Aenean nec eros. Vestibulum ante ipsum primis in faucibus orci luctus et ultrices posuere cubilia curae. Suspendisse sollicitudin velit sed leo.

Chuyên mục
  • Bài giảng
  • Các loại khác
  • Chia sẻ
  • Chưa phân loại
  • GH Hoàn Vũ
  • GH Việt Nam
  • Giáo dục
  • Hạnh các Thánh
  • HĐGM Việt Nam
  • Kinh Thánh
  • Phim giáo dục
  • Phụng vụ
  • Sách
  • Suy niệm Chúa nhật
  • Suy niệm hàng ngày
  • Tài liệu giáo dục
  • Tài liệu phụng vụ
  • Thần học
  • Thánh ca
  • Thánh lễ
  • Thánh lễ trực tuyến
  • Thư chung
  • Thư viện
  • Tin tức
  • Triết học
  • Tư liệu
  • UBGD Công giáo
  • Video
From Gallery
Stay Connected
UyBanGiaoDucHDGM.net
  • Trang chủ
  • Thư chung
    • HĐGM Việt Nam
    • UBGD Công giáo
  • Tin tức
    • GH Việt Nam
    • GH Hoàn Vũ
  • Phụng vụ
    • Thánh lễ
    • Thánh lễ trực tuyến
    • Suy niệm hàng ngày
    • Suy niệm Chúa nhật
    • Tài liệu phụng vụ
  • Giáo dục
    • Chia sẻ
    • Tài liệu giáo dục
  • Thư viện
    • Sách
      • Kinh Thánh
      • Triết học
      • Thần học
      • Các loại khác
    • Video
      • Bài giảng
      • Thánh ca
      • Phim giáo dục
      • Hạnh các Thánh
      • Tư liệu
  • Liên hệ
Give Online

Danh mục: Tin tức

Home / Tin tức
26Tháng Sáu
2023

Các Giám mục trên thế giới chào mừng Tài liệu làm việc của Thượng hội đồng

26/06/2023
Anmai
GH Hoàn Vũ, Tin tức
0

Các Giám mục trên thế giới chào mừng Tài liệu làm việc của Thượng hội đồng

 

 

Ngọc Yến – Vatican News

Các Hội đồng Giám mục trên thế giới, trong đó có các Giám mục Úc, Canada và Hoa Kỳ chào mừng việc công bố Tài liệu làm việc, làm cơ sở hướng dẫn các cuộc thảo luận tại Thượng hội đồng bắt đầu vào tháng 10/2023.

Như Đức Hồng Y Mario Grech, Tổng Thư ký Thượng hội đồng đã lưu ý trong buổi họp báo công bố, Tài liệu làm việc là kết quả của giai đoạn lắng nghe đầu tiên của Thượng hội đồng, bắt đầu vào năm 2021. Đồng thời, Tài liệu đánh dấu “một điểm xuất phát” cho giai đoạn thứ hai, giai đoạn phổ quát của Thượng hội đồng, sẽ tập trung vào Giám mục đoàn.

Ngài nói: “Không cần phải sợ rằng việc lắng nghe Dân Chúa sẽ làm tổn hại đến chức năng mục vụ của các Giám mục. Ngược lại, tiến trình hiệp hành đã khôi phục một thừa tác vụ hiệu quả cho các Giám mục, với cả tư cách là Mục tử của Giáo hội lẫn là thành viên của các đoàn thể, được kêu gọi thực hiện việc phân định một cách cẩn thận những đóng góp của cuộc tham vấn”.

Việc công bố Tài liệu làm việc đã được chào mừng tại Hoa Kỳ bởi Đức cha Daniel Flores của Brownsville, Texas, người đã hướng dẫn tiến trình hiệp hành tại Hoa Kỳ. Ngài nói: “Tài liệu làm việc mang đến cho Dân Chúa một cơ hội đáng chú ý để suy tư về những gì chúng ta đã học được cho đến nay về bản chất của một Giáo hội hiệp hành và cách chúng ta có thể nắm bắt điều đó một cách trọn vẹn hơn”. Ngài khuyến khích mọi người đọc, cầu nguyện và thảo luận về tài liệu quan trọng này, dưới ánh sáng của những hiểu biết nhận được từ các giai đoạn trước trong tiến trình hiệp hành.

Đức Tổng Giám Mục Timothy Costelloe, Chủ tịch Hội đồng Giám mục Úc lưu ý rằng việc công bố này là “một cột mốc cực kỳ quan trọng” trong tiến trình Thượng hội đồng. Ngài nói: “Tài liệu thể hiện một lời mời và một cơ hội để tiếp tục tham gia vào việc cầu nguyện, suy tư và phân định liên tục với tất cả những gì đã xuất hiện cho đến nay trong một cuộc tham vấn chưa từng có trên toàn thế giới”.

Trong một tuyên bố chào mừng việc công bố Tài liệu làm việc, các Giám mục Canada nhận định rằng tài liệu “được trình bày như một công cụ để phân định hơn là như một tuyên bố lập trường hoặc một giải pháp cho các câu hỏi cụ thể”. Các mục tử mời tất cả người Công giáo “cầu nguyện cho sự thành công của Thượng hội đồng, sẽ bắt đầu vào tháng 10 này, để bằng cách lắng nghe tiếng nói của Chúa Thánh Thần, những người theo Chúa Kitô sẽ được hướng dẫn để tôn vinh Cha của tất cả chúng ta”.

Nguồn: vaticannews.va/vi

Read More
26Tháng Sáu
2023

Đức Hồng y Hollerich: “Học cách nhìn giáo hội hoàn vũ trong các giáo hội địa phương”

26/06/2023
Anmai
GH Hoàn Vũ, Tin tức
0

Đức Hồng y Hollerich: “Học cách nhìn giáo hội hoàn vũ trong các giáo hội địa phương”

 

 

Vatican News

Đức Tổng Giám mục Luxembourg, Jean-Claude Hollerich, Tổng tường trình viên của Hội nghị Thượng hội đồng vào tháng Mười tới, nói về công việc giúp cho việc soạn thảo Tài liệu làm việc, được giới thiệu vào ngày 20/6/2023 tại Vatican. Đối với ngài, “Giáo hội hiệp hành chỉ có ý nghĩa nếu đó là một Giáo hội hiệp hành truyền giáo”.

