2021
ĐỨC MẸ VÔ NHIỄM NGUYÊN TỘI
ĐỨC MẸ VÔ NHIỄM NGUYÊN TỘI
lễ trọng
Ca nhập lễ
Is 61,10
Tôi mừng rỡ muôn phần nhờ Đức Chúa,
nhờ Thiên Chúa tôi thờ, tôi hớn hở biết bao !
Vì Người mặc cho tôi hồng ân cứu độ,
choàng cho tôi đức chính trực công minh,
tựa cô dâu phục sức huy hoàng.
Lời nguyện nhập lễ
Lạy Chúa, Chúa đã dọn sẵn một cung điện xứng đáng cho Con Chúa giáng trần khi làm cho Ðức Trinh Nữ Maria khỏi mắc tội tổ tông ngay từ trong lòng mẹ. Chúa cũng gìn giữ Người khỏi mọi vết nhơ tội lỗi nhờ công nghiệp Con Chúa sẽ chịu chết sau này. Vì lời Ðức Trinh Nữ nguyện giúp cầu thay, xin Chúa cũng ban cho chúng con được trở nên công chính thánh thiện mà đón rước Con Chúa là Thiên Chúa hằng sống và hiển trị cùng Chúa, hiệp nhất với Chúa Thánh Thần đến muôn thuở muôn đời.
Ðọc kinh tin kính
Bài đọc 1
St 3,9-15.20
Ta sẽ gây mối thù giữa dòng giống mi và dòng giống người đàn bà.
Bài trích sách Sáng thế.
9 Sau khi con người ăn trái cây, Đức Chúa là Thiên Chúa gọi con người và hỏi : “Ngươi ở đâu ?” 10 Con người thưa : “Con nghe thấy tiếng Ngài trong vườn, con sợ hãi vì con trần truồng, nên con lẩn trốn.” 11 Đức Chúa là Thiên Chúa hỏi : “Ai đã cho ngươi biết là ngươi trần truồng ? Có phải ngươi đã ăn trái cây mà Ta đã cấm ngươi ăn không ?” 12 Con người thưa : “Người đàn bà Ngài cho ở với con, đã cho con trái cây ấy, nên con ăn.” 13 Đức Chúa là Thiên Chúa hỏi người đàn bà : “Ngươi đã làm gì thế ?” Người đàn bà thưa : “Con rắn đã lừa dối con, nên con ăn.” 14 Đức Chúa là Thiên Chúa phán với con rắn :
“Mi đã làm điều đó, nên mi đáng bị nguyền rủa nhất
trong mọi loài súc vật và mọi loài dã thú.
Mi phải bò bằng bụng, phải ăn bụi đất mọi ngày trong đời mi.
15Ta sẽ gây mối thù giữa mi và người đàn bà,
giữa dòng giống mi và dòng giống người ấy ;
dòng giống đó sẽ đánh vào đầu mi, và mi sẽ cắn vào gót nó.”
20 Con người đặt tên cho vợ là E-và, vì bà là mẹ của chúng sinh.
Đáp ca
Tv 97,1.2-3ab.3cd-4 (Đ. c.1a)
Đ.Hát lên mừng Chúa một bài ca mới,
vì Người đã thực hiện bao kỳ công.
1Hát lên mừng Chúa một bài ca mới,
vì Người đã thực hiện bao kỳ công.
Người chiến thắng nhờ bàn tay hùng mạnh,
nhờ cánh tay chí thánh của Người.
Đ.Hát lên mừng Chúa một bài ca mới,
vì Người đã thực hiện bao kỳ công.
2Chúa đã biểu dương ơn Người cứu độ,
mặc khải đức công chính của Người trước mặt chư dân ;
3abNgười đã nhớ lại ân tình và tín nghĩa
dành cho nhà Ít-ra-en.
Đ.Hát lên mừng Chúa một bài ca mới,
vì Người đã thực hiện bao kỳ công.
3cdToàn cõi đất này đã xem thấy
ơn cứu độ của Thiên Chúa chúng ta.
4Tung hô Chúa, hỡi toàn thể địa cầu,
mừng vui lên, reo hò đàn hát.
Đ.Hát lên mừng Chúa một bài ca mới,
vì Người đã thực hiện bao kỳ công.
Bài đọc 2
Ep 1,3-6.11-12
Trong Đức Ki-tô, Người đã chọn ta trước cả khi tạo thành vũ trụ.
Bài trích thư của thánh Phao-lô tông đồ gửi tín hữu Ê-phê-xô.
3Chúc tụng Thiên Chúa
là Thân Phụ Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta.
Trong Đức Ki-tô,
từ cõi trời, Người đã thi ân giáng phúc
cho ta hưởng muôn vàn ơn phúc của Thánh Thần.
4Trong Đức Ki-tô,
Người đã chọn ta trước cả khi tạo thành vũ trụ,
để trước thánh nhan Người,
ta trở nên tinh tuyền thánh thiện,
nhờ tình thương của Người.
5Theo ý muốn và lòng nhân ái của Người,
Người đã tiền định cho ta làm nghĩa tử
nhờ Đức Giê-su Ki-tô,
6để ta hằng ngợi khen ân sủng rạng ngời,
ân sủng Người ban tặng cho ta
trong Thánh Tử yêu dấu.
11Thiên Chúa là Đấng làm nên mọi sự
theo quyết định và ý muốn của Người,
đã tiền định cho chúng tôi đây làm cơ nghiệp riêng
theo kế hoạch của Người,
12để chúng tôi là những người đầu tiên
đặt hy vọng vào Đức Ki-tô,
chúng tôi ngợi khen vinh quang Người.
Tung hô Tin Mừng
- Lc 1,28
Ha-lê-lui-a. Ha-lê-lui-a. Kính chào Đức Ma-ri-a, Mẹ đầy ân sủng, Thiên Chúa ở cùng Mẹ, Mẹ có phúc hơn mọi người nữ. Ha-lê-lui-a.
Tin Mừng
Lc 1,26-38
Này đây bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai.
✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.
26 Khi ấy, bà Ê-li-sa-bét có thai được sáu tháng, thì Thiên Chúa sai sứ thần Gáp-ri-en đến một thành miền Ga-li-lê, gọi là Na-da-rét, 27 gặp một trinh nữ đã thành hôn với một người tên là Giu-se, thuộc dòng dõi vua Đa-vít. Trinh nữ ấy tên là Ma-ri-a.
28 Sứ thần vào nhà trinh nữ và nói : “Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ân sủng, Đức Chúa ở cùng bà.” 29 Nghe lời ấy, bà rất bối rối, và tự hỏi lời chào như vậy có nghĩa gì.
30 Sứ thần liền nói : “Thưa bà Ma-ri-a, xin đừng sợ, vì bà được đẹp lòng Thiên Chúa. 31 Này đây bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai, và đặt tên là Giê-su. 32 Người sẽ nên cao cả, và sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao. Đức Chúa là Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngai vàng vua Đa-vít, tổ tiên Người. 33 Người sẽ trị vì nhà Gia-cóp đến muôn đời, và triều đại của Người sẽ vô cùng vô tận.”
