2021
Diễn văn của Đức Thánh Cha trước Chính quyền, Xã hội dân sự Và Ngoại Giao đoàn
Chiều 2/12, sau cuộc gặp gỡ riêng với Tổng thống cộng hoà Sýp, Đức Thánh Cha cùng Tổng thống cùng đi đến Phòng Nghi lễ để gặp gỡ các cấp chính quyền dân sự và xã hội và ngoại giao đoàn.
Diễn văn của Đức Thánh Cha trước Chính quyền, Xã hội dân sự Và Ngoại Giao đoàn
Ngài Tổng thống Nước Cộng hòa,
Các thành viên của Chính phủ và ngoại giao đoàn,
Quý lãnh đạo tôn giáo và dân sự,
Các đại diện xã hội và thế giới văn hóa,
Quý bà và quý ông thân mến,
Tôi thân ái chào quý vị, và tôi vui mừng hiện diện nơi đây cùng quý vị. Tôi cảm ơn ngài Tổng thống vì sự chào đón mà ngài thay mặt cho toàn thể người dân đã dành cho tôi. Như một người hành hương, tôi đến một đất nước bé nhỏ về địa lý nhưng vĩ đại về lịch sử; trên một hòn đảo mà qua nhiều thế kỷ đã không làm cho người dân thành ốc đảo, nhưng đã kết nối họ; ở một vùng đất có biên giới là biển; ở nơi đánh dấu cửa ngõ phía Đông với Châu Âu và phía Tây với Trung Đông. Quý vị là một cánh cửa rộng mở, một bến cảng kết nối: Sýp, ngã tư của nền văn minh, mang trong mình ơn gọi bẩm sinh để gặp gỡ, được ngưỡng mộ bởi đặc tính chào đón của người Sýp.
Chúng ta vừa bày tỏ lòng kính trọng đối với vị Tổng thống đầu tiên của đất nước Cộng hòa này, Đức Tổng Giám mục Makarios, và khi thực hiện cử chỉ này, tôi muốn bày tỏ lòng kính trọng đối với tất cả người dân của đất nước. Tên của ông, Makarios, gợi lên lời mở đầu của diễn từ đầu tiên của Chúa Giêsu: Các Mối Phúc (x. Mt 5, 3-12). Ai là makarios, ai thực sự là người có phúc theo đức tin Kitô giáo, vốn gắn liền không thể tách biệt với vùng đất này? Tất cả đều có thể được chúc phúc, và trên hết họ là những người nghèo về tinh thần, những người bị thương tích bởi cuộc sống, những người sống hiền lành và thương xót, những người thực thi công lý và xây dựng hòa bình một cách không giả tạo. Thưa quý vị, Các Mối phúc là hiến chương vĩnh viễn của Kitô giáo. Việc sống Các Mối Phúc cho phép Tin Mừng luôn tươi trẻ và lấp đầy hy vọng cho xã hội. Các Mối Phúc là chiếc la bàn để định hướng, ở mọi vĩ độ, chỉ ra những lộ trình mà người Kitô hữu phải đi trong hành trình cuộc sống.
Chính từ nơi này, nơi Châu Âu và Phương Đông gặp nhau, cuộc hội nhập văn hóa vĩ đại đầu tiên của Tin Mừng trên lục địa này đã bắt đầu và tôi thật cảm động khi đi lại bước chân của các nhà truyền giáo vĩ đại của Giáo hội tiên khởi, đặc biệt là các thánh Phaolô, Barnaba và Máccô. Vì vậy, tôi ở đây, một người hành hương giữa quý vị, để cùng đi với quý vị, những người Sýp thân yêu, tất cả quý vị, với mong ước rằng tin tức tốt lành của Tin Mừng có thể mang đến cho Châu Âu một sứ điệp của niềm vui, ngang qua dấu chỉ của Các Mối Phúc. Thật vậy, điều mà các Kitô hữu đầu tiên đã trao cho thế giới bằng sức mạnh dịu dàng của Thánh Thần là một thông điệp của vẻ đẹp chưa từng có. Đó là sự mới mẻ đáng ngạc nhiên của Các Mối Phúc, dành cho tất cả mọi người, đã thu phục được trái tim và sự tự do của nhiều người. Đất nước này có một di sản đặc biệt theo nghĩa này, như một sứ giả của vẻ đẹp giữa các lục địa. Sýp tỏa sáng với vẻ đẹp trên lãnh thổ của mình, lãnh thổ phải được bảo vệ và giữ gìn bằng các chính sách môi trường thích hợp đã được nhất trí cùng với các nước láng giềng. Vẻ đẹp ấy còn tỏa sáng trong kiến trúc, nghệ thuật, đặc biệt trong nghệ thuật thánh, và trong các nghề thủ công tôn giáo, trong nhiều kho tàng khảo cổ học. Vẽ một bức tranh từ vùng biển bao quanh chúng ta, tôi muốn nói rằng hòn đảo này thật là một viên ngọc trai quý giá giữa lòng Địa Trung Hải.