Tài liệu làm việc (Instrumentum Laboris) của Hội nghị Thượng hội đồng sắp đến vào tháng 10/2023 đã được giới thiệu vào ngày 20/6 tại phòng báo chí của Tòa Thánh. Một tài liệu vững chắc khoảng năm mươi trang, tổng hợp gần hai năm làm việc tại các giáo phận trên khắp thế giới. Cho dù nó liên quan đến chỗ đứng của nữ giới, phụng vụ, sự tham gia của các nhóm thiểu số vào đời sống của Giáo hội hay mối tương quan với quyền bính, thì các chủ đề là rất nhiều, và phản ảnh những vấn đề được các Giáo hội địa phương đặt ra. Tài liệu này ra  đời từ một quá trình lắng nghe và nó sẽ là cơ sở cho công việc của các tham dự viên của Hội nghị mùa Thu, như giải thích của Đức Hồng y Hollerich, Tổng Giám mục Luxembourg và là Tổng tường trình viên của Thượng hội đồng:

Thật là một niềm vui khi có thể bước đi cùng nhau trong Giáo hội, và điều đó thật là tuyệt vời. Điều đó được thực hiện trước hết ở cấp địa phương, rồi ở cấp quốc gia và cấp lục địa. Bây giờ, giai đoạn hai sắp bắt đầu, giai đoạn cử hành trong Thượng hội đồng Giám mục.

Chúng ta đã thấy các chủ đề giống nhau với các sắc thái khác nhau nơi các lục địa khác nhau. Chúng ta đã thấy sự phong phú của Giáo hội Công giáo và điều khiến tôi ngạc nhiên, đó là thấy làm thế nào trong các nền văn hóa khác nhau, cho dù đó là Giáo hội Công giáo ở Á Châu, ở Phi Châu, ở Châu Mỹ Latinh, chúng ta đều nhận thấy niềm khao khát về một hình thái lớn hơn để bước đi cùng nhau với tư cách là những người được rửa tội.

Olivier Bonnel: Đó có phải là một tiến trình đã làm cho Giáo hội hiểu rõ hơn về chính mình?

Đức Hồng y (ĐHY) Hollerich: Vâng, gần như thế. Chúng ta cần điều đó vì Giáo hội đang gặp khủng hoảng sâu xa với tất cả các vụ lạm dụng tính dục. Mỗi ngày, ngay cả ở Âu Châu, chúng ta nhận được từ nước này hay nước kia những tin xấu. Cần phải luôn khiêm tốn. Điều đó không được ngăn cản chúng ta chấp nhận cách vui tươi sứ mạng mà Chúa Kitô trao cho Giáo hội của Người và cùng nhau tiến bước cách khiêm tốn.

Olivier Bonnel: Tài liệu làm việc này không phải là một bản thảo của văn kiện chung kết của Thượng hội đồng vào tháng Mười, nhưng đúng hơn là một sự hiểu biết đầu tiên về chiều kích hiệp hành của Giáo hội. Làm thế nào tóm tắt chiều kích này?

ĐHY Hollerich: Nếu tôi dùng tài liệu bằng tiếng Anh, thì có 24 trang sau phần giới thiệu về chủ đề của sứ mạng vốn hiện diện khắp tài liệu cùng với sự hiệp thông và tham gia. Tiếp đến, chúng ta có năm hồ sơ làm việc cho mỗi trong ba chủ đề này. Những hồ sơ làm việc này đặt ra các câu hỏi và bao gồm các yếu tố để cầu nguyện cá nhân và cộng đồng. Hơn nữa, chúng tôi nêu rõ và chúng ta đã thấy trong suốt tiến trình  này tầm quan trọng của cuộc đối thoại trong  Chúa Thánh Thần. Đó là một cách cùng nhau nói với tư cách Kitô hữu để tránh rơi vào chính trị, đối đầu. Thượng hội đồng cũng sẽ phải làm việc hay chúng ta sẽ tiếp tục có phương pháp này về việc đối thoại trong Chúa Thánh Thần.

Chúng tôi đặt ra những câu hỏi, chúng tôi không yêu cầu các câu trả lời. Vả lại, tôi không biết liệu tất cả các câu hỏi sẽ có các câu trả lời. Đó là bởi vì chúng tôi đã ý thức về một bước đi mà chúng ta đang thực thi cùng nhau, dần dần, vì Giáo hội sẽ thành công trong việc tìm ra các câu trả lời. Nếu chúng ta bước đi, điều đó sẽ dấn đến Chúa Thánh Thần.

Olivier Bonnel: Con trở lại với “cuộc đối thoại trong Chúa Thánh Thần” này, một chiều kích rất quan trọng của tài liệu làm việc này. Cuộc đối thoại này chính xác hệ tại điều gì?

ĐHY Hollerich: Trước hết, đó là lắng nghe, đó là lắng nghe một người chị em, một người anh em, với ý muốn hiểu tại sao người chị em này, tại sao người anh em này lại nói như vậy, điều gì đã là lý do của các ý kiến này….

Và rồi tôi phải cầu nguyện cho điều đó, tôi phải thực sự đón nhận điều đó trong Chúa Thánh Thần, trong sự lắng nghe khiêm tốn và đầy cảm thông. Tiếp đến, có một cuộc đối thoại bắt đầu và kết quả của cuộc đối thoại này: chẳng hạn, chúng tôi đã thấy khi chúng tôi ở Á Châu, ở Bangkok, người ta đã yêu cầu rằng tất cả các bàn tròn đều bỏ phiếu, từng bàn một, do đó không phải là việc bỏ phiếu cá nhân. Chúng ta có thể nói rằng điều đó mạo hiểm, nhưng nó tiến triển. Các bàn tròn đã đi đến những kết luận vốn không phải là một sự đồng nhất, nhưng cho thấy Chúa Thánh Thần đang thúc đẩy theo hướng này hay hướng kia như thế nào. Và tôi hy vọng rằng chúng ta sẽ có thể làm điều tương tự tại Thượng hội đồng. Hơn nữa, theo nghĩa này, thật tốt khi thấy rằng chúng ta sẽ bắt đầu với cuộc tĩnh tâm ba ngày sau khi cùng nhau cầu nguyện với thánh Phêrô vào buổi sáng. Thượng hội đồng không phải là một nghị viện. Đó không phải là đưa ra những lập trường chính trị ủng hộ điều này, chống điều này. Đó không phải là Giáo hội.

Olivier Bonnel: Đôi khi có những cám dỗ chính trị hóa, phân cực hóa. Chúng ta biết được điều đó rằng ở cấp độ của một số Giáo hội địa phương, như ở Đức, nhưng không chỉ ở Đức, có thể đã có những lúc “dao động đôi chút”. Làm thế nào trong công việc chuẩn bị của Đức Hồng y, Đức Hồng y đã cố gắng tập trung lại công việc một chút?

ĐHY Hollerich: Có những mưu toan của cánh tả và cánh hữu, nhưng đó là điều bình thường vì nếu Giáo hội cùng nhau tiến bước với Chúa Giêsu, thì nhất thiết có những người đi bên phải và những người đi bên trái của Chúa Giêsu, có những người đi nhanh hơn một chút, có những người tụt lại phía sau một chút. Nhưng nếu tất cả mọi người đều tập trung nhìn vào Chúa Giêsu, thì chúng ta không bao giờ thấy Chúa Giêsu một mình, chúng ta thấy Người với những người đang bước đi phía bên kia.

