2021
Có một mong muốn “Mỹ hóa” trong đạo công giáo Pháp không?
Có một mong muốn “Mỹ hóa” trong đạo công giáo Pháp không?
Ông Bruno Dumons, Tổng biên tập của Đài Đức Bà, giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Quốc gia CNRS (Pháp) đưa ra những giới hạn về mặt xã hội học trong việc phân tích và tìm hiểu sự tiến hóa của đạo công giáo Pháp. Theo ông, sức hút của “khuôn mẫu Mỹ” trước hết đáp ứng một mong chờ về mặt tinh thần.
Có phải chúng ta đang “tiến tới một cuộc ‘Mỹ hóa’ của đạo công giáo Pháp không?” Trong một bài báo dài, tạp chí Esprit (số tháng 11 năm 2021) đặt câu hỏi này cho nhà sử học Bruno Dumons. Về hiện tượng ít được nghiên cứu này, tác giả đưa ra một vài con số và nhiều tên tuổi: từ giám mục Rey, giáo phận Fréjus-Toulon đến cộng đoàn Thánh Gioan, từ cộng đoàn các Mối Phúc đến các khóa Alpha, từ cộng đoàn Thánh Máctinô đến các huấn luyện viên của Talenthéo, từ Lời Cầu nguyện của các Bà mẹ đến cộng đoàn Emmanuel: bài báo nêu bật tính năng động của một lãnh vực công giáo thành thị và thượng lưu.
Từ lâu, chúng ta biết, “đối mặt với vùng nông thôn khô cằn và hoang vắng, các lãnh thổ ngoại vi và ngoại ô không thật sự có một căn tính, sức sống của đạo công giáo Pháp chỉ dựa vào các thành phố lớn”. Chúng ta cũng thấy, “các giáo xứ của các trung tâm thành phố […] đón nhận, tùy theo sở thích phụng vụ hoặc mục vụ, các nhóm dân cư đặc trưng của một quá trình trưởng giả anglo-saxon của các đô thị”.
Một sản phẩm nhập khẩu?
“Nền văn minh giáo xứ” đã biến mất, vẫn còn những giáo xứ “có quan hệ thân cận”. Nhà nhân chủng học Valérie Aubourg, được ông Dumons trích dẫn, thấy các giáo xứ tràn ngập “vô số ‘hoạt động’ đủ loại, theo cách của một văn phòng du lịch, quản lý như các công ty qua cách cai trị, điều hành, chủ trương lợi nhuận, đứng đầu là nhà lãnh đạo cộng đồng trong cương vị như một ông chủ”.
Cách thể hiện đức tin này đoạn tuyệt với chiều kích lịch sử – “tôn giáo của cha ông chúng ta” và “luôn có thánh lễ”. Làm như vậy, các giới thượng lưu làm thấp đức tin, giảm đức tin “như một sản phẩm thị trường nhập từ nơi khác, mà chúng ta tiêu thụ tùy ý và di sản (chẳng hạn di sản kiến trúc các nhà thờ chính tòa, các nhà thờ làng chẳng hạn) sẽ chỉ là một phần trong việc bảo tồn di sản quốc gia”. Trong thời đại cạnh tranh, chúng ta sinh ra không phải là tín hữu kitô nữa, nhưng chúng ta sẽ trở thành tín hữu. Sức bật của niềm tin dựa trên việc đào tạo chính con người mình. Đạo công giáo này vừa là phò-lựa chọn vừa sinh lợi. Đây là lô-gích của “ba chuyện”: cộng đoàn, thương mại và giao tiếp.
Mỹ hóa trải rộng ra như một cơ chế hai chiều: nó không chỉ ảnh hưởng nước Mỹ; nhưng trên hết là khát vọng về nước Mỹ.
