2021
Năm Thánh trong Giáo hội Công giáo
Năm Thánh trong Giáo hội Công giáo
Truyền thống cử hành Năm Thánh có từ năm 1300. Theo truyền thống Giáo hội Công giáo, Năm Thánh là một sự kiện tôn giáo lớn. Năm Thánh đánh dấu một năm tha tội và hình phạt do tội gây ra, một năm hòa giải giữa những người đối lập nhau, một năm hoán cải và lãnh nhận Bí tích Hòa giải.
Hôm Chúa Nhật 26/12, Phòng báo chí Toà Thánh đưa tin: Đức Thánh Cha đã giao việc chuẩn bị Năm Thánh 2025 cho Hội đồng Toà Thánh tái Truyền giảng Tin Mừng.
Hội đồng Toà Thánh tái Truyền giảng Tin Mừng được Đức nguyên Giáo hoàng Biển Đức XVI thành lập vào năm 2010. Cơ quan này cũng đã được Đức Thánh Cha Phanxicô giao trách nhiệm tổ chức các sự kiện của Năm Thánh Lòng Thương Xót 2015-2016.
Để thực hiện trách nhiệm điều phối các hoạt động chuẩn bị này, trong thời gian gần đây, Đức Tổng Giám mục Rino Fisichella, Chủ tịch Hội đồng Toà Thánh tái Truyền giảng Tin Mừng đã gặp gỡ các vị đứng đầu của Phủ Quốc vụ khanh Toà Thánh, Cơ quan Quản trị Tài sản của Tòa Thánh (APSA) và Bộ Kinh tế để bàn luận về Năm Thánh sắp tới.
Nhân dịp này, chúng ta cùng nhìn lại những điều liên quan đến Năm Thánh trong Giáo hội Công giáo.
Nguồn gốc và mục đích
Trước hết về nguồn gốc và mục đích của Năm thánh.
Theo truyền thống Giáo hội Công giáo, Năm Thánh là một sự kiện tôn giáo lớn. Năm Thánh đánh dấu một năm tha tội và hình phạt do tội gây ra, một năm hòa giải giữa những người đối lập nhau, một năm hoán cải và lãnh nhận Bí tích Hòa giải.
Truyền thống này bắt nguồn từ thời Cựu Ước, theo đó Năm Thánh là một thời kỳ hồng ân, qua đó Thiên Chúa ban ơn đặc biệt hơn khi con người mở lòng để canh tân và thống hối. Theo nguyên gốc Latinh Annum Jubilaei, Năm Thánh, được hiểu là Năm Hồng Ân hay Ðại Xá, và theo Luật Môsê, cứ mỗi năm thứ 7, đất đai phải được nghỉ ngơi và nô lệ được trả tự do, nợ nần được tha, đồng thời dân chúng phải sống liên đới, yêu thương, hoà giải với anh chị em và kẻ thù. Chúa nói với Môsê: “Các ngươi sẽ công bố năm thứ năm mươi là năm thánh và sẽ tuyên cáo trong xứ lệnh ân xá cho mọi người sống tại đó. Đối với các ngươi, đó là thời kỳ toàn xá: mỗi người trong các ngươi sẽ trở về phần sở hữu của mình, mỗi người sẽ trở về dòng họ của mình. Đối với các ngươi, năm thứ năm mươi sẽ là thời kỳ toàn xá: các ngươi không được gieo, không được gặt lúa tự nhiên mọc, không được hái trong vườn nho không cắt tỉa. Vì đó là thời kỳ toàn xá, một năm thánh đối với các ngươi, các ngươi sẽ ăn hoa lợi của đồng ruộng. Năm toàn xá đó, mỗi người trong các ngươi sẽ trở về phần sở hữu của mình” (Lv 25,10-13 ; xt. Xh 23,10-11 ; Lv 25,1-28 ; Ðnl 15,1-6).
Tất cả những việc làm trên là nhằm tôn vinh Thiên Chúa. Cứ sau 49 năm thì toàn dân Do Thái phải mừng năm thứ 50 một cách trọng thể. Rõ ràng, truyền thống Năm Hồng Ân này là sự mở rộng luật Sabbát của người Do thái là trong một tuần 7 ngày, sau 6 ngày làm việc phải có 1 ngày nghỉ ngơi để thờ phượng Thiên Chúa.
Như thế, Năm Thánh là thời gian mà người tội lỗi hoán cải được ban ơn tha thứ các hình phạt do tội gây ra, con người phải thống hối và canh tân cũng như hòa giải với Thiên Chúa và anh chị em. Ðể được hưởng những ơn lành Thiên Chúa ban cho trong Năm Thánh này, Kitô hữu phải nhận thức trước hết Năm Thánh là nhằm thánh hóa cuộc sống, củng cố đức tin, tạo cơ hội thuận tiện để xây dựng tình liên đới và hiệp thông huynh đệ trong lòng Giáo Hội và thế giới, khuyến khích mọi người tuyên xưng đức tin một cách chân thành và sống động hơn nơi Ðức Kitô, Ðấng Cứu Ðộ duy nhất của nhân loại.