34 Bà Ma-ri-a thưa với sứ thần : “Việc ấy sẽ xảy ra thế nào, vì tôi không biết đến việc vợ chồng ?”
35 Sứ thần đáp : “Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà, và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ toả bóng trên bà ; vì thế, Đấng Thánh sắp sinh ra sẽ được gọi là Con Thiên Chúa. 36 Kìa bà Ê-li-sa-bét, người họ hàng với bà, tuy già rồi, mà cũng đang cưu mang một người con trai : bà ấy vẫn bị mang tiếng là hiếm hoi, mà nay đã có thai được sáu tháng, 37 vì đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được.”
38 Bấy giờ bà Ma-ri-a nói với sứ thần : “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Người thực hiện cho tôi như lời sứ thần nói.” Rồi sứ thần từ biệt ra đi.
Lời nguyện tiến lễ
Lạy Chúa, xin vui lòng chấp nhận hy lễ cứu độ chúng con dâng trong ngày đại lễ mừng Ðức Trinh Nữ Maria vô nhiễn nguyên tội. Chúa đã ban ơn gìn giữ Người khỏi mọi tỳ ố, xin cũng nghe lời Người chuyển cầu mà cho chúng con thoát khỏi vòng tội lỗi. Chúng con cầu xin …
Lời tiền tụng
Lạy Cha chí thánh là Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, chúng con tạ ơn Cha mọi nơi mọi lúc, thật là chính đáng, phải đạo, và sinh ơn cứu độ cho chúng con. Cha đã gìn giữ Ðức Trinh Nữ Maria khỏi mọi vết nhơ nguyên tội. Cha đã cho Người được đầy ơn sủng để Người xứng đáng làm Mẹ của Con Cha. Nơi Người, Cha đã phác hoạ hình ảnh một Hội Thánh rất sinh đẹp, không tỳ ố, không vết nhăn, là Hiền Thê của Ðức Kitô. Thật vậy, Ðức Trinh Nữ rất thanh khiết sẽ sinh hạ cho nhân loại một người con là chiên vẹ toàn, Ðấng xóa tội trần gian. Cha đã chon Người giữa muôn một, để Người chuyển cầu và nêu gương thánh thiện cho dân Cha. Vì thế, hiệp với các Thiên thần và các thánh, chúng con vui mừng ca ngợi C ha và tung hô rằng:
Thánh! Thánh! Thánh! …
Ca hiệp lễ
Lạy Đức Ma-ri-a,
thiên hạ nói về Mẹ bao điều hiển hách,
vì từ nơi Mẹ,
đã xuất hiện Mặt Trời công chính,
là Đức Ki-tô, Thiên Chúa chúng con.
Lời nguyện hiệp lễ
Lạy Chúa, Chúa đã ban ân huệ vô song là gìn giữ Ðức Maria khỏi vướng mắc nguyên tội. Xin cũng cho thánh lễ chúng con cử hành chữa lành mọi thương tích nguyên tội còn để lại nơi chúng con. Chúng con cầu xin …
2021
Mẹ Maria và Thánh Thể
Mẹ Maria và Thánh Thể
Có nhiều bậc thánh nhân, như thánh Phêrô Damien, thánh Bênađô , thánh Bônaventura, thánh Bernadine . . . đã đồng thanh nói rằng, Chúa Giêsu đã thành lập Bí tích Thánh Thể, trước hết cho Mẹ Maria, rồi qua Mẹ Maria, Đấng trung gian mọi ân sủng, cho tất cả chúng ta.
Vì thế, xuất thân từ Đức Maria về thể lý, Chúa Giêsu đã đến để Ngài được ban cho chúng ta ngày qua ngày; và trong Chúa Giêsu, thịt vô nhiễm và máu trinh nguyên của Mẹ Người luôn luôn thấm nhập vào chúng ta, và làm cho linh hồn chúng ta say men tình ái.
Dựa vào lời xác tín của các thánh nói trên, chúng ta cùng suy niệm chủ đề: Mẹ Maria trong tương quan với Bí tích Thánh Thể . Phần suy niệm này xoay quanh khuôn khổ: Thịt bởi thịt tôi, máu bởi máu tôi.
- GIỜ CỦA MẸ – GIÁNG SINH – NHÀ BÁNH
- Giáng Sinh.
Nhìn vào bối cảnh Giáng Sinh, chúng ta nhận thấy Giáng Sinh là một mầu nhiệm đơn sơ, nhưng gây ngỡ ngàng, được diễn ra ở Bêlem như lời tiên báo của ngôn sứ Mica: “Phần ngươi, hỡi Bêlem, miền đất Giuđa, ngươi đâu phải là thành nhỏ nhất của Giuđa, vì nơi ngươi, vị lãnh tụ chăn dắt Israel dân Ta sẽ ra đời”. (Mk 5, 1).
Bêlem là chi tộc nhỏ nhất mà Chúa ưa thích. Thiên Chúa ưa thích chọn những gì bé nhỏ để biểu dương ơn cứu độ của Người. Thiên Chúa như bị thu hút bởi sự yếu hèn của loài người chúng ta. Bởi đó, “từ nơi ngươi, hỡi Bêlem, sẽ xuất hiện vị cứu tinh…”.
- Nhà bánh.
Bêlem có nghĩa là ngôi nhà làm bánh. Ở đó, các cô gái đang nhồi bột làm bánh cho ngày Sabbat, bánh của ngày lễ. Cũng ở đó, như một bức ảnh in chồng lên, Maria, người nội trợ của Giáo Hội đang nhồi bánh của Thiên Chúa, chiếc bánh cho ngày Sabbat, một chiếc bánh mới để rạng sáng ngày Phục Sinh: Chúa Giêsu, chiếc bánh được ban cho chúng ta.
- Giờ của Maria.
Tại Bêlem, ngôi nhà bánh, giờ của Mẹ đã đến.
Theo lệnh kiểm tra dân số của hoàng đế Augustô, Giuse và Maria trở về Bêlem để khai tên vào sổ bộ. “Khi hai người đang ở đó, thì Maria đã tới ngày mãn nguyệt khai hoa”. (Lc 2, 6).
Giờ của Maria đã đến, giờ của ngày Giáng Sinh. Tấm bánh đã được làm ra.
“Khi sinh con, người đàn bà cảm thấy lo buồn, vì đến giờ của mình; nhưng sinh con rồi, thì không còn nhớ đến cơn gian nan nữa, bởi được chan chứa niềm vui, vì một người con đã sinh ra trong thế gian”. (Ga 16, 21). Khi nói lời này, Chúa Giêsu muốn so sánh giờ Giáng Sinh với giờ Thương Khó, đó là hai huyền nhiệm, nhưng chỉ là một thực tại. Ở giờ Thương khó, Chúa Giêsu, Bánh Thánh Thể chính thức được ban cho Giáo Hội mãi mãi.