Quan hệ thân cận tạo môi trường có lợi cho việc chiêu dụ dựa trên hiệu suất. Ở đó, tiền được xem như một năng lượng tích cực. Đặc điểm này thêm vào việc chuộng Mỹ có rất lâu đời của giới tinh hoa Pháp, được tiếp sức bởi các trường đại học lớn và trường kinh doanh, vốn là cơ sở của các khái niệm Thế giới mới. Điều này không có nghĩa trưởng giả là nét nổi bật duy nhất của việc thuộc về Giáo hội công giáo. Ngoài những “vay mượn từ không gian Bắc Mỹ” (mà bài báo nói), nhà sử học Dumons đưa ra một xu hướng khác – kín đáo hơn và vô sản hơn – đó là “những đóng góp từ lục địa châu Phi”. Nhưng, cuối cùng, nếu cái thứ hai có xu hướng cân bằng cái thứ nhất, thì công giáo Pháp trong cả hai trường hợp đều là một sản phẩm nhập khẩu.
Khuôn mẫu Mỹ
Những gì ông Dumons đang nhìn, đó là những gì Mỹ hóa, nói về mặt xã hội học, văn hóa, chính trị. Tác giả không thẩm định các thành quả của việc “tân phúc âm hóa”. Ông nhầm lẫn giữa “những điều không tưởng của cộng đồng” với kinh nghiệm của các linh mục công nhân hoặc của tu sĩ thần học gia Bernard Besret, dòng Xitô ở Boquen vào những năm sáu mươi, với những thực tế tập thể “suy tàn theo mô hình giáo phái Ngũ tuần Hoa Ky.ø” Nếu những cái đầu tiên thuộc về lịch sử, thì những cái sau vẫn tồn tại, dù có những cuộc khủng hoảng. Ông nói: “Sự không tưởng của cộng đoàn, không có cách nào loại bỏ tầm quan trọng của việc tách khỏi các thực hành bí tích.” Chắc chắn, quá trình phi-kitô giáo vẫn tiến hành con đường của nó và tỷ lệ thống kê chứng tỏ điều này. Tuy nhiên, một câu hỏi đặt ra: vì sao đạo công giáo nói đến những môi trường thoải mái, nếu đức tin không còn được nhận như một di sản, một bổn phận hay một thói quen? Sự kiện kitô giáo tập trung vào việc hướng nội, nâng cao và đặt chủ đề. Chiều hướng này được phản ánh trong sức mạnh thu hút và sự đổi mới của mô hình Mỹ.
Như nhà sử học Ludovic Tournès, được ông Dumons trích dẫn, cho thấy, Mỹ hóa diễn ra giống một cơ chế hai chiều: nó không chỉ là ảnh hưởng của Mỹ; trên hết là khát vọng về nước Mỹ. Đối diện với sự trơ ì của các cấu trúc và dấu ấn của chúng trên bối cảnh nước Pháp, các sức sống của đạo công giáo Pháp tự xoay xở một mình, dù phải nhập vào đây những gì dường như hoạt động tốt bên kia. Sức sống của tôn giáo này được tìm thấy ở những nơi và môi trường mà cơ cấu kỹ thuật giáo sĩ hầu như không nâng đỡ và ít tài trợ, thậm chí hoàn toàn không có.
Sự mong chờ một đề xuất thiêng liêng
Một lý do khác để giải thích cho xu hướng Mỹ này: đó là lịch sử của chúng ta. Ảnh hưởng của chủ nghĩa Mác đối với giới trí thức và quyền lực của Đảng Cộng sản đã để lại rất ít chỗ cho sự phát triển của một đạo công giáo theo chiều ngang. Không gian của nó càng bị thu hẹp hơn khi các giáo sĩ sau công đồng dỡ bỏ lòng mộ đạo bình dân. Sức nặng của “công giáo cánh tả” trong các khâu tiếp nối của thể chế cũng có tác động loại bỏ. Chủ nghĩa chiến đấu dân chủ-kitô ủng hộ cánh tả của cựu tổng thống Mitterrand dẫn đến ngõ cụt. Những hành động ngớ ngẩn của hàng giáo sĩ trên bãi mìn chống phân biệt chủng tộc cũng làm giáo dân chờ một cái gì thiêng liêng xa lánh. Nếu chúng ta thêm vào đây sự sợ hãi Liên Xô và đặc sủng của Đức Gioan-Phaolô II, chúng ta thấy “cánh hữu hóa đạo công giáo” liên hệ từ thời Chiến tranh Lạnh và các thách thức mới, đạo đức và xã hội mới chỉ nhấn mạnh thêm. Cựu tổng thống Pháp François Hollande hiểu giá trị của điều này khi ông khai thác Cuộc biểu tình cho tất cả để làm chia rẽ ý kiến.