Và tôi nghĩ, thật rất lành mạnh khi biết rằng tất cả chúng ta đều là Giáo hội. Chúng ta phải tìm được sự đồng thuận. Về điều đó, cần phải có suy tư và cầu nguyện. Giáo hội hiệp hành chỉ có ý nghĩa nếu đó là một Giáo hội hiệp hành truyền giáo.

Olivier Bonnel: Giai đoạn suy tư để soạn thảo tài liệu làm việc này đã đặt các Giáo hội địa phương ở trung tâm trong tất cả sự đa dạng của họ. Những Giáo hội này có gì để dạy cho Giáo hội hoàn vũ?

ĐHY Hollerich: Tôi nghĩ rằng tôi đã học cách nhìn Giáo hội hoàn vũ trong các Giáo hội địa phương, nghĩa là Giáo hội hoàn vũ không tồn tại mà không có các Giáo hội địa phương. Thật đẹp khi được nghe, được nhìn những thứ giống nhau với những sắc thái, màu sắc khác nhau, với những mùi hương khác nhau.

Olivier Bonnel: Việc nhấn mạnh cũng nhắm đến việc việc đào tạo dân Thiên Chúa, đến nỗ lực đổi mới ngôn ngữ dùng trong Phụng vụ, trong việc rao giảng, trong việc dạy giáo lý. Thượng hội đồng này có phải là một cách soạn thảo một ngôn ngữ mới của Giáo hội cho thế giới ngày nay không?

ĐHY Hollerich: Vâng, Giáo hội luôn cần một ngôn ngữ thần học, nhưng ngôn ngữ thần học đang thay đổi. Tôi không nói rằng yếu tính của đức tin thay đổi, nhưng những soạn thảo thần học này đang thay đổi. Ngày nay, tôi không thể nói cách chính xác cũng một điều như thánh Tôma Aquinô, cho dù tôi có thể được truyền cảm hứng bởi thánh Tôma Aquinô. Tôi nghĩ rằng chúng tôi, các Giám mục và các thần học gia, chúng tôi hơi có khuynh hướng sử dụng ngôn ngữ đào tạo thần học của mình, và rất thường, ngôn ngữ đó không thuyết phục được các tín hữu đang sống trong một thế giới rất khác biệt, đang trải qua những thách thức để rao giảng, để làm chứng cho đức tin, và theo nghĩa này, chính từ chúng mà một ngôn ngữ đối thoại với thế giới xuất hiện.

Olivier Bonnel: Đức Hồng y đã đi đây đó rất nhiều trong hai năm qua. Đức Hồng y đã nghe được gì về sự mong đợi của các Giáo hội này đối với đại hội nghị sắp khai mạc vào tháng Mười?

ĐHY Hollerich: Có những mong đợi khác nhau, nhưng cũng có những nét chung, tôi hình dung, trong niềm hy vọng này của Giáo hội đang tiếp tục hành trình lắng nghe này. Có một niềm vui trong việc tiến bước cùng nhau. Chẳng hạn, khi chúng tôi chuẩn bị cuộc họp của Âu Châu ở Praha, chúng tôi có hai Âu Châu hoàn toàn khác nhau, Tây Âu và Trung Âu hay Đông Âu, và người ta hẳn có thể trông chờ những cuộc đối đầu khủng khiếp. Nhưng không, chúng tôi đã nói những điều từ cả hai phía, nhưng chúng tôi đã cảm thấy rằng Chúa Thánh Thần đang làm việc, rằng chúng tôi muốn cùng nhau tiến bước. Tôi đã tìm thấy cùng một ý chí trong tất cả các hội nghị lục địa.

Trong quá trình chuẩn bị, chúng tôi cũng nhận thấy rất nhiều điều. Chẳng hạn ở Frascati, khi chúng tôi thực hiện tài liệu cho giai đoạn lục địa Âu Châu, chúng tôi đã chọn hình ảnh của chiếc lều phải được mở rộng. Khi tôi ở Phi Châu, tôi thấy rằng một hình ảnh mà thôi thì không đủ, rằng một hình ảnh luôn có tính văn hóa và hình ảnh cái lều gợi lên sự tạm bợ, sự nghèo khổ, tỵ nạn. Ở Phi Châu, người ta thích nói về gia đình hơn, về “Giáo hội-gia đình”, và chắc chắn Giáo hội ở Âu Châu phải học hỏi từ hình ảnh này. Sự phong phú của Giáo hội được cảm nhận nếu chúng ta cố gắng lắng nghe nhau với sự khiêm tốn và tình huynh đệ nhiều hơn.

Tý Linh

Read More
26Tháng Sáu
2023

Tính lai ghép – Một cách nhận thức và mô tả hội họa Việt Nam

26/06/2023
Anmai
GH Việt Nam, Tin tức
0

Tính lai ghép – Một cách nhận thức và mô tả hội họa Việt Nam

 

TÍNH LAI GHÉP –
MỘT CÁCH NHẬN THỨC VÀ MÔ TẢ HỘI HỌA VIỆT NAM

Lm. Phạm Trung, S.J (Seattle University)

– Linh mục Phạm Hoàng Trung là một tu sĩ Dòng Tên (tỉnh dòng Miền Tây, California và Oregon, Hoa Kỳ), đồng thời là họa sĩ, thạc sĩ mỹ thuật (MFA) – giảng viên Khoa nghệ thuật Trường Đại học Seattle University, Tiểu bang Washington, Hoa Kỳ.

Bài viết “tính lai ghép – một cách nhận thức và mô tả hội họa Việt Nam” được linh mục Phạm Hoàng Trung soạn bằng tiếng Anh, nhân chuyến về thăm, triển lãm một số tranh- tượng, và gặp gỡ giới họa sĩ Công giáo Việt Nam tại hai cuộc triển lãm diễn ra trên địa bàn TGP. Tp.HCM: Triển lãm tranh “Loan báo Tin mừng yêu thương” tại Tu viện Đa Minh Mai Khôi (5-12.8.2014) và triển lãm chum chóe cổ & triển lãm mỹ thuật “lời ru” tại Nhà truyền thống TGP. Tp.HCM (từ ngày 16/8 đến 15.10.2014).

Bản tiếng Việt dưới đây do Thành Thi chuyển ngữ. (Ban biên tập Hiệp Thông)

DẪN NHẬP

1. NGHỆ THUẬT HỘI HỌA VIỆT NAM

2. TÔN GIÁO TẠI VIỆT NAM

      Tục thờ thần Nữ

      Kitô giáo

      Đức Mẹ Việt Nam

3. KHÁI NIỆM TÍNH LAI GHÉP, MỘT CÁCH NHẬN THỨC VÀ MÔ TẢ HỘI HỌA VIỆT NAM

KẾT LUẬN

DẪN NHẬP

Mục đích của bài nghiên cứu này là giới thiệu mảng sáng tác về đề tài tôn giáo của các nghệ sĩ Việt Nam trong thế kỷ XX và từ những tác phẩm hội họa này, lý giải cách thức Kitô giáo đưa giáo huấn thần học đi vào và hội nhập văn hóa Việt Nam.

