Aenean nec eros. Vestibulum ante ipsum primis in faucibus orci luctus et ultrices posuere cubilia curae. Suspendisse sollicitudin velit sed leo.

Chuyên mục
  • Bài giảng
  • Các loại khác
  • Chia sẻ
  • Chưa phân loại
  • GH Hoàn Vũ
  • GH Việt Nam
  • Giáo dục
  • Hạnh các Thánh
  • HĐGM Việt Nam
  • Kinh Thánh
  • Phim giáo dục
  • Phụng vụ
  • Sách
  • Suy niệm Chúa nhật
  • Suy niệm hàng ngày
  • Tài liệu giáo dục
  • Tài liệu phụng vụ
  • Thần học
  • Thánh ca
  • Thánh lễ
  • Thánh lễ trực tuyến
  • Thư chung
  • Thư viện
  • Tin tức
  • Triết học
  • Tư liệu
  • UBGD Công giáo
  • Video
From Gallery
Stay Connected
UyBanGiaoDucHDGM.net
  • Trang chủ
  • Thư chung
    • HĐGM Việt Nam
    • UBGD Công giáo
  • Tin tức
    • GH Việt Nam
    • GH Hoàn Vũ
  • Phụng vụ
    • Thánh lễ
    • Thánh lễ trực tuyến
    • Suy niệm hàng ngày
    • Suy niệm Chúa nhật
    • Tài liệu phụng vụ
  • Giáo dục
    • Chia sẻ
    • Tài liệu giáo dục
  • Thư viện
    • Sách
      • Kinh Thánh
      • Triết học
      • Thần học
      • Các loại khác
    • Video
      • Bài giảng
      • Thánh ca
      • Phim giáo dục
      • Hạnh các Thánh
      • Tư liệu
  • Liên hệ
Give Online

Tác giả: Anmai

Home / Anmai
07Tháng Mười Hai
2021

Năm chìa khóa để hưởng được ân sủng của Thiên Chúa

07/12/2021
Anmai
Giáo dục, Tài liệu giáo dục
0

Năm chìa khóa để hưởng được ân sủng của Thiên Chúa

 

Thư Êphêsô 2: 8 viết: “Vì chính nhờ ân sủng mà bạn được cứu bởi đức tin. Ân sủng đó không đến từ bạn, đó là một món quà từ Chúa.”

Qua câu Kinh thánh này và nhiều câu Kinh thánh khác, chúng ta hiểu rằng rõ ràng có sự song hành giữa ân sủng, ơn cứu độ và đức tin. Chúng ta có thể nói rằng đây là những nguyên tắc cơ bản trong cuộc sống của chúng ta với tư cách là con cái của Thiên Chúa. Nhưng nền tảng vẫn là ân sủng của Chúa Cha dành cho con người.

Ân sủng hoạt động như thế nào? Ân sủng đó tự biểu hiện như thế nào? Làm thế nào để ân sủng ban ơn cứu độ cho chúng ta?

Ân sủng, một ân huệ thiêng liêng

Ân sủng là ơn Chúa ban cho những kẻ đáng bị phán xét. Nhờ ân sủng, tình yêu thương của Thiên Chúa nghiêng về phía chúng ta một cách thuận lợi để lôi kéo chúng ta về phía Ngài. Ân sủng của Thiên Chúa không thể kiếm được bằng nỗ lực của chúng ta hoặc bằng việc làm tốt lành của chúng ta, và thậm chí ân sủng của Thiên Chúa lại càng không thể kiếm được bằng những quyết tâm tốt đẹp của chúng ta. Ân sủng đơn giản chỉ là quà tặng của một người Cha, vốn là Tình yêu. Chúng ta không xứng với quà tặng đó, vì vậy ân sủng không phải là do chúng ta, chúng ta chỉ đáng hưởng ân xá dành cho những người bị kết án.

Vì tội lỗi Ađam, chúng ta đã bị giáng xuống tình trạng bị kết án, như đang chờ đợi tử hình. Bởi vì Kinh Thánh nói trong Rôma 6:23: “Tiền công mà tội lỗi phải trả là sự chết.” Đây là lúc Thiên Chúa tỏ hiện.

Ngôi Lời đã hóa thành xác phàm và hủy bỏ mọi sự kết án đang đè nặng lên cuộc sống của chúng ta. Kinh Thánh nói rằng Ngôi Lời đã trở thành Tội lỗi và do đó chúng ta được cứu khỏi sự chết đang chờ đợi chúng ta! Vâng, ân sủng thì ở nơi Chúa Giêsu : “…Còn ân sủng và sự thật, thì nhờ Chúa Giêsu Kitô mà có.”  (Gioan 1:17).

Nói cách khác, ân sủng là “ân huệ Thiên Chúa ban nhưng không, là sự sống đời đời trong Chúa Giêsu Kitô, Chúa chúng ta” (Rôma 6:23).

Chúng ta có thể hiểu ân sủng thiêng liêng như một loại quà tặng được Cha trên trời ban cho một cách ân cần. Làm thế nào để ân sủng này hoạt động có lợi cho chúng ta? Quà tặng của Chúa Giêsu có đủ làm cho chúng ta được hưởng ơn ích từ ân sủng không?

Những gì chúng ta có là nhờ Ơn Chúa

Trước đó chúng ta đã nói rằng ân sủng là một quà tặng từ Thiên Chúa nhờ sự kết hợp của chúng ta với Chúa Giêsu Kitô. Ân sủng được phản ánh bằng nhiều cách trong đời sống của con cái Thiên Chúa. Điều đầu tiên và quan trọng nhất là đạt được ơn cứu độ.

Sự cứu rỗi là kế hoạch của Thiên Chúa Cha để đưa con cái Ngài trở về với chính Ngài. Kinh Thánh trong Galát 1:15 cho biết: “Nhưng Thiên Chúa đã dành riêng tôi ngay từ khi tôi còn trong lòng mẹ, và đã gọi tôi nhờ ân sủng của Ngài.”

Vâng, chính trong ân sủng của Ngài mà Thiên Chúa, biết trước chúng ta, đã gọi chúng ta đến với chính Ngài. Chúng ta được Chúa Thánh Thần thúc đẩy tin tưởng rằng Ngài đã ân cần ban ân sủng cho chúng ta và chúng ta bắt đầu tiến trình ăn năn hoán cải. Từ nay, chúng ta không còn bị ô uế bởi tội lỗi nữa mà là những người thừa kế của Thiên Chúa, là con cái của Ngài. Do đó, chúng ta được Thiên Chúa tái sinh và nhận làm dưỡng tử. Thư Rôma 8:16-17: “Chính Thần Khí chứng thực cho thần trí chúng ta rằng chúng ta là con cái Thiên Chúa. Vậy đã là con, thì cũng là thừa kế, mà được Thiên Chúa cho thừa kế, thì tức là đồng thừa kế với Chúa Kitô; vì một khi cùng chịu đau khổ với Ngài, chúng ta sẽ cùng được hưởng vinh quang với Ngài.”