Truyền thống Năm Thánh
Truyền thống cử hành Năm Thánh có từ năm 1300 vào thời Đức Giáo hoàng Bonifacio VIII. Trong Năm Thánh đầu tiên đó, Đức Giáo hoàng đã cho phép các tín hữu hành hương từ khắp nơi đến Roma, bước qua Cửa Thánh của các Đền thờ được ơn toàn xá, nghĩa là được ơn tha tội và ân sủng Chúa. Cũng theo thỉnh cầu của các tín hữu trong dịp này, Đức Giáo hoàng đã quy định cứ 100 năm thì sẽ có một Năm Thánh.
Vào năm 1350, Đức Giáo hoàng Clement VI đã ấn định Năm Thánh được cử hành 50 năm một lần.
Năm 1470, Đức Giáo hoàng Phaolô II đã quyết định Năm Thánh sẽ được cử hành 25 năm một lần.
Các Năm Thánh gần đây
Các Năm Thánh gần đây là những thời điểm quan trọng trong lịch sử đương đại của Giáo hội Công giáo.
Năm Thánh 1950
Năm Thánh 1950 do Ðức Giáo hoàng Piô XII khai mạc sau những đau thương tàn khốc của Thế chiến II. Hoà bình là sứ điệp của Năm Thánh 1950. Châu Âu bị phân làm 2 khối Tự do và Cộng sản nên những người Công giáo tại Ðông Âu Cộng sản không thể đến Roma tham dự Năm Thánh. Cũng trong Năm Thánh này, tại quảng trường Thánh Phêrô với sự hiện diện đông đảo của khoảng 500.000 tín hữu và 622 giám mục, Ðức Thánh Cha đã công bố tín điều Ðức Mẹ Hồn Xác Lên Trời.
Năm Thánh 1975
Năm Thánh 1975 được mở ra dưới triều thánh Giáo hoàng Phaolô VI. Năm Thánh này mang ý nghĩa Canh tân và Hoà giải, như được trình bày trong tông huấn Gaudete in Domino – Hãy vui mừng trong Chúa của ngài. Điểm nổi bật của Năm Thánh 1975 là cử hành trước tại các Giáo hội địa phương từ lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống 10/6/1973 và kết thúc vào lễ Giáng Sinh 1974.
Năm Thánh 1975 là Năm Thánh cuối cùng trong lịch sử Giáo hội với việc Đức Giáo hoàng khai mạc bằng cách đập búa vào tường che Cửa Thánh ở Ðền thờ Phêrô. Khi kết thúc Năm Thánh 1975, Thánh Phaolô VI đã không còn tiếp tục truyền thống xây tường gạch che phủ Cửa Thánh nữa.
Năm 1975 cũng nằm trong bối cảnh khủng hoảng ơn gọi linh mục, do đó sự kiện đã khơi dậy mối quan tâm mới đến vai trò của Giáo hoàng, trong một viễn tượng truyền giáo được phục hồi bởi tông huấn Evangelii Nuntiandi, một văn kiện được Đức Thánh Cha Phanxicô thường xuyên trích dẫn.
Năm Thánh 2000
Sau cùng, gần đây hơn, Năm Thánh 2000, được thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II công bố.
Trong tinh thần hướng đến thiên niên kỷ thứ ba đang đến và đánh dấu 2.000 năm biến cố Con Thiên Chúa xuống thế làm người, từ năm 1994 thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã ban hành Tông thư Tertio Millennio Adveniente – Ngàn Năm thứ Ba đang tới, để kêu gọi mọi người chuẩn bị tâm hồn đón nhận ân sủng cao quý Thiên Chúa ban cho trong Đại Năm Thánh 2000. Ngoài ra, trong ba năm chuẩn bị gần:1997, 1998, 1999, tín hữu cũng được mời gọi học hỏi các chủ đề Chúa Con, Chúa Thánh Thần và Chúa Cha.
Vào ngày 29/11/1998, tức Chúa nhật I Mùa Vọng, Ðức Giáo hoàng đã ban hành Tông sắc Incarnationis Mysterium – Mầu Nhiệm Nhập Thể chính thức công bố sẽ mở Năm Thánh 2000 bắt đầu vào Ðêm Vọng Giáng Sinh 24/12/1999 và kết thúc vào ngày Lễ Hiển Linh 06/01/2001. Năm Thánh được cử hành cùng lúc tại Roma và các Giáo hội địa phương. Chủ đề của Năm Thánh 2000 là Thiên Chúa Ba Ngôi, Bí Tích Thánh Thể và sự hiệp nhất. Năm Thánh 2000 là Năm Thánh đầu tiên chính Đức Giáo hoàng mở Cửa Thánh cả bốn Ðền thờ lớn tại Roma.
Năm Thánh 2000 được ghi dấu nhiều cử hành lịch sử của thánh Gioan Phaolô II; như chuyến tông du đến Thánh Địa theo dấu chân Chúa Kitô; cử hành việc tôn kính tất các vị tử đạo của tất cả các Giáo hội Kitô tại đấu trường Colosseo; hoặc một lần nữa, vào ngày 12/3/2000, một cử hành sám hối tại Đền thờ Thánh Phêrô vì những sai lỗi trong lịch sử của các thành viên của Giáo hội Công giáo.
Năm Thánh 2000 là dịp Ðại Hồng Ân không chỉ cho Kitô hữu mà còn cho cả nhân loại với vai trò của Kitô giáo trong lịch sử 2000 năm qua của nhân loại (Tông thư Tertio Millennio Adveniente, s.15).