Bài viết này gồm ba phần, trình bày sự phong phú và những ý nghĩa thần học của nghệ thuật Việt Nam về đề tài Đức Mẹ. Phần thứ nhất, điểm qua một cách ngắn gọn tình hình lịch sử nghệ thuật Việt Nam đã được Nora Taylor mô tả về phương diện dân tộc học. Nỗ lực này nhằm khơi lên ý thức về nghệ thuật Việt Nam và đặt nó vào bản đồ mỹ học Đông Nam Á. Phần thứ hai cố gắng đưa ra câu trả lời vì sao phần lớn các tranh trong bộ sưu tập đều vẽ Đức Mẹ và Chúa Hài Nhi. Sự phát hiện này đặt người nghiên cứu phải tiếp cận tìm hiểu về đạo Mẫu trong tín ngưỡng dân gian. Phần thứ ba, từ bối cảnh đa dạng và phức tạp của văn hóa Việt Nam, thử đưa ra khái niệm lai ghép (hybridity) như một cách nhận thức và mô tả đối với hội họa Việt Nam.

1. NGHỆ THUẬT HỘI HỌA VIỆT NAM

Sự quan tâm đến hội họa Việt Nam trên thị trường tranh tại châu Á bắt đầu từ năm 1990 và hiện vẫn đang tăng lên. Sự bùng nổ này là kết quả của cuộc cải cách kinh tế vào năm 1986, được gọi là cuộc “đổi mới”, được dịch sang tiếng Anh là “new change”. Đảng Cộng sản, sau 15 năm nắm quyền lãnh đạo trên toàn lãnh thổ Việt Nam, đã chấp nhận nền kinh tế thị trường mở cửa, chào đón sự đầu tư của nước ngoài và thành lập các doanh nghiệp tư nhân, trái với tập thể hóa và sở hữu nhà nước trong các ngành công nghiệp và sản xuất hàng hóa[1]. Cuộc cải cách kinh tế đã thu hút ngành du lịch và đầu tư nước ngoài, nhờ đó, đã thúc đẩy tăng trưởng thị trường tranh Việt Nam. Quốc tế đã đầu tư ồ ạt vào nền nghệ thuật hội họa Việt Nam.

Sự bùng nổ của thị trường tranh Việt Nam cũng đã lôi cuốn giới học giả viết về mỹ thuật Việt Nam. Nora Taylor là người đi đầu trong công việc này, tuy nhiên, việc nghiên cứu cũng đã diễn ra hết sức khó khăn vì thiếu tài liệu, không nhận được sự quan tâm từ cộng đồng các nghệ sĩ Việt Nam cũng như giới học giả nước ngoài và không có ngân sách hỗ trợ. Với nỗ lực đưa nền nghệ thuật Việt Nam vượt khỏi phạm vi quốc gia, được biết đến và lưu tâm về phương diện học thuật, Taylor sử dụng cách tiếp cận theo phương pháp mô tả dân tộc học để theo đuổi việc nghiên cứu của mình, bằng cách trao đổi với các họa sĩ, xem tranh và chụp hình các họa phẩm tại xưởng vẽ của các họa sĩ, tại các viện bảo tàng và tại tư gia của các nhà sưu tập tranh. Nỗ lực của bà nhằm hai điều: đặt hội họa Việt Nam vào bản đồ Đông Nam Á, nhằm xóa bỏ tình trạng Việt Nam bị gạt ra ngoài lề lịch sử nghệ thuật châu Á; thứ hai, khắc phục tình trạng khái quát hóa chung chung về khung cảnh nghệ thuật, coi đây là vấn đề “toàn cầu hóa” hoặc “hậu dân tộc chủ nghĩa” và khuyến khích loại nghệ thuật hậu thuộc địa vốn xu thế chung không còn ủng hộ.

Nhằm mang lại sự chú ý đối với nghệ thuật tôn giáo Việt Nam trong bối cảnh hình thành nền nghệ thuật đương đại Việt Nam, tôi muốn tập trung vào mảng sáng tác chưa được phương Tây lưu tâm và đề cập. Việc sưu tập tranh này là một cố gắng của cha Trần Thái Hiệp, người đã có dự định sưu tập tranh tôn giáo cho Giáo Hội. Những tác phẩm hội họa này được sáng tác trong giai đoạn 1970-1990. Chúng gồm nhiều khổ khác nhau và được vẽ bằng màu nước thực hiện trên lụa, sơn mài, do các họa sĩ nổi tiếng, trong số đó có các họa sĩ bậc thầy như Nguyễn Gia Trí, Lê Văn Đệ… Hiện những họa phẩm này được lưu giữ tại Nhà Truyền thống TGP. TPHCM.

Điều đáng nói là những bức tranh này chủ yếu thể hiện đề tài về Mẹ và Con. Đồng thời phần nhiều gần như được bố cục để diễn tả mối tương tác giữa Mẹ và Con. Đặc điểm hội họa trong nghệ thuật thánh của Việt Nam là chọn Đức Mẹ Việt Nam làm chủ đề chính và ít vẽ về Chúa đã phản ánh sâu sắc một đặc điểm văn hóa tinh thần của người Việt Nam. Để hiểu đặc điểm này, cần phải tiếp cận nền tảng văn hóa, tôn giáo của người Việt Nam.

2. TÔN GIÁO TẠI VIỆT NAM

Tục thờ thần Nữ

Văn hóa Việt Nam là văn hóa đa tôn giáo. Ba tôn giáo chính là Phật, Nho, Lão, gọi là Tam Giáo. Phật giáo là tôn giáo chính thời Lý-Trần, nhưng chỉ kéo dài trong bốn trăm năm[2]. Dưới thời Lê, Nho giáo là quốc giáo. Thiên Chúa giáo cũng đã là một hiện tượng vào thế kỷ XVI với việc sáng tạo chữ quốc ngữ. Tóm lại, tại Việt Nam, tôn giáo có nhiều ảnh hưởng và các tôn giáo đều được du nhập từ nước ngoài như Trung Hoa, Ấn Độ và châu Âu. Vậy trong văn hóa Việt Nam, tôn giáo nào là tôn giáo bản địa?

