2021
Tại sao Kinh Mân Côi là lời cầu nguyện chiêm niệm
Tại sao Kinh Mân Côi là lời cầu nguyện chiêm niệm
Kinh Mân Côi là một lời cầu nguyện tuyệt vời có thể được dùng để chiêm ngắm các mầu nhiệm của Thiên Chúa.
Trong khi một số người có thể coi Kinh Mân Côi là lỗi thời, thì Giáo hội Công giáo vẫn tiếp tục xem đó như một phương pháp cầu nguyện tuyệt mỹ.
Đặc biệt, Thánh Gioan Phaolô II xác tín rằng đó là một cách hoàn hảo để thực hành việc chiêm niệm.
Ngài đã viết về điều đó trong Tông thư về Kinh Mân Côi.
Lý do quan trọng nhất để khích lệ mạnh mẽ việc thực hành Kinh Mân Côi là vì nó được xem như phương tiện hữu hiệu nhất nhằm thúc đẩy các tín hữu dấn thân vào việc chiêm ngưỡng mầu nhiệm Kitô giáo mà tôi đã đề ra trong Tông thư Novo Millennio Ineunte, như một “sự huấn luyện nên thánh” chính cống: “Điều cần có là một đời sống Kitô hữu nổi bật hơn cả trong nghệ thuật cầu nguyện”.
Đức Gioan Phaolô II thậm chí còn đi xa hơn khi so sánh Kinh Mân Côi với các phương pháp cầu nguyện chiêm niệm khác đã được phát triển ở Đông phương.
Kinh Mân Côi thuộc về một trong những truyền thống tốt đẹp nhất và đáng ca ngợi nhất của việc chiêm niệm Kitô giáo. Được phát triển ở phương Tây, như là một lời cầu nguyện chiêm niệm tiêu biểu, cách nào đó tương ứng với “lời cầu nguyện của con tim” hoặc “lời cầu nguyện của Chúa Giêsu”, vốn đã bén rễ trong vùng đất của Kitô giáo Đông phương.
Thực vậy, Thánh Gioan Phaolô II còn nói rằng Kinh Mân Côi nếu không suy ngắm thì giống như một “cái xác vô hồn”.
Kinh Mân Côi là một kinh nguyện chiêm niệm mạnh mẽ, vì nó bắt đầu từ kinh nghiệm của chính Đức Maria. Nếu không có chiều kích chiêm niệm này, Kinh Mân Côi sẽ mất đi ý nghĩa, như Đức Giáo Hoàng Phaolô VI đã chỉ rõ:
“Không có yếu tố chiêm niệm này thì Kinh Mân Côi là một cái xác vô hồn, và việc lần hạt của nó có cơ nguy trở thành một thứ lập đi lập lại một cách máy móc những công thức và đi tới chỗ đối diện với lời cảnh giác của Chúa Kitô: “Trong khi cầu nguyện đừng có lải nhải nhiều lời trống rỗng như Dân Ngoại vốn làm; vì họ nghĩ rằng họ có nhiều lời mới được đáp ứng” (Mt 6,7). Tự bản chất, việc lần hạt Mân Côi cần một nhịp điệu bình lặng và một tốc độ khoan thai, để giúp cho cá nhân suy niệm các mầu nhiệm về cuộc đời của Chúa bằng cặp mắt của Mẹ là vị gần Chúa nhất. Có thế những phong phú khôn lường của những mầu nhiệm này mới được tuôn trào ra” (MC 47).
Chìa khóa để mở ra chiều kích chiêm niệm của Kinh Mân Côi nằm trong việc suy niệm về các mầu nhiệm cuộc đời Chúa Giêsu chứ không chỉ đơn giản là hàng đống những “lời nói suông”.
Nếu chỉ lần chuỗi Mân Côi cách đơn giản và không tham gia vào việc suy niệm thì quá dễ. Tuy nhiên, nếu chúng ta làm vậy, chúng ta có nguy cơ “lải nhải”, những lời cầu nguyện đó không tác động gì đến tâm hồn chúng ta.