Năm Thánh Ngoại lệ
Ngoài các Năm Thánh được cử hành 25 năm một lần, trong lịch sử Giáo hội còn có những Năm Thánh không theo quy trình này, được gọi là Năm Thánh Ngoại lệ.
Các Năm Thánh Ngoại lệ cũng được cử hành theo sáng kiến của các Giáo hoàng, như Năm Thánh Cứu Chuộc 1933 và 1983, và gần đây Năm Thánh Lòng Thương Xót được cử hành năm 2015-2016.
Năm Thánh 1933
Vào ngày 24/12/1932, Ðức Giáo hoàng Piô XI làm mọi người ngạc nhiên khi công bố mở Năm Thánh ngoại lệ vào năm 1933 gọi là Năm Thánh Cứu Ðộ để kỷ niệm Chúa Giêsu chịu chết cho nhân loại hầu đem ơn cứu rỗi 1900 năm về trước. Có vài thay đổi trong Nghi thức phụng vụ của Năm Thánh này, như việc mở Cửa Thánh được ấn định vào Chúa nhật Lễ Lá chứ không phải vào Ðêm Vọng Giáng Sinh, và nghi thức đóng Cửa Thánh vào thứ Hai Tuần Thánh năm sau.
Năm Thánh 1983
Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II công bố Tông sắc Aperite Portas Redemptori – Hãy mở Cửa cho Ðấng Cứu Thế vào ngày Lễ Hiển Linh 06/01 để mừng Năm Thánh 1983, đánh dấu biến cố Ðức Giêsu đã chết cho nhân loại 1950 năm về trước.
Năm Thánh 1983 được khai mạc ngày 25/3/1983 và kết thúc ngày 22/4/1984.
Năm Thánh Lòng Thương Xót 2015
Cuối cùng, Năm Thánh ngoại lệ gần đây nhất là Năm Thánh Lòng Thương Xót 2015, được cử hành tại ở Roma và tất cả các Giáo phận trên thế giới. Chính Đức Thánh Cha Phanxicô, trước khi mở cửa Năm Thánh của Đền thờ Thánh Phêrô, ngài đã mở cửa Năm Thánh tại nhà thờ Chính Toà Bangui, ở Cộng hoà Trung phi vài ngày trước đó.
Năm Thánh bắt đầu với việc mở Cửa Thánh tại Đền thờ Thánh Phêrô vào ngày 08/12/2015, lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm nguyên tội, và kết thúc vào ngày 20/11/2016, lễ Chúa Giêsu Kitô, Vua Vũ Trụ.
Việc mở Năm Thánh 2015 diễn ra nhân dịp kỷ niệm 50 năm bế mạc Công đồng Vatican II vào năm 1965. Điều này thật ý nghĩa, vì Năm Thánh thúc đẩy Giáo hội tiếp tục công trình mà Vatican II đã khởi sự.
Mục đích của Năm Thánh Lòng Thương Xót là kêu gọi các tín hữu chiêm ngắm dung nhan Thiên Chúa là Cha giàu lòng thương xót, được tỏ hiện trọn vẹn nơi Đức Giêsu Kitô; nhờ đó chúng ta cảm nghiệm được lòng Chúa xót thương và trở nên dấu chỉ cụ thể của lòng thương xót trong cuộc sống.
Năm Thánh 2025
Năm Thánh 2025 tới đây sẽ là Năm Thánh thường lệ thứ 27 trong lịch sử Giáo hội. Các chủ đề của năm này bao gồm: liên đới, hy vọng, công bằng, dấn thân phụng sự Chúa với niềm vui và bình an với anh chị em của chúng ta.
Ngọc Yến
2021
Mẹ Thiên Chúa – Mẹ chúng ta
Tháng 1 năm 2022
1.1.2022 Đức Maria Mẹ Thiên Chúa
Ds 6:22-27; Gl 4:4-7; Tv 67:2-3,5,6,8; Lc 2:16-21
Mẹ Thiên Chúa – Mẹ chúng ta
Thiên Chúa không muốn dựng nên thân xác thần hiện nào khác, nhưng dùng chính thân xác từ trong loài người để cứu độ loài người. Ví như muốn cứu người ăn mày có hai cách: một là cho tiền, gạo để ăn chơi nhàn rỗi, hai là dạy cho họ có công ăn việc làm để họ dùng chính khả năng họ làm ăn. Cách thứ hai rất khó nhưng chắc chắn có giá trị lâu dài và giá trị tự do hưởng ứng của họ. Cũng thế, Thiên Chúa đã dùng chính khả năng con người trong Đức Mẹ hợp tác với Chúa để cứu loài người.
Tước hiệu Đức Maria Mẹ Thiên Chúa là một tước hiệu đã có từ lâu đời trong Giáo Hội. Đây là một tước hiệu xứng hợp ơn mọi tước hiệu khi nói về Đức Trinh Nữ Maria.
Vào thế kỷ V, Nestôriô đã nổi lên chống đối tước hiệu Mẹ Thiên Chúa của Đức Maria. Theo Nestôriô, chỉ nên gọi Maria là Mẹ của Đức Giêsu Kitô, chứ không được gọi là Mẹ Thiên Chúa. Một cuộc xung đột lớn đã xảy ra trong Giáo Hội xoay quanh việc Ngôi Hai nhập thể. Thế nên, vào năm 431, Hội Thánh đã triệu tập Công đồng Ephêsô dưới sự chủ toạ của thánh Cyrillô, các nghị phụ trong công đồng này đã tuyên bố cất chức Nestôriô và đánh đổ lạc thuyết của ông ta. Công đồng Ephêsô đã định tín Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa vì thực sự Mẹ đã sinh ra Con-Thiên-Chúa-làm-người.