Cha Stêphanô Manelli nói rằng: “Thánh Thể là Bánh từ trời đã đến qua Mẹ chúng ta. Đó là bánh do Mẹ chế biến từ bột của xác thịt vô nhiễm, và được nhào trộn với sữa trinh nguyên của Mẹ”. Và thánh Augustinô đã nói: “Chúa Giêsu lấy thân xác của Người từ thân xác của Mẹ Maria”.
Đối lại với Giờ của Mẹ Maria, thì ba mưoi ba năm sau là Giờ của Chúa Giêsu, diễn ra qua cuộc Thương Khó. Lúc đó, Chúa Giêsu là Tấm Bánh được bẻ ra.
- GIỜ CỦA CHÚA GIÊSU – THƯƠNG KHÓ – TẤM BÁNH ĐƯỢC BẺ RA
- Giờ của Chúa Giêsu.
Phúc âm thánh Gioan có ghi: “Trước lễ vượt qua, Chúa Giêsu biết giờ của Người đã đến, giờ phải bỏ thế gian mà về với Chúa Cha. Người vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người yêu thương họ đến cùng” (Ga 13,1). Và Người còn nói: “Thầy ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28, 20).
Do đó, trong bữa tiệc ly, Chúa Giêsu đã bắt đầu một hy lễ mới, để tiếp tục ở lại với những kẻ thuộc về Người. Khi Người lập Bí tích Thánh Thể: Người cầm lấy bánh, tạ ơn, bẻ ra, trao cho các môn đệ và phán: “Nầy là Mình Ta sẽ bị nộp vì các con”. Cùng một thể thức ấy, Người cầm lấy chén rượu, tạ ơn, trao cho các môn đệ và phán: “Nầy là chén Máu Ta sẽ đổ ra vì các con. Các con hãy làm việc nầy mà nhớ đến Ta”. Hy lễ này rồi sẽ được hoàn tất nơi cuộc Thương Khó.
- Thương Khó.
Chúa Giêsu bắt đầu cuộc hiến tế từ chiều nay, thứ năm, để chiều mai, thứ sáu, Người hoàn tất trên thập giá, vì lễ hy sinh trong bữa tiệc ly và lễ hy sinh trên thập giá chỉ là một. Trong cả hai, Chúa Giêsu đã hiến mình làm lễ vật dâng hiến Chúa Cha:
* Trong bữa tiệc ly, Chúa Giêsu hiến tế cách mầu nhiệm và bí tích. Trên thập giá, Chúa Giêsu hiến tế bằng chính Mình Máu mình.
* Trong bữa tiệc ly, ý muốn hiến thân của Chúa Giêsu đã được biểu lộ qua một cử chỉ bề ngoài: Người cương quyết dấn thân chịu hy sinh đẫm máu trên thập giá. Ở đó, tấm bánh đã được bẻ ra.
- Tấm bánh được bẻ ra.
Tấm bánh được bẻ ra như thế nào ?
Trên thập giá, Chúa Giêsu chịu hiến tế: “Đứng gần thập giá Chúa Giêsu, có Mẹ Người, chị của Mẹ Người là bà Maria vợ ông Clôpas và bà Maria Macdala” (Ga 19, 25).
Mẹ Maria đã trung thành hợp nhất với Con cho đến bên thập giá. Tấm bánh mà Mẹ đã làm ra ở ngày Giáng Sinh, hôm nay, sau 33 năm, Mẹ tiến dâng trên thập giá. Mẹ đã hết tình ưng thuận hiến tế lễ vật do lòng Mẹ sinh ra, để tấm bánh ấy được bẻ ra và trao ban.
Đúng vậy, Công Đồng Vatican II, trong Hiến chế về Giáo Hội đã nhắc nhỡ chúng ta nhớ lại lòng trắc ẩn của Mẹ Maria: trong tim Mẹ dội lại tất cả những gì Chúa Giêsu chịu đựng trong thân xác và linh hồn, đề cao lòng mong muốn của Mẹ được chia sẻ với hy lễ cứu chuộc của Con, và nối kết sự đau đớn tình mẹ của Mẹ với sự hiến dâng tư tế của Con. (LG 58)
Quả là một hành động yêu thương đích thực, qua đó, Mẹ dâng Con mình như của lễ hy sinh đền tội cho toàn thể nhân loại. Đến đây, ta thấy lóe lên một vấn nạn.
- Vấn nạn.
Lễ hy sinh trong bữa tiệc ly và lễ hy sinh trên thập giá là một. Vậy, tại sao dưới chân thập giá có Mẹ Maria hiện diện, còn trong bữa tiệc ly Mẹ lại vắng mặt ?
Đức Hồng Y James Hickey đã giải thích như sau: Chúa Giêsu đã yêu Mẹ rất nhiều, yêu hơn hết mọi sự, Người muốn cho chúng ta một bài học đích đáng, qua việc không đưa Mẹ Người vào trong bữa tiệc ly. Đó là Chúa Giêsu muốn nhấn mạnh đến nguồn gốc “tặng ân đến từ bên ngoài” (Extra nos) của chức tư tế trong Tân ước.
Chức tư tế trong Tân ước không do bởi tương quan huyết nhục, không do cha truyền con nối, cũng không do bởi tình trạng thánh thiện của vị tư tế, nhưng đó là “một tặng ân đến từ bên ngoài”, nghĩa là một tặng ân đến từ Chúa Cha, qua Chúa Kitô, trong Chúa Thánh Thần. Nó làm cho vị tư tế có thể hoạt động trong ngôi vị Chúa Kitô (in persona Christi). Bản tính và quyền năng của chức linh mục trong Tân ước được tỏ lộ nơi Chúa Kitô và duy nơi mình Người.
Công Đồng Vatican II, Hiến chế Giáo Hội nói rằng: chức tư tế chung của tín hữu và chức tư tế thừa tác khác nhau, không chỉ về cấp bậc mà còn về yếu tính, tuy nhiên, cả hai đều bổ túc cho nhau. (LG 10). Sự bổ túc cho nhau của chức tư tế thừa tác và chức tư tế chung được biểu lộ rõ nét ở dưới chân thập giá. Ở đó, có thánh Gioan, là một linh mục đang đứng bên Mẹ Maria.
Như vậy, Sự tách biệt nơi bữa tiệc ly là nhằm để chứng minh bản tính phẩm trật của Giáo Hội, được đi theo bởi một tổng hợp ở dưới chân thập giá. Dưới chân thập giá, có Mẹ Maria và Gioan, mỗi người như là một khía cạnh của bản tính Giáo Hội, vẫn tách biệt, nhưng cả hai được sắp đặt và cấu tạo để bổ túc cho nhau:
– Gioan được ban cho Mẹ Maria.
