2020
Cuộc chiến đấu là hữu ích dù phải dè chừng các thế lực quỷ quái
Cuộc chiến đấu là hữu ích dù phải dè chừng các thế lực quỷ quái

Chúng ta hãy tránh số phận đáng sợ này. Chúng ta hãy bỏ các viên đá nặng nề ra khỏi túi. Chúng ta hãy tin chắc, đối thủ đã ở đó, ở tận đáy, tận đáy sâu thẳm.
Chúng ta có lý với đối thủ thân thiết này không? Không. Chúng ta sẽ chiến thắng? Không. Có những cuộc chiến chúng ta không có khả năng thắng. Đó là các cuộc chiến đẹp nhất – và kiệt sức nhất. Chúng ta phải xem xét, có một số cuộc chiến nội tâm thất bại lại hữu ích hơn các chiến thắng dễ dàng. Các chiến thắng dễ dàng này để lại quá nhiều áo giáp bí mật, quá nhiều thanh kiếm vô hình trên chiến trường.
Ngoài các cuộc chiến không cân sức này với lực quỷ quái quá mạnh thì cuộc chiến, tự nó, là có lợi. Chiến đấu mà không có hy vọng về một “hiệp ước hòa bình” hoặc “trở lại trạng thái bình thường” làm nó có thể để lộ ra, trong chính cuộc chiến, các lực lượng chưa từng có.
Đối thủ không ở ngang tầm chừng mực của chúng ta, chính xác nó ở tầm quá mực của chúng ta. Nếu chúng ta nghĩ nó ở ngang tầm chúng ta, giống như chúng ta, có khả năng đánh bại, nó sẽ làm chúng ta yếu đi. Hy vọng của một chiến thắng dễ dàng làm chúng ta lười biếng. Nhưng nếu đặt mình ngang tầm với nó, tôi biết tôi chẳng bao giờ có được bình an, nghĩ mình sẽ bị ngập chìm cuối cùng sẽ làm tôi mạnh hơn. Mạnh mẽ hơn. Sắc bén hơn. Thiện chiến hơn. Cứ trau dồi chiến đấu mà không bao giờ nghĩ rằng có một ngày mình sẽ chiến thắng.
Thói quen chiến đấu quan trọng hơn chính cuộc chiến; và bản thân cuộc chiến quan trọng hơn viễn cảnh về một chiến thắng có thể có.
Mới đầu, khi chúng ta nhường bước cho cái ác, cho các nhượng bộ nhỏ sau các thất bại nhỏ, chúng ta đi tới điều đơn giản nhất, với những gì chúng ta tin là hiệu quả nhất: vũ khí của lòng căm thù, vũ khí của các đối thủ. Vì thế khi bắt đầu, chúng ta nghĩ rằng mình mạnh hơn. Và chúng ta mạnh! Ít nhất là ban đầu. Những gì chúng ta “được” từ cái ác, với cái ác, chúng ta mất cái thiện. Chúng ta gian lận. Chúng ta làm sai quy tắc để “lừa đảo” với các chất độc ác tính. Nhưng gian lận chỉ hiệu quả cho một, hai hoặc ba giai đoạn.
Hận thù, độc ác, tính toán xảo trá, luôn muốn sử dụng điểm yếu của người khác để đẩy họ xuống bùn thêm, thói quen luôn coi người đối diện là kẻ thù: tất cả các suy nghĩ này làm tăng quyền lực. Chúng là vũ khí chiến tranh hữu hiệu cho những người không có hoặc không còn ân cần, không còn kiềm chế, không còn đồng cảm hơn với người khác. Nhưng, lừa đảo theo kiểu này, kiểu thuốc độc với ý xấu xảo trá, hành động xấu xa, thì nhanh chóng sẽ bị lật ngược. Cái gì mình nghĩ mình nắm trong tay thì cuối cùng nó nắm mình. Thanh kiếm sắc nhọn tẩm thuốc độc thù hận có vẻ hiệu quả, nhưng khi dùng nó, nó quay lại làm độc người dùng. Hận thù chiếm ưu thế. Nó xâm nhập khắp nơi. Một cách ngấm ngầm, không cần ra tay, giống như hệ thống cống rãnh trồi lên khắp nơi bằng các đường ống dùng để thoát phân, nó điều khiển các trung tâm ra quyết định.
Tâm hồn cuối cùng bị băng hoại vì thiếu thông thoáng do nó thỏa hiệp với bóng tối. Nó muốn có được một sức mạnh mới – cũng ngay lập tức như ma túy mang một loại minh mẫn cao độ.
Tôi nhận thấy, chung quanh tôi, những ai nghiện ngập bóng tối (để trau dồi sức mạnh toàn năng hoặc lòng kiêu hãnh của họ), họ hành động với mong muốn chiến thắng bằng mọi giá. Họ cứng nhắc trong các quan điểm của mình, đến mức trở thành pháo đài khép kín nội tâm họ. Họ đang gây chiến tranh, một cuộc chiến xảo trá chống những người ở đó, trên đường đi. Và những người ở đó, chung quanh họ, không nhận ra thì cuối cùng họ sẽ thấm đẫm loại ma túy đen này từ đầu xuống chân. Họ thấy mình hoàn toàn bị tô màu bằng loại mực đen quỷ quái này. Họ kết thúc bằng sự lệ thuộc vào nó. Không thể không có nó. Và nhất là không còn làm chủ được gì.
Mới đầu, họ nghĩ mình có thể sử dụng sức mạnh chưa từng có này để chống lại người khác, loại siêu sức mạnh ác tính này để hoàn thành công việc nhanh hơn. Nhưng sự tăng thêm xấu xa này cuối cùng quay ngược lại chống họ. Họ nghĩ họ có thể tìm được một thỏa thuận với chính mình: vẫn tinh tuyền nội tâm, và lừa bịp bên ngoài. Nhưng các thỏa thuận không lâu dài. Lừa đảo, nếu không bị đánh bại, nó sẽ chiến thắng. Nếu nó không được xích lại, nó sẽ hủy hoại mọi thứ.
Bài tập nho nhỏ về vệ sinh thiêng liêng
Tất nhiên, chúng ta phải dè chừng và nếu cần thiết nên tránh đi. Nhưng dù vậy cũng đừng đánh mất tinh thần chiến đấu – đặc biệt nếu đó là chiến đấu thiêng liêng. Chiến đấu là thói quen không được đánh mất, dù chúng ta chẳng bao giờ thắng, dù chúng ta biết thắng một lần không phải là xong.
Dù con bọ cạp thề một trăm lần nó sẽ không cắn nữa. Đừng bao giờ tin. Bản chất của nó là gây ra chết chóc. Con ếch trong ngụ ngôn của La Fontaine quá ngây thơ, quá lạc quan, quá tốt bụng. Nó tin con bọ cạp. Ra giữa dòng sông nó chết. Nó chết vì một vết cắn? Đúng. Nhưng vết cắn của tính ngây thơ. Vậy phải làm gì bây giờ? Làm thế nào đây?
Đừng lầm tưởng về sức mạnh, về quyền lực
Bất hoặc làm gì chúng ta cũng muốn làm có “hiệu quả” nhất. Và hận thù thì hiệu quả khi tình yêu yếu đuối. Hận thù làm chai cứng khi tình yêu suy giảm. Nhưng sau khi làm hưng phấn, cuối cùng hận thù hủy hoại tôi. Vì vậy, làm ơn làm phước bạn đừng bao giờ dùng con đường ma túy-hận thù dù nó mạnh hơn, hấp dẫn hơn là con đường tử tế dễ thương và quan tâm đến người khác. Bạn nghĩ mình có thể đi nhanh hơn. Bạn sẽ chỉ đi theo hướng của bóng tối hận thù. Làm sao để chống lại? Tôi có bị cám dỗ này không? Làm thế nào để chống lại nó?
Lòng tốt tâm hồn là một điểm yếu, tuy nhiên nó lại có lợi
Tâm hồn đen tối là một lực mạnh khủng khiếp. Hạng nhất nó là một trò quỷ quyệt – theo nghĩa vừa chia rẽ bản thân, vừa căm ghét bản thân và vừa cắt đứt với người khác. Như trong truyện ngụ ngôn con bọ cạp, nếu nó muốn giết con ếch, đó là điều nó phải làm, gần như ngoài sức của nó; và con ếch chết vì đã quá “dễ thương.” Làm thế nào để sống tốt – tránh xa sự ngờ vực của mọi người? Làm thế nào để ghét những con bọ cạp xung quanh chúng ta? Và trên hết, những con bọ cạp u minh này?
Marta An Nguyễn dịch
2020
Giáo hội và diễn đàn Internet
Có thể nói rằng thế giới trực tuyến (thế giới của Internet) là một phần thiết yếu của cuộc sống con người trong thế kỷ 21, vì ảnh hưởng quá lớn rộng và sâu đậm của nó. Nó tạo ra cả một nền văn hoá mới mang tính toàn cầu. Cuộc sống của người Công giáo cũng không thoát khỏi tầm ảnh hưởng và nền văn hoá bao trùm của Internet. Do đó, một câu hỏi được đặt ra: người Công giáo phải sử dụng Internet như thế nào cho đời sống đức tin của mình? Câu hỏi này liên quan đến một câu hỏi khác: Giáo Hội Công giáo nghĩ gì về Internet và muốn sử dụng nó như thế nào cho sinh hoạt của Giáo Hội?