Đức Gioan Phaolô II cũng giải thích rằng khi lần chuỗi Mân Côi chúng ta nên chiêm ngắm khuôn mặt của Chúa Giêsu.
Kinh Mân Côi là một trong những đường lối cầu nguyện truyền thống của Kitô giáo hướng đến việc chiêm ngắm gương mặt Chúa Kitô. Đức Giáo Hoàng Phaolô VI đã mô tả điều đó bằng những lời sau:
“Là một kinh nguyện Phúc Âm, tập trung vào mầu nhiệm Nhập Thể cứu chuộc, Kinh Mân Côi bởi thế là một kinh nguyện có chiều hướng Kitô học rõ ràng. Thật vậy, yếu tố nổi nhất của nó là tính cách liên tục như là kinh cầu của Kinh Kính Mừng tự nó trở thành một lời chúc tụng Chúa Kitô không ngừng” (MC 46).
Lần tới, khi lần chuỗi Mân Côi, bạn hãy cố gắng thực hiện theo cách chiêm niệm, là suy gẫm về những mầu nhiệm trong cuộc đời của Chúa Giêsu và ngắm nhìn khuôn mặt của ngài.
- Võ Tá Hoàngchuyển ngữ
2021
Tìm hiểu về các Công đồng của Giáo Hội
Tìm hiểu về các Công đồng của Giáo Hội
Xin gửi đến quý độc giả một vài khái niệm về Công đồng và liệt kê 21 Công đồng Chung.
I/ Một vài khái niệm về Công đồng
Định Nghĩa
Công đồng là một hội nghị gồm các Giám mục, cùng một số bề trên của các tổ chức tu trì trong Giáo Hội, chính thức nhóm họp bàn luận và quyết định những vấn đề thuộc giáo lý đức tin hay sinh hoạt của Giáo Hội
Phân Loại
Công đồng có nhiều cấp bậc khác nhau, bao gồm trong hai loại tổng quát: Công đồng chung và Công đồng riêng
Công đồng Chung: còn gọi là Công đồng phổ quát. Từ khi có phong trào hợp nhất các Kitô hữu, người ta còn gọi là Công đồng đại kết. Đây là hội nghị các giám mục toàn cầu, với sự có mặt của các bề trên cao cấp trong các tổ chức tu trì, dưới sự chủ tọa đích thân của giám mục Rôma hay qua đặc sứ của ngài(x.GH22). Trước Công đồng chung Vatican II, chỉ có giám mục chính tòa mới có quyền tham dự Công đồng chung. Từ nay mọi giám mục có quyền tham dự Công đồng vì là thành phần của giám mục đoàn(x. GM 4)
Công đồng riêng: là một hội nghị gồm các giám mục của một miền dất nào đó trong Giáo Hội. Người ta phân biệt: Công đồng giáo tỉnh gồm các giám mục trong một miền, một giáo tỉnh dưới quyền chủ tọa của một tổng giám mục hay giám mục trưởng giáo tỉnh. Công đồng liên giáo tỉnh hay đại Công đồng nếu hội nghị, gôm các giám mục của nhiều giáo tỉnh khác nhau dưới quyền chủ tọa sứ thần Tòa Thánh. Ta cũng có thể kể thêm Công đồng toàn quốc, Công đồng toàn miền. Ngoài ra, còn có hội nghị khác của các giám mục gọi la thượng hội đồng, hội nghị hay công nghị giám mục. Công nghị giáo phận (x. GL. Đ. 460) dùng để chỉ phiên họp của vị giám mục giáo phận với hàng giáo sĩ của mình. Còn Thượng Hội đồng giám mục (Synod) là một quy chế được thể hiện sau Công đồng Vatican II. Đây là hội nghị do chính Giáo hoàng Roma triệu tập các giám mục đại diện hay những người được ngài chỉ định để cùng tìm hiểu và giúp ngài về một số vấn đề liên quan đến hoạt động của Giáo Hội trong thế giới
