2021
Thánh lễ tại Thính phòng Megaron
Thánh lễ tại Thính phòng Megaron
Vào lúc 16 giờ, Chúa nhật 05/12, từ Toà Sứ thần, Đức Thánh Cha di chuyển bằng xe đến Thính phòng Megaron cách Toà Sứ thần 4,3 km để cử hành Thánh lễ.
Thính phòng Megaron
Thính phòng Megaron được coi là di sản văn hóa quốc gia, ngôi đền của âm nhạc và các hoạt động văn hóa, giáo dục của thủ đô Hy Lạp. Tọa lạc trên đại lộ Vasilissis Sofias, ra đời vào những năm 70 từ ý tưởng của một số trí thức khai sáng như Alexandra Trianti và Christos Lambrakis. Nhờ sự giúp đỡ của một số nhà tài trợ, trong đó có nhà soạn nhạc và nhạc trưởng, Dimitris Mitropoulos, thính phòng được giao cho các kiến trúc sư và kỹ sư giỏi nhất của Hy Lạp và châu Âu chuyên về âm học. Thính phòng được khánh thành vào năm 1991 bởi Tổng thống Cộng hòa Kōnstantinos Karamanlīs, và được mở rộng dần với các phòng đa chức năng, không gian ngoài trời cho các hoạt động văn hóa, một thư viện âm nhạc uy tín với khoảng 10.000 bản ghi âm của các nhà soạn nhạc, các bộ sưu tập âm nhạc truyền thống và quý hiếm, một trung tâm quốc tế cho Hội nghị, phòng diễn tập và ghi âm, và không gian triển lãm. Ở thính phòng này, âm nhạc cổ điển và opera là lĩnh vực chính, được lồng ghép bởi thế giới đương đại của các nghệ sĩ từ khắp nơi trên thế giới, kết hợp với sân khấu, điện ảnh, khiêu vũ. Dàn nhạc ở nơi cư trú, Dàn nhạc Quốc gia Athen.
Thánh lễ
Tại Thính phòng Megaron, Đức Thánh Cha cử hành Thánh lễ theo phụng vụ Chúa nhật II Mùa Vọng. Nghi thức Thánh lễ bằng tiếng latinh, hai bài đọc và Tin Mừng bằng tiếng Hy Lạp.
Sau đây là bài giảng của Đức Thánh Cha:
Vào Chúa nhật thứ hai Mùa Vọng này, Lời Chúa giới thiệu cho chúng ta khuôn mặt của Thánh Gioan Tẩy Giả. Tin Mừng nhấn mạnh hai điều quan trọng: nơi Gioan hiện diện, đó là hoang địa, và nội dung sứ điệp của Thánh Gioan, đó là sám hối. Hoang địa và sám hối: Tin Mừng hôm nay nhấn mạnh nhiều lần những lời này để làm cho chúng ta hiểu rằng những lời này liên quan trực tiếp đến chúng ta. Chúng ta hãy đón nhận cả hai.
Chúa đến không theo cách con người nghĩ
Hoang địa. Thánh sử Luca giới thiệu nơi này một cách cụ thể. Ngài nói về những hoàn cảnh trang trọng và những nhân vật vĩ đại của thời đó. Ngài đề cập đến năm thứ 15 của hoàng đế Tibêriô, tổng trấn Phongxiô Philatô, vua Hêrôđê và các “nhà lãnh đạo chính trị” khác của thời đó. Sau đó, Thánh Luca nhắc đến những vị lãnh đạo tôn giáo Khanan và Caipha, những người đang phục vụ Đền thờ Giêrusalem (Lc 3,1-2). Đến đây, Thánh Luca tuyên bố: “Lời Thiên Chúa phán cùng ông Gioan trong sa mạc” (Lc 3,2). Nhưng Lời đó đến bằng cách nào? Chúng ta đã mong đợi Lời Chúa sẽ được nói với một trong những nhân vật nổi danh vừa được kể đến. Thay vào đó, một điều trớ trêu tinh tế xuất hiện nơi những dòng Tin Mừng: từ vị trí trên cao của những người quyền bính, lại bất ngờ xuất hiện trong hoang địa một người vô danh, đơn độc. Thiên Chúa làm chúng ta ngạc nhiên. Đường lối Người làm chúng ta ngạc nhiên vì nó khác với sự mong đợi của con người chúng ta; chúng không phản ánh sức mạnh và sự vĩ đại mà chúng ta dựa vào. Thiên Chúa ưa thích sự nhỏ bé và khiêm nhường. Ơn cứu độ không bắt đầu từ Giêrusalem, Athens hay Roma, nhưng trong hoang địa. Cách tiếp cận nghịch lý này mang đến cho chúng ta một thông điệp rất đẹp: quyền bính, học thức và nổi tiếng không có gì bảo đảm làm đẹp lòng Chúa, vì những điều này có thể dẫn đến kiêu ngạo và từ chối Người. Thay vào đó, cần phải có cái nghèo nội tâm, nghèo như hoang địa.
Chúa đến với chúng ta trong những lúc thử thách
Chúng ta hãy suy nghĩ thêm về nghịch lý của hoang địa. Gioan Tẩy Giả – Vị Tiền hô – chuẩn bị sự xuất hiện của Đấng Kitô tại một nơi khó tiếp cận và đầy nguy hiểm. Ngày nay, nếu ai đó muốn đưa ra một loan báo quan trọng, người này thường đến những địa điểm ấn tượng, nơi có nhiều người, nơi có thể được nhìn thấy rõ. Trái lại, Gioan rao giảng trong hoang địa. Chính ở nơi đó, nơi khô cằn, trong không gian trống vắng và nơi hầu như không có sự sống, ở đó vinh quang của Chúa được tỏ bày, như lời Kinh Thánh đã tiên báo (Is 40, 3-4), Thiên Chúa biến hoang địa thành hồ ao, đất khô cằn thành mạch nước dồi dào (Is 41,18). Và một thông điệp đáng khích lệ khác: Thiên Chúa, nay cũng như xưa, hướng mắt nhìn đến bất cứ nơi nào có nhiều nỗi buồn và cô đơn. Chúng ta có thể trải nghiệm điều đó trong cuộc sống. Chúa thường không đến được với chúng ta khi chúng ta đang ở giữa những tiếng vỗ tay và chỉ nghĩ đến mình, nhưng Chúa đến với chúng ta trong những lúc thử thách. Người đến thăm chúng ta trong những hoàn cảnh khó khăn, lấp đầy khoảng trống nội tâm của chúng ta khi chúng ta để chỗ cho Người, trong những sa mạc hiện sinh của chúng ta.
Sa mạc tâm hồn là nơi Chúa tỏ hiện
Anh chị em thân mến, trong cuộc sống của chúng ta với tư cách là cá nhân hay quốc gia, không thiếu những giây phút chúng ta có cảm tưởng như đang ở trong sa mạc. Và đây chính là nơi Thiên Chúa tỏ hiện. Chúa thường không đến với những ai cảm thấy mình thành công, nhưng đến với những người cảm thấy mình không thể làm gì được. Và Người đến với những lời gần gũi, trắc ẩn và dịu dàng: “Đừng sợ hãi: có Ta ở với ngươi. Đừng nhớn nhác: Ta là Thiên Chúa của ngươi. Ta cho ngươi vững mạnh, Ta lại còn trợ giúp với tay hữu toàn thắng của Ta”(Is 41, 10). Bằng cách rao giảng trong sa mạc, Thánh Gioan đảm bảo với chúng ta rằng Chúa đến để giải thoát chúng ta và ban lại sự sống cho chúng ta trong những hoàn cảnh tưởng chừng như không thể cứu vãn, không có lối thoát. Do đó, không có nơi nào mà Chúa không muốn đến viếng thăm. Và hôm nay chúng ta không thể không cảm nhận niềm vui khi thấy Người chọn sa mạc, để đến với chúng ta trong sự nhỏ bé của chúng ta để yêu thương, và trong sự khô cằn của chúng ta để làm dịu cơn khát! Anh chị em thân mến, đừng sợ sự nhỏ bé, vì nhỏ bé không phải là vấn đề, miễn là chúng ta mở lòng với Chúa và với tha nhân. Và đừng sợ sự khô khan, bởi vì Thiên Chúa không sợ điều này, ở đó, trong sự khô khan Chúa đến thăm chúng ta!