Người Việt có truyền thống thờ thần Nữ. Sự thực hành tôn giáo này là kết quả của lối sống nông nghiệp, động cơ chính của các hoạt động kinh tế. Việc thờ 75 nữ thần cùng các tín ngưỡng dân gian và truyền thuyết về nguồn gốc dân tộc Việt Nam đã tạo ra một hệ thống tôn giáo được gọi là tục thờ thần Mẫu tại Việt Nam[3]. Tục thờ này bắt nguồn từ tín ngưỡng cổ xưa đặt niềm tin vào các thần linh[4]. Tín ngưỡng đa thần duy linh này thờ các thần như mặt trời, mặt trăng, các hiện tượng thiên nhiên và nhiều thần khác được tôn thờ vì được coi là nguồn sống của trái đất. Các nữ thần này lấy sức nóng của mình sưởi ấm mặt đất ẩm ướt, chiếu sáng và mang lại sự sống cho Trái Đất. Hoạt động sản xuất nông nghiệp khiến người Việt đến với tục thờ cúng đất, nước, núi non, lúa gạo vốn mang tính nữ. Người mẹ vốn có thuộc tính che chở, sinh sôi, sáng tạo[5].

Các nữ thần này có đền thờ ở nhiều nơi và được vua ban sắc phong làm thần hoàng của nhiều làng; ví dụ bà liễu Hạnh là thành hoàng làng Phố Cát, Thanh Hóa, Hai Bà Trưng ở Mê Linh, Bà Đanh ở Nghệ An, Bà Đá ở Hải Hưng, Linh Sơn Mị Nương ở Bắc Ninh…[6]. Các nữ thần cũng là những vị tổ của các hoạt động thuộc nghề nông cổ truyền như gieo hạt, trồng tỉa, làm bánh.

Một trong những gương mặt quan trọng nhất là Mẹ Âu Cơ. Theo truyền thuyết, Âu Cơ sinh ra dân tộc Việt Nam. Người Việt hãnh diện nhận mình là con Rồng cháu Tiên – hậu duệ của rồng và nữ thần/bà chúa. Họ tin mình được sinh ra từ bào thai trong lòng Âu Cơ. Dù chỉ là một truyền thuyết, nhưng Âu Cơ là trở thành biểu tượng vị Thần Mẫu linh thiêng trong tâm khảm người Việt. Trong truyền thuyết này, bà là một người mẹ tuyệt vời không chỉ thể hiện một tình yêu vô bờ đối với con cái, mà còn dạy họ biết khai phá đất đai, phát triển các nghề, may quần áo che thân[7]. Người Việt đã nói lên niềm tin của mình qua việc dựng ngôi đền đầu tiên thở Mẹ Âu Cơ gần Sông Thao, một thành phố nhỏ ở miền Bắc Việt Nam[8].

Kitô giáo

Kitô giáo đến Việt Nam vào đầu thế kỷ XVI. Việc du nhập muộn này đã gặp mảnh đất tâm linh đã thấm sâu triết lý của các tôn giáo truyền thống bao gồm Phật, Lão Khổng đã có hằng ngàn năm. Việt thiết lập Kitô giáo tại Việt Nam đồng nghĩa với Giáo Hội cần đưa giáo thuyết và tư tưởng thích nghi với những tập quán bản địa. Tiến trình dưa sứ điệp Kitô giáo vào văn hóa Việt Nam phải đối mặt với nhiều cuộc xung đột về tư tưởng với ba tôn giáo lớn cũng như tập quán văn hóa của việc thờ cúng tổ tiên. Thách đố chủ yếu là sự khác biệt trong việc nhận biết Thiên Chúa. Đối với người Việt Nam, quan niệm về Thiên Chúa (Ông Trời) khá mơ hồ, khó xác định[9]. Thiên Chúa Ba Ngôi của Kitô giáo thì cụ thể và rõ ràng. Thiên Chúa của Kitô giáo là Đấng toàn năng, toàn trí, toàn ái và toàn mỹ, còn Đức Kitô là bằng chứng cho một Thiên Chúa đầy lòng từ bi nhân hậu. Trái lại, Thiên Chúa (Ông Trời) trong tín ngưỡng truyền thống Việt Nam thì thánh thiêng và quyền năng nhưng lại không bao giờ xác định được. Thần thánh hiện diện trong cõi linh thiêng, vô hình. Ngoài ra, tập quán văn hóa thờ cúng tổ tiên có lẽ đã khiến người Việt Nam ngoảnh quay đi trước điều răn trong Giáo Hội là chỉ tôn thờ một Thiên Chúa duy nhất. Các vị thừa sai phải tìm cách giữ đúng giáo thuyết của Hội Thánh vốn chưa uyển chuyển với thực tế văn hóa. Giải quyết thách đố này, các vị thừa sai chọn phương pháp bán linh hoạt. Một ví dụ cụ thể là Cha Đắc Lộ, một tu sĩ Dòng Tên người Pháp, người đã được ghi nhận là người đầu tiên soạn ra chữ quốc ngữ. Đôi khi cha cũng đã thích nghi giáo thuyết Kitô giáo với tập quán văn hóa nhưng cũng đã từng từ chối những phong tục tùy theo những thực hành thuận hay nghịch lại giáo huấn của Giáo Hội. Mục đích của cha là nhằm giải thích rõ Kitô giáo, tôn giáo mới, trong bối cảnh có những tôn giáo khác. Cha không muốn pha trộn đức Tin Kitô giáo với niềm tin trong các tôn giáo khác.

Đến nay việc bàn thảo vẫn chỉ tập trung vào vấn đề đưa sứ điệp Kitô giáo đi vào văn hóa Việt Nam, trong khi đó, tiến trình Phúc âm hóa đòi hỏi hai khía cạnh: thích nghi và tiếp nhận. Người Công giáo Việt Nam lãnh nhận sứ điệp Kitô giáo với sự tự do như thế nào? Họ đã đáp lại như thế nào khi đã lãnh nhận đức Tin Kitô giáo? Trả lời những câu hỏi này sẽ góp phần làm rõ vì sao đa số họa phẩm được lưu trữ tại Nhà Truyền thống TGP.TPHCM lại vẽ về Đức Maria.

Đức Mẹ Việt Nam

Một trong những lý do có thể nêu lên liên quan đến nhãn quan triết lý văn hóa Việt Nam. Người Việt Nam thường tư duy theo lối nhị nguyên, đối lập giữa thiêng và phàm. Cái bên ngoài hoặc ở ngoài là cái thánh thiêng, còn cái bên trong hoặc bản địa thì phàm tục. Thanh khiết là sự đòi hỏi cần phải có đối với thánh thiêng. Thánh thiêng nghĩa là thanh khiết. Thiên Chúa vượt trên hết thảy. Để có một Thiên Chúa siêu việt, thánh thiện và toàn năng, thì Ngài cần phải ở ngoài bước vào, là người từ ngoài mà đến. Đối với người Việt Nam, những đường nét nơi khuôn mặt Thiên Chúa phải có dáng dấp nước ngoài, bởi đường nét Việt Nam sẽ làm giảm đi tính chất thánh thiêng[10]. Hơn nữa, về mặt lịch sử, Chúa Giêsu không phải là người Việt Nam. Mô tả một Thiên Chúa không có dáng dấp người bản địa là một cách giữ sự trung thành với truyền thống lịch sử vốn là một nét tính cách chủ yếu của người Công giáo Việt Nam.