Sử gia Dumons lấy làm tiếc cho sự “thu mình của bản sắc” và “việc tái tổ chức lại chính trị xung quanh các giá trị bảo thủ, đặc biệt là các vấn đề đạo đức”. Những từ này phải cẩn thận khi dùng: “thu mình của bản sắc”, “các giá trị bảo thủ” là những từ mang ý nghĩa bản đúc. Những điều này có tương thích với sự Mỹ hóa mà tác giả phân tích không? Nếu có một sự du nhập một kiểu văn hóa nước ngoài, trong trường hợp này là từ Hoa Kỳ, thì còn lại cái gì để giữ? Tương tự như việc “thu mình của bản sắc”. Điều này ngược với Mỹ hóa, loại văn hóa-thế giới không chấp nhận một di sản hay các biên giới cản trở nó.
Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch
2021
ĐTC Phanxicô khai mạc Đại hội lần thứ 75 của HĐGM Ý
ĐTC Phanxicô khai mạc Đại hội lần thứ 75 của HĐGM Ý
Lúc 4 giờ chiều thứ Tư, 22/11, Đức Thánh Cha đã đến khách sạn Ergife, nơi diễn ra Đại hội bất thường của HĐGM Ý lần thứ 75 từ ngày 22-25/11, để khai mạc Đại hội.
Đức Thánh Cha đã có buổi “nói chuyện riêng” với các giám mục. Thông báo của Phòng Báo chí Toà Thánh cho biết, trước khi bắt đầu buổi trò chuyện, Đức Thánh Cha đã tặng cho các giám mục tấm thiệp có hình ảnh Vị Mục Tử Nhân Lành và những lời “Các Mối Phúc của Giám Mục”.
“Các Mối Phúc của Giám Mục” được viết theo lối “Các Mối Phúc” trong Tin Mừng theo thánh Matthêu. Với “Các Mối Phúc” này, ĐTC Phanxicô mong muốn đưa ra gợi hứng và chỉ dẫn thực tiễn cho các giám mục, không chỉ của Ý mà còn cho các giám mục trên toàn thế giới.
“Các Mối Phúc của Giám Mục” được soạn bởi Đức cha Domenico Battaglia, TGM Napoli, và được đọc trong bài giảng lễ tấn phong 3 tân giám mục cho giáo phận này vào ngày 31/10 vừa qua. ĐTC Phanxicô đã lấy lại ý tưởng này và đặt trong một tấm thiệp để tặng cho mỗi giám mục Ý.