Thật vậy, một viên ngọc trai trở nên được như vậy bởi vì nó thành hình theo thời gian: phải mất nhiều năm để các lớp khác nhau trở nên rắn chắc và sáng bóng. Vì vậy, vẻ đẹp của vùng đất này bắt nguồn từ nhiều nền văn hóa được gặp gỡ và pha trộn qua nhiều thế kỷ. Ngay cả ngày nay, ánh sáng của Sýp có nhiều góc cạnh: có nhiều dân nhiều nước, với những màu sắc khác nhau, tạo nên gam màu của cộng đồng này. Tôi cũng nghĩ đến sự hiện diện của nhiều người nhập cư, với tỷ lệ đáng kể nhất trong số các quốc gia thuộc Liên minh Châu Âu. Giữ được vẻ đẹp đa sắc tộc, đa diện của tổng thể chẳng hề dễ dàng. Như trong việc hình thành một viên ngọc trai, nó đòi hỏi thời gian và sự kiên nhẫn, nó đòi hỏi một cái nhìn bao quát có khả năng ôm lấy sự đa dạng của nhiều nền văn hóa và hướng về tương lai với tầm nhìn xa. Theo nghĩa này, điều quan trọng là phải bảo vệ và thăng tiến mọi thành phần xã hội, đặc biệt là những nhóm thiểu số theo thống kê. Tôi cũng đang nghĩ đến các thực thể Công giáo khác nhau, khi có được sự công nhận chính thức thích hợp, họ có thể đóng góp cho xã hội thông qua các hoạt động của họ, đặc biệt về giáo dục và bác ái, được xác định rõ ràng theo quan điểm pháp lý.
Một viên ngọc trai hình thành vẻ đẹp của nó trong những hoàn cảnh khó khăn. Nó được sinh ra trong sự tối mờ, khi con hàu “đau đớn” vì bất ngờ gặp phải một đe doạ đến sự an toàn của nó, chẳng hạn như một hạt cát khiến nó khó chịu. Để bảo vệ bản thân, con hàu phản ứng bằng cách đồng hóa mình với những gì làm tổn thương nó: nó ngậm vật lạ và nguy hiểm và biến nó thành vẻ đẹp, thành một viên ngọc trai. Viên ngọc trai của Sýp đã bị mờ đi bởi đại dịch, khiến nhiều du khách không thể đến và chiêm ngưỡng vẻ đẹp của nó. Tại đây, cũng như ở những nơi khác, điều này đã gây nên những hậu quả khủng hoảng kinh tế và tài chính. Tuy nhiên, trong giai đoạn phục hồi này, không phải sự hăng hái phục hồi lại những gì đã mất sẽ đảm bảo cho sự phát triển vững chắc và lâu dài, mà là việc dấn thân thúc đẩy phục hồi xã hội, đặc biệt là ngang qua một cuộc chiến kiên quyết chống tham nhũng và những vết thương làm tổn hại đến phẩm giá con người; ví dụ, tôi nghĩ đến nạn buôn người.
Nhưng vết thương gây đau khổ nhiều nhất cho vùng đất này là do những vết cắt khủng khiếp mà nó đã phải gánh chịu trong những thập kỷ gần đây. Tôi nghĩ đến nỗi đau sâu thẳm của những người không thể trở về nhà và nơi thờ tự của họ. Tôi cầu nguyện cho hòa bình của quý vị, cho hòa bình của toàn bộ hòn đảo, và tôi mong ước điều này bằng tất cả sức lực. Con đường dẫn đến hòa bình, chữa lành những xung đột và tái tạo vẻ đẹp của tình huynh đệ, được đánh dấu bằng một từ: đối thoại, mà Ngài Tổng thống lặp lại nhiều lần. Chính chúng ta phải giúp mình tin tưởng vào sức mạnh kiên nhẫn và ôn hoà của đối thoại, sức mạnh của sự kiên nhẫn “được vác trên vai”, hypomoné, được rút ra từ các Mối Phúc. Chúng ta biết đó không phải là một con đường dễ dàng; nó dài và quanh co, nhưng không có lựa chọn thay thế nào để đạt được sự hòa giải. Chúng ta nuôi dưỡng niềm hy vọng bằng “sức mạnh của những cử chỉ” thay vì hy vọng trong “những cử chỉ của sức mạnh”. Bởi vì có một sức mạnh của những cử chỉ chuẩn bị cho hòa bình: không phải là những cử chỉ quyền lực, đe dọa trả đũa và phô trương quyền lực, mà là những cử chỉ lắng dịu, những bước đối thoại cụ thể. Ví dụ, tôi nghĩ đến sự dấn thân chuẩn bị cho một cuộc thảo luận chân thành đặt nhu cầu của người dân lên hàng đầu, về sự tham gia ngày càng tích cực của cộng đồng quốc tế, về việc bảo vệ di sản văn hóa và tôn giáo, về việc phục hồi tất cả những gì đặc biệt thân thiết đối với mọi người, như những địa điểm hoặc ít nhất là những vật dụng thánh. Về vấn đề này, tôi muốn bày tỏ sự đánh giá cao và khích lệ đối với Nẻo đường tôn giáo trong Dự án Hòa bình Sýp (Religious Track of the Cyprus Peace Project) do Đại sứ quán Thụy Điển thúc đẩy, để vun đắp sự đối thoại giữa các nhà lãnh đạo tôn giáo.