Thẩm quyền của Công đồng chung: là cơ quan lập pháp và giáo huấn tối cao của Giáo Hội. Đó chính là giám mục đoàn được quy tụ lại vì Chúa Kitô đã ban quyền cho các tông đồ và những người kế vị các ngài để dạy dỗ và điều khiển Giao Hội
Những nghị quyết của Công đồng chung có một giá trị tối cao đối với toàn thể Giáo Hội. Theo một số điều kiện đã được ấn định trong Giáo Hội, chúng có tính bất khả ngộ, nghĩa là không thể sai lầm. Nghị quyết chia thành hai loại: Nghị quyết về quy luật ấn định những luật lệ, tập quán, nghi lễ…..nghị quyết về giáo lý bàn về những điểm giáo lý gây tranh cải, làm sáng tỏ những điểm giáo lý còn nghi ngờ, xác định những chân lý mặc khải bị lạc giáo chối từ hoặc lên án những điểm sai lạc bằng các phán quyết “tuyệt thông”
Các Công đồng chung trong lịch sử:
Các Công đồng chung đóng vai trò đặc biệt trong lịch sử Giáo Hội vì đã làm chứng và xác định những chân lý mạc khải, ấn định những hình thức thờ phượng và kỷ luật, tạo nên những cuộc biến chuyển và canh tân đời sống Kitô giáo. Nhìn chung các Công đồng biểu lộ những nổ lực của Giáo Hội muốn luôn luôn chuyển biến chính mình để vừa bảo vệ khỏi những khủng hoảng của thời đại, vừa thanh tẩy mình khỏi những khiếm khuyết, vừa phát triển mình dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần
Trong dòng lịch sử suốt 20 thế kỷ qua, có tất cả 21 công đồng chung: 8 Công đồng chung đầu tiên nhóm họp ở phương Đông, 13 Công đồng sau ở phương Tây. Hầu hết, các giáo hội ly khai Đông Phương chỉ công nhận 7 Công đồng chung đầu tiên. Các Công đồng này, có thể nói, đã xác định phần lớn giáo lý cơ bản của Giáo Hội. Các hoàng đế Đông Phương đã có công tích cực trong việc triệu tập và giúp đỡ Công đồng trong thời gian nhóm họp, dù giá trị của Công đồng hệ tại ở việc chuẩn nhận của vị Giáo hoàng ở Roma
II/ Liệt kê 21 Công đồng Chung
Chúng tôi đã trình bày một số điểm cơ bản của từng Công đồng trong phần Niên biểu Lịch sử Giáo Hội. Sau đây chỉ là bảng liệt kê danh sách ngày tháng và một số chi tiết khác của các Công đồng chung
- Nieaea I:Năm 325, thành phần tham dự gồm khoảng 300 giám mục Đông Phương, 4 giám mục Tây Phương, 2 linh mục Roma làm đặc sứ của Thánh Giáo hoàng Sylvester I. Hoàng đế Constantinus I triệu tập. Công đồng họp từ tháng 6 và kết thúc vào cuối tháng 8. Công đồng định tínhCon Thiên Chúa đồng bản tính với Chúa Cha
- Contastantinople I:Năm 381. Hoàng đế Theodosius I triệu tập dưới triều Thánh Giáo hoàng Damanus I. Có khoảng 186 giám mục Đông Phương dự. Khóa họp từ tháng 5 đến tháng 7. Công đồng lên án các lạc thuyết Arius và Macedonius,xác nhận và triển khai Kinh Tin Kính Nicaea