Giáo Hội đã có một văn kiện mang tên “Đạo đức trên Internet”. Nhưng Giáo Hội không chỉ thấy trên Internet có những chuyện đúng và những điều sai, mà còn nhận ra biết bao điều ích lợi – kèm theo cũng không ít thách đố – mà Internet có thể mang đến cho công việc mục vụ và tông đồ của mình. Vì thế, khi phổ biến Huấn thị “Đạo đức trên Internet” vào ngày 22.2.2002, thì cũng cùng ngày đó, Hội đồng Giáo hoàng về Truyền thông Xã hội đã công bố Huấn thị “Giáo Hội và Internet” với lược đồ như sau:
- Dẫn nhập
Cách thức tiếp cận phương tiện truyền thông của Giáo Hội (1-4)
- Cơ hội và thách đố của Internet
– Ích lợi và thuận lợi (5)
– Truyền thông trong nội bộ Giáo Hội (6)
– Giáo dục và đào tạo (7)
– Vấn nạn cho Giáo Hội (8)
– Nghiên cứu học hỏi (9)
III. Đề nghị và kết luận
– Sử dụng với óc sáng tạo (10)
– Những nhóm đặc biệt (11-12)
Phân tích những nét chính yếu mà Huấn thị “Giáo Hội và Internet” muốn truyền đạt đến mọi người là điều cần làm. Những phân tích này, đối chiếu với Sứ điệp “Internet: Diễn đàn mới để Loan Báo Tin Mừng” của Đức Gioan Phaolô II (cũng được gửi đi vào năm 2002) và Sứ điệp “Sự thật, Việc Loan báo và Cuộc sống thực trong thời đại kỹ thuật số” của Đức Bênêđictô VI (năm 2011), sẽ giúp người tín hữu nhớ được mình cần làm gì để sử dụng hữu hiệu phương tiện Internet cực mạnh này cho đời sống đức tin hằng ngày của mình và cho công cuộc loan báo Tin Mừng của Giáo Hội.
Khởi đi từ phần dẫn nhập, Huấn thị “Giáo Hội và Internet” nói đến quan điểm tích cực của Giáo Hội về Internet, nói về hành trình truyền thông của nhân loại, và những mục đích Giáo Hội nhắm tới khi sử dụng Internet.
- Quan điểm tích cực
“Ngay cả khi lên án những lạm dụng quá đáng”, Giáo Hội vẫn coi Internet và các phương tiện truyền thông là “những quà tặng của Thiên Chúa”, là “những phát minh kỹ thuật kỳ diệu”.
Sự quan tâm của Giáo Hội đối với Internet biểu hiện đặc biệt sự quan tâm xưa nay của Giáo Hội đối với các phương tiện truyền thông xã hội. Khi coi các phương tiện truyền thông là một kết quả của tiến trình khoa học trong lịch sử, nhờ đó loài người “ngày càng tiến xa hơn trong việc khám phá ra những nguồn lực và những giá trị trong toàn thể vũ trụ”, Giáo Hội thường bày tỏ niềm xác tín của mình rằng các phương tiện truyền thông ấy, nói theo ngôn ngữ của Công đồng Vatican II, chính là “những phát minh kỹ thuật kỳ diệu”, đã đóng góp rất nhiều để thoả mãn các nhu cầu của con người và có thể còn đóng góp nhiều hơn nữa.
Như thế, Giáo Hội đã tiếp cận các phương tiện truyền thông với một thái độ căn bản là tích cực. Ngay cả khi lên án những lạm dụng quá đáng, các văn kiện của Hội đồng Toà Thánh về Truyền thông Xã hội vẫn phải đau đớn thú nhận rằng “nếu chỉ có thái độ kiểm duyệt về phía Giáo Hội thôi… thì chưa đủ và cũng chẳng thích hợp”.
Khi trích dẫn Tông thư “Miranda Prorsus” của Đức Giáo hoàng Piô XII, năm 1957, Huấn thị mục vụ “Hiệp thông và Tiến bộ”, ban hành năm 1971, cũng nhấn mạnh điểm ấy: “Giáo Hội coi các phương tiện truyền thông là “những quà tặng của Thiên Chúa”, mà theo kế hoạch quan phòng của Ngài, chúng sẽ liên kết mọi người trong tình huynh đệ và nhờ đó giúp mọi người cộng tác vào kế hoạch của Chúa để hưởng ơn cứu độ”. Đây vẫn là quan điểm của chúng tôi, và cũng là quan điểm của chúng tôi về Internet. (số 1)
- Hành trình Truyền thông của nhân loại
Giáo Hội nhìn lịch sử truyền thông của con người tựa như một cuộc hành trình dài, khởi đi từ sự truyền thông tuyệt vời trong vườn Địa Đàng, sau đó đổ vỡ do tội Adam, dẫn đến đỉnh cao bế tắc tại tháp Babel, và được khôi phục lại trong Lễ Hiện Xuống nhờ cuộc Vượt Qua với khuôn mẫu truyền thông trọn hảo của Đức Kitô. Sự khôi phục đang tiếp diễn cho đến ngày nay, và Internet được đặt nằm trong bối cảnh ấy.
Như Giáo Hội hiểu, lịch sử truyền thông của con người tựa như một cuộc hành trình dài, đưa con người “đi từ dự phóng tự kiêu của tháp Babel và từ sự sụp đổ khiến cho mọi người hồ đồ lẫn lộn và không hiểu nhau” (x. St 11,1-9) đến ngày lễ Ngũ Tuần, ngày Thánh Thần ban xuống ơn ngôn ngữ, như một cách khôi phục lại sự truyền thông, mà mục tiêu tập trung vào Đức Giêsu và nhờ sự hoạt động của Thánh Thần”. Chính trong cuộc đời, sự chết và sống lại của Đức Kitô, “việc truyền thông giữa con người với nhau sẽ tìm được lý tưởng và khuôn mẫu cao đẹp nhất trong Thiên Chúa làm người và làm anh em với chúng ta”.
Các phương tiện truyền thông xã hội hiện nay chính là những yếu tố văn hoá đóng một vai trò nhất định trong lịch sử. Như Công đồng Vatican II đã nhận xét: “dù chúng ta phải cẩn thận phân biệt những tiến bộ trần gian với sự phát triển của vương quốc Đức Kitô”, chúng ta vẫn phải nhìn nhận “những tiến bộ ấy có liên quan một cách mật thiết với Nước Chúa, khi mà chúng góp phần làm cho xã hội loài người được trật tự hơn”. Nhìn các phương tiện truyền thông xã hội dưới ánh sáng này chúng ta sẽ thấy chúng “đóng góp rất nhiều vào việc mở rộng và làm giàu tâm trí con người, cũng như phát triển và củng cố nước Chúa”.
Điều này đặc biệt đúng với Internet, là phương thế dùng để tạo ra những sự thay đổi có tính cách mạng trong thương mại, giáo dục, chính trị, báo chí, quan hệ giữa quốc gia này với quốc gia khác, giữa nền văn hoá này với nền văn hoá khác – những thay đổi này không chỉ giới hạn trong việc con người liên hệ với nhau như thế nào, mà còn là con người hiểu thế nào về cuộc sống của mình. (số 2)
- Hai mục đích
Giáo Hội sử dụng Internet với hai mục đích:
– Sử dụng đúng đắn mạng Internet để phục vụ cho sự phát triển, công bằng và hoà bình trên thế giới.
– Thể hiện bản chất của Giáo Hội là hiệp thông và truyền thông, bắt nguồn từ sự hiệp thông và truyền thông của Chúa Ba Ngôi.
Giáo Hội đề cập đến hai mục đích đối với Internet. Một là để cổ vũ sự phát triển và sử dụng đúng đắn mạng Internet hầu giúp con người được phát triển, giúp xã hội được công bằng và thế giới được hoà bình – nói chung là giúp xây dựng xã hội ở cấp địa phương, quốc gia và cộng đồng thế giới trong tinh thần liên đới và vì ích lợi chung. Đánh giá tầm quan trọng to lớn của việc truyền thông xã hội, Giáo Hội tìm cách “đối thoại cách chân thành và kính trọng với những người có trách nhiệm về các phương tiện truyền thông” – một sự đối thoại trước hết nhằm định hình chính sách truyền thông.. “Về phía Giáo Hội, muốn đối thoại như thế, cần phải nỗ lực hiểu biết các phương tiện truyền thông – mục đích, trình tự, hình thức và thể loại, những cơ chế bên trong và những thể thức làm việc – và cần phải hỗ trợ cũng như khuyến khích những ai tham gia công tác truyền thông. Dựa trên sự hiểu biết và nâng đỡ đầy thiện cảm ấy, người ta có thể đưa ra những đề nghị có ý nghĩa, nhằm gỡ bỏ những trở ngại đối với sự tiến bộ của con người và đối với việc rao giảng Tin Mừng”.
Nhưng Giáo Hội cũng quan tâm tới việc truyền thông trong Giáo Hội và do Giáo Hội. Việc truyền thông ấy không dừng lại ở chỗ có những thao tác kỹ thuật, vì nó “bắt đầu trong sự hiệp thông yêu thương giữa Ba Ngôi Thiên Chúa và trong việc các ngôi ấy liên lạc với chúng ta”, cũng như bắt đầu từ chỗ chúng ta ý thức rằng sự truyền thông của Ba Ngôi Thiên Chúa đã “vươn ra ngoài để đến với loài người: Ngôi Con chính là Lời được Chúa Cha “nói ra” từ đời đời; rồi trong Đức Giêsu Kitô và qua Ngài, là Con và là Lời đã thành xương thành thịt, Thiên Chúa truyền thông bản thân mình và ơn cứu độ cho mọi người”.
Thiên Chúa vẫn tiếp tục truyền thông cho loài người thông qua Giáo Hội, là người cưu mang và là người giữ gìn mạc khải của Thiên Chúa, cũng là người duy nhất được Ngài giao cho nhiệm vụ chính thức giải thích lời Ngài thông qua công tác giảng dạy của mình. Ngoài ra, bản thân Giáo Hội cũng là sự “hiệp thông” (communio), một sự hiệp thông của những con người và những cộng đoàn Thánh Thể xuất phát từ sự hiệp thông của Ba Ngôi Thiên Chúa và mô phỏng sự hiệp thông ấy; và vì thế, hiệp thông là bản chất của Giáo Hội. Đây chính là lý do mạnh hơn mọi lý do khác giải thích tại sao “việc truyền thông của Giáo Hội phải là việc truyền thông mẫu mực, phản ánh các tiêu chuẩn cao nhất của trung thực, trách nhiệm, nhạy cảm với các quyền của con người và những nguyên tắc cũng như những chuẩn mực khác có liên quan”. (số 3)
- Internet và Phúc âm hoá
Huấn thị nhắc lại lời của ĐTC Phao lô VI: Giáo Hội “sẽ cảm thấy có lỗi trước mặt Chúa, nếu Giáo Hội không biết sử dụng các phương tiện truyền thông để loan báo Tin Mừng”; và lấy từ lời khuyên dạy của Đức Gioan Phaolô II để nhắn nhủ các tín hữu phải dùng Internet để đưa Sứ điệp Tin Mừng ăn sâu vào “văn hoá mới” do Internet tạo ra.