Một quà tặng khác được ban bởi ân sủng là sự công chính hóa. Rôma 8:30 cho biết: “Những ai Thiên Chúa đã tiền định, thì Ngài cũng kêu gọi; những ai Ngài đã kêu gọi, thì Ngài cũng làm cho nên công chính; những ai Ngài đã làm cho nên công chính, thì Ngài cũng cho hưởng phúc vinh quang.”

Theo Thiên Chúa sự công chính hóa là sự tha thứ tội lỗi của chúng ta. Từ giờ trở đi, dưới mắt Thiên Chúa, chúng ta là những người công chính. Không phải bởi công đức của chúng ta mà bởi ân sủng của Ngài.

Một lợi ích khác của ân sủng được ghi lại trong Hípri 4:16:  “Bởi thế, ta hãy mạnh dạn tiến lại gần ngai Thiên Chúa là nguồn ân sủng, để được xót thương và lãnh ơn trợ giúp mỗi khi cần.” Do đó, chúng ta có sự đảm bảo được giúp đỡ trong những nhu cầu của chúng ta. Chúng ta đừng đến gần Chúa Cha với thái độ bị lên án nữa. Dĩ nhiên, chúng ta đến với Chúa Cha bằng sự tin tưởng, bằng sự khiêm hạ, bằng sự tin tưởng an bình của đứa con nói chuyện với Cha mình.

Cuối cùng, ân sủng ban cho chúng ta một sự biến đổi vinh quang. Sứ đồ Phaolô là một mẫu gương rất đáng kể về sự biến đổi mà ân sủng của Thiên Chúa mang lại trong chúng ta. Phaolô làm chứng điều này trong I Côrintô 15: 9-10 khi ngài nói: “Thật vậy, tôi là người hèn mọn nhất trong số các Tông Đồ, tôi không đáng được gọi là Tông Đồ, vì đã ngược đãi Hội Thánh của Thiên Chúa. Nhưng tôi có là gì, cũng là nhờ ơn Thiên Chúa, và ơn Ngài ban cho tôi đã không vô hiệu; trái lại, tôi đã làm việc nhiều hơn tất cả những vị khác, nhưng không phải tôi, mà là ơn Thiên Chúa cùng với tôi.”

Từ một người bắt bớ những người theo Chúa Giêsu Kitô, Phaolô đã trở thành một người bảo vệ Chúa Kitô trung thành đến mức sẵn sàng trả giá bằng mạng sống của mình! Phaolô nhận ra rằng sự biến đổi này chỉ có thể thực hiện được nhờ ân sủng của Thiên Chúa qua ân ban của Chúa Thánh Thần.

Tuy nhiên, Kinh Thánh có các trường hợp về các nhân vật được Thiên Chúa ban ân sủng, nhưng không ở lại trong ân sủng – ví dụ như Anania và Saphira:

“Một người tên là Anania, cùng với vợ là Saphira, đã bán ruộng và anh ta rút một phần số tiền bán được, vợ anh ta cũng biết điều này, và số còn lại anh ta mang đến đặt dưới chân các Tông Đồ. Phêrô nói với anh ta: “Anania, sao anh lại để cho Satan chiếm giữ lòng mình để rồi phải nói dối với Chúa Thánh Thần, và giữ lại cho riêng mình một phần trong số tiền đó? Bao lâu anh còn sở hữu mảnh ruộng ấy thì nó là của anh, và sau khi bán nó rồi anh vẫn toàn quyền sử dụng tiền đó, phải không? Vậy tại sao anh lại đang tâm làm như thế? Không phải anh đã dối trá với con người nhưng là dối trá với Thiên Chúa!” Nghe những lời ấy, Anania gục xuống tắt thở; tất cả những ai nghe biết câu chuyện đều cảm thấy rất sợ hãi. Những thanh niên đứng lên, bọc lấy xác anh ta, và đem đi chôn.

Khoảng ba tiếng đồng hồ sau đó, chị vợ anh ta đến và vẫn chưa biết chuyện gì đã xảy ra. Phêrô hỏi chị: “Chị hãy nói đi: có phải đấy là cái giá mà vợ chồng chị đã bán ruộng của mình không?”. Chị bảo: “Vâng, chúng tôi bán với giá ấy”. Phêrô nói thêm: “Tại sao vợ chồng chị lại đồng lõa với nhau để mà thử thách Thần Khí của Chúa như thế? Kìa, dấu chân của những người vừa mang chồng chị đi chôn vẫn còn ngoài cửa; họ sắp khiêng chị đi luôn”. Ngay lúc đó, chị gục xuống chân ông và tắt thở. Những thanh niên đi vào thấy chị đã chết, và họ đưa chị đi chôn bên cạnh chồng chị. Toàn thể Hội Thánh và những người nghe biết tin ấy đều rất sợ hãi.” (Công vụ Tông đồ 5: 1-11).

Điều này khiến chúng ta băn khoăn về cung cách sống và hưởng dùng ân sủng của Thiên Chúa.

Làm thế nào để nhận được lợi ích từ Ân sủng của Thiên Chúa?

Chúng ta đã đọc thấy trong Kinh thánh rằng Thiên Chúa ban cho chúng ta ân sủng của Ngài, một cơ nghiệp qua Chúa Thánh Thần. Hãy tưởng tượng rằng một người họ hàng xa đã để lại cho chúng ta một mảnh đất thuộc về người đó. Di sản đã có sẵn nhưng điều gì sẽ xảy ra nếu chúng ta không muốn nhận nó? Chà, vậy thì chúng ta sẽ không hưởng dùng được di sản đó. Chúng ta tự tước bỏ di sản đó khỏi chính mình. Với ân sủng của Thiên Chúa cũng vậy.

Quả thật Kinh thánh nói trong Hípri 12:15 “Anh em phải coi chừng, kẻo có ai lừng khừng mà mất ân sủng của Thiên Chúa, kẻo có ai trở nên rễ đắng nảy mầm, gây xáo trộn và do đó làm hư hỏng nhiều người.” Nếu Thiên Chúa để ân sủng của Ngài theo sự chọn lựa của chúng ta, thì chúng ta có trách nhiệm phải nắm lấy và làm cho ân sủng đi vào cuộc sống của chúng ta. Làm thế nào? Để trả lời câu hỏi này, chúng ta sẽ xem xét năm chìa khóa để nắm lấy ân sủng của Thiên Chúa.

  1. Chết cho chính mình và sinh ra trong Chúa Kitô.

Trong Êphêsô 1: 13-14 có chép: “Trong Chúa Kitô, cả anh em nữa, anh em đã được nghe lời chân lý là Tin Mừng cứu độ anh em; vẫn trong Chúa Kitô, một khi đã tin, anh em được đóng ấn Thánh Thần, Đấng Thiên Chúa đã hứa. Thánh Thần là bảo chứng phần gia nghiệp của chúng ta, chờ ngày dân riêng của Thiên Chúa được cứu chuộc, để ngợi khen vinh quang Thiên Chúa.”