Bắt đầu từ công đồng Ephêsô tước hiệu Maria Mẹ Thiên Chúa đã trở thành tước hiệu chính thức của Đức Trinh Nữ Maria. Đây là tước hiệu trổi vượt trên mọi tước hiệu mà Giáo Hội đã ca tụng và tôn vinh Đức Trinh Nữ Maria. Thánh công đồng Vaticanô II trong Hiến chế Tín lý về Hội Thánh đã viết: “Từ những thời xa xưa, Đức Trinh Nữ đã được tôn kính dưới tước hiệu là Mẹ Thiên Chúa, và các tín hữu đã khẩn cầu cùng ẩn náu dưới sự che chở của Người trong mọi cơn gian nan khốn khố”. Đức Giáo Hoàng Piô XI đã viết khi lập thánh lễ kính trọng thể Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa ngày 11.10 nhân dịp kỷ niệm 1500 năm công đồng Ephêsô vào năm 1931: “Tín điều Mẹ Thiên Chúa là một mối nước mầu nhiệm vô tận, đã tuôn ra mọi đặc ân cho Đức Mẹ và nâng Người lên một địa vị cao sang tuyệt vời bên Thiên Chúa”.
Hôm nay, Giáo Hội dành ngày đầu năm dương lịch để cầu nguyện cho thế giới hoà bình trùng vào ngày kính trọng thể Đức Maria Mẹ Thiên Chúa như lời Đức Thánh Cha Phaolô VI đã viết trong tông huấn Marialis Cultus, khi người dời thánh lễ kính trọng thể Mẹ Maria là Mẹ Thiên Chúa vào ngày 01.01 mỗi năm như sau: “Vì sự trùng hợp tốt đẹp giữa ngày 01 tháng Giêng với ngày thứ tám sau lễ Giáng Sinh mà chúng tôi đã đặt ngày đó là ngày thế giới hoà bình, mà thế giới mỗi ngày càng hưởng ứng thêm, và thành quả của hoà bình đã phát sinh trong lòng nhiều người”.
Lời Chúa trong bài Tin Mừng mời gọi ta trở lại chiêm ngắm cảnh hang Bê-lem, một cảnh tượng quá đơn sơ nhưng có điều gì đó cần phải được khám phá. Trong suốt những ngày này, Maria đã chẳng chỉ suy đi nghĩ lại trong lòng các điều đó là gì? “Đến nơi, các mục đồng gặp bà Maria, ông Giu-se, cùng với Hài nhi đặt nằm trong máng cỏ”. Ta nhận ra cái diễm phúc lớn hơn hết của con người được cái đặc ân cưu mang trong lòng dạ chín tháng, sinh hạ, rồi ôm ẵm trên tay, cho bú mớm và nuôi dưỡng Hài Nhị nhỏ bé này chính là được trở thành nhân vật gần gũi, được chạm tới, được chiêm ngắm trực diện hơn ai hết một Thiên Chúa làm người để cứu độ, một Thiên Chúa đang tỏ hiện lòng từ bi thương xót của Ngài cách quá cụ thể và độc đáo. Không trách gì mà Maria đã “hằng ghi nhớ mọi kỷ niệm ấy, và suy đi nghĩ lại trong lòng”.
Phải chăng khi nói ‘nghe và tuân giữ lời Thiên Chúa’, Đức Giêsu đã muốn ám chỉ điều này? Lời Thiên Chúa chắc hẳn không phải chỉ là một vài giáo điều luân lý hay một học thuyết cao siêu nào đó (như giới luật mến Chúa yêu người chẳng hạn), mà phải là điều mà, qua sự hiện diện trần thế trong hình hài một trẻ sơ sinh cũng như qua cái chết thập giá, Ngài đã và đang không ngừng nói lên: Thiên Chúa yêu thương con người! Rõ ràng là Maria đang ‘nghe’ điều này qua các diễn biến tuần tự xảy ra tại Bê-lem, và nghe cách chăm chú với tất cả cõi lòng của một phụ nữ làm mẹ, nghe với tất cả tâm trí của một nữ tì khiêm hạ, để khi có dịp sẽ cất lên thành bài ca: “Thần trí tôi hớn hở vui mừng vì Thiên Chúa , Đấng cứu độ tôi… Người đoái thương nhìn tới phận nữ tỳ hèn mọn…” (Lc 1, 46-48)
Và Maria cũng đang ‘tuân giữ’, qua việc đón nhận cách trọn vẹn và tham gia cách tích cực, việc Thiên Chúa tỏ hiện lòng thương xót cứu độ của Ngài. Đón nhận nào sâu xa và trọn vẹn cho bằng với trọn cả tâm trì và cõi lòng: tâm trí Maria đã nhảy mừng và lòng dạ Maria đã cưu mang; và có tham gia nào thực tế cho bằng người mẹ đã cưu mang để đem tình thương cứu độ đó trao ban lại cho toàn thể nhân loại? Maria đã làm được điều đó và làm cách xuất sắc hơn hết thảy mọi người trong tư thế một người mẹ. Đức Giêsu có lẽ đã ám chỉ điều này khi Người lên tiếng: “Ai là mẹ tôi? Ai là anh em tôi?… Ai thi hành ý muốn của Thiên Chúa, người ấy là anh em chị em tôi, là mẹ tôi” (Mc 3, 31-35). Được làm Mẹ Thiên Chúa sướng và hạnh phúc thật, nhưng với Giêsu và Maria, đó không phải là một địa vị, một đặc ân, nhưng là một tư thế trước Tin Mừng cứu độ. Và hình như Đức Giêsu cũng muốn mỗi người chúng ta tham gia vào cái ‘vinh dự’ đó thì phải, đơn giản là vì mỗi Kitô hữu đều phải có một tư thế của riêng của mình trước Tin Mừng cứu độ: mỗi người đều phải biết ‘nghe và tuân giữ’ Lời Cứu Độ của lòng thương xót theo cách thức của mình.