Còn với Đức Mẹ lại là một chuyện khác. Mẹ là người có phúc vì được chọn để cưu mang Con Thiên Chúa. Việc Đức Maria được nâng lên làm Mẹ của Con Thiên Chúa cho thấy đó là ân phúc từ trời cao. Miêu tả Đức Mẹ mang tính cách Việt Nam sẽ không làm giảm quyền thế của Mẹ nhưng thêm sức cho con người vươn đến sự linh thánh. Khắc họa hình ảnh Đức Mẹ mang tính cách Việt Nam sẽ đưa hình ảnh của Người đến gần với dân chúng và khơi niềm ước ao nên thánh. Ánh mắt mang sắc thái dân tộc Việt Nam của Mẹ giúp con người thấy con đường nên thánh gần gũi dễ dàng hơn vì nhận ra Mẹ cũng mang bản tính nhân loại. Hơn nữa, cảm nhận Mẹ là Đấng thánh thiện cũng nằm trong mạch truyền thống thờ nữ thần của người Việt Nam. Tục thờ thần nữ dễ dàng tiếp nhận việc tôn sùng Đức Mẹ. Sở dĩ có hiện tượng sùng mộ Đức Mẹ La Vang, theo linh mục Phan Đình Cho, vì Mẹ là biểu tượng của lòng từ bi[11]. Thể hiện Đức Mẹ với những đường nét Việt Nam không những không gặp phải sự chống đối mà còn nhận được sự ủng hộ, tôn kính, tôn sùng.

Ngoài những ý nghĩa về phương diện tâm linh, có thể nghiên cứu đề tài Mẹ và Con nơi những bức tranh trong bộ sưu tập này dưới lăng kính xã hội và tâm lý học.

Trong bối cảnh một đất nước chịu đau khổ vì chiến tranh và ách thống trị của ngoại bang, vai trò của người mẹ quan trọng hơn bao giờ hết. Các bà mẹ ở lại nhà và nuôi dạy con cái. Họ là chỗ dựa cho gia đình và thông truyền các giá trị văn hóa và lẽ khôn ngoan cho thế hệ sau khi đàn ông ra trận chiến đấu bảo vệ đất nước.

Bối cảnh xã hội và tôn giáo giải thích được vì sao Đức Mẹ Việt Nam đã trở thành đề tài được giới sáng tác nghệ thuật tôn giáo tại Việt Nam ưa thích. Nền hội họa này khác biệt ra sao về phương diện nghệ thuật với những nền hội họa khác ở phương Đông cũng như phương Tây?

3. KHÁI NIỆM TÍNH LAI GHÉP, MỘT CÁCH NHẬN THỨC VÀ MÔ TẢ HỘI HỌA VIỆT NAM

Người Việt Nam vốn luôn làm nghệ thuật nhưng nghệ thuật của họ đã từng bị coi chỉ là thứ nghề thủ công của người bản xứ. Nhờ nỗ lực của họa sĩ người Pháp Victor Tardieu, trường Mỹ thuật đầu tiên được thành lập tại Hà Nội vào năm 1925, dưới thời Pháp thuộc. Nhiệm vụ của trường Mỹ nghệ Đông Dương là “biến những người thợ thủ công bản xứ thành các nghệ sĩ chuyên nghiệp”[12]. Các nghệ sĩ Việt Nam bắt đầu được học và tin rằng nền hội họa Pháp cao cấp hơn hội họa Đông Dương. Học và làm chủ kỹ thuật hội họa phương Tây, trước hết là tranh sơn dầu, giúp họ đạt được trình độ học vấn cao và thấy mình bớt tự ti hơn. Việc thành lập trường đánh dấu một bước quan trọng đối với người họa sĩ trong việc phát triển phong cách sáng tác của mình. Thậm chí sự phát triển còn trở nên rõ rệt hơn khi chế độ thực dân Pháp kết thúc vào năm 1945. Ở miền Bắc, trường Mỹ nghệ Đông Dương trở thành trường Cao đẳng Mỹ thuật Việt Nam, và hiện nay là trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam. Ở miền Nam, trường Mỹ thuật Gia Định được thành lập. Trường phối hợp hội họa tranh lụa Trung Hoa và kỹ thuật vẽ chân dung và khái niệm về bố cục của phương Tây. Kết quả là tạo ra được vẻ mềm mại và trong trẻo của mực nước vẽ trên lụa. Sự độc đáo là đã kết hợp được hai phương pháp hội họa. Đó là sự độc đáo của pha trộn. Sự độc đáo của việc không cần viền mép và phát sinh một đường hướng và thể loại mới.

Bây giờ xin nói về sự cách tân và ý nghĩa đích thực của tính lai ghép. Tính lai ghép hay không gian thứ ba là sự hợp nhất giữa các yếu tố khác biệt và đối chọi nhau. Như vậy, không gian thứ ba khu trú ở một vị trí không dành cho những đối chọi mang tính cực đoan, không mưu tìm bất kỳ sự chắc chắn hoặc ổn định nào. Mô hình này khước từ việc trở thành môn đệ của yếu tính luận (essentialist) và chấp nhận sự tồn tại giữa các đối cực. Do đó cần phải có ngay một không gian mới, đó là một không gian “khác biệt trong tương đồng” (sự dị biệt của cái tương đồng)[13]. Người nào nhìn nhận tính mơ hồ của thực trạng, người ấy không tìm cách phủ định mà chọn sự thương thảo. Nhà thờ chính tòa Phát Diệm tiêu biểu cho một dự phóng về văn hóa. Nhà thờ chính tòa Phát Diệm là một không gian khác biệt trong tương đồng.

Sự tồn tại đồng thời của cả hai mặt đối lập trong Không gian thứ ba, giữa cái tương đồng và cái khác biệt, hoặc cái mới, cái không chịu đóng khung cách này cách khác, đang vận hành như một hành động đối lập với chính mình. Tiến trình thương thảo và sản phẩm của sự lai ghép (hybridity) đặt ra thách thức đối với những cố gắng mang tính thực dân nhằm chia cắt giữa “trung tâm” và “ngoại vi”, hoặc nỗ lực của chủ nghĩa bản địa nhằm xây dựng một quá khứ thuần túy bản địa. Sự pha trộn trong Không gian thứ ba gây thất vọng cho mọi thẩm quyền, cho kẻ bảo vệ tính chính thống và những người nồng nhiệt chạy theo chủ nghĩa bản địa. Không gian thứ ba phá vỡ kiểu thống trị tuyến tính thuần túy và kiểu dùng thủ đoạn, vì nó bẻ cho gãy loại chính trị đơn cực giả tạo mà nhà cầm quyền thực dân và nhà cầm quyền bản địa chủ nghĩa cố gắng duy trì[14]. Nói cách khác, sự thương thảo và sự pha trộn chính là những hạt mầm gieo sự hủy diệt đối với những diễn ngôn độc quyền của thực dân, bởi sản phẩm của sự pha trộn không phải là một bắt chước hoặc một bản sao mờ nhạt do “trung tâm” kiểm soát, mà sự bắt chước này “chẳng hề xa sự nhạo báng bao giờ”[15].