Giống như Phaolô, chúng ta có thể nói,  “Quả thế, tại vì Lề Luật mà tôi đã chết đối với Lề Luật, để sống cho Thiên Chúa. Tôi cùng chịu đóng đinh với Chúa Kitô vào thập giá. Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Chúa Kitô sống trong tôi. Hiện nay tôi sống kiếp phàm nhân trong niềm tin vào Con Thiên Chúa, Đấng đã yêu mến tôi và hiến mạng vì tôi.” Galát 2: 19-20.

Đây là điểm khởi đầu để hưởng được ân sủng. Bây giờ chúng ta được sinh ra trong Chúa Kitô và cho Chúa Kitô. Việc tin vào Chúa Giêsu chuẩn bị cho chúng ta sống Ân sủng đó.

  1. Biết những gì ân sủng mang lại cho chúng ta.

Để sở hữu tài sản thừa kế, cần phải nhận biết sự tồn tại của nó. Thư  I Côrintô 2:12 nói: “Phần chúng ta, chúng ta đã không lãnh nhận thần trí của thế gian, nhưng là Thần Khí phát xuất từ Thiên Chúa, để nhận biết những ân huệ Thiên Chúa đã ban cho chúng ta.”

Đúng thế, nếu chúng ta đã dâng cuộc đời mình cho Chúa Giêsu, chúng ta sẽ nhận được nhiều lợi ích. Chúng ta phải nhận biết những lợi ích ấy bằng cách tiếp nhận sự mặc khải bởi Thánh Thần của Thiên Chúa trong cuộc sống của chúng ta. Nhiều người, vì không nhận ra điều này, nên đang lãng phí tinh thần. Nhiều Kitô hữu hoàn toàn không biết về những lợi ích của ân sủng cũng như sự tha thứ hoàn toàn tội lỗi của chúng ta, các ân huệ thánh thiêng, sự tràn đầy dư dật của Chúa Thánh Thần, v.v. Họ sống một đời sống Kitô hữu khó khăn, nhạt nhẽo với những đấu tranh và thất vọng cá nhân.

Chúng ta có thể làm cho lời cầu nguyện này của Sứ đồ Phaolô trong Êphêsô 1: 3; 17-18 thành của riêng mình: “Chúc tụng Thiên Chúa là Thân Phụ Chúa Giêsu Kitô, Chúa chúng ta. Trong Chúa Kitô, từ cõi trời, Ngài đã thi ân giáng phúc cho ta hưởng muôn vàn ơn phúc của Thánh Thần… Tôi cầu xin Chúa Cha vinh hiển là Thiên Chúa của Chúa Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, ban cho anh em thần khí khôn ngoan để mặc khải cho anh em nhận biết Ngài. Xin Ngài soi lòng mở trí cho anh em thấy rõ, đâu là niềm hy vọng anh em đã nhận được, nhờ ơn Ngài kêu gọi, đâu là gia nghiệp vinh quang phong phú anh em được chia sẻ cùng dân thánh.”

  1. Bỏ đi những gì là cay đắng!

Cay đắng là một chướng ngại cản trở sự tỏ lộ của ân sủng trong cuộc đời chúng ta. Thật vậy, Hípri 12:15 nói: “Anh em phải coi chừng, … kẻo có ai trở nên rễ đắng nảy mầm, gây xáo trộn ….” Sự cay đắng và thiếu sự tha thứ cản trở đời sống cầu nguyện của chúng ta và làm xáo trộn sự bình an, không chỉ trong bản thân mình, nhưng trong thân mình của Chúa Kitô. Sự cay đắng gần giống như một loại rào cản mà chính chúng ta đặt vào bàn tay của Thiên Chúa và cản trở Ngài.

  1. Làm cho đức tin của chúng ta hoạt động.

Nếu chúng ta đã công nhận Chúa Giêsu là Chúa và là Đấng Cứu Độ, thì chúng ta có thể nói đó là bởi vì chúng ta có đức tin. Và đó là sự thật. Nhưng chúng ta phải làm cho đức tin đó hoạt động thì mới có thể hưởng được những ơn ích của ân sủng.

Thư Giacôbê 2:17-20 viết: “Cũng vậy, đức tin không có hành động thì quả là đức tin chết. Đàng khác, có người sẽ bảo: “Bạn, bạn có đức tin; còn tôi, tôi có hành động. Bạn thử cho tôi thấy thế nào là tin mà không hành động, còn tôi, tôi sẽ hành động để cho bạn thấy thế nào là tin. Bạn tin rằng chỉ có một Thiên Chúa duy nhất. Bạn nói đúng. Cả ma quỷ cũng tin như thế, và chúng run sợ.” Hỡi người đầu óc rỗng tuếch, bạn có muốn biết rằng đức tin không có hành động là vô dụng không?”

Niềm tin là một cách hành động để nắm lấy di sản. Chúng ta phải tin rằng món quà này là dành cho chúng ta và nó là thật. Nếu điều này là sự thật đối với chúng ta, chúng ta sẽ bỏ đi bất cứ hình thức nào chỉ sống theo luật. Vì thêm một lần nữa, chúng ta sẽ không bao giờ làm được gì để xứng đáng với những gì mà Thiên Chúa trao ban: không kỹ thuật, không phương pháp. Chúng ta hãy khiêm tốn đón nhận ân sủng của Thiên Chúa như đứa con nhận được món đồ chơi từ cha mình.

Chúng ta hãy khước từ sự kiêu ngạo khiến chúng ta nghĩ rằng chính những “nỗ lực” của chúng ta làm cho chúng ta xứng đáng có được ân sủng. Đây cũng là một cám dỗ của kẻ thù, vì đoạn Tin Mừng Gioan 4: 6 nói: “…Thiên Chúa chống lại kẻ iêu ngạo, nhưng Ngài ban ân sủng cho kẻ khiêm nhường.”

  1. 5. Chúng ta hãy có lòng kính sợ đối với Thiên Chúa.

Hípri 12:16 trích dẫn những thái độ có thể lấy mất ân sủng của Thiên Chúa: “Đừng có ai gian dâm hoặc phàm tục như Êsau, kẻ đã vì một món ăn mà bán quyền trưởng nam.”

Sự thiếu tôn kính đối với Thiên Chúa, sự khinh miệt đối với những điều thánh thiêng là một sự xa lìa nghiêm trọng! Thật vậy, sự xa lìa đó khiến chúng ta xa cách Thiên Chúa và loại bỏ ân sủng của Ngài. Cầu mong điều này không bao giờ là trường hợp của chúng ta!

Ân sủng không phải là một phần thưởng. Nhưng, nếu chúng ta chấp nhận ân sủng vào cuộc sống của mình, ân sủng sẽ trở thành một khả năng siêu nhiên giúp giải cứu sự yếu đuối của con người chúng ta. Bạn có nhớ tên trộm cướp trên thập giá bên cạnh Chúa Giêsu không? Hãy xem cuộc nói chuyện trong Luca 23: 42-43:

Tên tên trộm cướp nói với Chúa Giêsu: “Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi!” Và Ngài nói với anh ta: “Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng.”