Cách đây ba thập niên, Huấn thị “Hiệp thông và Tiến bộ” (Communio et Progressio) đã chỉ ra rằng “các phương tiện truyền thông hiện đại chính là những phương tiện mới mẻ giúp mọi người đối diện với thông điệp Tin Mừng”. Đức Phaolô VI nói rằng Giáo Hội “sẽ cảm thấy có lỗi trước mặt Chúa”, nếu Giáo Hội không biết sử dụng các phương tiện truyền thông để loan báo Tin Mừng. Đức Gioan Phaolô II đã gọi các phương tiện truyền thông là “đất thánh đầu tiên của thời đại mới” và đã tuyên bố rằng “nếu chỉ sử dụng các phương tiện truyền thông để phổ biến thông điệp Kitô giáo và giáo huấn chính thức của Giáo Hội thì chưa đủ. Còn phải làm sao đưa thông điệp ấy ăn sâu nào nền “văn hoá mới” do các phương tiện truyền thông tạo ra”. Điều ấy ngày nay còn quan trọng hơn nữa, vì các phương tiện truyền thông bây giờ không những ảnh hưởng tới nhận thức của con người về cuộc sống mà còn có thể nói rằng “kinh nghiệm con người bây giờ chính là kinh nghiệm thu nhận được từ các phương tiện truyền thông”.
Tất cả những điều vừa nói đều áp dụng được cho Internet. Cả khi thế giới truyền thông xã hội “thỉnh thoảng có gây xung đột với thông điệp Kitô giáo, đó vẫn là phương tiện đem lại cho chúng ta những cơ hội có một không hai để chúng ta loan báo chân lý cứu độ của Đức Kitô cho toàn thể gia đình nhân loại. Hãy nhìn những khả năng tích cực của Internet trong việc cung cấp thông tin tôn giáo và giảng dạy, vượt mọi rào cản và ranh giới. Có được một cử toạ đông đảo như thế, đó là điều vượt xa óc tưởng tượng của những vị đã rao giảng Tin Mừng trước chúng ta… Người Công giáo không nên lo sợ đến nỗi không dám mở rộng cánh cửa truyền thông xã hội cho Đức Kitô, để Tin Mừng của Người có thể được nghe thấy từ trên nóc nhà thế giới”. (số 4)
- Những cơ hội
Phần chính của Huấn thị (5-9) được dùng để mô tả những cơ hội và thách đố của Internet.
Trong số 5, Huấn thị kể ra vô số cơ hội tốt đẹp mà Internet cống hiến cho Giáo Hội trong công tác mục vụ và tông đồ. Đó là: loan báo, làm chứng, liên kết, hiệp thông, thông tin tức thời đến mọi nơi, tạo nguồn cảm hứng cực mạnh…
“Việc truyền thông trong Giáo Hội và do Giáo Hội chủ yếu là việc truyền đạt Tin Mừng của Đức Giêsu Kitô. Đó là loan báo Tin Mừng như những lời có giá trị ngôn sứ và có sức giải phóng cho hết mọi người trong thời đại chúng ta; là làm chứng cho sự thật của Thiên Chúa và cho phẩm giá siêu việt của con người trước tình trạng tục hoá triệt để; là liên kết với mọi người có niềm tin để làm chứng chống lại xung đột và chia rẽ, làm chứng cho công bình và hiệp thông giữa các dân tộc, các quốc gia và các nền văn hoá”.
Vì muốn loan báo Tin Mừng cho những người đã được đào tạo theo nền văn hoá truyền thông thì phải cẩn thận lưu ý tới các đặc điểm của chính các phương tiện truyền thông ấy, nên hiện nay Giáo Hội rất cần hiểu biết Internet. Điều này thật cần thiết để Giáo Hội có thể truyền thông cách hiệu quả với mọi người – nhất là với người trẻ – vì mọi người hôm nay đang ngụp sâu trong kinh nghiệm công nghệ mới này, cũng như cần thiết để Giáo Hội sử dụng công nghệ mới ấy cho tốt.
Các phương tiện truyền thông đem lại cho chúng ta những điều thuận lợi và bổ ích quan trọng cả về mặt tôn giáo: “Chúng mang đến tin tức và thông tin về các sự kiện tôn giáo, những tư tưởng tôn giáo và những nhân vật tôn giáo; chúng đóng vai trò như những cỗ xe phục vụ việc Phúc Âm hoá và huấn giáo. Mỗi ngày chúng đem lại nguồn cảm hứng, sự khích lệ và những cơ hội thờ phượng cho những người bị ràng buộc ở nhà hay các cơ sở”. Nhưng trên hết và trước hết, còn có một số lợi ích khá đặc biệt của riêng Internet. Nó cho phép con người có thể tiếp cận trực tiếp và nhanh chóng với những nguồn tôn giáo và tâm linh quan trọng – như những thư viện, bảo tàng và các nơi thờ phượng quan trọng, hay các văn kiện của Huấn quyền Giáo Hội, các tác phẩm của các giáo phụ và tiến sĩ Giáo Hội, cũng như kho tàng khôn ngoan tôn giáo qua các thời đại. Nó có khả năng đáng kể là có thể rút ngắn khoảng cách và sự cô lập để giúp chúng ta tiếp xúc với những người thiện chí có cùng ý hướng, làm thành những cộng đoàn ảo của đức tin để khích lệ và nâng đỡ nhau. Giáo Hội có thể phục vụ cả người Công giáo lẫn người không Công giáo bằng cách chọn lựa và truyền đạt những dữ kiện hữu ích qua phương tiện truyền thông này.
Internet có liên quan tới nhiều hoạt động và chương trình của Giáo Hội – như Phúc Âm hoá, bao gồm cả tái Phúc Âm hoá lẫn tân Phúc Âm hoá, và việc truyền giáo đúng theo truyền thống “đến với dân ngoại”, huấn giáo và giáo dục dưới những hình thức khác, thông tin, hộ giáo, điều hành và quản trị, tư vấn mục vụ dưới một vài hình thức và linh hướng. Mặc dù không thể lấy thực tế ảo của không gian tin học thay thế cho những cộng đoàn thật sự có quan hệ liên vị, cho các bí tích và phụng vụ mang nặng tính nhập thể, cho việc loan báo Tin Mừng trực tiếp và tức thời, nhưng Internet có thể bổ sung cho các hoạt động ấy, thu hút con người đạt tới kinh nghiệm đầy đủ hơn về đời sống đức tin, đồng thời làm giàu thêm cho đời sống tôn giáo của những người sử dụng Internet. Internet cũng cung cấp cho Giáo Hội thêm một phương tiện để liên lạc với những tập thể đặc thù như thiếu niên và thanh niên, người già và người không thể rời khỏi nhà, người sống ở vùng xa, hội viên của các đoàn thể tôn giáo – tức là những người có thể khó liên lạc và tiếp xúc.
Càng ngày càng có nhiều giáo xứ, giáo phận, dòng tu, các cơ sở có liên quan với Giáo Hội, các chương trình và tổ chức đủ loại sử dụng Internet một cách rất hữu hiệu cho những mục đích vừa kể và nhiều mục đích khác nữa. Đã có nhiều dự án mang tính sáng tạo do Giáo Hội bảo trợ đang có mặt ở nhiều nơi mang tầm cỡ quốc gia và khu vực. Toà Thánh đã hoạt động rất tích cực trong lĩnh vực này từ vài năm nay và vẫn đang tiếp tục mở rộng cũng như phát triển mạng Internet. Các tập thể có liên quan với Giáo Hội chưa tiến hành tham gia các thực tế ảo cũng đang được khuyến khích xem lại khả năng thực hiện việc ấy sớm hơn. Chúng tôi hết sức cổ vũ việc trao đổi quan điểm và thông tin về Internet giữa những người có kinh nghiệm trong lĩnh vực này với những người mới làm quen.”
- Internet và Công luận trong Giáo Hội
Internet giúp Giáo hội thực hiện một điều quan trọng mà Công đồng Vatican II và Giáo Luật đặc biệt nhắc đến, đó là đối thoại hai chiều trong Giáo Hội. Thực hiện truyền thông hai chiều và quan tâm đến công luận là những cách để Giáo Hội thể hiện bản chất của mình là Hiệp thông. Internet cung cấp phương tiện công nghệ hết sức hữu hiệu để thực hiện viễn tượng ấy.
Giáo Hội cũng cần tìm hiểu và sử dụng Internet như một công cụ truyền thông trong nội bộ của mình. Muốn làm điều ấy, cần phải nhận thức rõ tính cách đặc biệt của Internet, là phương tiện truyền thông trực tiếp, tức thời, tác động hỗ tương và cho người sử dụng được tham gia.
Tác động hỗ tương hai chiều của Internet đã xoá dần sự phân biệt xưa nay giữa người truyền thông và người tiếp nhận những điều được truyền thông, và tạo ra một tình trạng, nếu chưa thực hiện được thì ít là có khả năng làm như thế, theo đó ai ai cũng có thể vừa làm người truyền thông vừa làm người tiếp nhận. Đây không còn là sự truyền thông một chiều, từ trên xuống như thời xưa nữa. Vì càng ngày càng có nhiều người quen với tính cách ấy của Internet trong các lĩnh vực khác của cuộc sống, nên Giáo Hội mong rằng họ cũng sẽ như thế trong những gì liên quan tới tôn giáo và Giáo Hội.
Công nghệ thì mới, nhưng ý tưởng này không phải chỉ mới có đây. Công đồng Vatican II đã từng nói rằng mọi thành phần trong Giáo Hội nên bày tỏ cho các chủ chăn của mình biết “các nhu cầu và các ước nguyện của mình một cách tự do và tin tưởng, phù hợp với con cái Thiên Chúa và anh em của Đức Kitô”. Thật ra, tùy theo sự hiểu biết, khả năng chuyên môn hay địa vị của mình, người tín hữu không những có thể mà đôi khi còn có bổn phận “bày tỏ ý kiến của mình về những gì có liên quan đến ích chung của Giáo Hội”. Huấn thị “Hiệp thông và tiến bộ” còn lưu ý rằng là một “cơ thể sống động” như Giáo Hội “cần đến công luận để tiếp tục động thái vừa cho vừa nhận giữa các chi thể với nhau”. Mặc dù các chân lý đức tin “không thể được giải thích một cách tuỳ tiện”, Huấn thị vẫn ghi nhận “đó cũng là một lĩnh vực rộng lớn cho các thành phần Giáo Hội bày tỏ quan điểm của mình”.