Những thời điểm có vẻ không thuận lợi, khi đối thoại trì trệ, cũng có thể chính là những thời điểm chuẩn bị cho hòa bình. Viên ngọc trai vẫn nhắc nhở chúng ta về điều này, vì nó thành hình được như vậy là nhờ tiến trình kiên nhẫn âm thầm kết thêm chất mới bằng những tác nhân đã làm nó bị thương. Trong những tình huống này, hận thù không được phép lấn át, đừng từ bỏ việc hàn gắn vết thương, đừng quên những hoàn cảnh của những người biến mất. Và khi cảm giác nản lòng xuất hiện, hãy nghĩ đến các thế hệ tương lai, những người mong muốn được thừa hưởng một thế giới hòa bình, hợp tác, gắn kết, không phải là nơi sinh sống của những kẻ thù truyền kiếp và bị ô nhiễm bởi những tranh chấp chưa được giải quyết. Vì thế đối thoại là điều cần thiết, để tránh sự gia tăng nghi ngờ và oán hận. Chúng ta hãy đề cập đến Địa Trung Hải, bây giờ không may là một nơi của xung đột và thảm kịch nhân đạo; trong vẻ đẹp sâu xa của nó, nó là mare nostrum, là biển của tất cả các dân tộc gắn liền với nó, để được kết nối, không bị chia cắt. Sýp, ngã tư địa lý, lịch sử, văn hóa và tôn giáo, là vị trí để thực hiện một hành động hòa bình. Ước mong Sýp trở thành một công trường mở cho hòa bình ở Địa Trung Hải.
Hòa bình thường không nảy sinh từ những nhân vật vĩ đại, mà từ sự quyết tâm hằng ngày, mọi ngày, của những người nhỏ bé. Lục địa châu Âu cần hòa giải và hiệp nhất, cần can đảm và động lực để bước tới. Bởi vì, không phải những bức tường của sợ hãi và loại bỏ bị điều khiển bởi các lợi ích dân tộc chủ nghĩa sẽ giúp cho nó tiến bộ, cũng không phải duy chỉ phục hồi kinh tế sẽ đảm bảo cho an ninh và sự ổn định của nó. Chúng ta hãy nhìn lại lịch sử của Sýp và xem cuộc gặp gỡ và sự chào đón đã mang lại những hoa trái lợi ích lâu dài như thế nào. Sýp không chỉ là “bàn đạp” trên lục địa về lịch sử của Kitô giáo, mà còn về việc xây dựng một xã hội phong phú trong sự hội nhập. Tinh thần rộng mở này, khả năng nhìn vượt ra khỏi biên giới của chính mình sẽ mang lại sự trẻ trung, cho phép quý vị tái khám phá sự sáng rực đã mất.
Đề cập đến Sýp, sách Công vụ tông đồ kể rằng Phaolô và Barnaba đã “đi xuyên qua đảo” để đến Pa-phô (x. Cv 13:6). Tôi thật vui mừng, trong những ngày này, tôi có thể đi xuyên qua lịch sử và linh hồn của vùng đất này, với mong muốn rằng khát vọng hiệp nhất và thông điệp về vẻ đẹp của nó tiếp tục dẫn đường cho nó hướng đến tương lai. O Theós na evloghí tin Kípro! [Xin Chúa chúc lành cho Sýp!]
Văn Yên, SJ
2021
SÁM HỐI
05 02 Tm CHÚA NHẬT II MÙA VỌNG.
Lc 3, 1-6
SÁM HỐI
Chúng ta đang sống trong Mùa Vọng. Mùa Vọng của năm phụng vụ cũng như mùa vọng của cuộc đời chúng ta. Chúng ta không phải chỉ đón nhận việc Chúa đến như một biến cố lịch sử trong đêm Giáng sinh, cũng không phải chỉ đón nhận việc Ngài đến mỗi lần chúng ta lên rước lễ, mà đặc biệt là còn đón nhận việc Ngài đến vào ngày cuối cùng của cuộc đời chúng ta, cũng như vào ngày sau hết của vũ trụ vật chất này.
Trước khi Chúa Giêsu đến với trần gian, Thiên Chúa kêu gọi Gioan Tẩy Giả dọn đường cho Ngài, bằng cách mời gọi mọi người sám hối, và biểu lộ lòng sám hối bằng một nghi thức bên ngoài là rửa tội. Sám hối là nhận ra những tội lỗi, khuyết tật của mình để quyết tâm sửa đổi hầu trở nên tốt lành thánh thiện hơn. Nếu sám hối không dẫn đến tình trạng tốt đẹp hơn, thì sám hối đó chỉ là sám hối hời hợt, ngoài miệng… Nếu thực hiện nghi thức sám hối ở bên ngoài (như rửa tội, xưng tội…) mà trong lòng không thật tâm sám hối thì đó chỉ là việc làm lấy lệ hay giả dối.
Sám hối để đón Chúa đến không chỉ mang tính cá nhân mà còn phải mang tính xã hội nữa. Nghĩa là người thật sự sám hối không chỉ làm cho bản thân mình, tâm hồn mình nên tốt đẹp hơn, mà còn phải tìm cách làm cho tập thể, cộng đoàn hay xã hội của mình nên tốt đẹp nữa.
Việc sám hối ấy căn bản là ở trong nội tâm. Và nếu đó là sám hối thật sự thì nó phải hướng đến hành động, hay tất yếu dẫn đến hành động thật sự. Ngôn sứ Isaia mô tả sự sám hối ấy bằng những hình tượng khác nhau: «Hãy dọn sẵn con đường cho Đức Chúa, sửa lối cho thẳng để Người đi. Mọi thung lũng, phải lấp cho đầy, mọi núi đồi, phải bạt cho thấp, khúc quanh co, phải uốn cho ngay, đường lồi lõm, phải san cho phẳng»
Chúng ta nên thực thi sứ điệp Gioan Tiền Hô đã gởi đến cho người Do Thái bên bờ sông Giócđan, đó là hãy ăn năn sám hối, từ bỏ con đường tội lỗi để quay trở về cùng Chúa. Ông đã thẳng thắn cảnh cáo họ: Hãy sinh hoa trái tốt lành để chứng tỏ cõi lòng sám hối của các ngươi, bằng không thì này đây cái rìu đã được đặt dưới gốc cây. Và cây nào không sinh trái tốt thì sẽ bị chặt và ném vào lửa.