– Mẹ Maria được ban cho Gioan.
III. HIỆP LỄ CÓ MẸ.
Mỗi khi chúng ta rước lấy Mình Máu Chúa Giêsu, chúng ta nên ý thức rằng có sự hiện diện của Mẹ Maria.
- Lưu lại.
“Ai ăn thịt Ta và uống máu Ta, thì luôn lưu lại trong Ta, và Ta ở trong người ấy”. (Ga 5, 56). Lưu lại là sự kết hiệp thật sâu xa đến nỗi sự kết hiệp nầy có tính cách thường hằng và bền vững. Được kết hiệp với Chúa Giêsu trong bí tích Thánh Thể, chúng ta kết hiệp với Thịt và Máu Chúa Giêsu, được lấy từ thịt và máu của Mẹ Maria. Do đó, mỗi khi chúng ta rước lễ là có sự hiện diện dịu dàng và huyền nhiệm của Mẹ Maria, Đấng liên kết bất khả phân ly với Chúa Giêsu trong hình bánh hình rượu.
Chúa Giêsu là người con mà Mẹ hằng tôn thờ. Người là xác thịt của xác thịt Mẹ. Xưa kia, Adong có thể gọi Evà, khi bà được lấy từ xương sườn của ông, rằng: “Xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi” (St 2, 23), thì nay, Mẹ Maria cũng có thể có lý để gọi Chúa Giêsu là “thịt bởi thịt tôi và máu bởi máu tôi”.
Thánh Tôma Aquinô đã nói: “Được lấy từ Đức Nữ Đồng Trinh, xác thịt của Chúa Giêsu là xác thịt thuộc mẫu tính của Mẹ Maria”.
Thánh Augustinô đã dạy: “ Trong Bí tích Thánh Thể, Mẹ Maria nối dài, và làm cho tình mẫu tử thiêng liêng của Mẹ mãi mãi tồn tại”.
Thánh Albertô Cả ân cần khuyên: “Bạn ơi, nếu bạn muốn có kinh nghiệm về tình thân mật với Đức Maria, bạn hãy để chính bạn được ôm ấp trong cánh tay của Mẹ.
.Hãy bước đi với tư tưởng tinh tuyền khôn tả này tới bàn tiệc của Thiên Chúa, rồi bạn sẽ tìm thấy được sự nuôi dưỡng của người Mẹ bằng bữu huyết của người Con”.
- Kinh nghiệm thực hành trong Giáo Hội.
Thể hiện những tư tưởng trên, chúng ta nhận thấy rõ nét, ở kinh nghiệm thực hành các việc tôn sùng trong Giáo Hội, qua nhiều cuộc biểu dương lòng sùng kính Mẹ Maria, được kết thúc bằng việc tôn thờ Thánh Thể và Phép Lành Mình Thánh Chúa.
Đó là kết quả hợp tình hợp lý: Lòng tôn kính Mẹ Maria đã dẫn đưa các tín hữu đến lòng tôn thờ Chúa Giêsu Kitô.
KẾT
Để kết thúc bài suy niệm này, tôi xin mượn lời kinh AVE, VERUM CORPUS để ca ngợi Đức Mẹ Thánh Thể:
Con kính lạy Mình Thánh Chúa Giêsu,
Xưa bởi lòng rất thánh Đức Bà Maria,
Trọn đời đồng trinh mà ra,
Chuộc tội chịu chết trên cây thánh giá,
Cùng chịu lưỡi đòng đâm cạnh nương long,
Chảy hết máu cùng nước ra.
Con xin ngày sau, khi con qua đời,
Xin Chúa hằng nuôi lấy linh hồn con.
Ôi Giêsu khoan thay,
Ôi Giêsu nhân thay,
Con rất thánh mẫu Maria. Amen
(bản dịch trích từ sách kinh của Giáo phận Qui Nhơn)
Lm And. Phạm văn Bé
2021
ĐTC gặp các giám mục, linh mục, tu sĩ nam nữ, chủng sinh và giáo lý viên của Hy Lạp
ĐTC gặp các giám mục, linh mục, tu sĩ nam nữ, chủng sinh và giáo lý viên của Hy Lạp
Chiều thứ Bảy 4/12/2021, sau khi gặp gỡ Đức tổng giám mục Jeronymos II của Chính Thống Hy Lạp, lúc khoảng 5 giờ chiều giờ địa phương, Đức Thánh Cha đã lên xe di chuyển đến nhà thờ chính toà Athens cách đó gần 1 km để gặp các giám mục, linh mục, tu sĩ nam nữ, chủng sinh và giáo lý viên của Hy Lạp.
Nhà thờ chính toà Athens
Nhà thờ chính toà Athens được dâng kính cho thánh Dionigi thành viên Hội đồng Arêôpagô, như được đề cập trong sách Công vụ Tông đồ (17,34), giám mục đầu tiên của thành phố. Ngài đã trở lại Kitô giáo sau bài thuyết giảng của thánh Phaolô tại Hội đồng Arêôpagô.
Nhà thờ được bắt đầu xây dựng vào năm 1853 theo bản vẽ của kiến trúc sư người Đức Leo von Klenze, nhưng được hoàn thành vào năm 1865 dưới sự hướng dẫn của kiến trúc sư Hy Lạp Kaftantzoglou. Nhà thờ được nâng lên thành tiểu vương cung thánh đường vào năm 1877; đây cũng là nhà thờ đầu tiên và cuối cùng của Hy Lạp có tước hiệu này.
Khi Đức Thánh Cha đến nhà thờ, Đức tổng giám mục của Athens và cha sở của nhà thờ chào đón ngài. Sau khi hôn Thánh giá và rảy nước thánh ở lối vào chính, Đức Thánh Cha tiến vào trong nhà thờ giữa tiếng thánh ca.
Đức cha Chủ tịch Hội đồng giám mục Hy Lạp chào đón Đức Thánh Cha
Mở đầu cuộc gặp gỡ, Đức cha Sevastianos Rossolatos, tổng giám mục hưu trí của Athens và Chủ tịch Hội đồng giám mục Hy Lạp, có lời chào đón Đức Thánh Cha. Chủ tịch Hội đồng giám mục Hy Lạp bày tỏ niềm vui được Đức Thánh Cha viếng thăm cũng như sự ủng hộ của cộng đoàn Công giáo đối với sứ vụ của Đức Thánh Cha.
Nguyên tổng giám mục của Athens đã nói về thách đố của sự toàn cầu hoá cũng như ảnh hưởng của quá trình thế tục hoá, làm suy yếu sự ủng hộ của xã hội đối với đức tin truyền thống và bộc lộ những khiếm khuyết vẫn còn tồn tại trong cách chúng ta nuôi dưỡng đức tin. Kết quả là ngày nay nhiều người xa Lời Chúa và đời sống phụng vụ của Giáo hội, dẫn đến việc suy giảm ơn gọi. Ngày nay phần lớn linh mục và tu sĩ đến từ các nước khác.