Có tất cả tám mối phúc bao gồm: (1) Phúc cho vị Giám mục nào biết nghèo khó và chia sẻ lối sống của mình; (2) Phúc cho vị Giám mục không ngại tưới đẫm khuôn mặt bằng nước mắt, để có thể phản chiếu những đau khổ của con người, nỗi vất vả của các linh mục; (3) Phúc cho vị Giám mục coi sứ vụ của mình là một sự phục vụ chứ không phải một quyền lực; (4) Phúc cho vị Giám mục không đóng mình trong các tòa nhà quản trị, không trở thành quan chức quan tâm đến số liệu thống kê hơn là các khuôn mặt, đến các thủ tục hơn là những câu chuyện; (5) Phúc cho vị Giám mục có trái tim đồng cảm với sự khốn cùng của thế giới, người không ngại bẩn tay vì bùn lầy của linh hồn con người để tìm vàng của Chúa, người không phát hoảng trước tội lỗi và yếu đuối của người khác vì ngài ý thức về nỗi khốn cùng của chính mình; (6) Phúc cho vị Giám mục xa tránh con tim hai mặt, tránh mọi động lực nước đôi, nhưng luôn mơ ước điều thiện ngay cả giữa điều ác; (7) Phúc cho vị Giám mục dấn thân vì hòa bình, người đồng hành trên con đường hòa giải. (8) Phúc cho vị Giám mục vì Tin Mừng mà không ngại lội ngược dòng, có khuôn mặt “cương trực” như Chúa Kitô trên đường lên Giêrusalem, không để mình bị kìm giữ bởi những hiểu lầm và trở ngại.
Đức Thánh Cha ở lại với các giám mục đến cuối phiên họp. Ngài rời khách sạn Ergife lúc gần 6 giờ chiều để trở về Vatican. (CSR_7561_2021)
Văn Yên, SJ
2021
Lịch sử và hoạt động của Bộ Giáo dục Công giáo
Lịch sử và hoạt động của Bộ Giáo dục Công giáo
Bộ Giáo dục Công giáo là một trong những cơ quan của giáo triều Roma. Bộ có 19 nhân viên thuộc 12 quốc gia, làm việc trong các văn phòng về trường học, văn phòng về đại học, phân bộ về các tổ chức quốc tế và các hoạt động khác như thủ quỹ, nghi lễ, lưu trữ, thư viện, công nghệ thông tin, vv.
Đức Hồng y Giuseppe Versaldi – Tổng trường Bộ Giáo dục Công giáo
Lịch sử thành lập
Vào năm 1588, với Tông Hiến Immensa Aeterni Dei, Đức Giáo hoàng Sixto V đã thành lập cơ quan tiền thân của Bộ Giáo dục Công giáo để giám sát Đại học La Sapienza ở Roma và các trường đại học nổi tiếng khác vào thời điểm đó, bao gồm đại học Bologna (Ý), Paris /Pháp) và Salamanca (Tây Ban Nha). Năm 1824, Đức Giáo hoàng Leo XII đã thành lập Bộ Nghiên cứu cho các cơ sở giáo dục ở các Quốc gia thuộc Giáo hoàng. Vào năm 1870, cơ quan này bắt đầu giám sát các trường đại học Công giáo. Đức Thánh Cha Pio X xác nhận trách nhiệm này vào năm 1908 và vào năm 1915, Đức Biển Đức XV đã thành lập phân bộ phụ trách các chủng viện và sáp nhập nó vào Bộ Nghiên cứu và gọi nó là Bộ Chủng viện và Nghiên cứu Đại học. Năm 1967, Đức Phaolô VI đã đổi tên thành Thánh Bộ về các học viện Công giáo. Tên hiện tại “Bộ Giáo dục Công giáo” xuất phát từ Tông Hiến Pastor Bonus – Mục tử Nhân lành, được Đức Gioan Phaolô II ban hành năm 1988.
Từ ngày 31/3/2015 Đức Hồng y Giuseppe Versaldi được Đức Thánh Cha bổ nhiệm làm Tổng trưởng Bộ Giáo dục Công giáo. Đức Hồng y đã có cuộc trò chuyện với Vatican News về lịch sử, sứ vụ cũng như kinh phí hoạt động của Bộ Giáo dục Công giáo.