Gioan nhắc lại lời tiên tri Isaia: “Mọi thung lũng, phải lấp cho đầy; khúc quanh co, phải uốn cho ngay; đường lồi lõm, phải san cho phẳng” (Lc 3, 5). Ông kêu gọi mọi người sửa sang đường sá. Nhưng con đường quan trọng chính là đường vào cõi lòng.
Ăn năn hối cải là ý thức rằng chúng ta đang sống trước mặt Thiên Chúa, đêm cũng như ngày, và chúng ta chịu trách nhiệm về tất cả những gì thuộc bản thân ta, cũng như những gì thuộc quyền sở hữu của ta. Mẹ đã đến kêu gọi mọi người thế hãy nghe theo các sứ điệp của Mẹ mà ăn năn hối cải. Sống trong tội quả là điều nguy hiểm! Những tai hoạ ghê gớm đang chờ đợi những kẻ không quay trở về cùng Thiên Chúa. Nhưng Thiên Chúa luôn tha thứ cho ta, dầu tội lỗi đến như thế nào đi nữa. Không có tội nào quá lớn đến nỗi Thiên Chúa không tha thứ được. Tình yêu Thiên Chúa luôn mãi lớn hơn tội lỗi chúng ta.
Tất cả những gì ta có thể làm là nài xin. Đức Mẹ đến để bảo ta nài xin Chúa tha thứ ngay bây giờ. Mẹ nhắc lại cho ta rằng Thiên Chúa không bao giờ từ chối tha thứ cho bất cứ ai xin Người.
Phải lấp cho đầy những hố sâu tham lam ích kỷ hẹp hòi.
Phải uốn cho ngay những lối nghĩ quanh co, tính toán lệch lạc.
Phải san cho phẳng những núi đồi ngạo nghễ của tự mãn, tự kiêu.
Phải bạt cho thấp những gồ ghề lồi lõm của bất công, bất chính.
Nếu sám hối là dọn đường của lòng mình, thì chúng ta hãy dẹp bỏ những chướng ngại của tâm hồn, để Chúa có thể đến và ngự lại trong đó.
Nếu Gioan là ngôn sứ chuẩn bị cho Chúa đến lần đầu, thì chúng ta sẽ là sứ giả chuẩn bị cho Người đến từng ngày trong cuộc sống của anh em.
Thiên Chúa chỉ có thể đến gặp con người trên những con đường ngay thẳng, phẳng phiu. Và ơn cứu độ của Người cũng chỉ ban cho những ai rộng tay đón nhận.
Tất cả mọi kitô hữu đều có trách nhiệm biến cải giáo hội và xã hội nên tốt hơn, nghĩa là phải sửa sai, phải thay đổi những gì chưa đúng, hoặc có hại trong giáo hội và xã hội. Trong dân gian có câu: «Giặc đến nhà, đàn bà phải đánh», hay «quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách» (kẻ kém cỏi nhất trong đất nước cũng có trách nhiệm về sự thịnh suy của đất nước).
Cũng thế, mọi kitô hữu dù là giáo dân hay linh mục tu sĩ, là người thất học hay trí thức đều có trách nhiệm đối với sự phát triển hay suy thoái của giáo hội và xã hội. Những kitô hữu tỏ ra vô tâm, vô tình, vô trách nhiệm đối với tha nhân, với xã hội, đất nước, thế giới, với giáo hội địa phương, cũng như với giáo hội hoàn vũ, cần phải suy xét lại thái độ vô tình ấy của mình. Rất có thể ta chưa phải là kitô hữu đích thực, chưa có đủ tình yêu đối với tha nhân, một phẩm tính căn bản của người kitô hữu.
Cuộc gặp gỡ Thiên Chúa đích thực nào cũng kêu mời con người phải ăn năn, phải thống hối, có nghĩa là kêu mời con người trở về với Thiên Chúa. Vì thế, sau thời gian vào hoang địa để gặp gỡ Thiên Chúa, để biết rõ con người và nếp sống thật của mình, thánh Gioan tẩy giả hướng dẫn chúng ta trở về cuộc sống hằng ngày, xuyên qua dòng sông Jordan để lãnh nhận phép rửa thống hối là dấu chỉ bên ngoài của một quyết định nội tâm dứt khoát trở về với Chúa. Một Thiên Chúa từ thuở tạo thiên lập địa đã luôn gắn liền lời nói với hành động.