Chỉ bằng một vài từ trên thập tự giá, Chúa Giêsu đã nói được nhiều hơn và hay hơn là một bài diễn văn dài. Tên trộm cướp này không cầu xin Ngài, không khẩn cầu Ngài, không cầu nguyện dài dòng, không ăn chay, mà chỉ nói với lòng chân thành và khiêm tốn, “Xin hãy nhớ đến tôi”. Anh ta nhận ra rằng ân sủng đang ở bên cạnh anh ta trên thập giá, anh ta đã đón nhận ân sủng đó và được cứu độ.

Có thể tôi đã có một cuộc sống phóng túng trước khi đến với Chúa Kitô, thậm chí có thể tôi lại sa ngã sau khi đến với Ngài, có thể tôi lùi bước, có thể tôi quay ngược lại lối sống xưa kia, mà tôi biết sẽ làm buồn lòng Cha trên trời của tôi … Hãy biết rằng không có gì bị hư mất. Không có ai là quá xa đến độ nằm ngoài tầm với của tình yêu Thiên Chúa.

Hãy tin tưởng đến trước ngai Ân sủng và nhận lấy bàn tay của Cha các bạn. Tuy nhiên, không bao giờ, không bao giờ ân sủng của Thiên Chúa tỏ lộ ngược lại với sự công chính của Ngài. Thật vậy, thư Titô 2: 11-12 nói: “Quả thế, ân sủng của Thiên Chúa đã được biểu lộ, đem ơn cứu độ đến cho mọi người. Ân sủng đó dạy chúng ta phải từ bỏ lối sống vô luân và những đam mê trần tục, mà sống chừng mực, công chính và đạo đức ở thế gian này.”

Ân huệ của Chúa Thánh Thần là một phần trong những ân ban của Thiên Chúa. Chúa Thánh Thần dạy con cái Thiên Chúa bước đi trong tình yêu thương – đối với Thiên Chúa và người chung quanh – nuôi dưỡng lòng kính sợ và sự gắn bó với Thiên Chúa. Chúa Thánh Thần dạy chúng ta biết cách vui hưởng những ân sủng của Thiên Chúa. [1]

Lễ Giáng Sinh nhắc các Kitô hữu nhớ rằng mọi lĩnh vực trong cuộc sống của họ đều là cơ hội để đón nhận ân sủng, kể cả những yếu đuối, sa ngã và tội lỗi, vốn không phải là ân sủng trong bản chất của nó, nhưng nhờ thống hối và ăn năn, tội lỗi lại có thể là cơ hội để nhận được ơn thứ tha từ Thiên Chúa. Khi người ta xưng thú tội lỗi của mình và khi xin ơn tha thứ, là người ta nhận biết sự lầm than khốn khổ của mình và người ta không còn dám kiêu căng tự phụ. Chính trong ý thức tin tưởng và phó thác mọi sự, tốt lành cũng như yếu đuối tội lỗi, vào lòng từ ái của Chúa mà Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu nói khi sắp lâm chung: “Tout est grâce – Tất cả đều là ân sủng.”

Lễ Giáng Sinh là dịp nhắc nhở về Mầu nhiệm Nhập thể, Con Thiên Chúa mặc xác phàm để chia sẻ mọi thứ với nhân loại, ngoại trừ tội lỗi, qua thần tính của Ngài. Thánh Augustinô, Giám mục thành Hippone, đã viết rằng “Với những ai yêu mến Thiên Chúa, mọi sự đều hợp tác vào sự lành, kể cả các tội lỗi.” Thực ra, lời nói đó là sự nhắc lại lời nói của thánh Phaolô trong thư gửi các tín hữu Rôma: “Mọi sự đều sinh lợi ích cho những ai yêu mến Thiên Chúa” (Rôma 8,28). Chính thánh nhân cũng thú nhận: “Tôi làm gì tôi cũng chẳng hiểu: vì điều tôi muốn, thì tôi không làm, nhưng điều tôi ghét, tôi lại cứ làm. Nếu tôi cứ làm điều tôi không muốn […], không còn phải là chính tôi, nhưng là tội vẫn ở trong tôi làm điều đó” (Rm 8,15-17). Khi nhìn nhận thân phận tội lỗi của mình, thánh nhân đã không thất vọng, nhưng còn tuyên xưng rằng “ở đâu tội lỗi đã lan tràn, ở đó ân sủng càng chan chứa gấp bội” (Rm 5,20). Như thế, ân sủng mà Thiên Chúa ban cho là yếu tố quyết định.

Lễ Giáng Sinh nhắc nhở chúng ta rằng Chúa Giêsu, vốn dĩ là Ngôi Hai Thiên Chúa, giáng sinh nơi trần thế trong bản tính người phàm, là biểu lộ sự hiện diện của Thiên Chúa. Sự hiện diện đó chính là ơn ban nền tảng – Ơn Thánh Sủng. Do đó, mỗi giây phút trong cuộc sống và mỗi hành động của thân xác và linh hồn chúng ta đều có thể biểu lộ sự hiện diện thánh thiêng – Thánh Sủng  –  của Thiên Chúa. Mỗi khoảnh khắc đó đều là cơ hội để nhân tính của chúng ta trở nên hoàn thiện nhờ việc chúng ta sẵn sàng đón nhận ân sủng của Thiên Chúa qua Chúa Giêsu Kitô, và để ân sủng đó tỏ hiện ra, qua bản tính phàm nhân của chúng ta, đối với mọi người, đối với mọi thụ tạo của Thiên Chúa nơi trần thế này.

Phêrô Phạm Văn Trung biên tập

[1] frequencechretienne.fr

Read More
07Tháng Mười Hai
2021

Lễ Giáng Sinh có thật là kế tục một ngày lễ của dân ngoại không?

07/12/2021
Anmai
Phụng vụ, Tài liệu phụng vụ
0

Lễ Giáng Sinh có thật là kế tục một ngày lễ của dân ngoại không?

 

Chủ đề này đã được bàn cãi rất nhiều, và hầu như cứ xuất hiện đi xuất hiện lại mỗi dịp Giáng Sinh về, và hầu hết đều kết luận rằng 25/12 là một ngày được chọn theo ngày lễ “Sinh nhật của Mặt Trời hùng mạnh” của dân ngoại thời đế quốc La Mã. Tuy nhiên,thực tế không đơn giản như vậy: Hội Thánh có căn cứ để mừng Chúa Giáng Sinh vào tháng 12, không phải lấy ngày của người ngoại rồi mừng kính ngây thơ.