Bây giờ chúng ta hãy chuyển sang điều thứ hai, sám hối. Thánh Gioan Tẩy Giả đã rao giảng điều đó không ngừng và với cung giọng mạnh mẽ (Lc 3, 7). Đây cũng là một chủ đề “khó chịu”. Cũng như sa mạc không phải là nơi đầu tiên chúng ta muốn đến, thì lời mời sám hối chắc chắn không phải là lời đề nghị đầu tiên mà chúng ta muốn nghe. Nói về sám hối có thể khơi dậy nỗi buồn; nó dường như khó hòa hợp với Tin Mừng của niềm vui. Nhưng điều này xảy ra khi chúng ta cho rằng sám hối đơn giản chỉ sự phấn đấu của chúng ta để nên hoàn thiện về mặt đạo đức, như thể đó là điều chúng ta có thể đạt được nhờ nỗ lực của chính chúng ta. Vấn đề nằm ở chỗ: chúng ta nghĩ mọi thứ tuỳ thuộc vào chúng ta. Và điều này dẫn đến nỗi buồn và thất vọng tinh thần. Vì chúng ta muốn sám hối, trở nên tốt hơn, vượt qua những lỗi lầm và thay đổi, nhưng chúng ta cảm thấy mình không đủ khả năng và mặc dù có thiện chí, chúng ta lại luôn vấp ngã. Chúng ta có kinh nghiệm giống Thánh Phaolô, chính từ vùng đất này, ngài đã viết: “Muốn sự thiện thì tôi có thể muốn, nhưng làm thì không. Sự thiện tôi muốn thì tôi không làm, nhưng sự ác tôi không muốn, tôi lại cứ làm”(Rm 7, 18-19). Như thế, tự mình, chúng ta không có khả năng làm điều tốt chúng ta muốn, vậy có nghĩa gì khi chúng ta phải sám hối?
Sám hối: suy nghĩ vượt lên trên
Ở đây ngôn ngữ đẹp của anh chị em, ngôn ngữ Hy Lạp có thể giúp chúng ta hiểu động từ “sám hối”, metanoéin. Động từ này bao gồm metá, có nghĩa là vượt lên trên, và noéin có nghĩa là suy nghĩ. Như vậy, sám hối có nghĩa là suy nghĩ vượt lên trên, nghĩa là vượt lên trên những suy nghĩ thông thường của chúng ta, vượt ra ngoài thế giới quan thông thường của chúng ta. Tất cả những lối suy nghĩ đó làm giảm đi mọi thứ cho chính chúng ta, cho niềm tin của việc thấy mình tự đủ của chúng ta. Hoặc những lối suy nghĩ tự cho mình là trung tâm được đánh dấu bằng sự cứng nhắc và sợ hãi làm tê liệt, bởi sự cám dỗ nói “chúng tôi luôn làm theo cách này”, bởi ý tưởng rằng sa mạc của cuộc sống là nơi chết chóc, và không có sự hiện diện của Chúa.
Khi khuyến khích chúng ta sám hối, Thánh Gioan mời gọi chúng ta vượt ra ngoài nơi chúng ta hiện diện; vượt xa những gì bản năng nói với chúng ta và tư tưởng ảnh hướng đến chúng ta, bởi vì thực tế còn vĩ đại hơn. Thực tế là Chúa vĩ đại hơn. Vì vậy, sám hối có nghĩa là không nghe những gì làm mất niềm hy vọng, không nghe những người luôn nói rằng sẽ không có gì thay đổi trong cuộc sống. Sám hối có nghĩa là từ chối tin rằng chúng ta đã bị định sẵn để chìm vào vũng lầy của sự tầm thường. Nó có nghĩa là không quy phục trước những sợ hãi bên trong, xuất hiện đặc biệt trong những lúc thử thách để làm chúng ta nản lòng và nói với chúng ta rằng chúng ta sẽ không vượt qua được, rằng mọi thứ đã sai và việc nên thánh không dành cho chúng ta. Không phải như vậy, bởi vì Thiên Chúa luôn hiện diện. Cần phải tin cậy nơi Chúa, bởi vì Người là điều vượt trên của chúng ta, là sức mạnh của chúng ta. Mọi thứ thay đổi nếu chúng ta dành cho Người vị trí đầu tiên. Chúng ta chỉ cần mở cửa để Chúa bước vào và làm những điều kỳ diệu. Chỉ như sa mạc và lời của Gioan là đủ để Chúa đến thế gian.
Chúng ta hãy cầu xin ân sủng để tin rằng với Chúa, mọi thứ sẽ thay đổi, rằng Người chữa lành nỗi sợ hãi của chúng ta, chữa lành vết thương của chúng ta, biến những nơi khô cằn thành suối nước. Chúng ta cầu xin ân sủng của hy vọng. Vì hy vọng làm sống lại đức tin và khơi lại lòng bác ái. Bởi vì đó là hy vọng mà các sa mạc của thế giới ngày nay đang khát.
Và trong lúc cuộc gặp gỡ này đổi mới chúng ta trong niềm hy vọng và niềm vui của Chúa Giêsu, và tôi vui mừng khi được ở giữa anh chị em, chúng ta hãy cầu xin Đức Mẹ giúp chúng ta, giống như Mẹ, trở nên những người gieo rắc hy vọng, những người gieo niềm vui xung quanh chúng ta, không chỉ vào lúc này, khi chúng ta hạnh phúc và ở cùng nhau, nhưng hàng ngày, trong những sa mạc nơi chúng ta hiện diện. Vì chính nơi đó, với ơn Chúa, cuộc đời chúng ta được mời gọi sám hối và nở hoa.
Chào cám ơn
Trước khi kết thúc Thánh lễ, Đức Tổng Giám mục Theodoros Kontidis của Tổng Giáo phận Athen, đại diện cộng đoàn cám ơn Đức Thánh Cha. Đức Tổng Giám mục nói rằng sự hiện diện của Đức Thánh Cha tại Hy Lạp làm cho mọi người cảm nhận được sự hiệp nhất với Giáo hội như một thân thể trong Đức Kitô. Ngài nói: “Chúng con chân thành cám ơn Đức Thánh Cha vì đã đến đây với chúng con, cùng cử hành Thánh lễ, và cám ơn vì tất cả những gì Đức Thánh Cha đã làm cho Giáo hội trên thế giới và vì những lời giảng dạy đã khuyến khích mọi người đi theo đường lối Chúa Giêsu”.
Đáp lời Đức Tổng Giám mục, Đức Thánh Cha cũng bảy tỏ lòng biết ơn đến chính quyền dân sự và các Giám mục, cũng như tất cả những người bằng nhiều cách khác nhau đã cộng tác chuẩn bị và tổ chức chuyến thăm này.
Sau Thánh lễ, Đức Thánh Cha trở về Toà Sứ thần.
Thăm Đức Thượng phụ Jeronymos II
Tại Toà Sứ thần, vào lúc 19 giờ, Đức Thánh Cha có cuộc gặp gỡ với Đức Thượng phụ Jeronymos II và đoàn tuỳ tùng tại hội trường của Toà sứ thần.
Ngọc Yến
2021
Diễn văn của ĐTC trước những người tị nạn ở Mytilene
Diễn văn của ĐTC trước những người tị nạn ở Mytilene
Lúc 08:30 sáng Chúa Nhật 5/12, ĐTC rời Toà Sứ thần, đi đến sân bay Athens cách đó 23km để bay đến sân bay Mytilene trên đảo Lesbos và thăm những người tị nạn ở “Trung tâm Tiếp nhận và Định danh”. Có khoảng 200 người tham dự cuộc gặp gỡ với Đức Thánh Cha.