Hội họa Việt Nam, đặc biệt nghệ thuật tranh lụa và sơn mài, chưa bao giờ mang nhãn hiệu là nghệ thuật khởi thủy, nhưng đã được nhìn nhận là nguyên tuyền, thuần khiết, không bị hư hoại[16]. Hội họa Việt Nam là một nền nghệ thuật “chính danh”, không lai căng, tái chế, không phải là bản sao mệt mỏi của hội họa châu Âu và Mỹ[17]. Tính chính danh của nền hội họa mang lại cho các họa sĩ một chỗ đứng vinh dự để đổi mới phương pháp sáng tạo nghệ thuật. Sự phối hợp hai luồng ảnh hưởng sẽ tạo ra một vị thế mới và xóa đi cái gọi là trên và dưới, trong và ngoài, ngoại vi và trung tâm. Quả thật đó là một vị thế dám đưa ra thách thức.

KẾT LUẬN

Bài viết này giới thiệu mảng tranh được sưu tập và lưu trữ tại Nhà truyền thống TGP. TP.HCM vốn chưa được các nhà nghiên cứu đề cập và thảo luận. Bài viết cũng đã tìm hiểu căn nguyên và cảm hứng của những hình ảnh sáng tạo này cũng như khám phá cách giải thích mới về phong cách của những họa phẩm này. Đặt trong bối cảnh xã hội hậu thực dân, những họa phẩm này cho thấy một cái nhìn tươi mới về cách làm thế nào đánh giá và điều chỉnh câu chuyện về lịch sử hội họa, ít nhất tại vùng Đông Nam Á. Nghệ thuật là đời sống. Khám phá nghệ thuật sẽ luôn gợi ra con đường “hội nhập”.

Thành Thi chuyển ngữ

Trích Bản tin Hiệp Thông / HĐGMVN, Số 84 (Tháng 9 & 10 năm 2014)

 

[1] Nora A. Taylor, Painters in Hanoi : an ethnography of Vietnamese art, Honolulu: University of Hawaii Press, 2004, 109.

[2] Đặng Việt Bích, Tìm hiểu Văn hóa Dân tộc, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội 2006, 265.

[3] Đỗ Thị Hảo-Mai Thị Ngọc Chúc, Các nữ thần Việt Nam, Nxb Phụ nữ (Hà Nội, 1984).

[4] Nguyễn Minh San, Những thần nữ danh tiếng trong văn hóa tín ngưỡng Việt Nam, Nxb Phụ nữ, Hà Nội, 1996, 18.

[5] Đinh Gia Khánh, Tục thờ Mẫu và những truyền thống văn hóa dân gian ở Việt Nam, Tạp chí Văn học, số 5-1992.

[6] Ngô Đức Thịnh, Đạo Mẫu ở Việt Nam, Nxb Thông tin, Hà Nội 1996, 10.

[7] Nguyễn Minh San, Những thần nữ danh tiếng trong văn hóa tín ngưỡng Việt Nam, Nxb Phụ nữ, Hà Nội, 1996, 18.

[8] Nguyễn Minh San, Tiếp cận tín ngưỡng dân gian Việt Nam, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội 1994, 103.

[9] Đặng Việt Bích, Tìm hiểu Văn hóa Dân tộc, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội 2006, 284.

[10] Vấn đề này cần được nghiên cứu thêm dưới khía cạnh tâm lý học.

[11] Peter C. Phan, Vietnamese-American Catholics, New York: Paulist Press, 2005, 113.

[12] Nora A. Taylor, Painters in Hanoi : an ethnography of Vietnamese art, Honolulu: University of Hawaii Press, 2004, 13.

[13] Homi K. Bhabha, The Location of Culture, New York: Routledge, 1994, 32.

[14] Homi K. Bhabha, The Location of Culture, New York: Routledge, 1994, 56.

[15] Bill Ashcroft, Grareth Griffiths and Helen Tiffin, Post-Colonial Studies: The Key Concepts, New York: Routledge, 2004, 139-142.

[16] Nora A. Taylor, Painters in Hanoi : an ethnography of Vietnamese art, Honolulu: University of Hawaii Press, 2004, 7.

[17] Nora A. Taylor, Painters in Hanoi : an ethnography of Vietnamese art, Honolulu: University of Hawaii Press, 2004, 7.

Read More
26Tháng Sáu
2023

Diễn văn Đức Thánh Cha Phanxicô dành cho các nghệ sĩ ngày 23.06.2023

26/06/2023
Anmai
GH Hoàn Vũ, Tin tức
0

Diễn văn Đức Thánh Cha Phanxicô dành cho các nghệ sĩ ngày 23.06.2023

– Sáng hôm 23.06.2023, Đức Thánh Cha đã dành cho các nghệ sĩ buổi tiếp kiến riêng tại Nhà nguyện Sistine, nhân cuộc gặp gỡ kỷ niệm 50 năm khai trương bộ sưu tập nghệ thuật hiện đại của Bảo tàng Vatican.

Sau đây là nội dung bài diễn văn của Đức Thánh Cha:

DIỄN VĂN ĐỨC THÁNH CHA PHANXICÔ
DÀNH CHO CÁC NGHỆ SĨ NHÂN DỊP KỶ NIỆM  50 NĂM KHAI TRƯƠNG
BỘ SƯU TẬP NGHỆ THUẬT HIỆN ĐẠI CỦA BẢO TÀNG VATICAN

Nhà nguyện Sistine
Thứ Sáu, ngày 23.06.2023

Chào buổi sáng và chào mừng anh chị em. Tại Nhà nguyện Sistine này, chúng ta được bao quanh bởi nghệ thuật… và bởi các nghệ sĩ: chính là anh chị em. Xin chào anh chị em!