Bằng chứng sử học

Theo sử liệu, hoàng đế Aurelianô của La Mã đã sáng lập lễ “Sinh nhật Mặt Trời hùng mạnh” vào ngày 25/12/274 SCN, nhằm cố gắng thay thế một ngày lễ quan trọng của Kitô Giáo đã có trước đó. Tuy nhiên, vào cuối thế kỷ XVII và đầu thế kỷ XVIII, xuất hiện một học giả Tin Lành Đức, tên là Paul Ernst Jablonski, khẳng định lễ Giáng Sinh là một ngày lễ du nhập từ dân ngoại, để chỉ trích Công Giáo đã làm suy thoái Kitô Giáo thời ban đầu. Không lâu sau đó, một tu sĩ dòng Bênêđictô tên là Dom Jean Hardouin cũng khẳng định lễ Giáng Sinh 25/12 là ngày được tiếp nhận từ dân ngoại, nhằm bênh vực cho Giáo Hội Công Giáo đã hội nhập văn hoá mà không làm sai lệch Tin Mừng. Thực tế, trước năm 274, lễ Mặt Trời được tổ chức vào ngày 9/8 và 28/8 và không phải là những lễ hội quan trọng. Hơn nữa, đó còn không phải là các lễ hội tôn giáo. Chính vua Aurelianô, người có ác cảm với Kitô Giáo, đã dời những lễ đó vào ngày 25/12 để đồng hoá một ngày lễ tôn giáo của người Kitô giáo. Dù vậy, khi lập lễ này, nhà vua không có ý mừng ngày đông chí như nhiều người vẫn nghĩ.

 

Hơn nữa, Rôma thời đó có rất nhiều lễ hội lớn, trải dài suốt 12 tháng trong năm, nên nói người Kitô Giáo nhất định đã chọn 25/12 làm lễ Giáng Sinh là không thuyết phục. Quả vậy, trong lịch tôn giáo Rôma cổ, ngày 5/1 là lễ thần Vica Pota, 9/1 lễ thần Janus, 27/1 lễ thần Song Tử, 1/3 lễ năm mới, 15/3 lễ thần Mercury, 21/4 lễ thành lập La Mã, 19/10 thần Mars, 17/12 thần Saturn, 25/12 thần Mặt Trời. Đó đều là các lễ hội lớn, không nhất thiết người Kitô Giáo phải chọn 25/12 để tổ chức Giáng Sinh.

 

Từ lâu trước đó, ngay từ những năm 100 SCN, các Kitô hữu đã bắt đầu cố gắng xác định ngày Chúa Giáng Sinh. Thời đó, truyền thống Do Thái cho rằng tất cả các ngôn sứ của Thiên Chúa đều có ngày được thụ thai hoặc ngày sinh trùng khớp với ngày qua đời. Do vậy, người ta cố gắng xác định ngày Chúa chịu chết để biết ngày Người được sinh ra hoặc được thụ thai. Kết quả, dựa vào thời điểm lễ Vượt Qua theo Tin Mừng mô tả, Giáo Hội Tây phương xác định 25/3 chính là ngày Chúa chịu đóng đinh, cũng là ngày Người được thụ thai trong lòng Mẹ, do vậy mà lễ Giáng Sinh phải rơi vào 25/12; trong khi các Giáo Hội Kitô Đông phương tin rằng ngày Người thụ thai là 6/4 và họ tổ chức Giáng Sinh vào 6/1. Thánh Augustinô ủng hộ quan điểm của Giáo Hội Tây phương, ngài viết: “Phải tin rằng Người đã được thụ thai vào ngày 25 tháng Ba, vào ngày đó Người cũng chịu khổ hình; như thế, lòng dạ của Đức Trinh Nữ đã cưu mang Người, nơi không có con người phải chết nào được cưu mang nữa, cũng phù hợp là ngôi mộ mới chôn cất Người, nơi không một người nào khác được chôn cất nữa, trước hay sau Người” (Augustine thành Hippo, “Về Chúa Ba Ngôi”).

 

Năm 204 SCN, Thánh Hippôlitô thành Rôma đã viết: “Trong lần đến thứ nhất của Chúa chúng ta trong xác thịt, Người sinh ra ở Bethlehem, là vào ngày 25 tháng Mười Hai, một ngày thứ tư trong tuần, khi Augustô đang ở năm thứ 42 của ông.” Thánh Hippôlitô viết những đoạn này 70 năm trước khi Aurelianô thiết lập lễ Sinh nhật Mặt Trời, và Thánh nhân không nói gì về lễ Mặt Trời nào cả, chứng tỏ khi đó nó chưa tồn tại vào ngày 25/12. Như vậy, trước khi có lễ Mặt Trời, người Kitô Giáo đã cử hành một ngày độc lập với mọi cử hành ngoại giáo. Năm 221, sử gia Kitô Giáo có uy tín Sextus Julius Africanus cũng xác nhận Chúa Giêsu sinh ra vào ngày 25/12.

 

Cuộc cử hành lễ Giáng Sinh đầu tiên được ghi nhận vào 25/12/336 SCN, sau khi La Mã đã thiết lập lễ Mặt Trời. Năm 350, Giáo Hội thiết lập lễ Sinh Nhật Chúa Kitô chính thức vào ngày 25/12, dưới thời Đức Giáo Hoàng Julius I. Thánh Gioan Kim Khẩu (349-407) viết rằng: “Nhưng Chúa chúng ta, cũng vậy, đã sinh ra vào tháng Mười Hai, tám ngày đếm về trước tính từ ngày đầu tháng Giêng… Nhưng nhiều người gọi đó là ‘Sinh nhật của hùng mạnh’… Thực sự thì ai hùng mạnh bằng Chúa chúng ta?… Hay họ cũng gọi đó là ‘Sinh nhật của mặt trời’, chính Chúa là Mặt Trời Công Chính!”

 

Xét về thần học, các đấng Giáo Phụ vẫn thường nói: Chúa Giêsu chính là Mặt Trời công chính, Mặt Trời cứu độ. Sách tiên tri Malakhi có nói: “Với các ngươi là những kẻ kính sợ Danh Ta, Mặt Trời công chính sẽ mọc lên cho các ngươi” (Ml 4,2). Tin Mừng Luca thì nói: “Thiên Chúa ta đầy lòng trắc ẩn, cho Vầng Dương tự chốn cao vời viếng thăm ta” (Lc 1,78). Và trong Tin Mừng Gioan, Chúa Giêsu phán rằng: “Tôi là ánh sáng thế gian” (Ga 8,12). Chính vì vậy, nếu có chọn ngày đông chí – ngày mà dân ngoại tôn vinh thần Mặt Trời – để làm ngày Giáng Sinh, thì cũng là để nhấn mạnh Chúa Giêsu quả thật là Mặt Trời soi sáng thế gian.

