HỌC THUYẾT XÃ HỘI CỦA GIÁO HỘI, “DẤU CHỈ THỜI ĐẠI” KHÔNG HỀ BỊ BỎ QUA
01/06/2026
ĐẼO CÀY GIỮA ĐƯỜNG - MỖI TUẦN MỘT THÀNH NGỮ
01/06/2026
TỔNG GIÁM MỤC HICKS CỦA NEW YORK: ‘MAGNIFICA HUMANITAS’ SẼ ĐỊNH HÌNH CÁC THẾ HỆ TƯƠNG LAI
01/06/2026
Video nổi bật
https://www.youtube.com/watch?v=Td144YDsaGo
Sự kiện sắp tới

There are no upcoming events at this time.

Ủy ban Giáo dục Công giáo – Trực thuộc Hội Đồng Giám Mục Việt Nam.

Liên hệ

72/12 Trần Quốc Toản, Phường 8, Quận 3, TP.HCM Get Directions

Phone: +84 931 436 131

Email: [email protected]

Ban chuyên môn
  • Ban Tài liệu và Truyền thông
  • Ban Giáo chức
  • Ban Kỹ năng và Giá trị sống
  • Ban Khuyến học
  • Ban Học viện Thần học
  • Ban Hội Học sinh – Sinh viên
Chuyên mục
  • Tin tức
  • Thư chung
  • Giáo dục
  • Phụng vụ
  • Thư viện
Bản quyền © 2020 thuộc về Ủy Ban Giáo Dục HĐGM VN. Design by JT.