Diễn văn của Đức Thánh Cha khi đến thăm những người tị nạn
tại “Trung tâm Tiếp nhận và Định danh” ở Mytilene
05/12/2021
Anh chị em thân mến,
Cảm ơn về những lời của anh chị em. Tôi cảm ơn Bà Tổng thống, vì sự hiện diện và những lời của bà. Thưa anh chị em, tôi lại đến đây để gặp anh chị em. Tôi ở đây để nói với anh chị em rằng tôi gần gũi anh chị em. Tôi nói điều này bằng cả trái tim. Tôi ở đây để nhìn thấy khuôn mặt của anh chị em, để nhìn vào mắt anh chị em, đôi mắt đầy sợ hãi và mong đợi, đôi mắt đã nhìn thấy bạo lực và nghèo đói, đôi mắt nhíu lại vì quá nhiều nước mắt. Đức Thượng Phụ Đại Kết và người anh em Bartholomeo, cách đây 5 năm tại hòn đảo này, đã nói một điều khiến tôi bị đánh động: “Những người sợ anh chị em đã không nhìn thẳng vào mắt của anh chị em. Những người sợ anh chị em đã không nhìn vào khuôn mặt của anh chị em. Những người sợ anh chị em đã không nhìn thấy con cái của anh chị em. Quên rằng phẩm giá và tự do vượt cao hơn nỗi sợ hãi và chia rẽ. Quên rằng di cư không phải là vấn đề của Trung Đông và Bắc Phi, của châu Âu và Hy Lạp, nhưng là một vấn đề của thế giới ”( Diễn văn, ngày 16 tháng 4 năm 2016).
Vâng, đó là một vấn đề của thế giới, một cuộc khủng hoảng nhân đạo ảnh hưởng đến tất cả mọi người. Đại dịch đã ảnh hưởng đến chúng ta ở cấp độ toàn cầu, nó khiến tất cả chúng ta thấy mình đang ở trên cùng một con thuyền, nó khiến chúng ta học được thế nào là có cùng nỗi sợ hãi. Chúng ta hiểu rằng các vấn đề lớn phải được giải quyết cùng nhau, bởi vì trong thế giới ngày nay, các giải pháp rời rạc là không phù hợp. Nhưng trong khi chúng ta hết mình tiêm chủng toàn cầu, dẫu cho có những chậm trễ và do dự, hoặc có những bước tiến trong việc chống biến đổi khí hậu, nhưng điều này dường như gặp một sự lẩn tránh khủng khiếp đối với vấn đề di cư. Tuy nhiên, có nhiều người mà cuộc sống họ đang bị đe dọa! Tương lai của tất cả mọi người đang bị đe dọa, và chỉ sẽ bình yên nếu được hội nhập. Chỉ khi được hòa giải với những người yếu nhất thì tương lai đó mới thịnh vượng. Bởi vì khi người nghèo bị từ chối, thì hòa bình cũng bị từ chối.
Lịch sử dạy chúng ta rằng sự đóng lại và chủ nghĩa quốc gia sẽ dẫn đến những hậu quả tai hại. Thật vậy, như Công đồng Vatican II đã nhắc lại, “ý chí cương quyết muốn tôn trọng người khác, những dân tộc khác cũng như phẩm giá của họ và sự ân cần thực thi tình huynh đệ là những điều kiện thiết yếu để xây dựng hòa bình.” (Gaudium et spes, 78). Thật là ảo tưởng khi nghĩ rằng làm như vậy là đủ để mình được an toàn, bảo vệ bản thân khỏi những kẻ yếu nhất đến gõ cửa chúng ta. Trong tương lai, chúng ta còn tiếp xúc với nhau nhiều hơn. Để làm tương lai trở nên tốt đẹp, điều chúng ta cần không phải là những hành động đơn phương, nhưng là những chính sách mở rộng. Tôi nhắc lại, lịch sử đã dạy điều đó, nhưng chúng ta chưa học được. Đừng quay lưng lại với thực tế, đừng mãi thoái thác trách nhiệm, đừng luôn đẩy vấn đề di cư cho người khác, như thể chẳng ai liên can và đó chỉ là một gánh nặng vô ích mà ai đó buộc phải gánh vác!
Những chị em, anh em, những khuôn mặt và ánh mắt của anh chị em yêu cầu chúng ta không quay lưng lại, không phủ nhận nhân tính chung của chúng ta, biến câu chuyện của anh chị em thành của chúng ta và đừng quên những thảm kịch của anh chị em. Elie Wiesel, nhân chứng của thảm kịch lớn nhất thế kỷ qua, đã viết: “Chính vì tôi nhớ về sự khởi đầu chung của chúng ta mà tôi xích lại gần hơn với đồng loại của mình. Đó là bởi vì tôi không quên rằng tương lai của họ cũng quan trọng như tương lai của tôi.” (From the Kingdom of Memory, Reminiscences, New York, 1990, 10). Vào Chúa Nhật này, tôi cầu xin Chúa đánh thức chúng ta khỏi sự khước từ của chúng ta đối với những người đau khổ, đánh thức chúng ta khỏi chủ nghĩa cá nhân vốn loại trừ người khác, đánh thức những trái tim bị điếc của chúng ta trước nhu cầu của người khác. Và tôi cũng kêu gọi mọi người: chúng ta hãy vượt qua sự tê liệt của nỗi sợ hãi, sự thờ ơ giết chết, sự thờ ơ yếm thế kết án tử những người bên lề bằng đôi găng tay nhung lụa! Chúng ta hãy phản đối tận gốc tư tưởng thống trị, tư tưởng xoay quanh cái tôi, cái tôi cá nhân và quốc gia ích kỷ, vốn trở thành thước đo và tiêu chí của mọi thứ.
Năm năm đã trôi qua kể từ chuyến thăm được thực hiện tại đây với những người anh em thân yêu Bartolomeo và Jeronymos. Sau tất cả thời gian này, chúng ta vẫn thấy rằng vấn đề di cư chẳng mấy thay đổi. Tất nhiên, nhiều người đã dấn thân chào đón và hội nhập, và tôi muốn cảm ơn nhiều tình nguyện viên và những người ở mọi cấp – tổ chức, xã hội, từ thiện – đã thực hiện những nỗ lực to lớn, chăm sóc người dân và vấn đề di cư. Tôi ghi nhận sự dấn thân hỗ trợ và xây dựng các cơ sở tiếp nhận xứng đáng và tôi chân thành cảm ơn người dân địa phương vì những điều tốt đẹp mà họ đã làm và nhiều hy sinh mà họ đã cố gắng. Và tôi cũng muốn cảm ơn chính quyền địa phương đã dấn thân trong việc đón nhận, trong việc bảo vệ và thăng tiến những người đến đây. Xin cảm ơn vì đã làm điều đó. Nhưng chúng ta phải cay đắng thừa nhận rằng đất nước này, cũng như những nước khác, vẫn đang chịu nhiều áp lực, và ở châu Âu có những người vẫn cương quyết coi vấn đề này như một việc mà họ không quan tâm. Đây là một thảm kịch. Tôi nhớ những lời cuối của Bà Tổng thống rằng: “Châu Âu hành động như vậy”. Và bao nhiêu điều kiện không xứng đáng với con người! Có bao nhiêu điểm nóng nơi người di cư và người tị nạn sống trong điều kiện hạn chế, mà không có giải pháp nào phía trước! Tuy nhiên, sự tôn trọng đối với các cá nhân và quyền con người, điều không ngừng được cổ võ trên toàn cầu, đặc biệt ở lục địa này, cần phải luôn được bảo vệ, và phẩm giá của mỗi người phải được đặt lên hàng đầu. Thật đáng buồn khi nghe đề xuất như một giải pháp rằng nguồn quỹ chung được sử dụng để xây tường, để dựng hàng rào thép gai. Chúng ta đang sống trong thời đại của những bức tường và thép gai. Tất nhiên, chúng ta hiểu những nỗi sợ hãi và bất an, khó khăn và nguy hiểm. Người ta cảm thấy mệt mỏi và thất vọng, càng trở nên trầm trọng hơn bởi các cuộc khủng hoảng kinh tế và đại dịch, nhưng không phải bằng cách dựng lên các hàng rào thì các vấn đề được giải quyết và sự chung sống được cải thiện. Thay vào đó, cần chung sức để chăm sóc người khác theo khả năng thực tế của mỗi người và tuân theo luật pháp, luôn đặt giá trị không thể chuyển nhượng của sự sống của mỗi người nam, người nữ, của mỗi người lên hàng đầu. Elie Wiesel còn nói: “Khi tính mạng con người bị đe dọa, khi phẩm giá con người gặp nguy hiểm, thì biên giới quốc gia trở thành vô nghĩa” (Diễn văn nhận giải Nobel Hòa bình, ngày 10 tháng 12 năm 1986).