 

Bằng chứng Kinh Thánh

 

Bây giờ đến bằng chứng Kinh Thánh. Chúng ta biết rõ Thiên sứ Gabriel hiện ra với ông Dacaria để truyền tin sinh Ngôn sứ Gioan khi ông vào Đền Thờ để dâng hương. Truyền thống thánh, được Thánh Gioan Kim Khẩu ủng hộ, xác nhận ông vào Đền Thờ vào lễ Xá Tội, Yom Kippur, ngày mồng 10 tháng Tishrei Âm lịch Do Thái, thường rơi vào giữa tháng 9-10 Dương lịch. Khi bà Êlisabét có thai được 6 tháng thì Thiên sứ Gabriel hiện ra với Đức Maria để truyền tin Mẹ chịu thai, như Tin Mừng Luca chương 1 kể. 6 tháng sau tháng Tishrei là tháng Nissan, tương đương giữa tháng 3 và tháng 4 DL; lễ Truyền Tin được chọn vào 25/3 là hợp lý. Đức Mẹ mang thai 9 tháng thì sinh con, rơi vào tháng Tevet, tức khoảng cuối tháng 12, đầu tháng 1 DL. Vậy là tương ứng với truyền thống Giáng Sinh 25/12. Tuy có nhiều lập luận khác phủ nhận việc ông Dacaria vào Đền Thờ dâng hương đúng vào lễ Xá Tội, khiến Giáng Sinh vào 25/12 là không đáng tin cậy, nhưng truyền thống kể trên do chính Thánh Gioan Kim Khẩu khẳng định, nên đáng tin tưởng hơn các nguồn khác.

 

Nhiều người dựa vào việc có các người chăn chiên ở ngoài đồng vào đêm Chúa sinh ra, theo Tin Mừng tường thuật, để cho rằng ngày Giáng Sinh không phải là vào mùa đông. Tuy nhiên, một chuyên gia viết trên Aleteia rằng: các mục đồng được nhìn thấy cùng với đàn chiên của họ vào mọi thời điểm trong năm, do vậy chi tiết về mục đồng không khẳng định được vấn đề thời gian. Có điều là mùa đông ở Do Thái không có tuyết như người ta tưởng tượng.

 

Kết luận

 

Như thế, nguồn gốc việc tổ chức lễ Giáng Sinh vào 25/12 có trước khi La Mã xưa chào mừng lễ thần Mặt Trời của họ, nhưng trớ trêu là người hiện đại, nhất là người Công Giáo, thường tin điều ngược lại, cho rằng ngày Giáng Sinh “kế tục” một ngày mừng của dân ngoại. Lầm tưởng này phần nào khiến lễ Chúa Giáng Sinh mất phần ý nghĩa và giá trị, vì thiếu tính chân thực. Điều nên tin là Hội Thánh được Chúa Thánh Thần soi sáng, và như Chúa Giêsu hứa rằng Thánh Thần sẽ “dẫn đưa anh em đến sự thật toàn vẹn” (Ga 16,13), Hội Thánh hẳn không mừng một lễ ngoại đạo tưng bừng như vậy. Dù sao, việc Chúa có thực sự sinh ra vào ngày 25/12 hay không vẫn còn là vấn đề được tranh luận. Chỉ cần biết đó là một sự thật lịch sử, không phải là huyền thoại; điểm nhấn của câu chuyện ở đây không phải là nó khi nào xảy ra mà là nó đã xảy ra. Lễ Noel phản ánh một chân lý rằng: Thiên Chúa trên trời đã xuống làm một con người dưới đất, để con người dưới đất được lên nơi của Thiên Chúa trên trời (Thánh Athanasiô).

 

Nguồn tham khảo:
– insidethevatican.com

– touchstonemag.com

– aleteia.org

 

Gioakim Nguyễn

Read More
07Tháng Mười Hai
2021

Vì sao chúng ta mừng lễ Giáng Sinh ngày 25 tháng 12?

07/12/2021
Anmai
Phụng vụ, Tài liệu phụng vụ
0

Vì sao chúng ta mừng lễ Giáng Sinh ngày 25 tháng 12?

 

Sau Phục Sinh, Noel là ngày lễ quan trọng thứ nhì trong lịch phụng vụ, mở đầu năm phụng vụ. Và đó cũng là một trong ba Sinh nhật được Giáo hội công giáo mừng, hai ngày sinh kia là ngày sinh của Thánh Gioan-Baotixita, ngày 24 tháng 6 và ngày Đức Mẹ sinh ra, ngày 8 tháng 9.

Chữ Noel đến từ tiếng la-tinh “dies natalis” hay ngày sinh ra, vì thế chữ Noel luôn viết hoa khi nhắc đến ngày sinh của Chúa. Nhưng điểm quan trọng không phải ở đây, các tín hữu kitô mừng sự kiện sinh ra, chứ không phải mừng ngày sinh nhật. Đây là một tiến trình thần học chứ không phải lịch sử.

 

Tại sao Noel lại là ngày 25 tháng 12?

 

Đúng ra trong các sách vở, người ta không tìm ra dấu vết ngày sinh của Chúa Giêsu! Không tìm ra ngày, cũng không tìm ra năm… Dù trong Phúc Âm Thánh Luca là Phúc Âm nói rõ nhất về chuyện này thì chỉ biết các mục đồng ngủ ban đêm ở ngoài đồng với đàn chiên của mình… như thế không phải là vào mùa đông! Ngày 25 tháng 12 là ngày Đức Giáo hoàng Libere chọn vào năm 353, thế kỷ thứ 4!

 

Ngày đông chí được ấn định trong lịch juliên có hiệu lực vào thời Chúa Giêsu sinh ra ngày 25 tháng 12… trùng với ngày 7 tháng 1 của lịch gregoria hiện nay. Điểm này giải thích các giáo hội chính thống giáo cũng theo lịch phụng vụ juliên để mừng ngày sinh của Chúa Kitô cũng vào ngày này.

 

Tín hữu kitô xem Chúa Giêsu là “ánh sáng cho thế gian”, phù với ngày đông chí, ngày mặt trời sống lại là hoàn toàn tự nhiên. Năm 2004, giám mục giáo phận Arras giải thích: “Việc mừng Noel nhằm vào ngày lễ lương dân đông chí là một dấu hiệu tuyệt vời. Các tia sáng mặt trời ở điểm thấp nhất trong độ nghiêng của nó. Dần dần mặt trời lấy chỗ của đêm tối. Và ánh sáng đã chiến thắng”.

 

Phúc Âm Thánh Gioan (8, 12) nói đến ẩn dụ một ánh sáng mới soi sáng thế gian. Noel năm 2007, Đức Bênêđictô XVI cũng nhắc lại: “Trong hang lừa ở Bêlem, trời và đất giao thoa. Mặt trời đến trên mặt đất. Vì thế, ánh sáng chiếu cho mọi thời; chính vì vậy thắp sáng niềm vui”.

 

Noel, để mừng một kỷ nguyên mới

 

Năm 425, hoàng đế phương Đông Théodose II chính thức hệ thống hóa các ngày mừng lễ Noel. Vì ngày này không trùng với lịch Hêbrơ, khác với ngày Phục Sinh và lễ Hiện Xuống là những ngày lễ theo âm lịch, ngày mừng Chúa Kitô sinh ra theo dương lịch.