Giáo dục – chủ đề trọng tâm trong triều đại giáo hoàng của Đức Thánh Cha Phanxicô
Trước hết, Đức Hồng y lưu ý rằng giáo dục là một trong những chủ đề trọng tâm trong triều đại giáo hoàng của Đức Thánh Cha Phanxicô. Ngay từ đầu triều đại giáo hoàng, theo phong cách mục vụ trước đây của ngài, Đức Thánh Cha đã nhấn mạnh đến sự cần thiết của việc đầu tư tài năng của mọi người, nhất là của các thế hệ trẻ, để thúc đẩy một tình liên đới phổ quát mới và một xã hội chào đón hơn. Với sự ra mắt của Hiệp ước Toàn cầu về Giáo dục, ngài đã tiếp tục lời mời thiết lập một liên minh hướng tới sự hội tụ toàn cầu về giáo dục, biết cách đoàn kết mọi người dân, với tất cả các thành phần, để tìm ra giải pháp cho các vấn đề phát sinh bởi sự biến đổi liên tục của thời đại, để bắt đầu các quá trình biến đổi mà không sợ hãi và nhìn về tương lai với hy vọng. Lời mời này được hướng đến tất cả mọi người: giáo viên, học sinh, phụ huynh, xã hội; mọi lĩnh vực và ngành học; các biểu hiện khác nhau về trí tuệ, khoa học, nghệ thuật, thể thao, chính trị, kinh tế, kinh doanh, để hỗ trợ người trẻ.
Tài liệu hướng dẫn
Tiếp đến, Đức Hồng y giải thích về cách thức Bộ Giáo dục Công giáo tham gia vào việc hỗ trợ và áp dụng chiến lược được gợi hứng bởi Đức Thánh Cha: Được giao nhiệm vụ đồng hành cùng việc thực hiện dự án này, ngoài việc thúc đẩy một loạt các công ước và sự kiện để phát triển các thành phần khác nhau của hiệp ước giáo dục, được thực hiện ngay sau thông điệp đầu tiên của Đức Thánh Cha vào ngày 12/9/2019, Bộ Giáo dục Công giáo đã bắt đầu theo dõi và tập hợp các kinh nghiệm ở các trường và đại học Công giáo và ở nhiều tổ chức giáo dục tại nhiều nước trên thế giới. Trước sự gia tăng không ngừng các sáng kiến và quan điểm trong những năm tới, một Ủy ban đã được thành lập bao gồm Tổ chức Tòa Thánh Gravissimum educationationis, Đại học LUMSA ở Roma và Đại học Công giáo Thánh Tâm ở Milano. Điều này giúp chuẩn bị một tập sách toát yếu cho các nhà giáo dục và một tập sách hướng dẫn cho các trường đại học. Trong khi sách toát yếu phát triển các mục tiêu của Hiệp ước Toàn cầu do Đức Thánh Cha chỉ ra, thì sách các hướng dẫn mở rộng trên 5 lĩnh vực chủ đề mà Hiệp ước có thể được áp dụng để phát triển các sáng kiến học thuật, khoa học và văn hóa: phẩm giá và quyền con người; tình huynh đệ và sự hợp tác; công nghệ và hệ sinh thái toàn diện; hòa bình và quyền công dân; văn hóa và tôn giáo.
Với ý thức rằng đề xuất về một tổ chức giáo dục nhằm mục đích tìm kiếm sự hội tụ toàn cầu trong một “ngôi nhà chung” cho các cư dân trên Trái đất và một liên minh tạo ra hòa bình, công lý, sự chấp nhận giữa tất cả các dân tộc và đối thoại giữa các tôn giáo, Bộ Giáo dục Công giáo thực hiện công việc của mình với sự cộng tác hiệu quả với các thực thể khác trong Tòa Thánh.