Trong nhiều xã hội khác nhau, có những đối kháng về ý thức hệ giữa an ninh và liên đới, địa phương và phổ quát, truyền thống và cởi mở. Thay vì tranh cãi về các ý tưởng, thì sẽ hữu ích hơn nếu bắt đầu với thực tế: hãy dừng lại, mở rộng tầm nhìn của chúng ta, dìm mình vào các vấn đề của đa số nhân loại, của nhiều nhóm nạn nhân của các trường hợp khẩn cấp nhân đạo mà chính họ không tạo ra nhưng lại phải gánh chịu, sau những chương dài lịch sử khai thác và hiện vẫn đang diễn ra. Người ta dễ dàng lôi kéo dư luận bằng cách khơi dậy nỗi sợ hãi về người khác. Nhưng tại sao chúng ta không nói, với cùng một thái độ, về sự bóc lột người nghèo, về những cuộc chiến bị lãng quên và thường được tài trợ mạnh tay, về những thỏa thuận kinh tế được thực hiện trên xương máu của người dân, về những thủ đoạn ẩn giấu để buôn bán vũ khí và phát triển thương mại vũ khí? Tại sao người ta không nói về điều này? Cần đối diện với những nguyên nhân sâu xa, chứ không phải bắt dân nghèo gánh chịu hậu quả, thậm chí bị lợi dụng để tuyên truyền chính trị! Để loại bỏ các nguyên nhân gốc rễ, không thể chỉ dừng lại ở các trường hợp khẩn cấp. Những hành động phối hợp là cần thiết. Những thay đổi mang tính biểu tượng cần được tiếp cận với tầm nhìn xa. Bởi vì không có câu trả lời dễ dàng cho các vấn đề phức tạp. Thay vào đó, cần phải đồng hành với các tiến trình từ bên trong, để vượt qua sự cô lập và khuyến khích hội nhập dần dần và thiết yếu, để chào đón các nền văn hóa và truyền thống của những người khác một cách huynh đệ và có trách nhiệm.
Trên tất cả, nếu chúng ta muốn bắt đầu lại, chúng ta hãy nhìn vào khuôn mặt của những đứa trẻ. Chúng ta tìm thấy can đảm để xấu hổ trước chúng, những người vô tội và là tương lai. Họ đặt câu hỏi về lương tâm của chúng ta và hỏi chúng ta: “Loại thế giới quý vị để lại cho chúng tôi?” Chúng ta đừng lạnh lùng lảng tránh những hình ảnh sống sượng của những tấm thân bé nhỏ nằm bất động trên các bãi biển. Địa Trung Hải, nơi hàng thiên niên kỷ đã gắn kết các dân tộc khác nhau và những vùng đất xa xôi, đang trở thành một nghĩa trang lạnh lẽo không bia mộ. Hồ nước rộng lớn này, cái nôi của nhiều nền văn minh, giờ đây trông giống như một tấm gương chết chóc. Chúng ta đừng để biển của chúng ta (mare nostrum) biến thành biển của sự chết (mare mortuum) hoang tàn, đừng để nơi gặp gỡ này trở thành sân khấu của sự đối đầu! Đừng để “biển của ký ức” này biến thành “biển của sự lãng quên”. Tôi kêu gọi hãy ngăn chặn sự nhấn chìm của nền văn minh này!
Trên các bờ biển này, Thiên Chúa đã trở thành người. Nơi đây, Lời của Người được vang vọng, loan báo rằng Thiên Chúa là “Cha và là Đấng hướng dẫn tất cả mọi người” (St. GREGORY OF NAZIANZO, Discorso 7 per il fratello Cesario, 24). Người yêu chúng ta như những người con và muốn chúng ta là anh em của nhau. Ngược lại, Thiên Chúa bị xúc phạm khi con người vốn được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa bị xem thường, khi con người bị phó mặc cho sóng biển, trong sự phủi tay thờ ơ, đôi khi ngay cả được biện minh nhân danh điều được cho là các giá trị Kitô giáo. Trái lại, đức tin đòi hỏi lòng trắc ẩn và lòng thương xót. Nó thúc đẩy lòng hiếu khách, là tình yêu đối với người xa lạ (philoxenia) đã thấm nhuần văn hóa cổ điển, và được biểu lộ rõ ràng nơi Chúa Giêsu, đặc biệt trong dụ ngôn Người Samari nhân hậu (xem Lc 10,29-37) và trong những lời của chương 25 Tin Mừng theo thánh Matthêu (x. cc. 31-46). Đây không phải là một ý thức hệ tôn giáo, nhưng là cội rễ Kitô giáo cách cụ thể. Chúa Giêsu đã long trọng khẳng định rằng Người hiện diện ở đó, nơi người lạ, người tị nạn, người mình trần và đói khát. Và đường lối Kitô giáo được tìm thấy nơi Chúa Giêsu. Vâng, như Đức Giáo Hoàng Biển Đức đã viết: đường lối Kitô giáo “là một con tim biết nhìn”. (Thông điệp Thiên Chúa là Tình yêu, 31). Tôi không muốn kết thúc sứ điệp này mà không cảm ơn người dân Hy Lạp về sự chào đón. Nhiều khi việc chào đón này trở thành một vấn đề, bởi vì không thể tìm ra lối thoát cho người ta để đi tiếp. Cảm ơn anh chị em Hy Lạp về sự quảng đại này.
Bây giờ chúng ta hãy cầu xin Đức Mẹ mở mắt cho chúng ta trước những đau khổ của anh chị em mình. Mẹ đã vội vã lên đường đến với người chị họ Elizabeth đang mang thai. Biết bao người mẹ mang thai đã chết khi đang hành trình vội vã ngay cả khi đang mang trong mình sự sống! Xin Mẹ Thiên Chúa giúp chúng ta có một cái nhìn mẫu tử, biết nhìn thấy người khác là những người con của Thiên Chúa, là anh chị em để được chào đón, bảo vệ, thăng tiến và hội nhập; và để được yêu một cách dịu dàng. Xin Mẹ Rất Thánh dạy chúng ta đặt thực tế của con người lên trước những ý tưởng và ý thức hệ, và có những bước tiến vội vã để gặp gỡ những người đau khổ.
Giờ đây tất cả chúng ta cùng cầu nguyện với Đức Mẹ.
ĐỌC KINH TRUYỀN TIN
2021
Năm chìa khóa để hưởng được ân sủng của Thiên Chúa
Năm chìa khóa để hưởng được ân sủng của Thiên Chúa
Thư Êphêsô 2: 8 viết: “Vì chính nhờ ân sủng mà bạn được cứu bởi đức tin. Ân sủng đó không đến từ bạn, đó là một món quà từ Chúa.”
Qua câu Kinh thánh này và nhiều câu Kinh thánh khác, chúng ta hiểu rằng rõ ràng có sự song hành giữa ân sủng, ơn cứu độ và đức tin. Chúng ta có thể nói rằng đây là những nguyên tắc cơ bản trong cuộc sống của chúng ta với tư cách là con cái của Thiên Chúa. Nhưng nền tảng vẫn là ân sủng của Chúa Cha dành cho con người.
Ân sủng hoạt động như thế nào? Ân sủng đó tự biểu hiện như thế nào? Làm thế nào để ân sủng ban ơn cứu độ cho chúng ta?
Ân sủng, một ân huệ thiêng liêng
Ân sủng là ơn Chúa ban cho những kẻ đáng bị phán xét. Nhờ ân sủng, tình yêu thương của Thiên Chúa nghiêng về phía chúng ta một cách thuận lợi để lôi kéo chúng ta về phía Ngài. Ân sủng của Thiên Chúa không thể kiếm được bằng nỗ lực của chúng ta hoặc bằng việc làm tốt lành của chúng ta, và thậm chí ân sủng của Thiên Chúa lại càng không thể kiếm được bằng những quyết tâm tốt đẹp của chúng ta. Ân sủng đơn giản chỉ là quà tặng của một người Cha, vốn là Tình yêu. Chúng ta không xứng với quà tặng đó, vì vậy ân sủng không phải là do chúng ta, chúng ta chỉ đáng hưởng ân xá dành cho những người bị kết án.
Vì tội lỗi Ađam, chúng ta đã bị giáng xuống tình trạng bị kết án, như đang chờ đợi tử hình. Bởi vì Kinh Thánh nói trong Rôma 6:23: “Tiền công mà tội lỗi phải trả là sự chết.” Đây là lúc Thiên Chúa tỏ hiện.