Quan điểm tương tự cũng được trình bày trong Bộ Giáo luật, cũng như trong các văn kiện gần đây hơn của Hội đồng Giáo hoàng về Truyền thông Xã hội. Huấn thị “Thời đại mới” gọi sự truyền thông hai chiều và công luận là “một trong những cách để Giáo Hội thực hiện cách cụ thể đặc tính Giáo Hội là ‘sự hiệp thông’ ”. Tài liệu “Đạo đức trong truyền thông” cũng nói: “Dòng thông tin và quan điểm hai chiều giữa chủ chăn và tín hữu, việc tự do phát biểu về những gì nhạy cảm liên hệ đến tình trạng an sinh của cộng đoàn và đến vai trò của Huấn quyền trong việc cổ vũ tự do phát biểu, cũng như nêu ý kiến một cách có trách nhiệm trước công luận đều là những cách biểu lộ quan trọng cho ‘một quyền căn bản là quyền đối thoại và thông tin trong nội bộ Giáo Hội’”. Internet sẽ cho chúng ta phương tiện công nghệ hết sức hữu hiệu để thực hiện viễn tượng ấy.
Nếu thế, đây chính là một dụng cụ có thể đem ra sử dụng trong việc hành chính và quản trị về nhiều mặt. Bên cạnh việc mở nhiều kênh cho công luận có nhiều cơ hội phát biểu, chúng tôi còn muốn nói tới những việc như tham khảo các nhà chuyên môn, chuẩn bị các cuộc họp, cộng tác trong và giữa các nhà thờ cũng như trong và giữa các tổ chức tu trì, ở cấp địa phương, quốc gia và quốc tế.
- Internet và Giáo dục
Huấn thị nhấn mạnh đến việc giáo dục qua Internet, đặc biệt là việc huấn luyện giới trẻ biết cách làm việc thành thạo trong “thế giới ảo”, biết phê bình dựa theo những tiêu chuẩn luân lý lành mạnh, biết tìm kiếm điều tốt đẹp trên Internet, và biết dùng các công nghệ mới để bản thân mình được phát triển toàn diện và người khác được ích lợi.
Giáo dục và huấn luyện là một lĩnh vực khác nữa có nhiều triển vọng và nhu cầu đối với Internet. “Hiện nay ai ai cũng cần một hình thức tiếp tục giáo dục qua các phương tiện truyền thông, bằng cách tự học hoặc tham dự một chương trình có tổ chức hoặc cả hai. Việc giáo dục qua phương tiện truyền thông không chỉ dạy cho chúng ta biết một số kỹ thuật mà còn giúp chúng ta hình thành nên một số tiêu chuẩn thẩm mỹ và phán đoán luân lý cách trung thực, là một khía cạnh trong việc đào tạo lương tâm. Thông qua các trường học và các chương trình đào tạo của mình, Giáo Hội nên cung cấp việc giáo dục theo loại này”. Giáo dục và huấn luyện về Internet nên được xếp thành một phần trong chương trình giáo dục truyền thông đầy đủ dành cho mọi thành phần trong Giáo Hội. Khi lập kế hoạch mục vụ cho truyền thông xã hội, chúng ta hãy cố gắng hết sức để dự trù việc huấn luyện này trong chương trình đào tạo chủng sinh, linh mục, tu sĩ, giáo dân làm mục vụ như giáo viên, cha mẹ, sinh viên”.
Cách riêng, các bạn trẻ cần được giáo dục “không chỉ để trở thành những Kitô hữu tốt biết tiếp nhận thông tin, mà còn là những Kitô hữu tích cực biết tận dụng mọi sự hỗ trợ cho công tác truyền thông mà mình có thể tìm thấy trong các phương tiện truyền thông… Như thế, các bạn trẻ sẽ trở thành những công dân đích thực của thời đại truyền thông xã hội, một thời đại vừa mới bắt đầu” – một thời đại trong đó các phương tiện truyền thông được coi là “một phần của nền văn minh chưa được triển khai hoàn toàn, với những hậu quả mà bây giờ chúng ta chỉ hiểu một cách chưa trọn vẹn”. Dạy Internet và công nghệ thông tin mới bao gồm nhiều thứ chứ không phải chỉ nhằm dạy cho biết các kỹ thuật. Người trẻ cần phải học cho biết cách làm việc thành thạo trong thế giới của các thực tế ảo, đưa ra những phê bình có suy nghĩ chín chắn dựa theo những tiêu chuẩn luân lý lành mạnh để biết mình phải tìm kiếm điều gì trong các phương tiện ấy, cũng như biết dùng các công nghệ mới để bản thân mình được phát triển toàn diện và người khác được ích lợi. (số 7)
- Một số tiêu cực của Internet
Huấn thị nhắc đến một số tiêu cực trên Internet: nhiều trang web đối nghịch với đức tin và luân lý, bôi nhọ các tập thể tôn giáo và sắc tộc, chủ trương “tương đối hoá” mọi sự, và những trang web tự nhận là Công giáo nhưng có cách giải thích giáo lý lệch lạc, và những thực hành tôn giáo lập dị.
Nhìn sâu xa hơn, “thế giới của các phương tiện truyền thông đôi khi có thể rất vô tình, thậm chí đối nghịch cả với đức tin và luân lý Kitô giáo. Một phần là vì văn hoá của các phương tiện truyền thông bị thấm nhiễm sâu xa một cảm thức điển hình của thời kỳ hậu hiện đại là: chân lý duy nhất có giá trị tuyệt đối là chẳng có chân lý nào tuyệt đối hay nếu có thì trí khôn của con người cũng không thể nào tiếp cận được, và vì thế, chúng hoàn toàn không thích đáng”.
Trong số những vấn đề đặc biệt do Internet đặt ra có vấn đề: có những địa chỉ truy cập chỉ nhằm mục đích bôi nhọ và tấn công các tập thể tôn giáo và sắc tộc. Một số trong các địa chỉ ấy nhắm tới Giáo hội Công giáo. Cũng như tranh ảnh khiêu dâm và bạo lực trong các phương tiện truyền thông, những địa chỉ thù nghịch của Internet chính là “những phản ánh bề mặt đen tối của bản tính con người đã bị tội làm cho hư hỏng”. Nếu để tôn trọng sự tự do phát biểu, đôi khi chúng ta cũng phải chịu đựng những tiếng nói hận thù tới một mức nào đó, thì nhu cầu tự điều hoà công nghiệp truyền thông và khi cần, sự can thiệp của chính quyền, cũng nên đặt ra và bắt mọi người phải tuân thủ một số giới hạn hợp lý trong việc lựa chọn những điều có thể nói ra.
Sự sinh sôi nảy nở quá nhiều địa chỉ web tự nhận là Công giáo đặt ra cho Giáo Hội một vấn đề khác. Như chúng tôi đã nói, các tập thể có liên quan tới Giáo Hội nên có mặt trên mạng Internet một cách sáng tạo; những cá nhân và những tập thể dù không chính thức nhưng có động cơ tốt và có thông tin đầy đủ, chủ động hoạt động theo ý mình, đều có quyền có mặt trên mạng. Nhưng ít ra có thể nói rằng, thật khó phân biệt được giữa những cách giải thích giáo lý lệch tâm, những việc thực hành tôn giáo lập dị, với việc ủng hộ một ý thức hệ mang nhãn hiệu “Công giáo” có lập trường đích thực của Giáo Hội. Dưới đây chúng tôi xin đưa ra một cách giải quyết vấn đề. ( số 8)
- Những cẩn trọng đối với Internet
Huấn thị nhắc nhở phải cẩn trọng:
– Không được coi những chân lý tôn giáo như những gói hàng có sẵn trên Internet rồi tha hồ lựa chọn theo thị hiếu của mình.
– Không có bí tích trên Internet.
– Cần hướng dẫn dân chúng đi từ “thực tế ảo” sang “cộng đồng có thật”.
Một số vấn đề khác cần phải được suy nghĩ nhiều. Đối với các vấn đề này, chúng tôi hối thúc việc tìm tòi và nghiên cứu liên tục, chẳng hạn như việc “triển khai một quan điểm nhân học và một nền thần học về sự truyền thông”, và bây giờ cần đặc biệt nghiên cứu như vậy về Internet. Dĩ nhiên, song song với việc tìm tòi và nghiên cứu, có thể và nên xúc tiến cả kế hoạch mục vụ tích cực về việc sử dụng Internet.
Một lĩnh vực cần nghiên cứu có liên quan tới đề xuất sau đây: việc cho lựa chọn rộng rãi các sản phẩm tiêu thụ và các dịch vụ có sẵn trên Internet có thể có tác dụng lan đến lĩnh vực tôn giáo, khuyến khích người ta tiếp cận các vấn đề thuộc về đức tin với tinh thần “tiêu thụ”. Các dữ kiện trên Internet cho thấy, một số người truy cập các địa chỉ trên mạng liên quan đến tôn giáo có thể hành động như những người mua sắm hoang phí, xem xét và lựa chọn những gói hàng tôn giáo có sẵn phù hợp với thị hiếu của mình. “Khuynh hướng của một số người Công giáo hiện nay là lựa chọn để theo” – lựa chọn những giáo huấn mình thích trong toàn bộ giáo huấn của Giáo Hội để thi hành – và đây là một vấn đề thật sự được ghi nhận trong những bối cảnh khác chắc chắn cần phải có thêm nhiều thông tin nữa, để tìm hiểu xem vấn đề này có bị Internet làm trầm trọng thêm hay không và nếu có thì tới mức nào.