Kế đến là những khó khăn về mục vụ đối với những tín hữu di dân, nhưng nhờ họ, Giáo hội Hy Lạp cũng trở nên sinh động và làm chứng cho đức tin trong một thế giới không ngừng thay đổi.
Chủ tịch Hội đồng giám mục Hy Lạp cũng nói về tương quan giữa Giáo hội Công giáo với Giáo hội Chính Thống và nhà nước. Ngài tin rằng những lời của Đức Thánh Cha sẽ giúp họ lắng nghe điều Chúa Thánh Thần nói với Giáo hội và có sức mạnh củng cố họ tìm thấy đức tin và cách thức để ra khơi thả lưới, theo sự khích lệ của Chúa.
Chứng từ của sơ Maria dòng Ngôi Lời Nhập thể
Tiếp đến, sơ Maria, người Argentina, dòng các Nữ tỳ của Chúa và của Đức Trinh Nữ ở Matara, một nhánh của gia đình Ngôi Lời Nhập thể, chia sẻ về việc thành lập một cộng đoàn tại đảo Tinos của Hy Lạp, phục vụ tại đền thánh Đức Mẹ Vrysi và cũng để giúp đỡ trong việc tông đồ của giáo phận.
Sơ chia sẻ: “Chúng tôi không biết tiếng, không nói được gì, nhưng mọi người và chúng tôi hạnh phúc như thể đã quen nhau cả đời. Ấn tượng đầu tiên là sự hiếu khách của người dân và lòng khao khát Chúa. Tôi nhớ những câu hỏi đầu tiên, và vẫn còn lặp lại với chúng tôi: tại sao lại là Hy Lạp? Sơ thích à? Và câu trả lời của chúng tôi luôn đi kèm nụ cười: “Vâng, vì đó là ý Chúa”.
Sau đó, ông Rosko, một giáo dân, đã chia sẻ về đời sống đạo của gia đình. Ông là người Công giáo thực hành đạo, còn vợ theo Chính Thống. Các con họ theo học trường Công giáo, dự lễ Chúa Nhật, lãnh nhận các bí tích. Nhưng vào năm các con ông 17 tuổi, sau một biến cố, các con ông đã không còn sống đạo. Những câu hỏi của ông được các con trả lời bằng sự thờ ơ và chế giễu khiến ông khó chịu. Ông tự hỏi có điều gì sai trong cách nuôi dạy con cái của mình. Ông đã tự trách mình.
Tuy nhiên ông vẫn kiên trì cầu nguyện và đức tin không lay chuyển. Sau khi theo lời khuyên của cha giải tội trò chuyện với các con, ông biết các con của ông vẫn có đức tin nhưng thời đại đã thay đổi và họ muốn Giáo hội có điều gì đó khác. Họ nói với ông rằng họ ở bên ông, họ là một. Câu trả lời của các con đã giúp ông nhìn cuộc sống hàng ngày của một gia đình có hôn nhân khác đạo, trong môi trường làm việc, nơi mà họ là thiểu số bằng đôi mắt của họ Ông nhấn mạnh: Nhưng thực tế là các con đã cảm nghiệm sự hiệp nhất với những người khác, như họ đã nghe ở nhà và ở trường, và đó là điều tích cực của việc trò chuyện với nhau.
Diễn văn của Đức Thánh Cha
Trong bài nói chuyện với các giám mục, linh mục, tu sĩ nam nữ, chủng sinh, giáo lý viên của Hy Lạp Đức Thánh Cha nhắn nhủ họ về hai thái độ: tin tưởng vững vàng và đón nhận.
Hội nhập văn hoá đức tin
Trước hết Đức Thánh Cha đề cao Hy Lạp nơi là di sản của nhân loại, trên đó các nền tảng của phương Tây đã được xây dựng. Ngài nói: Tất cả chúng ta đều là những người con và những người mắc nợ đất nước của anh chị em: nếu không có thơ ca, văn học, triết học và nghệ thuật được phát triển ở đây, chúng ta sẽ không thể biết nhiều khía cạnh của cuộc sống của con người, cũng như không thể trả lời nhiều câu hỏi nội tâm về cuộc sống, về tình yêu, về nỗi đau và sự chết.
Di sản phong phú này, nhờ sự khôn ngoan của nhiều Giáo phụ, đã làm nảy sinh cuộc hội nhập văn hóa của đức tin. Nhưng người đã khởi đầu cho cuộc gặp gỡ giữa Kitô giáo sơ khai và nền văn hóa Hy Lạp chính là thánh Phaolô. Chính ngài là người là người tổng hợp hai thế giới đó.
Suy tư về đoạn sách Công vụ Tông đồ (xem Cv 17,16-34), thuật lại sự kiện thánh Phaolô đến Athens và thuyết giảng tại Hội đồng Arêôpagô (xem Cv 17,16-34), là hội đồng các trưởng lão và các học giả, những người có trách nhiệm đánh giá các vấn đề được công chúng quan tâm, Đức Thánh Cha nhận định rằng hai thái độ của thánh Phaolô có thể giúp cho Giáo hội trong việc hội nhập đức tin vào văn hoá.
Tin tưởng chắc chắn
Thái độ đầu tiên là sự tin tưởng chắc chắn. Thánh Phaolô gặp những khó khăn trong hành trình truyền giáo. Trước đó không lâu, tại Têxalônica, ngài đã bị ngăn cản không cho rao giảng; do tình trạng hỗn loạn do các đối thủ gây nên, ngài phải bỏ trốn khỏi thành phố vào ban đêm. Giờ đây, khi đến Athens, ngài đã bị xem là kẻ phỉnh gạt và bị đưa đến Hội đồng Arêôpagô như một vị khách không mời mà đến.
Đức Thánh Cha nhận xét: Có lẽ, nhiều khi trên hành trình, chúng ta cũng cảm thấy mệt mỏi và thậm chí thất vọng vì là một cộng đồng nhỏ bé, một Giáo hội với ít nguồn lực hoạt động trong một môi trường không phải lúc nào cũng thuận lợi. Ngài mời gọi: Hãy nghĩ về thánh Phaolô ở Athens. Ngài đơn độc, thuộc nhóm thiểu số, không được chào đón và có rất ít cơ hội thành công. Nhưng ngài không để mình bị sự nản lòng khuất phục. Ngài đã không từ bỏ sứ vụ của mình. Ngài cũng không chiều theo cám dỗ muốn phàn nàn. Đó là thái độ của một Tông đồ chân chính: tin tưởng tiến về phía trước, yêu thích sự bất trắc của những tình huống bất ngờ hơn là sự tự mãn đến từ sức mạnh của thói quen. Thánh Phaolô đã có dũng khí đó là nhờ sự tin tưởng vững chắc vào Thiên Chúa. Đó là lòng can đảm phát sinh từ sự tin tưởng vào Thiên Chúa, Đấng yêu thích hoàn thành những điều vĩ đại thông qua sự thấp hèn của chúng ta.