Vì thế, công cuộc thống hối đúng nghĩa của con người không thể chỉ diễn ra bằng lời nói: “Tôi thú nhận cùng Thiên Chúa và cùng anh chị em, tôi đã phạm tội nhiều trong tư tưởng, lời nói và việc làm…”, nhưng phải kèm theo những hành động cụ thể, những hành động cụ thể này đã được thánh Gioan loan báo hôm nay: “Hãy dọn đường Chúa đến”. Hãy sửa đường cong queo của tinh thần vô trách nhiệm, của lòng ích kỷ, của tính hay mánh mung lừa đảo bằng những con đường ngay thẳng của tinh thần liên đới, chia sẻ, thật thà, biết tôn trọng sự thật. Hãy lấp mọi hố sâu của chia rẽ hận thù, của thiên kiến nghi kỵ bằng sự khoan dung tha thứ, bằng sự tin tưởng thiện chí và tin tưởng vào khả năng của nhau. Hãy bạt mọi núi đồi của lòng kiêu hãnh, của óc địa phương bằng tinh thần khiêm nhu, và biết đặt công ích lên trên quyền lợi của cá nhân, quyền lợi của đảng phái. Hãy san bằng những con đường bi quan yếm thế của những thất vọng, của những ngày đen tối, của những lỗi lầm trong quá khứ bằng những cái nhìn tích cực, lạc quan tràn đầy hy vọng nơi chính mình, nơi kẻ khác và nơi cuộc sống.
Đó là những hành động cụ thể, những điều kiện cần phải thực hiện trong ngày Chúa đến, thực hiện trong ngày giải phóng và cứu rỗi của Người, xây dựng trên công lý, hiệp nhất hòa bình và tình thương giữa lòng xã hội của ngày hôm nay.
Thật thế, điều quan trọng để đón Chúa đến là phải có tinh thần sám hối. Nhưng tinh thần sám hối đích thực thì luôn phải được thể hiện thành hành động, nghĩa là nó phải dẫn đến sự chừa cải, tu sửa, cải thiện… Nói khác đi, có gì sai thì phải sửa cho đúng, xấu thì sửa cho tốt, cho đẹp, cong thì thành thẳng, gồ ghề thành phẳng, cao thì bạt xuống, thấp phải đôn lên… Việc sám hối và tu sửa phải được thực hiện không chỉ nơi cá nhân mà còn trong giáo hội và xã hội.
2021
Chúa Nhật Tuần II – Mùa Vọng
Chúa Nhật Tuần II – Mùa Vọng
Ca nhập lễ
- Is 30,19.30
Này dân Xi-on hỡi,
Chúa sắp ngự đến cứu độ muôn dân.
Người sẽ lên tiếng thật oai hùng,
khiến tâm hồn anh em hoan hỷ.
Không đọc kinh Vinh Danh
Lời nguyện nhập lễ
Lạy Thiên Chúa toàn năng ái tuất, xin đừng để chúng con mải mê thế sự, chẳng còn hăm hở đi đón mừng Con Chúa, nhưng xin dạy chúng con biết ham thích những sự trên trời, hầu được cùng Người vui hưởng phúc trường sinh. Người là Thiên Chúa hằng sống và hiển trị cùng Chúa, hiệp nhất với Chúa Thánh Thần đến muôn thuở muôn đời.
Bài đọc 1
Br 5,1-9
Thiên Chúa sẽ cho thấy hào quang rực rỡ của ngươi.
Bài trích sách Ba-rúc.
1Hỡi Giê-ru-sa-lem, hãy cởi bỏ áo tang khổ nhục,
và mặc lấy ánh vinh quang vĩnh cửu
Thiên Chúa ban cho ngươi ;
2hãy khoác vào mình áo choàng công chính của Thiên Chúa ;
và đội lên đầu triều thiên vinh quang
Đấng Vĩnh Hằng ban tặng.
3Vì Thiên Chúa sẽ cho khắp cả hoàn cầu
thấy hào quang rực rỡ của ngươi.
4Mãi mãi Người sẽ gọi ngươi
là “Bình an xây dựng trên công chính”,
và “Vinh quang phát xuất từ lòng kính sợ Thiên Chúa”.
5Vùng lên, Giê-ru-sa-lem hỡi,
hãy đứng ở nơi cao, và hướng nhìn về phía đông :
Kìa xem con cái ngươi từ đông sang tây tụ họp về
theo lời Đấng Thánh đã truyền dạy.
Được Thiên Chúa nhớ đến, chúng hớn hở mừng vui.
6Xưa chúng bị quân thù áp giải,
phải rời ngươi, không xe không ngựa.
Nay Thiên Chúa lại đưa chúng trở về với ngươi,
chúng được kiệu đi vinh quang rực rỡ, khác chi một ngai vàng.
7Vì Thiên Chúa đã ra lệnh phải bạt thấp núi cao
và gò nổng có tự lâu đời,
phải lấp đầy thung lũng cho mặt đất phẳng phiu,
để Ít-ra-en tiến bước an toàn
dưới ánh vinh quang của Thiên Chúa.
8Theo lệnh của Thiên Chúa, rừng xanh và đủ loại quế trầm
sẽ toả bóng che rợp Ít-ra-en,
9vì Thiên Chúa sẽ dẫn Ít-ra-en đi trong hoan lạc,
dưới ánh sáng vinh quang của Chúa,
cùng với lòng từ bi và sự công chính của Người.
Đáp ca
Tv 125,1-2ab.2cd-3.4-5.6 (Đ. c.3)
Đ.Việc Chúa làm cho ta, ôi vĩ đại !
Ta thấy mình chan chứa một niềm vui.
1Khi Chúa dẫn tù nhân Xi-on trở về,
ta tưởng mình như giữa giấc mơ.
2abVang vang ngoài miệng câu cười nói,
rộn rã trên môi khúc nhạc mừng.
Đ.Việc Chúa làm cho ta, ôi vĩ đại !
Ta thấy mình chan chứa một niềm vui.
2cdBấy giờ trong dân ngoại, người ta bàn tán :
“Việc Chúa làm cho họ, vĩ đại thay !”