Mừng lễ Mẹ hôm nay, với trọn niềm tin tưởng, mến yêu, chúng ta hãy phó thác cho Mẹ thế giới này, đất nước ta, gia đình ta. Hãy để Mẹ hiện diện để yêu thương, chăm sóc và dẫn dắt chúng ta sống theo ý Chúa. Hãy hết lòng yêu Mẹ bằng tình con thảo hiếu!
Nhờ Mẹ cầu bầu, xin cho cuộc đời mỗi nguời chúng ta được đổ đầy bình an của Chúa trong năm mới này, để chúng ta cũng trở nên những người xây đắp an bình cho gia đình, cho mọi người bằng đời sống tin yêu phó thác vào Chúa và quên mình phục vụ tha nhân như Mẹ. Ước gì chúng ta không chỉ thành khẩn thưa lên với Mẹ bằng lời, mà bằng trọn cả con tim và cuộc sống chúng ta: “Thánh Maria Đức Mẹ Chúa Trời, cầu cho chúng con, là kẻ có tội, khi nay và trong giờ lâm tử. Amen.”
2021
THÁNH MA-RI-A, ĐỨC MẸ CHÚA TRỜI
THÁNH MA-RI-A, ĐỨC MẸ CHÚA TRỜI
lễ trọng
Ca nhập lễ
Xê-đu-li-ô
Xin kính chào Thánh Mẫu
đã sinh hạ Quân Vương
Đấng điều khiển vũ trụ
muôn thuở tới muôn đời.
Lời nguyện nhập lễ
Lạy Thiên Chúa toàn năng, ngày Ðức Trinh Nữ Maria sinh hạ Ðấng Cứu Thế, Chúa đã tặng ban cho nhân loại, kho tàng ơn cứu độ muôn đời. Xin cho chúng con được nhờ lời Ðức Mẹ nguyện giúp cầu thay, vì chính nhờ Ðức Mẹ chúng con mới được nhận lãnh nguồn sức sống vĩnh cửu là Ðức Giêsu Kitô, Con Chúa, Chúa chúng con. Người là Thiên Chúa hằng sống và hiển trị cùng Chúa, hiệp nhất với Chúa Thánh Thần đến muôn thuở muôn đời.
Ðọc kinh Tin Kính
Bài đọc 1
Ds 6,22-27
Khi chúng kêu cầu danh Ta cho con cái Ít-ra-en, Ta sẽ ban phúc lành.
Bài trích sách Dân số.
22 Đức Chúa phán với ông Mô-sê : 23 “Hãy nói với A-ha-ron và các con nó rằng : Khi chúc lành cho con cái Ít-ra-en, anh em hãy nói thế này :
24‘Nguyện Đức Chúa chúc lành và gìn giữ anh em !
25Nguyện Đức Chúa tươi nét mặt nhìn đến anh em,
và dủ lòng thương anh em !
26Nguyện Đức Chúa ghé mắt nhìn,
và ban bình an cho anh em !’
27 Chúc như thế là đặt con cái Ít-ra-en dưới quyền bảo trợ của danh Ta, và Ta, Ta sẽ chúc lành cho chúng.”
Đáp ca
Tv 66,2-3.5.6 và 8 (Đ. c.2a)
Đ.Nguyện Chúa Trời dủ thương và chúc phúc cho chúng con.
2Nguyện Chúa Trời dủ thương và chúc phúc,
xin toả ánh tôn nhan rạng ngời trên chúng con,
3cho cả hoàn cầu biết đường lối Chúa,
và muôn nước biết ơn cứu độ của Ngài.
Đ.Nguyện Chúa Trời dủ thương và chúc phúc cho chúng con.
5Ước gì muôn nước reo hò mừng rỡ,
vì Chúa cai trị cả hoàn cầu theo lẽ công minh,
Người cai trị muôn nước theo đường chính trực
và lãnh đạo muôn dân trên mặt đất này.
Đ.Nguyện Chúa Trời dủ thương và chúc phúc cho chúng con.
6Ước gì chư dân cảm tạ Ngài, lạy Thiên Chúa,
chư dân phải đồng thanh cảm tạ Ngài.
8Nguyện Chúa Trời ban phúc lộc cho ta !
Ước chi toàn cõi đất kính sợ Người !
Đ.Nguyện Chúa Trời dủ thương và chúc phúc cho chúng con.