Tương tự như thế, thực tế ảo của không gian tin học cũng gây ra một số hậu quả đáng lo cho tôn giáo cũng như cho các lĩnh vực khác của cuộc sống. Thực tế ảo không thể nào thay thế sự hiện diện thật của Đức Kitô trong bí tích Thánh Thể, không thể nào thay thế thực tại bí tích của các bí tích khác và sự thờ phượng chung của một cộng đồng gồm những con người có máu có thịt hẳn hoi. Không có bí tích trên Internet; thậm chí nếu như nhờ ơn Chúa, những kinh nghiệm tôn giáo có thể trải nghiệm trên Internet được thì các kinh nghiêm ấy cũng chưa đủ, nếu bị tách khỏi sự tương tác trong thế giới thật của người có kinh nghiệm ấy với những người chưa có đức tin, Đây là một khía cạnh nữa của Internet đòi chúng ta phải nghiên cứu và suy nghĩ. Đồng thời, trong kế hoạch mục vụ người ta cũng cần xem xét làm sao hướng dẫn dân chúng đi từ thực tế ảo sang cộng đồng có thật, làm thế nào thông qua việc giảng dạy và huấn giáo, chúng ta có thể dùng Internet để giữ gìn và nuôi dưỡng họ sống những điều cam kết của người Kitô hữu. ( số 9)
- Sử dụng Internet với óc sáng tạo
Trong phần kết luận, Huấn thị nhắc mọi người thuộc đủ mọi cấp độ trong Giáo Hội không được rụt rè mà phải biết tích cực sử dụng Internet một cách sáng tạo để thi hành trách nhiệm và giúp Giáo Hội chu toàn sứ mạng.
Những người có tôn giáo, cũng như các thành phần có liên quan trong cộng đồng Internet rộng lớn, có những bận tâm hợp pháp riêng, nhưng tất cả đều mong muốn tham gia vào tiến trình điều khiển sự phát triển phương tiện truyền thông này trong tương lai. Khỏi cần nói cũng biết công việc này nhiều khi đòi họ phải điều chỉnh lại nếp suy nghĩ và cách hành động của mình.
Cũng quan trọng không kém khi mọi người thuộc đủ mọi cấp độ trong Giáo Hội biết sử dụng Internet một cách sáng tạo để thi hành trách nhiệm và giúp Giáo Hội chu toàn sứ mạng. Nhìn thấy vô số khả năng tích cực do Internet mang lại mà vẫn rụt rè vì sợ công nghệ này hay vì một lý do nào khác thì thật là không thể chấp nhận được. “Các phương pháp tạo thuận lợi cho việc truyền thông và đối thoại giữa thành phần của Giáo Hội có thể thắt chặt dây liên kết giữa họ với nhau. Nhờ tiếp cận các thông tin cách tức thời mà Giáo Hội có thể đẩy xa việc đối thoại của mình với thế giới đương thời… Giáo Hội cũng có thể dễ dàng cho thế giới biết những niềm tin của mình, giải thích lý do tại sao mình có lập trường thế này hay thế nọ về một vấn đề hoặc một sự kiện nào đó. Giáo Hội có thể nghe rõ hơn tiếng nói của dư luận quần chúng và tiếp tục thảo luận không ngừng với thế giới chung quanh; bằng cách đó, Giáo Hội sẽ tham gia nhạy bén hơn vào công cuộc tìm kiếm chung để khám phá ra những giải pháp cho nhiều vấn đề cấp bách của nhân loại”. (số 10)
- Bổn phận của các vị lãnh đạo trong Giáo Hội
Huấn thị nhắc các vị lãnh đạo trong Giáo Hội phải tận dụng tiềm lực của thời đại điện toán để phục vụ Chúa và cộng đoàn, giúp cho các trang web công giáo đi đúng lập trường của Giáo Hội.
Những ai đang ở trong cương vị lãnh đạo trong mọi ngành, mọi cấp của Giáo Hội cần hiểu biết các phương tiện truyền thông, ứng dụng những hiểu biết ấy vào việc thiết lập kế hoạch mục vụ về truyền thông xã hội, cùng với những chính sách và những chương trình cụ thể trong lĩnh vực này, đồng thời biết sử dụng thích hợp các phương tiện ấy. Nếu cần, bản thân các vị ấy cũng nên học hỏi về các phương tiện truyền thông. Thật vậy, “Giáo Hội sẽ được phục vụ tốt hơn, nếu càng ngày càng có nhiều người nắm giữ chức vụ và thi hành phận sự nhân danh Giáo Hội được huấn luyện về việc truyền thông”. Điều này áp dụng cho các phương tiện truyền thông xưa cũng như cho Internet. Các vị lãnh đạo Giáo Hội bị buộc phải sử dụng “cho hết tiềm lực của thời đại điện toán để phục vụ ơn gọi vừa mang tính nhân bản vừa siêu việt của con người, nhờ đó tôn vinh Thiên Chúa Cha là nguồn của mọi điều tốt đẹp”. Các vị nên dùng công nghệ đáng chú ý này vào các lĩnh vực khác nhau để thi hành sứ mạng của Giáo Hội, đồng thời khai thác các cơ hội cho phép mình cộng tác đại kết và cộng tác liên tôn trong việc sử dụng Internet.
Một khía cạnh đặc biệt của Internet, như chúng ta đã thấy, có liên quan tới tình trang các địa chỉ mạng không chính thức mang nhãn hiệu “Công giáo” xuất hiện quá nhiều tới mức đôi khi làm chúng ta phải bối rối. Nếu có một hệ thống kiểm tra tự nguyện ở cấp địa phương và quốc gia, dưới sự giám sát của các đại diện Huấn quyền Hội Thánh, có lẽ sẽ giúp chúng ta thẩm định các địa chỉ này về mặt nội dung giáo thuyết và giáo lý. Đây không phải là áp đặt một hình thức kiểm duyệt nhưng chỉ là giúp những người sử dụng Internet có được những chỉ dẫn đáng tin cậy để biết đâu là lập trường đích thực của Giáo Hội. (số 11a)
- Bổn phận học hỏi cách sử dụng Internet
Mọi thành phần Dân Chúa được nhắc nhở phải học cách sử dụng Internet trong công tác mục vụ của mình.
Các linh mục, phó tế, tu sĩ và giáo dân làm mục vụ nên được học hỏi về các phương tiện truyền thông để hiểu biết hơn về ảnh hưởng của truyền thông xã hội trên cá nhân cũng như trên xã hội, đồng thời giúp họ có được một một phong thái truyền thông, có thể đáp ứng được cảm quan và bận tâm của quần chúng đang sống trong văn hoá truyền thông. Ngày nay, khi nói như thế là bao gồm cả việc học cách sử dụng Internet trong công tác của mình. Tất cả những ai đang làm công tác mục vụ đều sẽ thu lượm được lợi ích từ những địa chỉ mạng giúp mình cập nhật thần học và có những đề xuất mục vụ.
Đối với những vị trực tiếp tham gia vào các phương tiện truyền thông của Giáo Hội, có lẽ không cần nói họ phải được huấn luyện chuyên nghiệp về việc này. Tuy nhiên, họ cũng cần được đào tạo về mặt giáo thuyết và tâm linh nữa, vì “muốn làm chứng cho Đức Kitô, cần phải gặp gỡ đích thân Ngài và cần phải tăng cường mối quan hệ cá nhân giữa mình với Chúa nhờ cầu nguyện, tham dự bí tích Thánh Thể và bí tích Hoà Giải, đọc va suy gẫm Lời Chúa, học hỏi giáo lý Giáo Hội, và phục vụ người khác”. (số 11b)
- Bổn phận dạy Internet của các trường học Công Giáo
Huấn thị nói đến nghĩa vụ cấp bách của các trường học Công giáo trong việc huấn luyện và nghiên cứu về Internet.
Huấn thị “Hiệp thông và Tiến bộ” đã nói tới “nghĩa vụ cấp bách” của các trường Công giáo là huấn luyện các nhà truyền thông và các người tiếp nhận truyền thông xã hội theo đúng các nguyên tắc Kitô giáo. Lời nhắn nhủ này vẫn còn được nhắc đi nhắc lại nhiều lần. Trong thời đại Internet, với công cụ có tầm hoạt động và ảnh hưởng hết sức rộng lớn, nhu cầu ấy càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ.
Các trường đại học, cao đẳng, trung học, và các chương trình giáo dục các cấp cần phải cung cấp các khoá đào tạo cho các nhóm khác nhau – “từ chủng sinh, linh mục, tu sĩ nam nữ, cho tới các giáo dân ở cấp lãnh đạo… giáo viên, phụ huynh và sinh viên học sinh” – cũng như cung cấp các khoá đào tạo cao hơn về công nghệ truyền thông, về chính sách truyền thông cho các cá nhân đang chuẩn bị làm việc truyền thông cách chuyên nghiệp hay chuẩn bị giữ các vai trò đưa ra quyết định, kể cả những người làm việc trong địa hạt truyền thông cho Giáo Hội. Ngoài ra, chúng tôi xin giao các vấn đề và thắc mắc đã nói trên đây cho các học giả và các nhà nghiên cứu của các bộ môn có liên hệ tại các cơ sở đào tạo cấp cao của Giáo Hội. (số 11c)
- Bổn phận của cha mẹ về Internet
Cha mẹ có bổn phận quan trọng là hướng dẫn và giám sát con cái trong việc sử dụng Internet. Muốn thế, họ phải nghiên cứu Internet nhiều hơn nữa.
Vì ích lợi của con cái, cũng như vì ích lợi của bản thân mình, các bậc phụ huynh cần phải “học tập các kỹ năng để làm những khán giả, thính giả và độc giả biết phân định, trở thành mẫu mực biết sử dụng cách khôn ngoan các phương tiện truyền thông tại nhà mình”. Vì sử dụng Internet nhiều hơn, trẻ em và thanh thiếu niên hiện nay thường thành thạo hơn cha mẹ chúng, nhưng cha mẹ vẫn có bổn phận quan trọng là hướng dẫn và giám sát con cái trong việc sử dụng Internet. Nếu muốn như vậy, họ phải học tập về Internet nhiều hơn những gì cho tới nay họ đã học, và việc này lúc nào cũng tốt.