Giáo hội là một thiểu số nhưng không phải là vô nghĩa
Đức Thánh Cha khuyên tín hữu Hy Lạp hãy có lòng tín thác như thánh Phaolô, bởi vì là một Giáo hội nhỏ bé khiến chúng ta trở thành dấu chỉ hùng hồn của Tin Mừng, về Thiên Chúa được Chúa Giêsu rao truyền, Đấng đã chọn những người nghèo hèn, Đấng thay đổi lịch sử bằng những việc làm đơn sơ tầm thường. Là Giáo hội, chúng ta không được kêu gọi để có tinh thần chinh phục và chiến thắng, những con số ấn tượng hay sự vĩ đại của thế gian… Hãy xem sự nhỏ bé của mình là một phúc lành và sẵn sàng chấp nhận nó. Nó giúp các bạn tín thác vào Chúa và chỉ một mình Chúa. Là một thiểu số – và đừng quên rằng Giáo hội trên toàn thế giới là một thiểu số – không có nghĩa là tầm thường, mà là tiến gần hơn đến con đường được Chúa yêu thích, đó là con đường của sự nhỏ bé: của “kenosis” (tự huỷ mình ra không), tự hạ, hiền lành.
Sự chấp nhận
Thái độ thứ hai của thánh Phaolô được Đức Thánh Cha nêu bật chính là sự chấp nhận. Ngài nói: đây là tính cách nội tâm cần thiết cho việc truyền giảng Tin Mừng. Một thái độ chấp nhận không cố gắng chiếm chỗ và cuộc sống của người khác, nhưng để gieo tin vui vào mảnh đất cuộc sống của họ; nó học cách nhận biết và đánh giá cao những hạt giống mà Thiên Chúa đã gieo vào lòng họ trước khi chúng ta đến.
Truyền giáo không phải là chiêu dụ tín đồ
Đức Thánh Cha nhấn mạnh: Truyền giáo không phải là đổ đầy một thùng rỗng; nhưng chính là cho thấy rõ những gì Thiên Chúa đã bắt đầu hoàn thành. Và đây là phương pháp sư phạm nổi bật mà thánh Phaolô đã áp dụng với người Athens. Ngài đã không nói với họ: “Tất cả điều các bạn biết là sai lầm”, hoặc “Bây giờ tôi sẽ dạy bạn sự thật”. Ngược lại, ngài bắt đầu bằng việc chấp nhận tinh thần tôn giáo của họ… Thánh Tông đồ tôn trọng những người nghe mình và hoan nghênh lòng sùng đạo của họ. Thánh Phaolô nhìn nhận lòng khao khát đối với Thiên Chúa tiềm ẩn trong tâm hồn của những người đó, và muốn nhẹ nhàng chia sẻ với họ món quà đức tin tuyệt vời. Ngài không áp đặt; ngài đề nghị. “Phong cách” của ngài không dựa trên việc chiêu dụ tín đồ, mà dựa trên sự hiền lành của Chúa Giêsu. Điều này có thể có là nhờ thánh Phaolô có cái nhìn thiêng liêng về thực tế. Ngài tin rằng Chúa Thánh Thần hoạt động trong lòng con người, ở trên và vượt qua những nhãn hiệu tôn giáo… Trong mọi thời đại, thái độ của người tông đồ bắt đầu bằng việc chấp nhận người khác.
Cuối bài nói chuyện, Đức Thánh Cha cầu chúc các giám mục, linh mục, tu sĩ và giáo dân Hy Lạp tiếp tục việc truyền giáo với sự tin tưởng và chấp nhận để nếm hưởng Phúc Âm như một kinh nghiệm của niềm vui và tình huynh đệ.
Trước khi kết thúc cuộc gặp gỡ, Đức Thánh Cha đã cùng với mọi người đọc kinh Lạy Cha và sau đó ngài ban phép lành cho cộng đoàn.
Sau khi chào thăm từng giám mục và chụp hình chung với các ngài, Đức Thánh Cha trở về Toà Sứ thần cách đó gần 6 km và tại đây ngài có cuộc gặp gỡ riêng với các tu sĩ dòng Tên.
Hồng Thủy
2021
ĐTC thăm người tị nạn ở Mytilene trên đảo Lesbos, Hy Lạp
ĐTC thăm người tị nạn ở Mytilene trên đảo Lesbos, Hy Lạp
Lúc 08:30 sáng Chúa Nhật 5/12, ĐTC rời Toà Sứ thần, đi đến sân bay Athens cách đó 23km để bay đến sân bay Mytilene (Mi-ti-lí-ni) trên đảo Lesbos (Les-bos), bắt đầu ngày thứ hai chuyến tông du bằng việc thăm những người tị nạn ở “Trung tâm Tiếp nhận và Định danh”.
Đây là khu vực được trang bị cho việc tiếp nhận những người tị nạn ở Mytilene. Nó thay thế trung tâm tiếp nhận và định danh Mória, được biết đến nhiều hơn với tên gọi Trại tị nạn Mória, là trại tị nạn lớn nhất ở châu Âu cho đến tháng 9 năm 2020, khi nó bị hỏa hoạn thiêu rụi. Trung tâm này nằm bên ngoài làng Mória gần Mytilene và đó là nơi Đức Thánh Cha Phanxicô đã đến thăm vào ngày 16/4/2016. Khu vực được trang bị mới ở Mytilene thường được người Hy Lạp gọi là “Mória 2.0” và chào đón hàng nghìn người.
ĐTC đến Trung tâm lúc 10:45, ngài đi dọc con đường dẫn vào nơi gặp gỡ và chào những người tị nạn tại đây. Có khoảng 200 người tham dự cuộc gặp gỡ với Đức Thánh Cha.
Buổi gặp gỡ bắt đầu bằng một bài hát, sau đó Tổng thống Hy Lạp đã có một bài phát biểu ngắn, sau đó là chứng từ của một người tị nạn và một tình nguyện viên.
Đức Thánh Cha đã bắt đầu bài diễn văn sau bài hát của một ca đoàn người tị nạn.
Bắt đầu bài diễn văn, ĐTC nói:
Anh chị em thân mến,
Cảm ơn về những lời của anh chị em. Tôi cảm ơn Bà Tổng thống, vì sự hiện diện và những lời của bà. Thưa anh chị em, tôi lại đến đây để gặp anh chị em. Tôi ở đây để nói với anh chị em rằng tôi gần gũi anh chị em. Tôi nói từ trái tim. Tôi ở đây để nhìn thấy khuôn mặt của anh chị em, để nhìn vào mắt anh chị em, đôi mắt đầy sợ hãi và mong đợi, đôi mắt đã nhìn thấy bạo lực và nghèo đói, đôi mắt nhíu lại vì quá nhiều nước mắt. Đức Thượng Phụ Đại Kết và người anh em Bartholomeo, cách đây 5 năm tại hòn đảo này, đã nói một điều khiến tôi bị đánh động: “Những người sợ anh chị em đã không nhìn thẳng vào mắt của anh chị em. Những người sợ anh chị em đã không nhìn vào khuôn mặt của anh chị em. Những người sợ anh chị em đã không nhìn thấy con cái của anh chị em. Quên rằng phẩm giá và tự do vượt cao hơn nỗi sợ hãi và chia rẽ. Quên rằng di cư không phải là vấn đề của Trung Đông và Bắc Phi, của châu Âu và Hy Lạp, nhưng là một vấn đề của thế giới ”( Diễn văn, ngày 16 tháng 4 năm 2016).