3Việc Chúa làm cho ta, ôi vĩ đại !
Ta thấy mình chan chứa một niềm vui.
Đ.Việc Chúa làm cho ta, ôi vĩ đại !
Ta thấy mình chan chứa một niềm vui.
4Lạy Chúa, xin dẫn tù nhân chúng con về,
như mưa dẫn nước về suối cạn miền Nam.
5Ai nghẹn ngào ra đi gieo giống,
mùa gặt mai sau khấp khởi mừng.
Đ.Việc Chúa làm cho ta, ôi vĩ đại !
Ta thấy mình chan chứa một niềm vui.
6Họ ra đi, đi mà nức nở, mang hạt giống vãi gieo ;
lúc trở về, về reo hớn hở, vai nặng gánh lúa vàng.
Đ.Việc Chúa làm cho ta, ôi vĩ đại !
Ta thấy mình chan chứa một niềm vui.
Bài đọc 2
Pl 1,4-6.8-11
Anh em hãy nên tinh tuyền, đừng làm gì đáng trách, trong khi chờ đợi ngày Đức Ki-tô quang lâm.
Bài trích thư của thánh Phao-lô tông đồ gửi tín hữu Phi-líp-phê.
4 Thưa anh em, tôi luôn vui sướng mỗi khi cầu nguyện cho anh em hết thảy, 5 vì từ buổi đầu cho đến nay, anh em đã góp phần vào việc rao giảng Tin Mừng. 6 Tôi tin chắc rằng : Đấng đã bắt đầu thực hiện nơi anh em một công việc tốt lành như thế, cũng sẽ đưa công việc đó tới chỗ hoàn thành cho đến ngày Đức Ki-tô Giê-su quang lâm. 8 Có Thiên Chúa làm chứng cho tôi : tôi hết lòng yêu quý anh em tất cả, với tình thương của Đức Ki-tô Giê-su. 9 Điều tôi khẩn khoản nài xin, là cho lòng mến của anh em ngày thêm dồi dào, khiến anh em được ơn hiểu biết và tài trực giác siêu nhiên, 10 để nhận ra cái gì là tốt hơn. Tôi cũng xin cho anh em được nên tinh tuyền và không làm gì đáng trách, trong khi chờ đợi ngày Đức Ki-tô quang lâm. 11 Như thế, anh em sẽ đem lại hoa trái dồi dào là sống một đời công chính nhờ Đức Giê-su Ki-tô, để tôn vinh và ngợi khen Thiên Chúa.
Tung hô Tin Mừng
Lc 3,4.6
Ha-lê-lui-a. Ha-lê-lui-a. Hãy dọn sẵn con đường cho Đức Chúa, sửa lối cho thẳng để Người đi. Hết mọi người phàm sẽ thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa. Ha-lê-lui-a.
Tin Mừng
Lc 3,1-6
Hết mọi người phàm sẽ thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa.
✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.
1 Năm thứ mười lăm dưới triều hoàng đế Ti-bê-ri-ô, thời Phong-xi-ô Phi-la-tô làm tổng trấn miền Giu-đê, Hê-rô-đê làm tiểu vương miền Ga-li-lê, người em là Phi-líp-phê làm tiểu vương miền I-tu-rê và Tra-khô-nít, Ly-xa-ni-a làm tiểu vương miền A-bi-lên, 2 Kha-nan và Cai-pha làm thượng tế, có lời Thiên Chúa phán cùng ông Gio-an, con ông Da-ca-ri-a, trong hoang địa. 3 Ông đi khắp vùng ven sông Gio-đan, rao giảng kêu gọi người ta chịu phép rửa tỏ lòng sám hối để được ơn tha tội, 4 như có lời chép trong sách ngôn sứ I-sai-a rằng : Có tiếng người hô trong hoang địa : Hãy dọn sẵn con đường cho Đức Chúa, sửa lối cho thẳng để Người đi. 5 Mọi thung lũng, phải lấp cho đầy, mọi núi đồi, phải bạt cho thấp, khúc quanh co, phải uốn cho ngay, đường lồi lõm, phải san cho phẳng. 6 Rồi hết mọi người phàm sẽ thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa.
Ðọc kinh Tin Kính
Lời nguyện tiến lễ
Lạy Chúa, xin vui lòng chấp nhận của lễ và những lời chúng con khiêm tốn nài van. Thật chúng con chẳng có công trạng gì, chỉ trông chờ lượng từ bi ban ơn trợ giúp. Chúng con cầu xin …
Lời tiền tụng
Lạy Chúa là Cha chí thánh, là Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, chúng con tạ ơn Chúa mọi nơi mọi lúc, nhờ Ðức Ki-tô, Chúa chúng con, thật là chính đáng, phải đạo và đem lại ơn cứu độ cho chúng con.
Khi ngự đến lần thứ nhất, mặc lấy thân xác yếu hèn, Người đã thực hiện hồng ân mà Chúa dự định từ xưa/ và mở đường cứu độ đời đời cho chúng con: để khi Người đến lần thứ hai trong uy linh, nhờ hồng ân bấy giờ được tỏ hiện, chúng con sẽ lãnh nhận điều Chúa đã hứa/ mà ngày nay chúng con đang tỉnh thức vững dạ đợi chờ.
Vì thế cùng với các Thiên thần và tổng lãnh thiên thần, các Bệ thần và Quản thần, cùng toàn thể đạo binh thiên quốc, chúng con không ngừng hát bài ca chúc tụng vinh quang Chúa rằng:
Thánh! Thánh! Thánh! …
Ca hiệp lễ
Br 5,5 ; 4,36
Vùng lên, Giê-ru-sa-lem hỡi !