Cha mẹ giám sát cũng có nghĩa là phải bảo đảm rằng công nghệ thanh lọc chương trình được đưa vào trong các máy vi tính mà con cái sử dụng, khi điều ấy có thể làm được về mặt tài chính cũng như về mặt kỹ thuật, hầu bảo vệ chúng càng nhiều càng tốt khỏi hình ảnh khiêu dâm, khỏi những hình thức khai thác tính dục và những mối đe doạ khác. Không nên cho phép sử dụng Internet mà không giám sát. Cha mẹ và con cái nên trao đổi với nhau về những gì xem được và những gì trải nghiệm được trong không gian ảo; đồng thời việc chia sẻ với các gia đình khác theo đuổi cùng những giá trị và cùng những bận tâm với mình cũng sẽ rất ích lợi. Nghĩa vụ căn bản của các cha mẹ ở đây là giúp con cái trở thành những người biết sử dụng Internet một cách có nhận định và có trách nhiệm chứ không trở thành những người nghiện Internet đến nỗi không còn quan tâm tiếp xúc với những người cùng trang lứa và với cả thiên nhiên. (số 11d)
- Với trẻ em và giới trẻ
Trẻ em và giới trẻ cần được đào tạo để sử dụng Internet giúp cho đời sống của mình và người khác thêm phong phú, chống lại chủ nghĩa phi văn hoá. Thậm chí họ còn được mời gọi chịu đựng cả sự bách hại để thể hiện chân lý và sự thiện trên không gian ảo của Internet.
Internet là cửa mở cho ta thấy một thế giới đầy hào hứng và quyến rũ, với một ảnh hưởng giáo dục rất lớn. Nhưng không phải mọi sự ở bên kia cánh cửa đều an toàn, lành mạnh và chân thật. “Trẻ em và thanh thiếu niên cần được đào tạo về các phương tiện truyền thông, chống lại con đường dễ dãi là thụ hưởng mà không biết phê bình, không chiều theo áp lực của bạn bè và những hình thức khai thác mang tính thương mại”. Người trẻ được đào tạo như thế để sử dụng Internet cách đúng đắn là nhờ chính bản thân mình, nhờ cha mẹ, gia đình và bạn bè, nhờ các chủ chăn và thầy cô, sau cùng là nhờ ơn Chúa.
Internet trao vào tay người trẻ ở một độ tuổi quá sớm cái khả năng vô hạn để làm điều tốt hay làm điều xấu cho bản thân mình và cho người khác. Nó có thể giúp làm cho đời sống của người trẻ được phong phú thêm, vượt xa những gì mà các thế hệ trước dám mơ tưởng, và đến lượt mình, người trẻ cũng được Internet cung cấp khả năng để giúp đời sống của người khác thêm phong phú. Nhưng nó cũng có thể dìm người trẻ vào trong chủ nghĩa tiêu thụ, trong cơn mê với những hình ảnh khiêu dâm và bạo lực, hay tình trạng cô lập bệnh hoạn.
Người trẻ, như thường nói, là tương lai của xã hội và Giáo Hội. Việc sử dụng tốt Internet có thể giúp người trẻ chuẩn bị để lãnh các trách nhiệm trong xã hội lẫn Giáo Hội. Nhưng điều này không tự động xảy ra. Internet không chỉ là một phương tiện giải trí và làm thoả mãn người tiêu thụ. Nó còn là một dụng cụ giúp ta hoàn thành các việc hữu ích. Người trẻ phải học nhìn ra điều ấy và sử dụng đúng như thế. Trong không gian ảo của Internet, nếu không nhiều hơn thì ít là cũng bằng bất cứ nơi đâu, người trẻ có thể được mời gọi để chống lại làn sóng của chủ nghĩa phi văn hoá, thậm chí họ còn được mời gọi chịu đựng cả sự bách hại vì chân lý và sự thiện. (số 11e)
- Các đức tính cần có
Huấn thị nói đến một số đức tính cần có khi sử dụng Internet, đó là: khôn ngoan, công bằng, mạnh mẽ, can đảm và tiết độ.
Sau cùng, chúng tôi xin đề xuất một số đức tính mà mọi người cần vun trồng nếu muốn sử dụng tốt Internet; muốn thực tập các đức tính này chúng ta cần dựa vào và được hướng dẫn bởi thái độ biết đánh giá nội dung của Internet một cách hiện thực.
Khôn ngoan là đức tính cần có để thấy rõ những gì hàm chứa – tức là tiềm năng làm ra điều tốt và điều xấu – trong phương tiện truyền thông mới mẻ này, và biết đáp ứng cách sáng tạo những thách đố và những cơ hội do phương tiện này tạo ra.
Công bằng là đức tính cần có, đặc biệt là công bằng khi hoạt động để xoá bỏ “sự chia cách kỹ thuật số” – xoá bỏ khoảng cách giữa người giàu thông tin và người nghèo thông tin trong thế giới hôm nay. Muốn thế, cần phải dấn thân phục vụ ích lợi chung của thế giới, nghĩa là, sự liên đới toàn cầu.
Mạnh mẽ, can đảm cũng là điều cần có. Nghĩa là phải biết đứng lên bảo vệ sự thật trước chủ nghĩa tương đối hoá trong tôn giáo và luân lý, bảo vệ tinh thần vị tha và quảng đại trước chủ nghĩa hưởng thụ cá nhân, bảo vệ sự thanh cao trước đam mê nhục dục và tội lỗi.
Và cũng cần có đức tiết độ – tức là có kỷ luật tự giác khi tiếp cận với phương tiện Internet nổi bật này, để sử dụng nó cách khôn ngoan và chỉ nhằm vào việc tốt.
- Diễn đàn Internet
Gần một tháng trước khi hai Huấn thị “Đạo đức trên Internet” và “Giáo Hội và Internet” được công bố, ĐTC Gioan Phaolô II cũng đã gửi đi Sứ điệp “Internet: Diễn đàn mới để Loan Báo Tin Mừng” vào ngày 24-1-2002, nhân dịp tổ chức Ngày Thế giới Truyền thông thứ 36. Ngài đã mô tả “Diễn đàn Internet” như sau:
Internet quả là một “diễn đàn” mới, hiểu theo nghĩa của Rôma cổ, là một địa điểm công cộng nơi đó các việc chính trị và thương mại được tiến hành, các bổn phận tôn giáo được chu toàn, nhiều sinh hoạt xã hội được diễn ra, và những gì tốt đẹp nhất và tệ hại nhất trong bản tính nhân loại được phô bày ra.
Đây là một khoảng không gian của thành phố đông đúc và hối hả, phản ánh nền văn hoá bao quanh, đồng thời tạo nên một nền văn hoá cho riêng mình.
Điều đó cũng đúng với không gian Internet (cyberspace), được xem như là một lĩnh vực mới mở ra vào lúc khởi đầu thiên niên kỷ mới. Giống như những lĩnh vực mới của các thời đại khác, nó cũng đầy những nguy cơ và hứa hẹn, và không thiếu vắng sự mạo hiểm đã đánh dấu những thời kỳ thay đổi lớn lao khác.
Đối với Giáo hội, thế giới ảo mới mẻ này mời gọi một cuộc cuộc mạo hiểm lớn lao là sử dụng năng lực của nó để loan báo Sứ điệp Tin Mừng. Vào lúc khởi đầu của thiên niên kỷ mới, thách đố này nằm ở trung tâm ý nghĩa của việc tuân theo mệnh lệnh “Hãy ra khơi!” của Chúa: Duc in altum! (Lc 5,4). (số 2)
Sứ điệp nhắc nhớ: Ở những nơi thiếu vắng những sách vở tài liệu thánh kinh, thần học, và giáo huấn của Hội Thánh, Internet có thể được coi là một nguồn cung cấp bổ sung quý giá:
… Internet cũng có thể cung cấp một hình thức “đi bước tiếp theo” mà việc loan báo Tin mừng đòi hỏi. Đặc biệt, khi đời sống kitô hữu cần đến những chỉ dẫn và giáo lý vững chắc trong một nền văn hoá không mang lại những trợ giúp, thì có lẽ đây là nơi sẽ nhờ Internet mà được cung cấp những trợ giúp quí báu. Đã sẵn có trên mạng biết bao nguồn thông tin, tài liệu và giáo dục về Giáo hội, lịch sử và truyền thống, giáo thuyết và dấn thân của Giáo hội trong mọi lãnh vực trên mọi nơi của thế giới. Vì thế, rõ ràng rằng, trong khi Internet không thể thay thế kinh nghiệm sâu xa về Thiên Chúa mà chỉ đời sống sinh động, phụng vụ và bí tích mới có thể trao tặng, chắc chắn nó cũng có thể cung cấp một bổ sung và trợ lực vô song cho việc chuẩn bị gặp gỡ Đức Kitô trong cộng đoàn và nâng đỡ người mới tin trong cuộc hành trình đức tin vừa mới bắt đầu. (số 3)
- Không chạy theo số đông
Khi tham gia diễn đàn Internet, người ta có cám dỗ muốn uốn nắn sự thật theo thị hiếu để có nhiều followers (người theo đọc) và nhiều comments (trao đổi bình luận). Điều này càng ngày càng rõ nét và thịnh hành, nên trong Sứ điệp Ngày Thế giới Truyền Thông thứ 45, ĐTC Bênêđictô XVI lên tiếng:
Chúng ta phải ý thức rằng giá trị của sự thật mà chúng ta muốn chia sẻ không phải do được nhiều người ưa thích hay chú ý. Chúng ta phải làm cho sự thật ấy được biết đến một cách toàn vẹn, thay vì tìm cách làm cho người ta chấp nhận nó hay làm dịu nó đi. Sự thật ấy phải trở nên lương thực hằng ngày chứ không phải là một điều hấp dẫn thoáng qua. Chân lý Tin Mừng không phải là vật để tiêu thụ hay sử dụng một cách hời hợt, nhưng là một ân huệ đòi hỏi sự đáp trả tự do. Ngay cả khi được loan báo trong không gian ảo của mạng lưới Internet, Tin Mừng cũng đòi hỏi nhập thể vào thế giới thực và nối kết với những khuôn mặt thực của anh chị em chúng ta – những người mà chúng ta chia sẻ cuộc sống hằng ngày. Những tương quan nhân bản trực tiếp vẫn luôn là nền tảng cho việc thông truyền đức tin!