Sứ vụ của Bộ Giáo dục Công giáo
Nói về sứ vụ của Bộ Giáo dục Công giáo, Đức Hồng y Tổng trưởng của Bộ cho biết, Bộ có nhiệm vụ đào sâu, phát triển và cổ võ các nguyên tắc nền tảng của giáo dục Công giáo, như được Huấn quyền của Giáo hội đề xuất, liên quan đến Dân Chúa, cũng như xã hội nói chung. Theo nghĩa này, Bộ Giáo dục Công giáo dấn thân để bảo đảm rằng các tín hữu có thể hoàn thành các nghĩa vụ của họ trong lĩnh vực này, và xã hội nói chung cũng có thể công nhận và bảo vệ các quyền của họ. Trong bối cảnh đó, đối thoại mang tính xây dựng được thực hiện với các tổ chức quốc gia và các tổ chức quốc tế là rất quan trọng.
Đặc biệt, Bộ Giáo dục thiết lập các hướng dẫn cho các trường Công giáo, nhiều trường trong đó được thành lập và điều hành bởi các dòng tu. Nó hỗ trợ các Giám mục Giáo phận trong vai trò giám sát chất lượng dịch vụ mà các trường này cung cấp, việc đào tạo các nhà đào tạo, giáo dục tôn giáo và chăm sóc mục vụ cho học sinh. Ngoài các trường học, Bộ Giáo dục theo dõi các trường đại học Công giáo và hỗ trợ các Giám mục trong việc xây dựng các quy tắc áp dụng Hiến chế Ex corde Ecclesiae – Từ trung tâm của Giáo hội – để họ có thể đồng hành với các cơ sở học thuật này trong việc phát triển các lĩnh vực khác nhau trong khi quan tâm đến nguồn cảm hứng Kitô giáo, và thúc đẩy các hình thức chăm sóc mục vụ khác nhau ở cấp đại học.
Một nhiệm vụ cụ thể khác được giao phó cho Bộ Giáo dục Công giáo liên quan đến các trường Đại học và Học viện nghiên cứu của Giáo hội. Thực hiện Tông Hiến Veritatis Gaudium – Niềm vui Chân lý – được Đức Thánh Cha Phanxicô phê chuẩn vào ngày 8/12/2017, Bộ Giáo dục phê chuẩn các quy chế của các loại tổ chức này, duy trì việc hướng dẫn chặt chẽ đối với chúng để đảm bảo chất lượng của việc giảng dạy giáo lý được cung cấp và để bảo vệ tính toàn vẹn của Đức tin Công giáo.
Đức Hồng y cho biết trên thế giới có khoảng 217 ngàn trường Công giáo, với hơn 60 triệu học sinh; 1.360 trường Đại học Công giáo; có 487 trường Đại học và phân khoa thuộc Giáo hội, bao gồm cả các Học viện liên kết hoặc liên kết với chúng, với khoảng 11 triệu sinh viên theo học tại các cơ sở giáo dục đại học này.
Kinh phí hoạt động của Bộ Giáo dục Công giáo
Như các cơ quan khác của Tòa Thánh, kinh phí hoạt động chính của Bộ Giáo dục Công giáo được tài trợ bởi Tòa Thánh. Đức Hồng y Chủ tịch cho biết chi phí lớn nhất là tiền lương của nhân viên, kế đến là các dịch vụ công nghệ thông tin, là điều hoàn toàn thiết yếu để đồng hành với công việc của các cơ sở giáo dục trên toàn thế giới. Bộ cũng dành chi phí cho việc xuất bản tạp chí và các tài liệu khác của Bộ, cũng như chi phí tham vấn cho công việc được giao cho một nhóm chuyên gia tư vấn. Một phần ngân sách của Bộ được dành cho việc tổ chức các sự kiện đặc biệt – hội nghị, hội thảo nghiên cứu hoặc đại hội được tổ chức cho nhiều trường hợp khác nhau – được trợ cấp một phần bởi các bên thứ ba. Trong sáu năm qua, Bộ cũng cung cấp trụ sở cho Tổ chức Tòa Thánh Gravissimum educationis do Đức Thánh Cha Phanxicô thành lập để hỗ trợ lĩnh vực nghiên cứu và các dự án mới trong lĩnh vực giáo dục. Có bốn người làm việc ở đó.