Đứng trên nơi cao mà nhìn :
Kìa Thiên Chúa đem hoan lạc đến cho ngươi.
Lời nguyện hiệp lễ
Lạy Chúa, Chúa đã cho chúng con được tham dự mầu nhiệm thánh và Chúa đã lấy bánh bởi trời mà nuôi dưỡng chúng con. Giờ đây xin Chúa thương dạy dỗ, để chúng con hằng khôn ngoan sáng suốt cân nhắc những thực tại trần gian, và luôn thiết tha với những thực tại bền vững trên trời. Chúng con cầu xin …
2021
YÊU THƯƠNG PHỤC VỤ
04 01/11 Tm Thứ Bảy Tuần I Mùa Vọng.
(Tr) Thánh Gioan thành Đa-mát, Linh mục, Tiến sĩ Hội Thánh.
Mt 9, 35 10,1.6-8
YÊU THƯƠNG PHỤC VỤ
Lễ nhớ thánh Jean Damascène được mừng vào ngày Giáo Hội Byzantin cử hành lễ an táng ngài, diễn ra trong tu viện Thánh Sabas, gần Giêrusalem, có lẽ là ngày 4 tháng 12 năm 750. Lễ nhớ này được đưa vào lịch Rôma năm 1890. Trước cuộc cải cách phụng vụ, lễ này được mừng ngày 27 tháng 3, là ngày kỷ niệm Đức Giáo Hoàng Lêô XIII tuyên phong thánh Jean Damascène làm tiến sĩ Hội Thánh.
Ngài sinh ở Đamas khoảng năm 650, trong một gia đình Ả Rập theo Kitô giáo. Ngài còn có tên là Mansour giống như tên ông nội ngài, một viên chức cao cấp trong triều đình. Khi cha mất, ngài thay cha trông coi công việc tài chính của hoàng cung. Nhưng đến năm 710, ngài lui về sống đời đan tu trong tu viện Thánh Sabas, một loại tu viện – pháo đài nằm giữa Bethlehem và Giêrusalem.
Được thụ phong linh mục do giáo chủ Giêrusalem là Đức Gioan V, từ đó ngài chỉ chuyên chăm cầu nguyện, rao giảng và viết các tác phẩm thần học, cho tới khi ngài đột ngột qua đời tại tu viện Thánh Sabas khoảng năm 750, hưởng thọ khoảng một trăm tuổi. Ít năm sau, công đồng bài trừ ảnh tượng (iconoclaste) năm 754 ra vạ tuyệt thông cho ngài, nhưng về sau ngài sẽ được phục hồi ở Công đồng chung thứ bảy, năm 787.
Công lao to lớn của thánh Jean Damascène là đã bảo vệ việc tôn kính ảnh tượng chống lại hoàng đế Byzantin là Lêô III người Isaurien (717-740), là người đã liên minh với phe bài bác ảnh tượng thánh để phát động cuộc tranh luận về Ảnh tượng thánh (726). Ngài cũng đã anh dũng đối đầu với hoàng tử kế vị Lêô III là Constantinô V. Ba Luận văn Hộ giáo (726-730) của ngài là một sự biện hộ hùng hồn cho việc tôn kính ảnh tượng và chứng tỏ cho thế giới Kitô giáo thấy tài năng của một nhà thần học và nhà hộ giáo lỗi lạc.
Nhưng tác phẩm chính của thánh nhân là Ngọn Nguồn Tri Thức, một tổng luận thần học đầu tiên. Vào thời Trung cổ, tác phẩm này được dùng làm sách giáo khoa ở phương Đông, còn ở phương Tây, tác phẩm này được dịch sang tiếng la-tinh đã giúp ích rất nhiều cho công việc của thánh Thomas Aquin và các nhà thần học kinh viện.
Thánh Jean Damascène được mệnh danh là Chrysorrhoas (nghĩa là Giòng Sông vàng) vì những thiên khiếu phi thường của ngài về thần học và thi thơ, “óng ánh như vàng, rực chiếu trong lời giảng dạy cũng như trong đời sống của ngài.”
Khoa tranh ảnh thánh vẽ hình thánh nhân được Đức Mẹ chữa lành bàn tay phải mà hoàng đế bài bác ảnh thánh Lêô III – theo truyền thuyết – đã chặt đứt của ngài.
Suốt dọc dài theo năm tháng qua dòng thời gian, ngay từ thời Cựu ước các Ngôn sứ đã loan báo về Đấng Thiên sai sẽ xuất hiện và người ta hằng mong chờ Vị Cứu Chúa đến giải thoát dân. Khi Đấng Cứu Thế đến với muôn dân, Ngài đã giải thoát dân khỏi ách nô lệ tội lỗi, thiết lập triều đại Thiên Chúa và chuẩn bị cho nhóm Tông đồ thân cận tiếp tục cộng tác vào công cuộc Người đang thực hiện. Cứ thế Tin mừng được loan truyền khắp cùng cõi đất và cho đến ngày nay Tin mừng đó được lan rộng. Lời Chúa trong Tin mừng của Thánh Mattheu hôm nay thuật lại việc Chúa trao ban sứ vụ của Ngài cho các Tông đồ, để các ngài tiếp tục loan truyền tin vui cho nhân loại.