Ngôi Lời đã hóa thành xác phàm và hủy bỏ mọi sự kết án đang đè nặng lên cuộc sống của chúng ta. Kinh Thánh nói rằng Ngôi Lời đã trở thành Tội lỗi và do đó chúng ta được cứu khỏi sự chết đang chờ đợi chúng ta! Vâng, ân sủng thì ở nơi Chúa Giêsu : “…Còn ân sủng và sự thật, thì nhờ Chúa Giêsu Kitô mà có.” (Gioan 1:17).
Nói cách khác, ân sủng là “ân huệ Thiên Chúa ban nhưng không, là sự sống đời đời trong Chúa Giêsu Kitô, Chúa chúng ta” (Rôma 6:23).
Chúng ta có thể hiểu ân sủng thiêng liêng như một loại quà tặng được Cha trên trời ban cho một cách ân cần. Làm thế nào để ân sủng này hoạt động có lợi cho chúng ta? Quà tặng của Chúa Giêsu có đủ làm cho chúng ta được hưởng ơn ích từ ân sủng không?
Những gì chúng ta có là nhờ Ơn Chúa
Trước đó chúng ta đã nói rằng ân sủng là một quà tặng từ Thiên Chúa nhờ sự kết hợp của chúng ta với Chúa Giêsu Kitô. Ân sủng được phản ánh bằng nhiều cách trong đời sống của con cái Thiên Chúa. Điều đầu tiên và quan trọng nhất là đạt được ơn cứu độ.
Sự cứu rỗi là kế hoạch của Thiên Chúa Cha để đưa con cái Ngài trở về với chính Ngài. Kinh Thánh trong Galát 1:15 cho biết: “Nhưng Thiên Chúa đã dành riêng tôi ngay từ khi tôi còn trong lòng mẹ, và đã gọi tôi nhờ ân sủng của Ngài.”
Vâng, chính trong ân sủng của Ngài mà Thiên Chúa, biết trước chúng ta, đã gọi chúng ta đến với chính Ngài. Chúng ta được Chúa Thánh Thần thúc đẩy tin tưởng rằng Ngài đã ân cần ban ân sủng cho chúng ta và chúng ta bắt đầu tiến trình ăn năn hoán cải. Từ nay, chúng ta không còn bị ô uế bởi tội lỗi nữa mà là những người thừa kế của Thiên Chúa, là con cái của Ngài. Do đó, chúng ta được Thiên Chúa tái sinh và nhận làm dưỡng tử. Thư Rôma 8:16-17: “Chính Thần Khí chứng thực cho thần trí chúng ta rằng chúng ta là con cái Thiên Chúa. Vậy đã là con, thì cũng là thừa kế, mà được Thiên Chúa cho thừa kế, thì tức là đồng thừa kế với Chúa Kitô; vì một khi cùng chịu đau khổ với Ngài, chúng ta sẽ cùng được hưởng vinh quang với Ngài.”
Một quà tặng khác được ban bởi ân sủng là sự công chính hóa. Rôma 8:30 cho biết: “Những ai Thiên Chúa đã tiền định, thì Ngài cũng kêu gọi; những ai Ngài đã kêu gọi, thì Ngài cũng làm cho nên công chính; những ai Ngài đã làm cho nên công chính, thì Ngài cũng cho hưởng phúc vinh quang.”
Theo Thiên Chúa sự công chính hóa là sự tha thứ tội lỗi của chúng ta. Từ giờ trở đi, dưới mắt Thiên Chúa, chúng ta là những người công chính. Không phải bởi công đức của chúng ta mà bởi ân sủng của Ngài.
Một lợi ích khác của ân sủng được ghi lại trong Hípri 4:16: “Bởi thế, ta hãy mạnh dạn tiến lại gần ngai Thiên Chúa là nguồn ân sủng, để được xót thương và lãnh ơn trợ giúp mỗi khi cần.” Do đó, chúng ta có sự đảm bảo được giúp đỡ trong những nhu cầu của chúng ta. Chúng ta đừng đến gần Chúa Cha với thái độ bị lên án nữa. Dĩ nhiên, chúng ta đến với Chúa Cha bằng sự tin tưởng, bằng sự khiêm hạ, bằng sự tin tưởng an bình của đứa con nói chuyện với Cha mình.
Cuối cùng, ân sủng ban cho chúng ta một sự biến đổi vinh quang. Sứ đồ Phaolô là một mẫu gương rất đáng kể về sự biến đổi mà ân sủng của Thiên Chúa mang lại trong chúng ta. Phaolô làm chứng điều này trong I Côrintô 15: 9-10 khi ngài nói: “Thật vậy, tôi là người hèn mọn nhất trong số các Tông Đồ, tôi không đáng được gọi là Tông Đồ, vì đã ngược đãi Hội Thánh của Thiên Chúa. Nhưng tôi có là gì, cũng là nhờ ơn Thiên Chúa, và ơn Ngài ban cho tôi đã không vô hiệu; trái lại, tôi đã làm việc nhiều hơn tất cả những vị khác, nhưng không phải tôi, mà là ơn Thiên Chúa cùng với tôi.”
Từ một người bắt bớ những người theo Chúa Giêsu Kitô, Phaolô đã trở thành một người bảo vệ Chúa Kitô trung thành đến mức sẵn sàng trả giá bằng mạng sống của mình! Phaolô nhận ra rằng sự biến đổi này chỉ có thể thực hiện được nhờ ân sủng của Thiên Chúa qua ân ban của Chúa Thánh Thần.
Tuy nhiên, Kinh Thánh có các trường hợp về các nhân vật được Thiên Chúa ban ân sủng, nhưng không ở lại trong ân sủng – ví dụ như Anania và Saphira:
“Một người tên là Anania, cùng với vợ là Saphira, đã bán ruộng và anh ta rút một phần số tiền bán được, vợ anh ta cũng biết điều này, và số còn lại anh ta mang đến đặt dưới chân các Tông Đồ. Phêrô nói với anh ta: “Anania, sao anh lại để cho Satan chiếm giữ lòng mình để rồi phải nói dối với Chúa Thánh Thần, và giữ lại cho riêng mình một phần trong số tiền đó? Bao lâu anh còn sở hữu mảnh ruộng ấy thì nó là của anh, và sau khi bán nó rồi anh vẫn toàn quyền sử dụng tiền đó, phải không? Vậy tại sao anh lại đang tâm làm như thế? Không phải anh đã dối trá với con người nhưng là dối trá với Thiên Chúa!” Nghe những lời ấy, Anania gục xuống tắt thở; tất cả những ai nghe biết câu chuyện đều cảm thấy rất sợ hãi. Những thanh niên đứng lên, bọc lấy xác anh ta, và đem đi chôn.
Khoảng ba tiếng đồng hồ sau đó, chị vợ anh ta đến và vẫn chưa biết chuyện gì đã xảy ra. Phêrô hỏi chị: “Chị hãy nói đi: có phải đấy là cái giá mà vợ chồng chị đã bán ruộng của mình không?”. Chị bảo: “Vâng, chúng tôi bán với giá ấy”. Phêrô nói thêm: “Tại sao vợ chồng chị lại đồng lõa với nhau để mà thử thách Thần Khí của Chúa như thế? Kìa, dấu chân của những người vừa mang chồng chị đi chôn vẫn còn ngoài cửa; họ sắp khiêng chị đi luôn”. Ngay lúc đó, chị gục xuống chân ông và tắt thở. Những thanh niên đi vào thấy chị đã chết, và họ đưa chị đi chôn bên cạnh chồng chị. Toàn thể Hội Thánh và những người nghe biết tin ấy đều rất sợ hãi.” (Công vụ Tông đồ 5: 1-11).
Điều này khiến chúng ta băn khoăn về cung cách sống và hưởng dùng ân sủng của Thiên Chúa.
Làm thế nào để nhận được lợi ích từ Ân sủng của Thiên Chúa?
Chúng ta đã đọc thấy trong Kinh thánh rằng Thiên Chúa ban cho chúng ta ân sủng của Ngài, một cơ nghiệp qua Chúa Thánh Thần. Hãy tưởng tượng rằng một người họ hàng xa đã để lại cho chúng ta một mảnh đất thuộc về người đó. Di sản đã có sẵn nhưng điều gì sẽ xảy ra nếu chúng ta không muốn nhận nó? Chà, vậy thì chúng ta sẽ không hưởng dùng được di sản đó. Chúng ta tự tước bỏ di sản đó khỏi chính mình. Với ân sủng của Thiên Chúa cũng vậy.