Vâng, đó là một vấn đề của thế giới, một cuộc khủng hoảng nhân đạo ảnh hưởng đến tất cả mọi người. Đại dịch đã ảnh hưởng đến chúng ta ở cấp độ toàn cầu, nó khiến tất cả chúng ta thấy mình đang ở trên cùng một con thuyền, nó khiến chúng ta học được thế nào là có cùng nỗi sợ hãi. Chúng ta hiểu rằng các vấn đề lớn phải được giải quyết cùng nhau, bởi vì trong thế giới ngày nay, các giải pháp rời rạc là không phù hợp. Nhưng trong khi chúng ta hết mình tiêm chủng toàn cầu, dẫu cho có những chậm trễ và do dự, hoặc có những bước tiến trong việc chống biến đổi khí hậu, nhưng điều này dường như gặp một sự lẩn tránh khủng khiếp đối với vấn đề di cư. Tuy nhiên, có nhiều người mà cuộc sống họ đang bị đe dọa! Tương lai của tất cả mọi người đang bị đe dọa, và chỉ sẽ bình yên nếu được hội nhập. Chỉ khi được hòa giải với những người yếu nhất thì tương lai đó mới thịnh vượng. Bởi vì khi người nghèo bị từ chối, thì hòa bình cũng bị từ chối.
Lịch sử dạy chúng ta rằng sự đóng lại và chủ nghĩa quốc gia sẽ dẫn đến những hậu quả tai hại. Thật vậy, như Công đồng Vatican II đã nhắc lại, “ý chí cương quyết muốn tôn trọng người khác, những dân tộc khác cũng như phẩm giá của họ và sự ân cần thực thi tình huynh đệ là những điều kiện thiết yếu để xây dựng hòa bình.” (Gaudium et spes, 78). Thật là ảo tưởng khi nghĩ rằng làm như vậy là đủ để mình được an toàn, bảo vệ bản thân khỏi những kẻ yếu nhất đến gõ cửa chúng ta. Trong tương lai, chúng ta còn tiếp xúc với nhau nhiều hơn. Để làm tương lai trở nên tốt đẹp, điều chúng ta cần không phải là những hành động đơn phương, nhưng là những chính sách mở rộng. Tôi nhắc lại, lịch sử đã dạy điều đó, nhưng chúng ta chưa học được. Đừng quay lưng lại với thực tế, đừng mãi thoái thác trách nhiệm, đừng luôn đẩy vấn đề di cư cho người khác, như thể chẳng ai liên can và đó chỉ là một gánh nặng vô ích mà ai đó buộc phải gánh vác!
Những chị em, anh em, những khuôn mặt và ánh mắt của anh chị em yêu cầu chúng ta không quay lưng lại, không phủ nhận nhân tính chung của chúng ta, biến câu chuyện của anh chị em thành của chúng ta và đừng quên những thảm kịch của anh chị em. Elie Wiesel, nhân chứng của thảm kịch lớn nhất thế kỷ qua, đã viết: “Chính vì tôi nhớ về sự khởi đầu chung của chúng ta mà tôi xích lại gần hơn với đồng loại của mình. Đó là bởi vì tôi không quên rằng tương lai của họ cũng quan trọng như tương lai của tôi.” (From the Kingdom of Memory, Reminiscences, New York, 1990, 10). Vào Chúa Nhật này, tôi cầu xin Chúa đánh thức chúng ta khỏi sự khước từ của chúng ta đối với những người đau khổ, đánh thức chúng ta khỏi chủ nghĩa cá nhân vốn loại trừ người khác, đánh thức những trái tim bị điếc của chúng ta trước nhu cầu của người khác. Và tôi cũng kêu gọi mọi người: chúng ta hãy vượt qua sự tê liệt của nỗi sợ hãi, sự thờ ơ giết chết, sự thờ ơ yếm thế kết án tử những người bên lề bằng đôi găng tay nhung lụa! Chúng ta hãy phản đối tận gốc tư tưởng thống trị, tư tưởng xoay quanh cái tôi, cái tôi cá nhân và quốc gia ích kỷ, vốn trở thành thước đo và tiêu chí của mọi thứ.
Năm năm đã trôi qua kể từ chuyến thăm được thực hiện tại đây với những người anh em thân yêu Bartolomeo và Jeronymos. Sau tất cả thời gian này, chúng ta vẫn thấy rằng vấn đề di cư chẳng mấy thay đổi. Tất nhiên, nhiều người đã dấn thân chào đón và hội nhập, và tôi muốn cảm ơn nhiều tình nguyện viên và những người ở mọi cấp – tổ chức, xã hội, từ thiện – đã thực hiện những nỗ lực to lớn, chăm sóc người dân và vấn đề di cư. Tôi ghi nhận sự dấn thân hỗ trợ và xây dựng các cơ sở tiếp nhận xứng đáng và tôi chân thành cảm ơn người dân địa phương vì những điều tốt đẹp mà họ đã làm và nhiều hy sinh mà họ đã cố gắng. Nhưng chúng ta phải cay đắng thừa nhận rằng đất nước này, cũng như những nước khác, vẫn đang chịu nhiều áp lực, và ở châu Âu có những người vẫn cương quyết coi vấn đề này như một việc mà họ không quan tâm. Và bao nhiêu điều kiện không xứng đáng với con người! Có bao nhiêu điểm nóng nơi người di cư và người tị nạn sống trong điều kiện hạn chế, mà không có giải pháp nào phía trước! Tuy nhiên, sự tôn trọng đối với các cá nhân và quyền con người, điều không ngừng được cổ võ trên toàn cầu, đặc biệt ở lục địa này, cần phải luôn được bảo vệ, và phẩm giá của mỗi người phải được đặt lên hàng đầu. Thật đáng buồn khi nghe đề xuất như một giải pháp rằng nguồn quỹ chung được sử dụng để xây tường. Tất nhiên, chúng ta hiểu những nỗi sợ hãi và bất an, khó khăn và nguy hiểm. Người ta cảm thấy mệt mỏi và thất vọng, càng trở nên trầm trọng hơn bởi các cuộc khủng hoảng kinh tế và đại dịch, nhưng không phải bằng cách dựng lên các hàng rào thì các vấn đề được giải quyết và sự chung sống được cải thiện. Thay vào đó, cần chung sức để chăm sóc người khác theo khả năng thực tế của mỗi người và tuân theo luật pháp, luôn đặt giá trị không thể chuyển nhượng của sự sống mỗi người lên hàng đầu. Elie Wiesel còn nói: “Khi tính mạng con người bị đe dọa, khi phẩm giá con người gặp nguy hiểm, thì biên giới quốc gia trở thành vô nghĩa” (Diễn văn nhận giải Nobel Hòa bình, ngày 10 tháng 12 năm 1986).