- Ephesus:Năm 431. Hoàng đế Theodosius II triệu tập, dưới triều Thánh Giáo hoàng Celestinus I. Có khoảng 150 – 200 giám mục Đông Phương, 1 giám mục Tây Phương, 3 đặc sứ tham dự với 5 khóa họp từ 22-6 đến 17-7. Công đồng lên án 2 lạc thuyết Nestorius và Pelagius,Công bố Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa và xác định sự ngôi hiệp nơi Đức Kitô
- Chaleedon:Năm 451 Hoàng đế Mareianus triệu tập. Khoảng 600 giám mục Đông Phương, 2 giám mục Phi Châu, 3 đặc sứ của của Thánh Giáo hoàng Leo I tham dự 17 khóa họp từ 8-10 đến 1-11. Công đồng lên án thủ lãnh lạc giáo Eutyches, tuyên bốĐức Ki tô có một ngôi vị với hai bản tính riêng biệt
- Constantinople II:Năm 553 Hoàng đế Justinianus I triệu tập dưới triều Giáo hoàng Vigilius. Khoảng 150 giám mục Đông Phương, 8 giám mục Phi Châu tham dự 8 khóa họp từ 5-5 đến 2-6. Công đồng lên án”Ba chương” trích từ tác phẩm của các giáo phụ bị cho là theo thuyết Nestorius: T. de Mopsuestus Theodoretus và Ibas
- Constantinople III:Năm 680-681. Hoàng đế Constantinus IV triệu tập, dưới triều các Thánh Giáo hoàng Agatho và Leo II. Khoảng 165 giám mục Đông Phương, 6 giám mục Tây Phương và 3 sứ thần tham dự. Công đồng họp 16 khóa từ 7-11-680 đến 61-9-681. Công đồng lên án thuyếtNhất ý và dạy rằng Đức Kitô có hai ý chí: ý chí con người và ý chí Thiên Chúa
- Nicaea II:Năm 787 Nữ hoàng Irene triệu tập dưới triều Giáo hoàng Adrianus I. Có khoảng 300 giám mục Đông Phương, 2 sứ thần tham dự 8 khóa họp từ 24-9 đến 23-10. Công đồng lên án Phá Hủy Ảnh Thánh, xác định có thể tôn kính ảnh thánh mà không bị coi là ngẫu tượng
- Constantinople IV:Theo Công giáo. Công đồng nhóm họp năm 870, do Hoàng đế Basilius I triệu tập, dưới triều Giáo hoàng Adrianus II. Có khoảng 120 giám mục Đông Phương và 3 đặc sứ tham dự 6 khóa họp từ 5-10-869 đến 8-2-870. Công đồng lên án phái Phá Hủy Ảnh Thánh và truất quyền Thượng phụ Giáo chủ Photius, Nhưng Giáo hội ly khai Đông Phương chỉ công nhận Công đồng năm 880 đồng thời hủy bỏ hết Công đồng năm 870
- Lateran I:(Lateranus), năm 1123 do Giáo hoàng Callixtus II triệu tập. Khoảng 300 giám mục và 700 đại biểu khác tham dự các khóa họp từ 8-3 đến 6-4. Công đồng phê chuẩn thỏa ước Worms và một số điều canh tan Giáo hội
- Lateran II:Năm 1139 Giáo hoàng Innocens II triệu tập. Có khoảng 1000 tham dự viên họp trong tháng 4 để lên án việc ly giáo của Anacletus
- Lateran III:Năm 1179 Giáo hoàng Alexander III triệu tập. Khoảng 300 giám mục và 400 giáo sĩ tham dự 3 khóa họp diễn ra từ ngày 5 đến 19-3 để lên án bè rối Albigenses.Công đồng quy định cách chọn giáo hoàng