Quả thật Kinh thánh nói trong Hípri 12:15 “Anh em phải coi chừng, kẻo có ai lừng khừng mà mất ân sủng của Thiên Chúa, kẻo có ai trở nên rễ đắng nảy mầm, gây xáo trộn và do đó làm hư hỏng nhiều người.” Nếu Thiên Chúa để ân sủng của Ngài theo sự chọn lựa của chúng ta, thì chúng ta có trách nhiệm phải nắm lấy và làm cho ân sủng đi vào cuộc sống của chúng ta. Làm thế nào? Để trả lời câu hỏi này, chúng ta sẽ xem xét năm chìa khóa để nắm lấy ân sủng của Thiên Chúa.
- Chết cho chính mình và sinh ra trong Chúa Kitô.
Trong Êphêsô 1: 13-14 có chép: “Trong Chúa Kitô, cả anh em nữa, anh em đã được nghe lời chân lý là Tin Mừng cứu độ anh em; vẫn trong Chúa Kitô, một khi đã tin, anh em được đóng ấn Thánh Thần, Đấng Thiên Chúa đã hứa. Thánh Thần là bảo chứng phần gia nghiệp của chúng ta, chờ ngày dân riêng của Thiên Chúa được cứu chuộc, để ngợi khen vinh quang Thiên Chúa.”
Giống như Phaolô, chúng ta có thể nói, “Quả thế, tại vì Lề Luật mà tôi đã chết đối với Lề Luật, để sống cho Thiên Chúa. Tôi cùng chịu đóng đinh với Chúa Kitô vào thập giá. Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Chúa Kitô sống trong tôi. Hiện nay tôi sống kiếp phàm nhân trong niềm tin vào Con Thiên Chúa, Đấng đã yêu mến tôi và hiến mạng vì tôi.” Galát 2: 19-20.
Đây là điểm khởi đầu để hưởng được ân sủng. Bây giờ chúng ta được sinh ra trong Chúa Kitô và cho Chúa Kitô. Việc tin vào Chúa Giêsu chuẩn bị cho chúng ta sống Ân sủng đó.
- Biết những gì ân sủng mang lại cho chúng ta.
Để sở hữu tài sản thừa kế, cần phải nhận biết sự tồn tại của nó. Thư I Côrintô 2:12 nói: “Phần chúng ta, chúng ta đã không lãnh nhận thần trí của thế gian, nhưng là Thần Khí phát xuất từ Thiên Chúa, để nhận biết những ân huệ Thiên Chúa đã ban cho chúng ta.”
Đúng thế, nếu chúng ta đã dâng cuộc đời mình cho Chúa Giêsu, chúng ta sẽ nhận được nhiều lợi ích. Chúng ta phải nhận biết những lợi ích ấy bằng cách tiếp nhận sự mặc khải bởi Thánh Thần của Thiên Chúa trong cuộc sống của chúng ta. Nhiều người, vì không nhận ra điều này, nên đang lãng phí tinh thần. Nhiều Kitô hữu hoàn toàn không biết về những lợi ích của ân sủng cũng như sự tha thứ hoàn toàn tội lỗi của chúng ta, các ân huệ thánh thiêng, sự tràn đầy dư dật của Chúa Thánh Thần, v.v. Họ sống một đời sống Kitô hữu khó khăn, nhạt nhẽo với những đấu tranh và thất vọng cá nhân.
Chúng ta có thể làm cho lời cầu nguyện này của Sứ đồ Phaolô trong Êphêsô 1: 3; 17-18 thành của riêng mình: “Chúc tụng Thiên Chúa là Thân Phụ Chúa Giêsu Kitô, Chúa chúng ta. Trong Chúa Kitô, từ cõi trời, Ngài đã thi ân giáng phúc cho ta hưởng muôn vàn ơn phúc của Thánh Thần… Tôi cầu xin Chúa Cha vinh hiển là Thiên Chúa của Chúa Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, ban cho anh em thần khí khôn ngoan để mặc khải cho anh em nhận biết Ngài. Xin Ngài soi lòng mở trí cho anh em thấy rõ, đâu là niềm hy vọng anh em đã nhận được, nhờ ơn Ngài kêu gọi, đâu là gia nghiệp vinh quang phong phú anh em được chia sẻ cùng dân thánh.”
- Bỏ đi những gì là cay đắng!
Cay đắng là một chướng ngại cản trở sự tỏ lộ của ân sủng trong cuộc đời chúng ta. Thật vậy, Hípri 12:15 nói: “Anh em phải coi chừng, … kẻo có ai trở nên rễ đắng nảy mầm, gây xáo trộn ….” Sự cay đắng và thiếu sự tha thứ cản trở đời sống cầu nguyện của chúng ta và làm xáo trộn sự bình an, không chỉ trong bản thân mình, nhưng trong thân mình của Chúa Kitô. Sự cay đắng gần giống như một loại rào cản mà chính chúng ta đặt vào bàn tay của Thiên Chúa và cản trở Ngài.
- Làm cho đức tin của chúng ta hoạt động.
Nếu chúng ta đã công nhận Chúa Giêsu là Chúa và là Đấng Cứu Độ, thì chúng ta có thể nói đó là bởi vì chúng ta có đức tin. Và đó là sự thật. Nhưng chúng ta phải làm cho đức tin đó hoạt động thì mới có thể hưởng được những ơn ích của ân sủng.
Thư Giacôbê 2:17-20 viết: “Cũng vậy, đức tin không có hành động thì quả là đức tin chết. Đàng khác, có người sẽ bảo: “Bạn, bạn có đức tin; còn tôi, tôi có hành động. Bạn thử cho tôi thấy thế nào là tin mà không hành động, còn tôi, tôi sẽ hành động để cho bạn thấy thế nào là tin. Bạn tin rằng chỉ có một Thiên Chúa duy nhất. Bạn nói đúng. Cả ma quỷ cũng tin như thế, và chúng run sợ.” Hỡi người đầu óc rỗng tuếch, bạn có muốn biết rằng đức tin không có hành động là vô dụng không?”
Niềm tin là một cách hành động để nắm lấy di sản. Chúng ta phải tin rằng món quà này là dành cho chúng ta và nó là thật. Nếu điều này là sự thật đối với chúng ta, chúng ta sẽ bỏ đi bất cứ hình thức nào chỉ sống theo luật. Vì thêm một lần nữa, chúng ta sẽ không bao giờ làm được gì để xứng đáng với những gì mà Thiên Chúa trao ban: không kỹ thuật, không phương pháp. Chúng ta hãy khiêm tốn đón nhận ân sủng của Thiên Chúa như đứa con nhận được món đồ chơi từ cha mình.
Chúng ta hãy khước từ sự kiêu ngạo khiến chúng ta nghĩ rằng chính những “nỗ lực” của chúng ta làm cho chúng ta xứng đáng có được ân sủng. Đây cũng là một cám dỗ của kẻ thù, vì đoạn Tin Mừng Gioan 4: 6 nói: “…Thiên Chúa chống lại kẻ iêu ngạo, nhưng Ngài ban ân sủng cho kẻ khiêm nhường.”
- 5. Chúng ta hãy có lòng kính sợ đối với Thiên Chúa.
Hípri 12:16 trích dẫn những thái độ có thể lấy mất ân sủng của Thiên Chúa: “Đừng có ai gian dâm hoặc phàm tục như Êsau, kẻ đã vì một món ăn mà bán quyền trưởng nam.”
Sự thiếu tôn kính đối với Thiên Chúa, sự khinh miệt đối với những điều thánh thiêng là một sự xa lìa nghiêm trọng! Thật vậy, sự xa lìa đó khiến chúng ta xa cách Thiên Chúa và loại bỏ ân sủng của Ngài. Cầu mong điều này không bao giờ là trường hợp của chúng ta!
Ân sủng không phải là một phần thưởng. Nhưng, nếu chúng ta chấp nhận ân sủng vào cuộc sống của mình, ân sủng sẽ trở thành một khả năng siêu nhiên giúp giải cứu sự yếu đuối của con người chúng ta. Bạn có nhớ tên trộm cướp trên thập giá bên cạnh Chúa Giêsu không? Hãy xem cuộc nói chuyện trong Luca 23: 42-43:
Tên tên trộm cướp nói với Chúa Giêsu: “Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi!” Và Ngài nói với anh ta: “Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng.”