Hợp tác
Bên cạnh việc hợp tác với nhiều hiệp hội quốc tế của các học giả, trường đại học, phụ huynh và cựu sinh viên, Bộ Giáo dục còn hợp tác chặt chẽ với Phủ Quốc phụ khanh Tòa Thánh, liên hệ với các tổ chức quốc tế như UNESCO, Hội đồng Châu Âu và Liên minh Châu Âu. Các mối quan hệ thường xuyên được duy trì với các tổ chức này thông qua các Quan sát viên của Tòa thánh mà từ đó Bộ Giáo dục nhận được thông tin liên quan đến các chiến lược đã phát triển, các chủ đề nghiên cứu và các sự kiện đang được quảng bá. Trong một số trường hợp cụ thể, ngoài công việc nội bộ của các nhân viên phụ trách các hoạt động này, Bộ còn chọn các chuyên gia có năng lực để gửi đến các cuộc họp, những người đại diện cho quan điểm của Giáo hội và những người tìm hiểu về các định hướng có thể có tác động rõ ràng đến hoạt động của các tổ chức giáo dục Công giáo khi chúng được phát triển.
Hai giải pháp đối phó với ảnh hưởng của đại dịch
Cuối cùng, đề cập đến ảnh hưởng sâu sắc của đại dịch đối với kinh nghiệm học tập ở cấp độ toàn cầu, gây ảnh hưởng xấu đến mạng lưới các mối quan hệ cá nhân và làm nghèo đi các nguồn lực và nguồn hỗ trợ mà các cơ sở giáo dục dựa vào, làm gia tăng và khuếch đại nhiều trường hợp khẩn cấp đã có trước đó và tỏ lộ nhiều trường hợp khác, bao gồm cả lĩnh vực giáo dục, Đức Hồng y Versaldi nhận định rằng chúng ta đang phải đối mặt với một loại “thảm họa giáo dục” do thực tế là khoảng mười triệu trẻ em bị buộc phải nghỉ học. Điều này cộng với 250 triệu trẻ em trong độ tuổi đi học không được tham gia bất kỳ hoạt động giáo dục nào. Giáo dục dựa trên máy tính nhanh chóng được đưa ra để ứng phó với tình huống khẩn cấp này. Nhưng sự chênh lệch rõ rệt về khả năng tiếp cận công nghệ, cùng với những khiếm khuyết khác, đã làm cho sự phân chia giáo dục trở nên rõ ràng hơn ở khắp mọi nơi.
Bộ Giáo dục Công giáo đề nghị hai điều liên quan đến tình trạng này, những điều sẽ không được giải quyết nhanh chóng: một mặt, tình huống khẩn cấp cần được xử lý càng sớm càng tốt bằng các công cụ công nghệ và cập nhật của giáo viên để có thể thực hiện những nỗ lực theo hướng đồng hành với giáo dục để xóa bỏ những sự gạt ra bên lề mới xuất hiện. Mặt khác, cần nỗ lực tạo ra một mô hình văn hóa mới để thay đổi mô hình phát triển hiện tại và áp dụng các mô hình sư phạm có khả năng bảo vệ phẩm giá con người, thúc đẩy các quá trình xã hội hóa đầy đủ trong quan điểm của tình huynh đệ phổ quát, và thúc đẩy phương pháp tiếp cận tri thức xuyên ngành để đào tạo các thế hệ trẻ như những người hoạt động vì công ích.
Hồng Thủy
2021
Đan sĩ cuối cùng của Tibhirine, chứng nhân vụ sát hại 7 tu sĩ Trappist – qua đời ở tuổi 97
Đan sĩ cuối cùng của Tibhirine, chứng nhân vụ sát hại 7 tu sĩ Trappist – qua đời ở tuổi 97
Giáo hội Marốc ở Rabat cho biết, hôm Chúa Nhật 21/11/2021, sau những năm cuối đời sống âm thầm ẩn dật trong tu viện Midelt ở Marốc, đan sĩ Jean-Pierre Schumacher, người Pháp, dòng Trappist, người sống sót cuối cùng trong vụ bắt cóc và thảm sát tàn bạo 7 tu sĩ dòng Trappist tại đan viện Tibhirine ở Algeria vào năm 1996, đã qua đời cách bình an ở tuổi 97.