Như vậy, một thập niên sau khi công bố những văn kiện đầu tiên của Giáo Hội về Internet, Giáo Hội vẫn thấy nguy cơ chìm đắm trong thế giới ảo và chạy theo những vinh quang ảo còn rất lớn. Và ngày một lớn hơn. Do đó Đức Giáo Hoàng đương kim mới gửi đi Sứ điệp “Sự thật, Việc Loan báo và Cuộc sống thực trong thời đại kỹ thuật số” với ba nét chính:
- Internet: tích cực và tiêu cực
Internet là hiện tượng đặc trưng của thời đại chúng ta. Nó điều khiển những phát triển quan trọng về văn hóa và xã hội. Nó làm thay đổi cả chính sự giao tiếp, và tạo ra sự biến đổi văn hóa rộng lớn.
Internet có thể góp phần làm thỏa mãn niềm khao khát muốn biết về ý nghĩa cuộc đời, muốn khám phá sự thật và tạo sự hiệp nhất. Tham gia mạng xã hội Internet như vậy không chỉ là trao đổi dữ liệu, nhưng còn là chia sẻ, tạo ra những tương quan liên vị mới mẻ. Tuy nhiên việc tham gia này lại có nguy cơ tạo ra tính ảo của chính hữu thể người tham gia. Sự chú ý dễ bị phân mảnh và bị mất hút trong một thế giới “khác” với thế giới họ đang sống.
- Nguyên nhân và mục đích tham gia mạng xã hội
Đức Thánh Cha mạnh mẽ mời gọi tham gia vào mạng xã hội Internet vì:
– mạng lưới này là một phần của cuộc sống con người,
– mạng lưới này đóng góp vào sự phát triển.
Kitô hữu cần tham gia mạng xã hội Internet:
– để loan báo Chúa Kitô với hình thức truyền thông vừa tôn trọng vừa truyền cảm;
– để làm cho thế giới mạng không trở thành một công cụ phi nhân cách hóa con người, mưu toan thao túng cảm xúc con người hay cho phép kẻ mạnh nắm độc quyền các ý kiến của người khác;
– để tìm kiếm chân lý và hiệp thông, truyền thông cách liêm chính và trung thực.
- Cách thức tham gia mạng xã hội
Kitô hữu tham gia mạng xã hội Internet để loan báo Tin Mừng. Loan báo Tin Mừng trên Internet không chỉ có nghĩa là diễn tả nội dung tôn giáo, nhưng còn là làm chứng một cách kiên định, qua bản lý lịch trên mạng, qua cách thức chia sẻ những chọn lựa, những ưu tiên, những phán đoán phù hợp hoàn toàn với Tin Mừng.
Phải ý thức rằng giá trị của sự thật mà chúng ta muốn chia sẻ không phải do được nhiều người ưa thích hay chú ý. Phải làm cho sự thật ấy được biết đến một cách toàn vẹn, thay vì tìm cách làm cho người ta chấp nhận nó hay làm dịu nó đi. Sự thật ấy phải trở nên lương thực hằng ngày chứ không phải một điều hấp dẫn thoáng qua. Sự thật ấy phải được nối kết với những khuôn mặt thực của những anh chị em đang sống chung quanh ta.
- Đức Kitô: mẫu mực và đối tượng của rao giảng trên Internet
Để kết thúc, cả bốn văn kiện: Sứ điệp “Internet, Diễn đàn mới để Loan Báo Tin Mừng”, Huấn thị “Đạo đức trên Internet”, Huấn thị “Giáo Hội và Internet” và Sứ điệp “Sự thật, Việc Loan báo và Cuộc sống thực trong thời đại kỹ thuật số” đều nhắc đến Đức Kitô. Huấn thị “Giáo Hội và Internet” mô tả Đức Kitô như là nhà truyền thông trọn hảo, là mẫu mực của hoạt động truyền thông, và là đối tượng rao giảng trên Internet.
Khi suy nghĩ về Internet, cũng như về các phương tiện truyền thông xã hội khác, chúng tôi nhớ rằng Đức Kitô chính là “nhà truyền thông trọn hảo” – là chuẩn mực và mẫu mực cho Giáo Hội khi tiếp cận việc truyền thông, cũng như là nội dung mà Giáo Hội phải thông truyền cho thế giới. “Ước chi các người Công giáo đang tham gia vào thế giới truyền thông xã hội biết rao giảng sự thật của Đức Kitô một cách mạnh dạn hơn bao giờ hết, rao giảng từ mọi nóc nhà, để mọi người có thể nghe được tình thương, là trọng tâm của thông điệp mà Thiên Chúa muốn thông truyền cho mọi người nơi Đức Kitô, hôm qua, hôm nay và mãi mãi vẫn thế.” (số 12)
Làm cho Đức Kitô hiện diện trên Internet để Ngài trở thành ánh sáng xua tan dần những sức mạnh của bóng tối đang hoành hành trên Internet; và nhờ có Ngài mà thế giới mạng Internet thực sự “có hồn”, có tính nhân vị, có phẩm giá cao cả. Đấy cũng là một trong những nghĩa vụ thiết thực và cấp bách của người Kitô hữu hôm nay.Lm. Giuse Mạnh Hữu
2020
Hội thảo Thánh nhạc lần thứ 46: Việc chuẩn nhận các bài hát thánh ca (imprimatur)
Hội thảo Thánh nhạc lần thứ 46: Việc chuẩn nhận các bài hát thánh ca (imprimatur)
Trong Hội thảo Thánh nhạc lần thứ 46 tại Trung tâm Mục vụ Tổng Giáo phận Sài Gòn, ngày 20-10-2020, Linh mục Rôcô Nguyễn Duy – Tổng Thư ký Ủy ban Thánh nhạc trực thuộc HĐGMVN – trình bày phần 1: “Việc chuẩn nhận các bài hát thánh ca (imprimatur)”.
Nhạc sĩ Phanxicô trình bày phần 2: “Việc chuẩn nhận các bài hát thánh ca (imprimatur)”.
Bài đúc kết của Đức Giám mục Aloisiô Nguyễn Hùng Vị – Chủ tịch Ủy ban Thánh nhạc trực thuộc HĐGMVN – trong Hội thảo.
2020
Đức Thánh Cha Phanxicô đã nói gì về các kết hiệp dân sự?
Đức Thánh Cha Phanxicô đã nói gì về các kết hiệp dân sự?
Trong một bộ phim tài liệu có tên là “Francesco”, nghĩa là Phanxicô, được công chiếu hôm thứ Tư 21 tháng 10, trong Liên Hoan Điện Ảnh ở Rôma, Đức Thánh Cha Phanxicô đã kêu gọi thông qua một luật kết hiệp dân sự cho các cặp đồng tính, khác với quan điểm của Bộ Giáo Lý Đức Tin và những vị tiền nhiệm của ngài về vấn đề này.
Nhận xét này được đưa ra trong một phần của bộ phim tài liệu phản ảnh việc chăm sóc mục vụ cho những người xác định mình là người đồng tính.
“Người đồng tính có quyền là một phần của gia đình. Họ là con cái của Chúa và có quyền có một gia đình. Không ai nên bị vứt bỏ, hoặc bị làm cho khốn khổ vì điều đó”. Đức Thánh Cha Phanxicô đã nói như trên trong cuốn phim về cách tiếp cận chăm sóc mục vụ của ngài.
Sau những nhận xét đó, và trong những bình luận có khả năng gây ra tranh cãi rất lớn giữa những người Công Giáo, Đức Thánh Cha Phanxicô đã trực tiếp đề cập đến vấn đề luật kết hiệp dân sự cho các cặp đồng tính.
“Chúng ta phải tạo ra một luật về kết hiệp dân sự. Bằng cách đó họ được bảo đảm về mặt pháp lý. Tôi đã ủng hộ điều đó”.
Bộ phim tài liệu “Francesco” đã gây ra những hoang mang rất lớn. JD Flynn, luật sư giáo luật, Tổng Biên Tập Thông tấn xã Catholic News, gọi tắt là CNA, có bài tường trình sau.
Nguyên bản tiếng Anh có thể xem tại đây: What did Pope Francis say about civil unions? A CNA Explainer.
Dưới đây là bản dịch toàn văn sang Việt Ngữ.
Đức Thánh Cha Phanxicô đã nói gì về các kết hiệp dân sự? Một lời giải thích của CNA.
“Francesco” một bộ phim tài liệu mới được phát hành về cuộc đời và sứ vụ của Đức Thánh Cha Phanxicô, đã gây chú ý trên toàn cầu, vì bộ phim có một cảnh trong đó ngài kêu gọi việc thông qua luật kết hiệp dân sự cho các cặp đồng tính.
Một số nhà hoạt động và các báo cáo truyền thông đã khẳng định rằng Đức Thánh Cha Phanxicô đã thay đổi giáo huấn Công Giáo bằng những nhận xét của ngài. Những lời bình luận của Đức Giáo Hoàng đã đặt ra câu hỏi về những gì ngài thực sự đã nói, ý nghĩa của những lời ấy, và Giáo hội dạy gì về các kết hiệp dân sự và hôn nhân. Thông tấn xã Catholic News, gọi tắt là CNA, đã xem xét những câu hỏi đó.
Đức Thánh Cha Phanxicô nói gì về các kết hiệp dân sự?
Trong một đoạn trong cuốn phim “Francesco” thảo luận về việc chăm sóc mục vụ của Đức Thánh Cha Phanxicô đối với những người Công Giáo xác định mình là người đồng tính, Đức Thánh Cha đã đưa ra hai nhận xét tách biệt.
Trước tiên ngài nói rằng: “Người đồng tính có quyền là một phần của gia đình. Họ là con cái của Chúa và có quyền có một gia đình. Không ai nên bị vứt bỏ, hoặc bị làm cho khốn khổ vì điều đó [tức là vì khuynh hướng đồng tính của họ – chú thích của người dịch]”.
Mặc dù Đức Giáo Hoàng không nói rõ về ý nghĩa của những nhận xét đó trong cuốn phim, nhưng trước đó, ngài đã lên tiếng khuyến khích các bậc cha mẹ và người thân không nên tẩy chay hoặc xa lánh những con cháu xác định mình là người đồng tính. Đây dường như là ý nghĩa mà Đức Thánh Cha đã nói về quyền của mọi người được trở thành một phần của gia đình.