Bài đọc 2
Gl 4,4-7
Thiên Chúa đã sai Con mình tới, sinh làm con một người phụ nữ.
Bài trích thư của thánh Phao-lô tông đồ gửi tín hữu Ga-lát.
4 Thưa anh em, khi thời gian tới hồi viên mãn, Thiên Chúa đã sai Con mình tới, sinh làm con một người phụ nữ, và sống dưới Lề Luật, 5 để chuộc những ai sống dưới Lề Luật, hầu chúng ta nhận được ơn làm nghĩa tử. 6 Để chứng thực anh em là con cái, Thiên Chúa đã sai Thần Khí của Con mình đến ngự trong lòng anh em mà kêu lên : “Áp-ba, Cha ơi !” 7 Vậy anh em không còn phải là nô lệ nữa, nhưng là con, mà đã là con thì cũng là người thừa kế, nhờ Thiên Chúa.
Tung hô Tin Mừng
Hr 1,1-2
Ha-lê-lui-a. Ha-lê-lui-a. Thuở xưa, nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đã phán dạy cha ông chúng ta qua các ngôn sứ ; nhưng vào thời sau hết này, Thiên Chúa đã phán dạy chúng ta qua Thánh Tử. Ha-lê-lui-a.
Tin Mừng
Lc 2,16-21
Các người chăn chiên gặp bà Ma-ri-a, ông Giu-se và Hài Nhi. Được đủ tám ngày, người ta đặt tên cho Hài Nhi là Giê-su.
✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.
16 Khi ấy, các người chăn chiên hối hả ra đi đến Bê-lem. Họ gặp bà Ma-ri-a, ông Giu-se, cùng với Hài Nhi đặt nằm trong máng cỏ. 17 Thấy thế, họ kể lại điều họ đã được nghe nói về Hài Nhi này. 18 Tất cả những ai nghe đều ngạc nhiên về những gì các người chăn chiên nói cho biết. 19 Còn bà Ma-ri-a thì hằng ghi nhớ tất cả những điều ấy, và suy đi nghĩ lại trong lòng. 20 Rồi các người chăn chiên ra về, vừa đi vừa tôn vinh ca tụng Thiên Chúa, vì mọi điều họ đã được tai nghe mắt thấy theo như họ đã được loan báo.
21 Khi Hài Nhi được đủ tám ngày, nghĩa là đến lúc phải làm lễ cắt bì, người ta đặt tên cho Hài Nhi là Giê-su ; đó là tên mà sứ thần đã đặt cho Người trước khi Người được thụ thai trong lòng mẹ.
Lời nguyện tiến lễ
Lạy Thiên Chúa từ bi nhân hậu, mọi sự tốt đẹp ở trần gian đều bắt nguồn nơi Chúa, và phải nhờ tay Chúa mới phát triển được tới mức thập toàn. Ngày hôm nay, mừng lễ Ðức Maria Thiên Chúa Thánh Mẫu, chúng con được hoan hỷ vì ơn cứu độ của chúng con đã khai mào, xin cho chúng con cũng được hạnh phúc thấy ơn ấy hoàn thành mỹ mãn. Chúng con cầu xin …
Lời tiền tụng
Lạy Chúa là Cha chí thánh, là Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, chúng con tạ ơn Chúa mọi nơi mọi lúc, thật là chính đáng, phải đạo và đem lại ơn cứu độ cho chúng con.
Trong ngày lễ Mẹ là Mẹ Thiên Chúa của Ðức Ma-ri-a diễm phúc trọn đời đồng trinh, chúng con cùng ca ngợi, chúc tụng và tung hô Chúa.
Bởi phép Ðức Chúa Thánh Thần, Ðức Maria đã thụ thai Con Một Chúa, và đã chiếu giãi vào thế gian ánh sáng vĩnh cửu là Ðức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng con.
Nhờ Người, các Thiên thần ca ngợi, các Quản thần thờ lạy, các Quyền thần kính sợ uy linh Chúa. Các tầng trời cùng với các đạo binh thiên quốc, cùng với các thần Sốt mến đồng hân hoan chúc tụng Chúa. Xin cho chúng con đồng thanh với các ngài thành khẩn tuyên xưng rằng:
Thánh! Thánh! Thánh! …
Ca hiệp lễ
Hr 13,8
Đức Giê-su Ki-tô vẫn là một,
hôm qua cũng như hôm nay,
và như vậy mãi đến muôn đời.
Lời nguyện hiệp lễ
Lạy Chúa, chúng con vừa hoan hỷ dự tiệc Nước Trời và hãnh diện tuyên xưng Ðức Trinh Nữ Maria là Mẹ Thánh Tử Giêsu và là Mẹ Giáo Hội. Xin cho yến tiệc này giúp chúng con đủ sức đạt tới phúc trường sinh. Chúng con cầu xin …
2021
Thiên Chúa làm người để con người làm con Thiên Chúa
31 28 Tr Thứ Sáu. Ngày thứ bảy trong Tuần Bát Nhật Giáng Sinh.
(Tr) Thánh Xin-vet-tê I (Sylvester I), Giáo hoàng.