 

Đến thế kỷ thứ 6, tu sĩ sử gia Denis le Petit tìm năm để quyết định năm Chúa Giêsu sinh ra. Theo các tính toán của tu sĩ, ông ấn định đó là năm 1, năm khởi đầu kitô giáo. Từ đó năm 1 là mốc để đánh dấu các thế kỷ trước Chúa Kitô sinh ra và sau Chúa Kitô sinh ra. Nhưng người ta nghĩ tu sĩ đã tính sai, theo lẽ Chúa Giêsu sinh ra 6 hoặc 7 năm trước năm 1.

 

Và theo Phúc Âm, Chúa Giêsu chết vào một ngày thứ sau khi người do thái mừng lễ Vượt qua. Theo các con số tính toán của họ, đa số các sử gia đều cho đó là ngày thứ sáu 7 tháng 4 năm 30. Lúc đó Chúa Giêsu khoảng 36 tuổi.

 

Noel, ngày lễ của các gia đình

 

Từ thế kỷ thứ 4 đã có truyền thống dâng ba thánh lễ Noel: một thánh lễ Nửa khuya, một thánh lễ Rạng đông và một thánh lễ Ban ngày. Bây giờ không buộc phải dâng thánh lễ đúng nửa đêm nhưng nửa đêm vẫn là giây phút quan trọng lúc Chúa sinh ra. Vì được xem là “lễ của các gia đình” nên thánh lễ được cử hành vào buổi tối với các bài phụng vụ của lễ nửa đêm, chứ không phải bài phụng vụ của ngày canh thức Noel. Thánh lễ Noel nói lên tinh thần ngày lễ Noel như bài hát danh tiếng Đêm thánh:

 

Đêm Thánh vô cùng. Giây phút tưng bừng. Đất với trời. Se chữ đồng. Đêm nay Chúa con thần thánh tôn thờ. Canh khuya giáng sinh trong chốn hang lừa. Ơn châu báu vô bờ bến. Biết tìm kiếm của chi đền!

 

Ôi Chúa Thiên đàng. Cảm mến cơ hàn. Nhấp chén phiền. Vương phong trần. Ôi Thiên Chúa thương người đến quên mình. Canh khuya giáng sinh trong chốn cơ hàn. Ơn châu báu vô bờ bến. Biết tìm kiếm của chi đền.

 

 (Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch, phanxico.vn 17.12.2017/

fr.aleteia.org, Marie Le Goaziou, 2017-10-07)

Read More
07Tháng Mười Hai
2021

MẸ TINH TUYỀN

07/12/2021
Anmai
Phụng vụ, Suy niệm hàng ngày
0

08  05  Tr  Thứ Tư Tuần II Mùa Vọng.

ĐỨC TRINH NỮ MA-RI-A VÔ NHIỄM NGUYÊN TỘI, lễ trọng.

Lc 1, 26-28

MẸ TINH TUYỀN

Hôm nay toàn thể Hội Thánh tôn vinh Mẹ Maria, Ðấng Tuyệt Ðẹp “ Tota Pulchra”, Ðấng đã được Thiên Chúa chọn làm Mẹ của Con Một Ngài, Đấng được gìn giữ khỏi mắc tội nguyên tổ, là Ðấng đầu tiên đã được Con Mẹ cứu chuộc. Nét đẹp cao cả của Mẹ phản chiếu nét đẹp của Chúa Kitô, là bằng chứng cho tất cả mọi tín hữu về chiến thắng của Ân sủng Thiên Chúa trên tội lỗi và sự chết.

Tín điều Mẹ Maria Đầu Thai Vô Nhiễm Nguyên Tội được Đức Chân phước Piô IX Giáo hoàng long trọng tuyên bố bằng sắc lệnh “Ineffabilis Deus” vào ngày Lễ Mẹ Vô Nhiễm, 8/12/1854, rằng: “Để vinh danh Ba Ngôi thánh thiện duy nhất, để tôn kính và hiển danh Trinh Nữ Mẹ Thiên Chúa, để phấn khởi đức tin Công Giáo và phát triển Kitô Giáo; bằng quyền bính của Chúa Giêsu Kitô, của các thánh tông đồ Phêrô và Phaolô, và bằng thẩm quyền của mình, Tôi tuyên xưng, công bố và xác nhận rằng: tín lý cho rằng rất Thánh Nữ Trinh Maria, ngay từ giây phút đầu thai của mình, nhờ ơn sủng cùng với đặc ân chuyên nhất của Thiên Chúa toàn năng, và dựa vào công nghiệp của Chúa Giêsu Kitô, Đấng Cứu Chuộc loài người, đã được gìn giữ vô nhiễm khỏi mọi tì vết của nguyên tội, là điều được Thiên Chúa mạc khải, vì thế, tất cả mọi tín hữu đều phải mạnh mẽ và liên lỉ tin tưởng”. (DS 2803)

Như thế, Mầu nhiệm Đức Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội nhắc nhớ chúng ta hai chân lý căn bản của đức tin, đó là tội nguyên tổ và nhất là sự chiến thắng của ơn thánh Chúa trên tội này, chiến thắng ấy được phản chiếu tuyệt vời nơi Đức Maria chí thánh.

Vì yêu thương nhân loại, Thiên Chúa đã thực hiện hai công trình tuyệt tác và vĩ đại nhất đó là: Công trình tạo dựng muôn loài và công trình cứu chuộc nhân loại. Trong công trình tạo dựng, Thiên Chúa đã dọn cho hai ông bà nguyên tổ một địa đàng sán lạn huy hoàng, tràn trề hạnh phúc. Nhưng vì phạm tội ông bà đã phá vỡ kế hoạch yêu thương của Thiên Chúa. Nhưng rồi kế hoạch yêu thương nữa lại bắt đầu với lời tuyên phạt con rắn: “Ta sẽ đặt mối thù giữa ngươi và người đàn bà”. (St 3, 15).

Rồi trong những trang Kinh thánh suốt mấy nghìn năm đã thấp thoáng hiện lên những người nữ “hơn các phụ nữ” (Tl 5, 15), “Người thiếu nữ mang thai, sinh hạ một con trai…” (Is 7, 14). Đến hôm nay sau bao ngàn năm chuẩn bị, người “nữ” đích thực mà Thiên Chúa kén chọn đã tỏ hiện: Đức Trinh Nữ Maria. Để đón nhận Chúa Cứu Thế đến với nhân loại, cung lòng người Trinh Nữ phải trở nên thiên đàng, một “địa đàng mới” không cỏ dại, không bẩn bụi, không một vết “rắn” bò, để cho Chúa Cứu Thế ngự trị.