Một số ý kiến cho rằng khi Đức Thánh Cha Phanxicô nói về “quyền có gia đình”, Đức Giáo Hoàng đã đưa ra một kiểu ngầm chấp thuận cho các cặp đồng tính được nhận con nuôi. Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng trước đây ngài đã lên tiếng phản đối việc nhận con nuôi như vậy. Ngài nói rằng trong những trường hợp như thế, trẻ em “bị tước đoạt sự phát triển nhân bản của chúng do cha mẹ ban cho theo thánh ý Chúa”. Ngài cũng nói rằng “mỗi người cần một người cha nam và một người mẹ nữ có thể giúp họ định hình căn tính của mình”.
Về các kết hiệp dân sự, Đức Thánh Cha nói rằng: “Chúng ta phải tạo ra một luật về kết hiệp dân sự. Bằng cách đó họ được bảo đảm về mặt pháp lý”.
“Tôi đã ủng hộ điều đó,” Đức Thánh Cha Phanxicô nói thêm. Câu này dường như liên quan đến đề xuất của ngài với các giám mục anh em, trong cuộc tranh luận năm 2010 ở Á Căn Đình về hôn nhân đồng tính, và cho rằng việc chấp nhận kết hiệp dân sự có thể là một cách để ngăn cản việc thông qua luật hôn nhân đồng tính tại Á Căn Đình.
Đức Thánh Cha Phanxicô nói gì về hôn nhân đồng tính?
Ngài chẳng nói gì cả. Chủ đề hôn nhân đồng tính không được thảo luận trong bộ phim tài liệu này. Trong sứ vụ của ngài, Đức Thánh Cha Phanxicô đã thường xuyên khẳng định giáo lý của Giáo Hội Công Giáo rằng hôn nhân là mối quan hệ hợp tác trọn đời giữa một người nam và một người nữ.
Trong khi Đức Thánh Cha Phanxicô thường xuyên khuyến khích một thái độ chào đón đối với những người Công Giáo xác định là người đồng tính, thì ngài cũng nói rằng “hôn nhân là giữa một người nam và một người nữ,” và nói thêm rằng “gia đình đang bị đe dọa bởi những nỗ lực ngày càng tăng của một số người muốn xác định lại chính định chế hôn nhân,” và rằng những nỗ lực nhằm định nghĩa lại hôn nhân “đe dọa làm sai lệch kế hoạch tạo dựng của Thiên Chúa.”
Tại sao những lời bình luận của Đức Giáo Hoàng về các kết hiệp dân sự lại là một vấn đề rất lớn?
Đức Thánh Cha Phanxicô đã từng thảo luận về các kết hiệp dân sự, nhưng trước đây ngài đã không xác nhận rõ ràng ý tưởng này trước công chúng. Hiện nay bối cảnh của các trích dẫn liên quan đến ngài trong bộ phim tài liệu này chưa được tiết lộ đầy đủ, và có thể Đức Giáo Hoàng đã thêm những nhận định khác không được nhìn thấy trong bộ phim, việc tán thành các kết hiệp dân sự cho các cặp đồng tính là một bước đi rất lạ lùng đối với một vị giáo hoàng, và là một đường lối tiêu biểu cho sự tách biệt về quan điểm với hai vị tiền nhiệm trực tiếp của ngài về vấn đề này.
Năm 2003, trong một văn kiện được chấp thuận bởi Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II và được viết bởi Đức Hồng Y Joseph Ratzinger, là vị sau này trở thành Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI, Bộ Giáo lý Đức tin đã dạy rằng “sự tôn trọng đối với những người đồng tính luyến ái không thể dẫn đến việc chấp thuận hành vi đồng tính luyến ái hoặc công nhận về mặt pháp lý các kết hiệp đồng tính.”
Ngay cả khi các kết hiệp dân sự có thể được lựa chọn bởi những người không phải là các cặp đồng tính, như anh chị em ruột hoặc bạn bè thân thiết, thì Bộ Giáo lý Đức tin cho rằng các mối quan hệ đồng giới “có thể tiên đoán sẽ xảy ra và được pháp luật chấp thuận”, và các kết hiệp dân sự “sẽ che khuất một số giá trị đạo đức cơ bản và làm mất đi giá trị của định chế hôn nhân.”
Tài liệu của Bộ Giáo Lý Đức Tin kết luận rằng: “Sự thừa nhận hợp pháp các kết hiệp đồng tính hoặc đặt những kết hiệp ấy ngang hàng với hôn nhân không chỉ có nghĩa là chấp thuận cho những hành vi lệch lạc, với hậu quả là biến nó trở thành một mô hình trong xã hội ngày nay, mà còn làm che lấp những giá trị cơ bản thuộc về di sản chung của nhân loại”.
Tài liệu của Bộ Giáo Lý Đức Tin năm 2003 bao gồm chân lý tín lý, và lập trường của Đức Gioan Phaolô II và Bênêđictô XVI về cách tốt nhất để áp dụng giáo lý của Giáo Hội Công Giáo đối với các vấn đề về chính sách liên quan đến việc giám sát và điều hoà hôn nhân về mặt dân sự. Những lập trường đó phù hợp với kỷ luật truyền thống của Giáo hội về vấn đề này, nhưng bản thân những lập trường này không được coi là tín lý.
Một số người đã nói những gì Đức Giáo Hoàng Phanxicô dạy là lạc giáo. Có đúng như vậy không?
Không. Những nhận xét của Đức Thánh Cha Phanxicô không phủ nhận hay đặt vấn đề đối với bất kỳ chân lý tín lý nào mà người Công Giáo phải tuân giữ và tin tưởng. Trên thực tế, ngài đã thường xuyên khẳng định giáo lý của Giáo hội liên quan đến hôn nhân.
Lời kêu gọi rõ ràng của Đức Giáo Hoàng đối với một luật về kết hiệp dân sự, là điều xem ra rất khác với lập trường của Bộ Giáo Lý Đức Tin vào năm 2003, được đưa ra để thể hiện một sự tách biệt với một đánh giá luân lý truyền thống mà các nhà lãnh đạo Giáo hội dạy rằng đánh giá ấy ủng hộ và bảo vệ sự thật. Tài liệu của Bộ Giáo Lý Đức Tin nói rằng luật kết hiệp dân sự đưa ra sự đồng ý ngấm ngầm đối với hành vi đồng tính luyến ái; trong khi đó Đức Thánh Cha Phanxicô bày tỏ sự ủng hộ đối với các kết hiệp dân sự, nhưng dù thế, ngài cũng đã phát biểu trong triều đại giáo hoàng của mình về sự vô luân của các hành vi đồng tính luyến ái.
Cũng cần lưu ý rằng một cuốn phim tài liệu phỏng vấn không phải là một diễn đàn để giảng dạy chính thức của một vị giáo hoàng. Các nhận xét của Giáo hoàng không được trình bày đầy đủ, và không có bản ghi chép nào được trình bày, vì vậy trừ khi Vatican cung cấp thêm các thông tin rõ ràng, chúng cần được xem xét một cách thận trọng dựa trên những thông tin hạn chế của cuốn phim này.
Ở Mỹ này, chúng ta có [cái gọi là] hôn nhân đồng giới. Tại sao không ai nói về các kết hiệp dân sự?
Có 29 quốc gia trên thế giới công nhận “hôn nhân đồng giới” là hợp pháp. “Hầu hết các quốc gia này là ở Âu Châu, Bắc Mỹ hoặc Nam Mỹ. Nhưng ở những nơi khác trên thế giới, cuộc tranh luận về định nghĩa của hôn nhân mới chỉ bắt đầu. Ví dụ, tại các khu vực của Mỹ Châu Latinh, việc xác định lại hôn nhân không phải là một chủ đề chính trị đã được giải quyết và các nhà hoạt động chính trị Công Giáo ở đó đã phản đối các động thái nhằm hợp pháp hóa các kết hiệp dân sự.
Những người phản đối các kết hiệp dân sự nói rằng họ thường là cầu nối cho luật hôn nhân đồng giới, và các nhà vận động bảo vệ hôn nhân ở một số quốc gia cho biết họ lo ngại rằng những người vận động hành lang cho người đồng tính sẽ sử dụng những lời của Đức Giáo Hoàng trong bộ phim tài liệu này để thúc đẩy con đường tiến tới hôn nhân đồng giới.
Giáo hội dạy gì về đồng tính luyến ái?
Giáo lý của Giáo Hội Công Giáo dạy rằng những người xác định là người đồng tính “phải được đối xử với sự tôn trọng, lòng trắc ẩn và tế nhị. Cần tránh mọi dấu chỉ phân biệt đối xử bất công đối với họ. Những người này được kêu gọi để thực hiện thánh ý Chúa trong cuộc sống của họ và, nếu họ là các Kitô hữu, họ được mời gọi kết hiệp với sự hy sinh trên Thập tự giá của Chúa những khó khăn mà họ có thể gặp phải do tình trạng của họ.”
Sách Giáo Lý nhấn mạnh thêm rằng khuynh hướng đồng tính luyến ái “một cách khách quan là rối loạn”, “hành vi đồng tính luyến ái là trái với quy luật tự nhiên”, và “những người tự nhận mình là người đồng tính nữ hay đồng tính luyến ái nam, giống như tất cả mọi người, họ được kêu gọi giữ đức khiết tịnh”.
Người Công Giáo có bị buộc phải đồng ý với Đức Giáo Hoàng về các kết hiệp dân sự không?
Những tuyên bố của Đức Thánh Cha Phanxicô trong cuốn phim “Francesco” không phải là giáo huấn chính thức của một vị Giáo hoàng. Lời khẳng định của Đức Giáo Hoàng về phẩm giá của tất cả mọi người và lời kêu gọi tôn trọng mọi người đều bắt nguồn từ giáo huấn Công Giáo. Tuy thế, người Công Giáo không có nghĩa vụ phải ủng hộ một quan điểm pháp lý hoặc một chính sách nào chỉ vì những lời bình luận của Đức Giáo Hoàng trong một bộ phim tài liệu.
Một số giám mục bày tỏ rằng các ngài đang chờ đợi sự rõ ràng hơn nữa đối với những bình luận của Đức Giáo Hoàng từ Vatican, trong khi một số người giải thích rằng: “Trong khi giáo huấn của Giáo hội về hôn nhân là rõ ràng và không thể sửa đổi, cuộc đối thoại nên được tiếp tục về những cách tốt nhất để tôn trọng phẩm giá của những người trong các mối quan hệ đồng tính để họ không bị phân biệt đối xử một cách bất công.”
Đặng Tự Do