Chỉ bằng một vài từ trên thập tự giá, Chúa Giêsu đã nói được nhiều hơn và hay hơn là một bài diễn văn dài. Tên trộm cướp này không cầu xin Ngài, không khẩn cầu Ngài, không cầu nguyện dài dòng, không ăn chay, mà chỉ nói với lòng chân thành và khiêm tốn, “Xin hãy nhớ đến tôi”. Anh ta nhận ra rằng ân sủng đang ở bên cạnh anh ta trên thập giá, anh ta đã đón nhận ân sủng đó và được cứu độ.
Có thể tôi đã có một cuộc sống phóng túng trước khi đến với Chúa Kitô, thậm chí có thể tôi lại sa ngã sau khi đến với Ngài, có thể tôi lùi bước, có thể tôi quay ngược lại lối sống xưa kia, mà tôi biết sẽ làm buồn lòng Cha trên trời của tôi … Hãy biết rằng không có gì bị hư mất. Không có ai là quá xa đến độ nằm ngoài tầm với của tình yêu Thiên Chúa.
Hãy tin tưởng đến trước ngai Ân sủng và nhận lấy bàn tay của Cha các bạn. Tuy nhiên, không bao giờ, không bao giờ ân sủng của Thiên Chúa tỏ lộ ngược lại với sự công chính của Ngài. Thật vậy, thư Titô 2: 11-12 nói: “Quả thế, ân sủng của Thiên Chúa đã được biểu lộ, đem ơn cứu độ đến cho mọi người. Ân sủng đó dạy chúng ta phải từ bỏ lối sống vô luân và những đam mê trần tục, mà sống chừng mực, công chính và đạo đức ở thế gian này.”
Ân huệ của Chúa Thánh Thần là một phần trong những ân ban của Thiên Chúa. Chúa Thánh Thần dạy con cái Thiên Chúa bước đi trong tình yêu thương – đối với Thiên Chúa và người chung quanh – nuôi dưỡng lòng kính sợ và sự gắn bó với Thiên Chúa. Chúa Thánh Thần dạy chúng ta biết cách vui hưởng những ân sủng của Thiên Chúa. [1]
Lễ Giáng Sinh nhắc các Kitô hữu nhớ rằng mọi lĩnh vực trong cuộc sống của họ đều là cơ hội để đón nhận ân sủng, kể cả những yếu đuối, sa ngã và tội lỗi, vốn không phải là ân sủng trong bản chất của nó, nhưng nhờ thống hối và ăn năn, tội lỗi lại có thể là cơ hội để nhận được ơn thứ tha từ Thiên Chúa. Khi người ta xưng thú tội lỗi của mình và khi xin ơn tha thứ, là người ta nhận biết sự lầm than khốn khổ của mình và người ta không còn dám kiêu căng tự phụ. Chính trong ý thức tin tưởng và phó thác mọi sự, tốt lành cũng như yếu đuối tội lỗi, vào lòng từ ái của Chúa mà Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu nói khi sắp lâm chung: “Tout est grâce – Tất cả đều là ân sủng.”
Lễ Giáng Sinh là dịp nhắc nhở về Mầu nhiệm Nhập thể, Con Thiên Chúa mặc xác phàm để chia sẻ mọi thứ với nhân loại, ngoại trừ tội lỗi, qua thần tính của Ngài. Thánh Augustinô, Giám mục thành Hippone, đã viết rằng “Với những ai yêu mến Thiên Chúa, mọi sự đều hợp tác vào sự lành, kể cả các tội lỗi.” Thực ra, lời nói đó là sự nhắc lại lời nói của thánh Phaolô trong thư gửi các tín hữu Rôma: “Mọi sự đều sinh lợi ích cho những ai yêu mến Thiên Chúa” (Rôma 8,28). Chính thánh nhân cũng thú nhận: “Tôi làm gì tôi cũng chẳng hiểu: vì điều tôi muốn, thì tôi không làm, nhưng điều tôi ghét, tôi lại cứ làm. Nếu tôi cứ làm điều tôi không muốn […], không còn phải là chính tôi, nhưng là tội vẫn ở trong tôi làm điều đó” (Rm 8,15-17). Khi nhìn nhận thân phận tội lỗi của mình, thánh nhân đã không thất vọng, nhưng còn tuyên xưng rằng “ở đâu tội lỗi đã lan tràn, ở đó ân sủng càng chan chứa gấp bội” (Rm 5,20). Như thế, ân sủng mà Thiên Chúa ban cho là yếu tố quyết định.
Lễ Giáng Sinh nhắc nhở chúng ta rằng Chúa Giêsu, vốn dĩ là Ngôi Hai Thiên Chúa, giáng sinh nơi trần thế trong bản tính người phàm, là biểu lộ sự hiện diện của Thiên Chúa. Sự hiện diện đó chính là ơn ban nền tảng – Ơn Thánh Sủng. Do đó, mỗi giây phút trong cuộc sống và mỗi hành động của thân xác và linh hồn chúng ta đều có thể biểu lộ sự hiện diện thánh thiêng – Thánh Sủng – của Thiên Chúa. Mỗi khoảnh khắc đó đều là cơ hội để nhân tính của chúng ta trở nên hoàn thiện nhờ việc chúng ta sẵn sàng đón nhận ân sủng của Thiên Chúa qua Chúa Giêsu Kitô, và để ân sủng đó tỏ hiện ra, qua bản tính phàm nhân của chúng ta, đối với mọi người, đối với mọi thụ tạo của Thiên Chúa nơi trần thế này.
Phêrô Phạm Văn Trung biên tập
[1] frequencechretienne.fr
2021
Khiêm tốn
07 04 Tr Thứ Ba Tuần II Mùa Vọng.
Thánh Am-brô-xi-ô, Giám mục, Tiến sĩ Hội Thánh, lễ nhớ.
Mt 18, 1-14
Khiêm tốn
Thay vì mừng lễ thánh Ambroise vào ngày mất của ngài (4 tháng 4 năm 397), thường rơi vào các ngày lễ Phục sinh, Giáo Hội mừng vào ngày 7 tháng 12, là ngày kỷ niệm ngài thụ phong giám mục (394). Tại Rôma, từ thế kỷ XI, người ta đã mừng lễ ngài vào ngày này, cũng như trong các Giáo Hội Byzantin và một số nhà thờ chính toà hay tu viện thời Trung cổ. Cùng với thánh Augustin, Hiêrônimô và Grégoire, thánh Ambroise là một trong bốn thánh giáo phụ và tiến sĩ lớn của Giáo Hội la-tinh, và là một trong những vị thánh được yêu mến nhất.
Thánh Ambroise sinh tại Trèves (Augusta Trevirorum) khoảng năm 339, trong một gia đình Kitô giáo thuộc giới quí tộc Rôma, vào thời kỳ cha ngài làm pháp quan của tỉnh Gaules. Khi cha mất, mẹ của ngài về sống tại Rôma cùng với ba người con: hai trai và một gái, Marcellina, cô em gái này sẽ nhận khăn choàng trinh nữ từ tay Đức giáo hoàng Libère. Sau khi hoàn tất các môn văn chương và luật, Ambroise đã hành nghề một cách xuất sắc, đưa ngài tiến mau đến tận Milan, tại đây ngài được bổ nhiệm làm tổng trấn tỉnh Ligurie và Émilia của Rôma.
Năm 374, khi giám mục Auxence thuộc phe lạc giáo Arius qua đời, quan tổng trấn Ambroise tới nhà thờ lớn Milan để giữ trật tự vào dịp bầu tân giám mục. Nhưng, tuy mới chỉ là một dự tòng, chính ngài lại là người được chọn làm giám mục trước sự phấn khởi của toàn dân. Họ la to: “Ambroise giám mục!” Ngài miễn cưỡng chấp nhận, và tám ngày sau, ngài được rửa tội, được truyền chức và tấn phong. Lúc đó ngài khoảng ba mươi tư tuổi. Sau khi trở thành người đứng đầu Giáo Hội ở Milan, thánh Ambroise học tập thừa tác vụ đến độ ngài trở thành một trong những vị mục tử hoàn hảo nhất trong lịch sử Hội Thánh.