Vậy giờ đã đến thời viên mãn, sứ thần Gaprien đã được Thiên Chúa sai đến với Trinh Nữ: “Mừng vui lên hỡi Đấng đầy ân sủng”. Lời chào thăm, chúc mừng và truyền lệnh yêu thương của Thiên Chúa: “Này đây bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai và đặt tên là Giêsu”. Sứ thần nhắc lại câu nói của ngôn sứ Isaia trước đấy mấy trăm năm về Chúa Cứu Thế. Nhưng với lòng khiêm nhường, thật thà, đơn sơ, trong trắng và ý chí  tự do của người Trinh Nữ, sứ điệp ấy chưa dễ dàng được chấp nhận. Vì Trinh Nữ như yêu đời sống trinh khiết hơn là được làm mẹ Chúa Cứu Thế. Sứ thần phải mất thêm thời gian, lời đôi co trao đổi  qua lại nhiều nữa: “Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà, và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên bà, vì thế Đấng Thánh sắp sinh ra sẽ được gọi là con Thiên Chúa… Vì đối với Thiên Chúa không có gì là không thể làm được”.

Rồi Trinh Nữ Maria đã nhận lời: “Vâng tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói”. Là Thiên Chúa quyền năng, nhưng Người đã không ra mệnh lệnh, cưỡng bức thực thi ý Chúa, mà tôn trọng sự tự do mà Chúa đã ban cho con người. Sứ thần đã làm cho Mẹ thật sự nhận ra thánh ý Chúa để Mẹ tự nguyện “xin vâng”. Sự tự nguyện ấy mẹ đã suốt đời chiêm niệm “suy đi nghĩ lại trong lòng” mà quyết tâm thực thi ý Chúa. Mẹ Maria đã tự coi mình là nữ tỳ, là tôi tớ, nên đã trở thành người diễm phúc, xứng đáng làm mẹ Thiên Chúa nhập thể làm người, và làm mẹ của cả loài người chúng ta.

Mẹ Maria đã được Thiên Chúa chọn làm Mẹ của Chúa Giêsu – Con Một Người. Để Mẹ được xứng đáng với thiên chức đó hơn, Mẹ đã được Người ban cho đặc ân “vô nhiễm nguyên tội”. Nhờ đó, Mẹ đã không bị truyền tội tổ tông do Adam và Eva gây ra ngày trước. Tuy nhiên, việc lãnh nhận đặc ân đó không phải ngẫu nhiên mà chính là nhờ hai tiếng “xin vâng”. Chính sự vâng phục Thiên Chúa đã đưa Mẹ rời khỏi hàng tội nhân của tội nguyên tổ và trở thành người diễm phúc nhất trong tất cả phụ nữ.

Quả thật, Mẹ đã tin tưởng hết lòng và vâng phục Thiên Chúa. Niềm tin ấy đã thôi thúc Mẹ nói lên lời “xin vâng” để tuân theo ý Người một cách tuyệt đối. Tuy nghe có vẻ dễ dàng, nhưng nếu thử đặt mình vào hoàn cảnh của Mẹ lúc bấy giờ, ta sẽ thấy niềm tin và sự vâng phục ấy to lớn đến mức nào. Ngày nay, việc có con trước hôn nhân không còn là việc quá khủng khiếp như xưa. Giới trẻ có thể thoải mái chiều theo ý muốn của mình mà không bị lên án nghiêm trọng (miễn là vẫn giữ và dưỡng dục đứa con nên người).

Tuy nhiên, vào thời bấy giờ lại không như thế. Một người phụ nữ có con trước khi chính thức về nhà chồng nếu bị phát hiện sẽ bị ném đá đến chết. Không chỉ vậy, họ còn để lại tai tiếng cho gia đình nếu việc đó xảy đến. Do đó, để chấp nhận thi hành ý muốn của Thiên Chúa, Mẹ đã phải phó thác mọi sự trong tay Người.

Mẹ Maria là mẫu gương để chúng ta học tập. Mẹ đã tin tưởng và vâng phục suốt cả cuộc đời, đã đồng hành cùng Chúa Giêsu cho đến phút cuối cùng và tiếp tục đồng hành cùng Hội thánh của Người. Do đó, ngoài việc noi gương Mẹ, ta cũng không quên chạy đến với Mẹ trong những giây phút khó khăn của cuộc sống. Tình yêu của Mẹ sẽ chở che và đưa chúng ta đến gần Thiên Chúa hơn. Đặc biệt, ta phải ghi nhớ rằng: tin tưởng và vâng phục là chìa khóa quan trọng cần phải có để ta có thể sống đẹp lòng Chúa.

Mỗi người chúng ta cần phải biết noi gương Mẹ. Dù cuộc sống có nhiều đau thương, khó khăn, dù hiểm nguy luôn rình rập, đe dọa, ta cũng vẫn phải tin tưởng vào sự quan phòng của Chúa. Mọi thánh giá Người để ta vác đều không vượt quá sức của ta, Người biết điều đó và Người tin ta sẽ đủ khả năng gánh vác. Khó khăn, đau khổ là điều không thể thiếu của đời người, quan trọng là ta đối mặt với nó như thế nào.

Hôm nay chúng ta mừng lễ Mẹ Vô Nhiễm nguyên tội, chúng ta tạ ơn Chúa đã tạo dựng cho nhân loại một đóa hoa rạng ngời luôn tỏa hương thơm ngát là Mẹ Maria. Tạ ơn Chúa đã tặng ban cho đời một đóa hoa luôn thanh thoát, cao quý bởi tình yêu hiến dâng cho Chúa để phục vụ cho đời. Tạ ơn Chúa và nguyện cầu cùng Mẹ giúp chúng ta biết trở thành một đóa hoa thơm ngát dâng tặng cho đời và ca tụng Thiên Chúa.

Read More

Điều hướng bài viết

  • Previous page
  • Page 1
  • …
  • Page 1.044
  • Page 1.045
  • Page 1.046
  • …
  • Page 2.058
  • Next page
Bài viết mới nhất
Di chúc thiêng liêng của Linh mục Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp
11/07/2026
Hoa trái thiêng liêng hậu tuần Cửu nhật
11/07/2026
Chứng tá về căn tính môn đệ Đức Kitô nơi cha Trương Bửu Diệp
11/07/2026
Video nổi bật
https://www.youtube.com/watch?v=Td144YDsaGo
Sự kiện sắp tới

There are no upcoming events at this time.

Ủy ban Giáo dục Công giáo – Trực thuộc Hội Đồng Giám Mục Việt Nam.

Liên hệ

72/12 Trần Quốc Toản, Phường 8, Quận 3, TP.HCM Get Directions

Phone: +84 931 436 131

Email: [email protected]

Ban chuyên môn
  • Ban Tài liệu và Truyền thông
  • Ban Giáo chức
  • Ban Kỹ năng và Giá trị sống
  • Ban Khuyến học
  • Ban Học viện Thần học
  • Ban Hội Học sinh – Sinh viên
Chuyên mục
  • Tin tức
  • Thư chung
  • Giáo dục
  • Phụng vụ
  • Thư viện
Bản quyền © 2020 thuộc về Ủy Ban Giáo Dục HĐGM VN. Design by JT.