Sau khi rao giảng khắp các thành thị, làng mạc, giảng dạy trong khắp các hội đường và làm nhiều phép lạ, chữa nhiều người đau yếu, tật nguyền… Đức Giê-su thấy đám đông dân chúng vất vưởng, không người hướng dẫn, Ngài đã biểu lộ tình thương của mình đối với họ bằng việc ân cần giảng dạy và chữa lành cho họ ; đồng thời Ngài cũng nhận thấy họ cần có những mục tử tốt lành để hướng dẫn họ. Trước nhu cầu đó, Ngài gọi nhóm mười hai ban cho các ông quyền trừ quỷ, chữa bệnh và sai các ông đến với họ, đồng hành và hướng dẫn họ.
Đây cũng là lời mời gọi mà Chúa Giêsu muốn chúng ta tham dự vào sứ mạng đem Tin mừng đến cho mọi người.
Khi trao cho các Tông đồ sứ mạng chăm sóc đàn chiên thì chính Chúa Giê-su đã nêu gương trước trong việc làm này. Ngài không nề hà đến với từng người bằng việc giảng dạy, Ngài yêu thương cúi xuống trên họ để chữa lành, trừ quỷ cho họ. Sau đó, Ngài mời gọi các Tông đồ cộng tác với Ngài trong việc chăm sóc đàn chiên, giảng dạy cho họ cũng như chữa lành cho họ. Ngài trao cho các ông nhiệm vụ rao giảng Nước trời và để việc loan báo có hiệu quả thì Ngài cũng ban cho họ khả năng: “Được quyền trên các thần ô uế, để các ông trừ chúng và chữa hết các bệnh hoạn tật nguyền”.
Lãnh nhận năng quyền từ Chúa Giêsu, các ông được sai đến với: “Các con chiên lạc nhà Ít-ra-el” đi đến với các dân ngoại, rao giảng về một Nước Trời đang đến gần. Hơn nữa, Chúa Giêsu hướng dẫn, chỉ bảo các ông khi tiếp nối công việc của Ngài, để việc rao giảng của các Tông đồ đạt hiệu quả thì khi làm việc cần có tấm lòng nhân hậu của người mục tử: “Anh em đã được cho không thì cũng phải cho không như vậy”.
Chúa Giêsu đã đến trần gian, khai mở triều đại Thiên Chúa, quy tụ mọi người vào trong vương quốc của ngài. Ngài muốn mọi người tiếp tục công việc này nên Ngài trao ban sứ vụ không chỉ cho riêng các Tông đồ mà ngài còn mời gọi tất cả chúng ta nỗ lực xây dựng vương quốc của triều đại này ngày càng lớn mạnh. Ngài mời gọi mọi người giới thiệu chân dung của một Thiên Chúa đầy lòng yêu thương, để mọi người nhận biết sự hiện diện yêu thương và tốt lành của Thiên Chúa. Ngài ước mong không một ai bị loại ra khỏi Nước Trời là nơi vinh quang Chúa hiển trị. Ngài muốn chúng ta cùng chia sẻ sứ vụ rao giảng cho mọi người, quảng đại phục vụ mọi người, nhất là những người nghèo khổ bị bỏ rơi. Chính Chúa Giêsu đã quảng đại và dành nhiều ưu ái cho những kẻ bé mọn thì chúng ta chẳng có lý do gì để từ chối nên giống Chúa trong việc phục vụ tha nhân.
Thư chung của Hội đồng Giám mục Việt Nam công bố ngày 01/05/2011 giúp chúng ta nhìn ra phương thức mới, cũng như biên cương mới của sứ vụ thần linh này trong việc nên giống Chúa và cũng là lời đáp trả cho lời mời gọi của Chúa Giêsu: “Theo gương Chúa Giêsu, Giáo Hội tại Việt Nam cần quan tâm đặc biệt đến những dân tộc ít người là những anh chị em còn phải chịu nhiều thiệt thòi về kinh tế, xã hội cũng như văn hóa. Các bệnh nhân, những người tàn tật, già yếu, neo đơn, mồ côi, những thiếu nữ lầm lỡ, các tù nhân… cũng là những thành phần cần được chăm sóc nhiều hơn trong các hoạt động mục vụ.
Các cộng đoàn Kitô hữu cần tìm cách thể hiện tình yêu thương phục vụ họ cách cụ thể, đồng hành với họ trong những khó khăn của đời sống, giúp họ nhận ra được niềm vui của đức …”. Chúng ta cũng được mời gọi: “Nhận ra những hình thức mới của sự nghèo khổ, bén nhạy trước những đổi thay của xã hội để kịp thời đáp ứng dưới sự thúc đẩy của Chúa Thánh Thần. Việc đối thoại với người nghèo giúp cho Giáo Hội học được cách nhìn của Đức Kitô, khám phá nơi con người nhu cầu cần được yêu thương và tôn trọng chứ không chỉ là được ban phát của cải vật chất” (Số 41, Thư chung của Hội đồng Giám mục Việt Nam năm 2011)
Sứ mạng mà Chúa Giêsu trao ban cho các Tông đồ xưa kia cũng chính là lời mời gọi mỗi người chúng ta trong cuộc sống hôm nay. Trước những nhu cầu của anh chị em trong cộng đoàn giáo xứ chúng ta, những người ta gặp gỡ trong cuộc sống hàng ngày, xin Chúa cho chúng ta luôn ý thức lời mời gọi của Chúa để luôn nhiệt thành với việc giới thiệu Chúa cho người khác bằng chính đời sống của mình.