- Lateran IV:Năm 1215. Giáo hoang Innocens III triệu tập. Có 412 giám mục và 388 giáo sĩ tham dự, các khóa họp từ 11 đến 30-11. Công đồng quy định việc xưng tội mỗi năm và rước lễ mùa Phục Sinh. Lần đầu tiên. Công đồng nói đến từ“chuyển bản thể” trong Bí tích Thánh Thể
- Lyon I:Năm 1245. Giao hoàng Innocens IV triệu tập. Khoảng 150 giám mục và nhiều giáo sĩ tham dự 3 khóa họp từ 28-6 đến 17-7 để lên án hoàng đế Frederick. II
- Lyon II:Năm 1247. Giáo hoàng Gregorius X triệu tập. Khoảng 500 giám mục và 570 giáo sĩ (có Thánh Thomas và Bonaventura), hoàng đế Đông Phương M. Paleologus cũng tham dự. Gồm 6 khóa họp từ 7-5 đến 17-7. Công đồng bàn vềsự hợp nhất giữa Giáo hội Đông Phương và Tây Phương
- Vienne:Năm 1311-1312. Giáo hoàng Clemens V triệu tập. Khoảng 132 giám mục với nhiều giáo sĩ tham dự 3 khóa họp từ 16-10-1311 đến 6-5-1312. Công đồng giải tán dòng Hiệp Sĩ Đền Thờ, lên án quan niệm sai lạc của tu sĩ. Beguard và Beguin
- Constance(Konstanz): Năm 1414-1418. Hoàng đế Segismundo triệu tập dưới triều Giáo hoàng Gregoritus XII và Matinus V. Khoảng 200 giam mục, nhiều giáo sĩ và chuyên viên tham dự 45 khóa họp, từ 5-11-1414 đến 22-4-1418.Công đồng bãi nhiệm ba giáo hoàng đang tranh chấp nhau, chấm dứt tình trạng ly khai ở Tây Phương, lên án J. Wycliff, JanHus và chọn Giáo hoàng Matinus V
- Florence(Firenze): Năm 1438-1455. Giáo hoàng Eugenius IV triệu tập. Lần đầu họp ở Basel, sau dời về Ferrara, rồi về Florence. Khoảng 30 giám mục Đông Phương tham dự.Công đồng đã đưa ra nhiều phương thức hợp nhất Giáo Hội
- Lateran V:Năm 1512-1517. Giáo hoàng Julius II và Leo X triệu tập. Có 115 giám mục Tây Phương tham dự 12 khóa họp, từ 3-5-1512 đến 6-3-1517.Công đồng xác định quyền bính giáo hoàng và quyền bính Công đồng, lên án những người theo thuyết Tân Aristole
- Trent(Trento): Năm 1545-1563. Giáo hoàng Paulus III. Julius III, Pius IV triệu tập. Lúc khai mạc có 70 giám mục, lúc kết thúc có 252 giám mục và nhiều giáo sĩ tham dự trong 25 khóa họp từ 13-12-1545 đến 4-12-1563.Công đồng xác định một số điểm đức tin và giáo lý liên quan đến Phong trào Cải Cách, canh tân Giáo Hội về nhiều điều thực tế.
- Vatican( Vaticano I): Năm 1869-1870. Giáo hoàng Pius IX triệu tập. Có 747 giám mục tham dự và nhiều giao sĩ trong 4 khóa từ 8-12-1869 đến 1-7-1870.Công đồng lên án thuyết duy lý và tuyên bố tính bất khả ngộ của giáo hoàng
- Vatican II:Năm 1962-1965. Giáo hoàng Joannes XXIII và Paulus VI triệu tập. Có tất cả 2.860 nghị phụ tham dự. Số nghị phụ ở mỗi khóa thay đổi từ 2.150-2.500. Có 10 khóa trong 4 kỳ họp.Công đồng đã soạn thảo và công bố 4 hiến chế, 9 sắc lệnh, và 3 tuyên ngôn nhằm đổi mới toàn diện đời sống Giáo hội Công giáo và hướng tới sự hợp nhất Kitô giáo.