Trong nhiều xã hội khác nhau, có những đối kháng về ý thức hệ giữa an ninh và liên đới, địa phương và phổ quát, truyền thống và cởi mở. Thay vì tranh cãi về các ý tưởng, thì sẽ hữu ích hơn nếu bắt đầu với thực tế: hãy dừng lại, mở rộng tầm nhìn của chúng ta, dìm mình vào các vấn đề của đa số nhân loại, của nhiều nhóm nạn nhân của các trường hợp khẩn cấp nhân đạo mà chính họ không tạo ra nhưng lại phải gánh chịu, sau những chương dài lịch sử khai thác và hiện vẫn đang diễn ra. Người ta dễ dàng lôi kéo dư luận bằng cách khơi dậy nỗi sợ hãi về người khác. Nhưng tại sao chúng ta không nói, với cùng một thái độ, về sự bóc lột người nghèo, về những cuộc chiến bị lãng quên và thường được tài trợ mạnh tay, về những thỏa thuận kinh tế được thực hiện trên xương máu của người dân, về những thủ đoạn ẩn giấu để buôn bán vũ khí và phát triển thương mại vũ khí? Cần đối diện với những nguyên nhân sâu xa, chứ không phải bắt dân nghèo gánh chịu hậu quả, thậm chí bị lợi dụng để tuyên truyền chính trị! Để loại bỏ các nguyên nhân gốc rễ, không thể chỉ dừng lại ở các trường hợp khẩn cấp. Những hành động phối hợp là cần thiết. Những thay đổi mang tính biểu tượng cần được tiếp cận với tầm nhìn xa. Bởi vì không có câu trả lời dễ dàng cho các vấn đề phức tạp. Thay vào đó, cần phải đồng hành với các tiến trình từ bên trong, để vượt qua sự cô lập và khuyến khích hội nhập dần dần và thiết yếu, để chào đón các nền văn hóa và truyền thống của những người khác một cách huynh đệ và có trách nhiệm.
Trên tất cả, nếu chúng ta muốn bắt đầu lại, chúng ta hãy nhìn vào khuôn mặt của những đứa trẻ. Chúng ta tìm thấy can đảm để xấu hổ trước chúng, những người vô tội và là tương lai. Họ đặt câu hỏi về lương tâm của chúng ta và hỏi chúng ta: “Loại thế giới quý vị để lại cho chúng tôi?” Chúng ta đừng lạnh lùng lảng tránh những hình ảnh sống sượng của những tấm thân bé nhỏ nằm bất động trên các bãi biển. Địa Trung Hải, nơi hàng thiên niên kỷ đã gắn kết các dân tộc khác nhau và những vùng đất xa xôi, đang trở thành một nghĩa trang lạnh lẽo không bia mộ. Hồ nước rộng lớn này, cái nôi của nhiều nền văn minh, giờ đây trông giống như một tấm gương chết chóc. Chúng ta đừng để biển của chúng ta (mare nostrum) biến thành biển của sự chết (mare mortuum) hoang tàn, đừng để nơi gặp gỡ này trở thành sân khấu của sự đối đầu! Đừng để “biển của ký ức” này biến thành “biển của sự lãng quên”. Tôi kêu gọi hãy ngăn chặn sự nhấn chìm của nền văn minh này!
Trên các bờ biển này, Thiên Chúa đã trở thành người. Nơi đây, Lời của Người được vang vọng, loan báo rằng Thiên Chúa là “Cha và là Đấng hướng dẫn tất cả mọi người” (St. GREGORY OF NAZIANZO, Discorso 7 per il fratello Cesario, 24). Người yêu chúng ta như những người con và muốn chúng ta là anh em của nhau. Ngược lại, Thiên Chúa bị xúc phạm khi con người vốn được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa bị xem thường, khi con người bị phó mặc cho sóng biển, trong sự phủi tay thờ ơ, đôi khi ngay cả được biện minh nhân danh điều được cho là các giá trị Kitô giáo. Trái lại, đức tin đòi hỏi lòng trắc ẩn và lòng thương xót. Nó thúc đẩy lòng hiếu khách, là tình yêu đối với người xa lạ (philoxenia) đã thấm nhuần văn hóa cổ điển, và được biểu lộ rõ ràng nơi Chúa Giêsu, đặc biệt trong dụ ngôn Người Samari nhân hậu (xem Lc 10,29-37) và trong những lời của chương 25 Tin Mừng theo thánh Matthêu (x. cc. 31-46). Đây không phải là một ý thức hệ tôn giáo, nhưng là cội rễ Kitô giáo cách cụ thể. Chúa Giêsu đã long trọng khẳng định rằng Người hiện diện ở đó, nơi người lạ, người tị nạn, người mình trần và đói khát. Và đường lối Kitô giáo được tìm thấy nơi Chúa Giêsu. Vâng, như Đức Giáo Hoàng Biển Đức đã viết: đường lối Kitô giáo “là một con tim biết nhìn”. (Thông điệp Thiên Chúa là Tình yêu, 31).
Bây giờ chúng ta hãy cầu xin Đức Mẹ mở mắt cho chúng ta trước những đau khổ của anh chị em mình. Mẹ đã vội vã lên đường đến với người chị họ Elizabeth đang mang thai. Biết bao người mẹ mang thai đã chết khi đang hành trình vội vã ngay cả khi đang mang trong mình sự sống! Xin Mẹ Thiên Chúa giúp chúng ta có một cái nhìn mẫu tử, biết nhìn thấy người khác là những người con của Thiên Chúa, là anh chị em để được chào đón, bảo vệ, thăng tiến và hội nhập; và để được yêu một cách dịu dàng. Xin Mẹ Rất Thánh dạy chúng ta đặt thực tế của nhân loại lên trên những ý tưởng và ý thức hệ, và có những bước tiến vội vã để gặp gỡ những người đau khổ.
Sau bài diễn văn, Đức Thánh Cha đã mời mọi người cùng đọc Kinh Truyền Tin.
Kết thúc buổi gặp gỡ, Đức Thánh Cha thăm một số người tị nạn và năm nơi ở của họ. Sau đó, ngài ra sân bay để trở về Athens. Buổi chiều, Đức Thánh Cha dâng thánh lễ với cộng đoàn Công giáo tại “Thính phòng Megaron” của Athens.
Văn Yên, SJ