Việc đầu tiên ngài làm là phân phát tài sản của mình cho người nghèo và chọn một nếp sống khổ hạnh. Rồi, dưới sự hướng dẫn của một cha Simplicien, một linh mục giàu kinh nghiệm, ngài dấn thân miệt mài vào việc học Kinh Thánh và các tác giả Ki-tô giáo. Ngài học nhằm phục vụ trước hết cho việc rao giảng và thi hành tác vụ huấn giáo. Bị lôi cuốn bởi Tin Mừng Luca, ngài đã viết một bình luận về Tin Mừng này, còn truyền lại tới chúng ta ngày nay. Chúng ta cũng còn giữ được một sưu tập các khảo luận của ngài về các nhân vật và chủ đề Kinh Thánh: Abel, Cain, Nôê, Abraham, Isaac, thiên đàng, tạo dựng. . .
Thánh Ambroise không ngừng quan tâm tới việc dạy giáo lý cho dân chúng, nhất là trong việc khai tâm đức tin và chuẩn bị phép rửa. Trong khảo luận Các Mầu Nhiệm và các Bí Tích, thánh giám mục Milan cắt nghĩa cho các tín hữu về các bí tích và phụng vụ. Nhưng ngài không chỉ giới hạn vào việc giảng thuyết. Nhằm giúp các tín hữu tham dự tích cực vào phụng vụ, ngài đã sáng tạo ra nhạc bình dân – thể loại đầu tiên ở phương Tây – và ngài đưa các bài hát xen vào các thánh vịnh. Cũng vậy, ngài soạn ra các thánh thi và các ca vãn, và một số sáng tác của ngài ngày nay vẫn còn được dùng để cầu nguyện hay hát trong phụng vụ thuộc nghi lễ Ambroise ở giáo phận Milan.
Trong một xã hội mà Kitô giáo chưa thấm nhuần hoàn toàn, thánh Ambroise quan tâm canh tân các phong tục với mục đích Kitô hoá chúng; ngài cống hiến cho phương Tây khảo luận đầu tiên về đạo đức học Kitô giáo (De Officiis), lấy hứng chủ yếu từ Cicéron. Nhiều khảo luận bàn về đề tài trinh khiết, trong đó có một tác phẩm ngài viết cho em gái ngài là Marcellina, lúc đó đã qui tụ được một số chị em thành một cộng đoàn trinh nữ. Một tiểu luận khác ngài viết cho các bà góa.
Viết đã giỏi, ngài còn là nhà hùng biện lỗi lạc; chính nhờ ngài mà chàng thanh niên Augustin ở Tagaste đã hoàn tất hành trình hoán cải của mình. Cuối đời, bị suy yếu và biết giờ chết sắp tới, ngài đọc cho người ta viết bình luận về thánh vịnh 43 (44). Ở câu 24, ngài nói: “Thật khó khăn khi phải kéo lê lâu dài một thân xác mà bóng tử thần đã che phủ. Lạy Chúa, xin đứng lên. Tại sao Người vẫn ngủ? Người sẽ xua đuổi con mãi sao?” Sự vĩ đại và thánh thiện của thánh Ambroise được diễn tả trong tiếng kêu la cuối cùng này, mà Chúa đã nghe vào một ngày thứ sáu tuần thánh, 4 tháng 4 năm 397.
Suốt ba năm đi theo Chúa Giêsu, các môn đệ cũng có cao vọng muốn được trở thành người lớn nhất trong Nước Trời nên đã đặt câu hỏi với Chúa Giêsu: “Thưa Thầy, ai là người lớn nhất trong Nước Trời?”.Hiểu được tâm tư ấy, Chúa Giêsu liền dạy các ông một bài học thật ý nghĩa đó là “Ai tự hạ, coi mình như em nhỏ này, người ấy sẽ là người lớn nhất Nước Trời.Còn ai tiếp đón một em nhỏ như em này vì danh Thầy, là tiếp đón chính Thầy”.
Chúa Giêsu đưa ra một hình ảnh rất cụ thể đó là trở nên khiêm tốn đơn sơ như trẻ thơ. Khiêm tốn là một đức tính cao quý của con người. Người người có tâm hồn trẻ thơ thì tin tưởng vào tình thương Thiên Chúa,khiêm tốn không cậy dựa sức riêng nhưng biết nhìn nhận những giới hạn của mình.
Thiên Chúa dựng nên mỗi người một vẻ khác nhau, chính sự khác biệt đó càng diễn tả quyền năng và vinh quang của Thiên Chúa.Hình dáng bên ngoài của một người dù đẹp hay xấu, cao hay thấp, trắng hay đen…đối với Chúa không có gì là xấu.Điều quan trọng nằm ở tâm hồn và thái độ sống của mỗi người. Dù nhỏ bé xấu xí nghèo hèn đến đâu, con người đều có phẩm giá và nhân vị vì họ được sáng tạo theo hình ảnh của Thiên Chúa. Nhận biết được điều này, chúng ta được mời gọi phải tôn trọng người khác với tất cả sự khác biệt của họ.
Ông Gerandy, nhà tư tưởng người Mỹ đã từng nói: “Chúng ta cần giống nhau một chút để hiểu nhau, nhưng cần phải khác nhau một chút để yêu thương nhau”. Chính sự khác biệt nơi mỗi người mà chúng ta được chia sẻ đắp đổi cho nhau, cùng cộng hưởng làm cho cuộc sống thêm phong phú và ý nghĩa.
Giá trị của cuộc sống không căn cứ trên số đo chiều cao của một người, chất lượng của cuộc sống không tính bằng sự hơn thua về nhan sắc hay hình thức bên ngoài nhưng dựa vào thái độ chúng ta đối xử với mọi người. Chúng ta không sống như một ốc đảo nhưng là sống cùng và sống với người khác. Chúng ta không thể tự thỏa mãn với chính mình nhưng luôn cần sự chia sẻ, nâng đỡ và an ủi của người khác. Người kiêu căng tự cho mình là đầy đủ nên Thiên Chúa không thể ban thêm điều gì, trái lại người khiêm tốn như một chiếc ly còn trống rỗng sẽ dễ dàng đón nhận được nhiều ân sủng của Thiên Chúa.
Đọc lại Kinh Thánh, chúng ta thấy Thiên Chúa đặc biệt yêu thích người có tâm hồn khiêm tốn. Chúa sẽ không mạc khải cho những bậc khôn ngoan thông thái biết về mầu nhiệm Nước Trời nhưng lại mạc khải cho những người bé mọn. Chính Chúa Giêsu đã dạy chúng ta phải đón nhận người khác như đón nhận chính Chúa, vì “Ai đón tiếp người Thầy sai đến là đón tiếp Thầy, và ai đón tiếp Thầy là đón tiếp Đấng đã sai Thầy” (Ga 13,20).
Vì thế mỗi người chúng ta cũng đừng tự mãn cho mình là người có đầy đủ mà không cần đến sự giúp đỡ của người khác. Trái lại chúng ta là một thụ tạo với đầy khuyết điểm và tính hư nết xấu. Mang trong mình di chứng của tội nguyên tổ, chúng ta luôn bị cám dỗ chiều theo sự xấu. Nhận ra điều này để chúng ta biết cậy nhờ vào ơn Chúa giúp mà hoàn thiện chính mình.
Và để minh chứng cho lòng thương xót của Thiên Chúa, Chúa Giêsu còn đưa ra một ví dụ về người chủ chăn đã bỏ 99 con chiên mà đi tìm một con chiên lạc. Sứ mạng của Chúa Giêsu đến trần gian không phải để kêu gọi người công chính nhưng là kêu gọi người tội lỗi.
Ai khiêm tốn nhận mình là yếu hèn tội lỗi thì Thiên Chúa càng ban ơn giúp sức. Thánh Phaolô tông đồ có nhiều kinh nghiệm về điều này, thánh nhân đã khiêm tốn nhận mình là tôi tớ yếu đuối chẳng có gì để vênh vang.Chúng ta có là gì thì cũng nhờ bởi ơn Chúa. Còn thánh Augustinô thì xác quyết: “Chúa là Đấng cao cả, nếu con hạ mình xuống, Người cũng hạ mình xuống kết hợp với con; nhưng nếu con nâng mình lên, Người sẽ tránh xa con”.