Cha Jean Pierre Schumacher gặp ĐTC khi ngài thăm Marốc vào tháng 3/2019
Vào đêm ngày 26 rạng ngày 27/3/1996, khi bọn khủng bố vào đan viện, cha Jean-Pierre đang ở trong phòng của mình ở lối vào đan viện nên chúng đã không tìm thấy cha. Đan sĩ Amedée cũng thoát chết vì bọn khủng bố có thông tin rằng có 7 tu sĩ trong đan viện; nhưng trong những ngày đó, có hai vị tu sĩ đến thăm cộng đoàn, nên có tất cả 9 người. Bọn khủng bố đã bỏ đi cùng với 7 tu sĩ đầu tiên mà chúng tìm thấy.
Ngay lúc đó, không ai tưởng tượng được bọn khủng bố sẽ giết họ. Nhiều người nghĩ rằng chúng sẽ trao đổi họ với một số kẻ khủng bố bị bắt làm tù binh. Việc giết hại họ cũng đã gây chấn động một phần xã hội Algeria.
Đan sĩ bề trên cộng đoàn Christian de Chergé và sáu anh em tu sĩ khác đều bị chặt đầu và hai tháng sau người ta phát hiện đầu của họ ở nơi không xa Tibhirine. Tuy nhiên, thi thể của họ không bao giờ được tìm thấy.
Vào tháng 12/2018 đan sĩ Jean-Pierre lần đầu tiên trở lại Algeria để dự lễ phong chân phước cho các tu sĩ cùng dòng và các Kitô hữu tử đạo khác đã bị những kẻ khủng bố sát hại vào những năm 1990.
Vào dịp ra mắt bộ phim “Những người của Chúa” của đạo diễn người Pháp Xavier Beauvois, đan sĩ Jean-Pierre được thế giới chú ý đến. Bộ phim gợi lại sự hiện diện thinh lặng và cầu nguyện của các đan sĩ Tibhirine, một sự hiện diện bị chìm sâu trong bối cảnh xã hội và tôn giáo của nơi này.
Trung thành với Phúc Âm; dấu chỉ của tình yêu và hy vọng
Trong phim đan sĩ Jean-Pierre mới thuật lại những sự kiện của nhhững ngày bi thảm khi cộng đoàn các đan sĩ Tibhirine chọn ở lại Algeria bất chấp những đe doạ của những kẻ khủng bố và sự thù địch từ quân đội. Cha nói: “Đó là sự lựa chọn mà chúng tôi đã cùng nhau thực hiện: ở lại, bất chấp mọi thứ, để tiếp tục là một cộng đồng cầu nguyện bên cạnh những người hàng xóm Hồi giáo của chúng tôi. Chúng tôi không thể rời đi. Sự hiện diện của chúng tôi trong tu viện là một dấu hiệu của lòng trung thành với Phúc âm, với Giáo hội và với người dân Algeria. Chúng tôi không muốn trở thành những người tử vì đạo, nhưng là những dấu chỉ của tình yêu và hy vọng”.
Ngài cũng cho biết ngài thường tự hỏi tại sao mình lại được phép sống sót sau vụ thảm sát và ngài nhận ra rằng Thiên Chúa đã giao cho ngài sứ mệnh làm chứng về các sự kiện của Tibhirine và “làm cho kinh nghiệm hiệp thông với những người anh em Hồi giáo của chúng tôi, điều chúng tôi tiếp tục ở đây trong tu viện Midelt, được biết đến”. (Asia News 22/11/2021)
Hồng Thủy