*Bài này trong quyển “ Giáo hội Công Giáo Việt Nam niên giám 2004 của Văn phòng Tổng thư ký Hội Đồng Giám Mục Việt Nam. Nhà xuất bản Tôn giáo Hà Nội xuất bản năm 2004 từ trang 90 đến trang 93”
2021
Đức Giáo Hoàng thành lập “Quỹ Sức khỏe Công giáo”
Đức Giáo Hoàng thành lập “Quỹ Sức khỏe Công giáo”
Ngày 6.10.2021, Đức Thánh Cha đã cho công bố quyết định thành lập “Quỹ Sức khỏe Công giáo”.
Theo đó, quỹ này đảm nhận nhiệm vụ hỗ trợ kinh tế cho các cơ sở y tế Công giáo. Quyết định của Đức Giáo Hoàng được đưa ra trong bối cảnh các cơ sở y tế Công giáo đang gặp nhiều khó khăn do đại dịch.
Quỹ được liên kết với Tòa Thánh thông qua Cơ quan Quản trị Tài sản Tòa Thánh (APSA) do Đức Tổng Giám mục Nunzio Galantino làm Chủ tịch. Đức Thánh Cha cũng đã ban hành quy chế hoạt động cho “Quỹ Sức khỏe Công giáo”.
| Đức Thánh Cha và Đức Tổng Giám mục Nunzio Galantino |
Thiện Tâm
2021
Đức Thánh Cha cầu nguyện cho hòa bình và đối thoại liên tôn
Đức Thánh Cha cầu nguyện cho hòa bình và đối thoại liên tôn
Cộng đoàn Thánh Egidio đã tổ chức “Cuộc gặp gỡ vì Hòa bình” lần thứ 35 vào ngày 6 và 7.10.2021 tại Rome. Hội nghị có sự tham dự của Đức Giáo Hoàng, cùng các nhà lãnh đạo và đại diện các tôn giáo: Hồi giáo, Do Thái giáo, Phật giáo, Tenrikyo, Ấn giáo và đạo Sikh.
Đại diện của hơn 40 quốc gia tham dự và thảo luận về cách “bắt đầu lại” trên tinh thần Assisi, một trong những mối quan hệ hữu nghị và đối thoại. Tại hội nghị, Đức Thánh Cha đánh giá cao về việc nhiều người đến đây cùng cầu nguyện, chứng tỏ rằng “cầu nguyện là nguồn sức mạnh thầm lặng mang đến hòa bình và loại bỏ sự thù hận ra khỏi trái tim”.
Ngài nói về chiến tranh như là một trò chơi với mạng sống con người, là sự thất bại của chính trị và nhân loại. Nhiệm vụ cấp bách của các tôn giáo hiện nay là giúp xóa bỏ hận thù khỏi trái tim con người, và lên án mọi hình thức bạo lực. Ngài kêu gọi các quốc gia giảm chi tiêu quân sự, để cung cấp thêm cho các nhu cầu nhân đạo, để biến các công cụ của cái chết thành công cụ của sự sống.
Đức Phanxicô nhấn mạnh, hòa bình là con đường hướng tới cho mọi tôn giáo. Hòa bình đòi hỏi chúng ta phải thanh tẩy con tim, vì đó không chỉ là một thỏa thuận hay một giá trị, mà trên hết đó là “thái độ của con tim”.
Đức Giáo Hoàng tiếp tục suy ngẫm về “Trái đất tương lai”, và nói rằng, hòa bình giữa các dân tộc cũng liên quan đến việc chăm sóc Công trình Sáng tạo của Chúa và Ngôi Nhà chung của chúng ta.
Cuối cùng, Đức Thánh Cha khuyến khích mọi người hãy cùng hướng về các tôn giáo và các dân tộc trong tình anh chị em. Các tôn giáo sẽ giúp các dân tộc trở thành anh chị em chung sống hòa bình, hòa giải, cùng coi sóc Công trình Sáng tạo, Ngôi Nhà chung của chúng ta.
![]() |
| Đức Thánh Cha Phanxicô cầu nguyện cùng các đại diện các tôn giáo |
Thiện Tâm