Ga 1, 1-18
Thiên Chúa làm người để con người làm con Thiên Chúa
Lúc trưởng thành, thánh nhân đã có lòng rộng rãi cứu giúp mọi người, nhất là những người nghèo khổ, bệnh tật, khách đi đường. Nhà ngài là nơi trú ngụ của những người Công giáo ngoại kiều; ngài chăm sóc chu đáo, lo cho họ ăn uống nghỉ ngơi vì lòng kính mến Chúa. Thánh nhân thực hành đúng theo Lời Chúa phán:
“Ta đói, các ngươi đã cho ăn, Ta khát, các ngươi đã cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi đã cho mặc; Ta đau yếu, các ngươi đã chăm nom; Ta ngồi tù, các ngươi đã viếng thăm” (Mt. 25, 35-36).
Một hôm, thánh nhân gặp nhà truyền giáo Ti-mô-tê thành An-ti-ốt. Ngài rước vào nhà nuôi dưỡng và giúp đỡ mọi phương tiện cho ông giảng đạo. Và khi Ti-mô-tê bị nhà vua bắt giết vì rao giảng đạo Chúa, đang đêm ngài lén lấy xác ông ta về chôn cất tử tế.
Chính nhờ lòng đạo đức, và đức bác ái của thánh nhân mà Đức Giáo Hoàng Men-si-át đã phong chức phó tế cho ngài. Và năm 314, khi Đức Men-si-át băng hà, ngài được hàng giáo sĩ và giáo dân chọn lên kế vị. Ngài làm Giáo Hoàng được 21 năm. Trong thời gian nầy, ngài làm rất nhiều việc giúp ích Hội thánh.
Tương truyền Hoàng đế Rô-ma lúc đó là Công-tăn-tin còn ngoại đạo, ông không thích gì đạo Công giáo, ông ta mắc bệnh phong hủi. Thánh nhân đã chữa ông ta khỏi bệnh, nên xin vào đạo. Ngài đã dạy dỗ và Rửa tội cho nhà vua. Từ đó, ông ta có nhiều thiện cảm với thánh nhân và dành mọi sự dễ dàng cho Hội thánh. Cuộc trở lại đạo của nhà vua kéo thêm nhiều cuộc trở lại khác trong triều đình cũng như ngoài dân gian. Đạo Chúa được rao truyền khắp nơi, các thánh đường được xây dựng thêm; trong số đó có đại thánh đường Thánh Gio-an, Thánh Phê-rô và Thánh Phao-lô.
Ngoài ra, trong triều đại thánh nhân làm Giáo Hoàng, còn một biến cố đặc biệt quan trọng nữa là đại hội Công đồng chung Ni-xê năm 325. Ở đại hội nầy, ngài cùng với hội đồng Giám mục đã kết án lạc thuyết A-ri-ô, và định tín rõ ràng thiên tính của Chúa Giê-su, Người là Thiên Chúa làm người: Người là Thiên Chúa thật và là người thật như chúng ta, ngoại trừ tội lỗi.
Như thế, nhờ thánh nhân mà các lạc giáo phải lùi bước. Hội thánh Chúa được bình an phồn thịnh. Chính Đức Êu-xi-ni-ô, Giám mục Xê-sa-rê, đã ca tụng thời gian hưng thịnh của Hội thánh dưới triều đại của Ngài:
“Ngày quang minh trong sáng, không vẩn chút mây, đã chiếu giải ánh sáng bởi trời xuống trên mọi giáo đoàn của Đức Ki-tô rải rác khắp địa cầu. Cả những kẻ khác đạo với chúng ta, mặc dầu không được hưởng tất cả như chúng ta, nhưng chắc chắn cũng được tiếp nhận phần nào những ơn lành mà Thiên Chúa ban cho chúng ta”.
“Nhất là chúng ta, những kẻ đã đặt mọi hy vọng vào Đức Ki-tô, chúng ta được vui mầng khôn tả; một nỗi hoan lạc thiêng liêng đã chiếu giải trên khuôn mặt mọi người, vì những nơi mà ít lâu trước đây, bị lòng độc dữ của những kẻ tàn bạo phá đổ, thì chúng ta thấy như đang sống lại giữa cơn đổ nát lâu dài và tàn tệ, các đền thờ lại được xây lên thật cao và trang trọng huy hoàng, khác xa những nhà đã bị phá hủy trước đây”.
“Quang cảnh chúng ta đang chờ đã được thực hiện, nghĩa là trong mỗi thành lại có những buổi lễ cung hiến và thánh hiến những nguyện đường mới được xây cất”.
“Trong những cuộc lễ như thế, có các Giám mục sum họp, có những khách hành hương từ ngoại quốc, từ những nơi thật xa xôi tuôn đến, có các dân, các nước tỏ tình tương thân tương ái, vì các chi thể thân mình Đức Ki-tô cũng hòa hợp trong một đoàn thể”.
“Một sức mạnh Thánh Thần đã chảy tràn trong mọi chi thể; mọi người một lòng một niềm tin nhiệt thành, một cung hát ngợi khen Thiên Chúa…”
“Sau hết, mọi lớp tuổi đông đúc, cả nam lẫn nữ, đã hết lòng cầu nguyện tạ ơn, và hết sức hoan hỷ thờ lạy Thiên Chúa, Đấng ban mọi ơn lành”.
Thánh nhân qua đời ngày 31 tháng 12 năm 335.
“Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta” đó là lời xác quyết của thánh sử Gioan, là lời xác quyết của các tông đồ, của Giáo Hội và cũng là lời xác tín của mỗi người Kitô hữu chúng ta. Ý nghĩa của câu Lời Chúa này diễn tả mầu nhiệm nhập thể, một Ngôi vị của Thiên Chúa đã được sinh ra và ở giữa chúng ta, để nhờ Người chúng ta trở nên con cái của Thiên Chúa và hưởng trọn lời hứa cứu độ.
Nhìn ngắm Hài Nhi Giêsu dưới dáng dấp của một Hài Nhi đơn sơ nằm trong máng cỏ, quả là một mầu nhiệm cao cả tuyệt vời của đức tin. Sự ra đời của Chúa Giêsu đánh dấu “thời viên mãn” đã tới. Vì tội lỗi của ông bà nguyên tổ, con người mất đi sự hiệp thông với Thiên Chúa. Nhưng nay Thiên Chúa đầy lòng từ bi đã xót thương đến sự buồn tủi của con người mà sai Chúa Con hằng có đời đời, sinh ra bởi Đức Trinh Nữ Maria, làm người để cứu chuộc chúng ta khỏi nô lệ tội lỗi.
Bằng cách sử dụng các công thức có chiều kích thần học sâu xa, thánh Tông đồ Gioan đã giải thích cho chúng ta : “Từ nguyên thủy đã có Ngôi Lời, và Ngôi Lời ở với Thiên Chúa, và Ngôi Lời là Thiên Chúa” (Ga 1, 1). Gioan gọi ngôi vị thứ hai trong Chúa Ba Ngôi là “Ngôi Lời”, Con Thiên Chúa. Ngài còn thêm: “Và Ngôi Lời đã nhập thể làm người, và ở giữa chúng ta” (Ga 1, 14). Ngôi Lời đã hóa thành xác thịt nơi cung lòng của Mẹ. Đấng vĩnh cửu đã bước vào thời gian. Thiên Chúa đã đến cắm lều và cư ngụ giữa con người.
Ngay từ câu đầu tiên của Tin Mừng thánh Gioan đã khẳng định căn tính và nguồn gốc của Ngôi Lời (Logos). “Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời. Ngôi Lời vẫn hướng về Thiên Chúa, và Ngôi Lời là Thiên Chúa”. Lúc khởi đầu là một kiểu nói gợi lên sự khởi đầu tuyệt đối theo sách Sáng thế: “Lúc khởi đầu Thiên Chúa tạo dựng trời và đất”. Điều này cho thấy nguồn gốc của Đức Giêsu không phải bởi thụ tạo mà bởi Thiên Chúa. Ngôi Lời ấy là Thiên Chúa thật, Đấng được sinh ra mà không phải được tạo thành. Hay nói cách khác, Ngôi Lời đã có từ trước khi tạo dựng, nên Người hiện hữu mà không phải do tạo dựng.
Thánh Gioan còn khẳng định thêm: “Nhờ Ngôi Lời, vạn vật được tạo thành, và không có Người, thì chẳng có gì được tạo thành. Điều đã được tạo thành ở nơi Người là sự sống, và sự sống là ánh sáng cho nhân loại”.
Chính Ngôi Lời ấy đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta, như Đức Chúa hứa qua lời ngôn sứ I-sai-a trong Cựu Ước “Này đây người thiếu nữ mang thai, sinh hạ con trai và đặt tên là Em-ma-nu-en”. Ngài đã đến thế gian từ cung lòng Thiên Chúa Cha, và từ nay sự hiện diện của Ngôi Lời Nhập Thể là sự hiện diện của Thiên Chúa giữa nhân loại. Quả thế, “Ngôi Lời là Thiên Chúa” (1,1c) “đã trở nên xác phàm” (1, 14) và sống thân phận làm người với sự mong manh, lệ thuộc vào không gian và thời gian. Đó là một con người đã được sinh ra và lớn lên trong một gia đình, một dân tộc và một nền văn hóa riêng như mỗi người chúng ta. Đó là một vị Thiên Chúa đã xuống thế mang thân phận làm người, để đưa con người lên với Thiên Chúa.
Mầu nhiệm nhập thể ấy thật thâm sâu, Ngôi Lời là nguồn Ân Sủng (Đức Giêsu) tái tạo sự sống cho nhân loại, một “mắt xích” nối kết con người với Thiên Chúa và con người với con người. Nhờ đó, trong sự thông hiệp chúng ta được nên một trong Đức Kitô và nên một trong Thiên Chúa. Như vậy, Ngôi Lời nhập thể là niềm vui, là niềm hạnh phúc viên mãn mà con người luôn khát khao. Chúng ta kỷ niệm ngày Chúa Giáng Sinh cũng với tâm tình như vậy, một niềm vui rộn rã vì Hài Nhi Giêsu đã và đang ở giữa chúng ta.
Ước gì trong cuộc sống, chúng ta luôn ý thức sự hiện diện của Thiên Chúa, nhất là mùa giáng sinh này. Lạy Ngôi Lời nhập thể, chúng con chúc tụng ngợi khen và tạ ơn Ngài vì tình yêu huyền nhiệm Ngài dành cho nhân thế. Xin cho mỗi người chúng con luôn được ân sủng và niềm vui của Ngài chiếu tỏa, để trong sự cuộc sống chúng con biết mang niềm vui ấy đến cho người khác. Không phải là niềm vui hời hợt của những cuộc chung vui mừng lễ, nhưng là niềm vui có Chúa nơi tâm hồn