Cảm ơn anh chị em vì đã nhận lời mời của tôi; tôi rất vui khi được ở bên anh chị em, bởi vì Giáo hội luôn có mối tương quan với các nghệ sĩ một cách vừa tự nhiên vừa đặc biệt. Là một tình bạn tự nhiên, bởi vì các nghệ sĩ coi trọng sự phong phú của sự hiện hữu của con người, của cuộc sống, và của thế giới, kể cả những mâu thuẫn và những khía cạnh bi thảm của nó. Sự phong phú này có nguy cơ biến mất khỏi tầm nhìn của nhiều chuyên ngành, vốn đáp ứng nhu cầu tức thời, nhưng lại khó có thể nhìn cuộc sống như một thực tại phức tạp và đa diện. Là nghệ sĩ, anh chị em nhắc nhở chúng tôi rằng chiều kích mà trong đó chúng tôi di chuyển, dù là vô thức, luôn là chiều kích của Thần Khí. Nghệ thuật của anh chị em giống như một cánh buồm căng tràn sức gió của Thần Khí và đẩy chúng tôi tiến về phía trước. Do đó, tình bạn của Giáo hội với nghệ thuật là một điều gì đó hết sức tự nhiên. Nhưng, đồng thời, đó cũng là một tình bạn đặc biệt, nhất là nếu chúng ta nghĩ về nhiều giai đoạn lịch sử mà chúng ta đã cùng nhau đi qua, và là một phần di sản của tất cả mọi người, dù là tín hữu hoặc không tín ngưỡng. Lưu tâm đến điều này, chúng ta hãy hướng tới một mùa hoa trái phong phú mới trong thời đại của chúng ta, được sinh ra từ bầu khí lắng nghe, tự do và tôn trọng. Mọi người cần những hoa trái ấy, những hoa trái rất đặc biệt ấy.

Romano Guardini đã từng viết rằng: “Trạng thái của người nghệ sĩ không khác gì trạng thái của một đứa trẻ và thậm chí trạng thái của một người có tầm nhìn xa trông rộng” (L’opera d’arte, Brescia, 1998, 25). Tôi thấy hai so sánh này rất thú vị. Đối với Guardini, “tác phẩm nghệ thuật mở ra một không gian mà chúng ta có thể bước vào, và ở trong đó, chúng ta có thể hít thở, di chuyển và gặp gỡ các vật thể và con người khi chúng mở ra trước mắt chúng ta” (sđd., 35). Chính trong cuộc gặp gỡ với nghệ thuật, các ranh giới trở nên linh hoạt hơn và những giới hạn trong kinh nghiệm và hiểu biết của chúng ta mở rộng hơn. Mọi thứ dường như cởi mở và dễ tiếp cận hơn. Chúng ta trải nghiệm tính tự phát của đứa trẻ tràn đầy trí tưởng tượng và trực giác của người nhìn xa trông rộng nắm bắt thực tế.

Nghệ sĩ là một đứa trẻ – tôi không có ý xúc phạm anh chị em – điều này có nghĩa là nghệ sĩ có được sự tự do để kiểm soát sự độc đáo, mới lạ và sáng tạo, và do đó mang đến cho thế giới những điều mới mẻ và chưa từng có. Khi làm như vậy, các nghệ sĩ bác bỏ ý kiến ​​​​cho rằng con người là “sinh vật hướng tới cái chết”. Chắc chắn là con người phải đối diện với cái chết, nhưng chúng ta không phải là sinh vật hướng tới cái chết, mà là sinh vật hướng tới sự sống. Một nhà tư tưởng vĩ đại như Hannah Arendt đã khẳng định rằng dấu ấn của con người là khả năng mang lại sự mới mẻ cho thế giới. Đây là một phần của sự phong phú của chúng ta như là con người: mang đến sự mới mẻ. Ngay cả trong tự nhiên, sự sinh sản mang lại sự mới mẻ khi mỗi đứa trẻ được sinh ra trên thế giới. Sự mở ra và mới mẻ. Với tư cách là nghệ sĩ, anh chị em đạt được điều này bằng cách khẳng định sự độc đáo riêng của mình. Trong các tác phẩm, anh chị em luôn đặt một thứ gì đó của bản thân mình, với tư cách là những hữu thể độc nhất giống với tất cả chúng tôi, vì ích lợi của việc sáng tạo một điều gì đó vĩ đại hơn. Với tài năng của mình, anh chị em mang lại một điều gì đó khác thường; anh chị em làm phong phú thế giới với một điều gì đó mới mẻ. Tôi nghĩ đến những lời trong sách Tiên tri Isaia khi Thiên Chúa phán: “Này Ta sắp làm một việc mới, việc đó manh nha rồi, các ngươi không nhận thấy hay sao?” (Is 43, 19). Trong Sách Khải Huyền, Thiên Chúa cũng phán như vậy: “Này đây Ta đổi mới mọi sự” (21, 5). Do đó, sự sáng tạo của người nghệ sĩ có thể được xem là sự chia sẻ niềm đam mê sáng tạo của chính Thiên Chúa, niềm đam mê mà nhờ đó Ngài đã tạo dựng muôn vật. Anh chị em là những người chia sẻ giấc mơ của Thiên Chúa! Anh chị em có những đôi mắt biết quan sát và ước mơ. Chỉ nhìn thôi thì chưa đủ; chúng ta còn cần có khả năng ước mơ. Như một nhà văn Mỹ Latinh đã nói, con người chúng ta có hai con mắt: một để nhìn những gì chúng ta thấy, và một để nhìn những gì chúng ta hy vọng và mơ ước. Khi ai đó thiếu đi hai con mắt này, hoặc chỉ có thể nhìn mọi thứ bằng một mắt này hoặc một mắt kia, thì đã bị mất đi một thứ gì đó. Khả năng nhìn thấy những hy vọng và ước mơ… khả năng sáng tạo nghệ thuật… Chỉ nhìn thôi thì chưa đủ; chúng ta cũng cần phải ước mơ. Là con người, chúng ta khao khát một thế giới mới mà chúng ta sẽ không nhìn thấy trọn vẹn với đôi mắt của chính mình, nhưng chúng ta khao khát, chúng ta tìm kiếm, chúng ta mơ ước về thế giới mới đó.

Vì vậy, với tư cách là nghệ sĩ, anh chị em có khả năng mơ về những phiên bản mới của thế giới, để đưa sự mới lạ vào lịch sử. Phiên bản mới của thế giới. Đó là lý do tại sao Guardini cũng nói rằng anh chị em giống như những người có tầm nhìn xa trông rộng. Anh chị em có một chút giống với các vị ngôn sứ. Anh chị em có thể nhìn thấy sự vật ở cả chiều sâu và từ xa, giống như những người lính canh tập trung nhìn vào đường chân trời và phân định những thực tại sâu sắc hơn. Khi làm như vậy, anh chị em được mời gọi thoát ra khỏi sức hấp dẫn của vẻ đẹp bên ngoài và nhân tạo được cho là phổ biến hiện nay và thường đồng lõa với các cơ chế kinh tế tạo ra sự bất bình đẳng. Đó không phải là một vẻ đẹp thu hút, vì đó là một vẻ đẹp vô hồn, không có sức sống. Một vẻ đẹp giả tạo, mỹ phẩm, một lớp trang điểm che giấu thay vì biểu lộ. Trong tiếng Ý, từ “trang điểm” cũng có nghĩa là “đánh lừa”, vì luôn luôn có một chút lừa dối trong đó. Anh chị em muốn tránh xa vẻ đẹp ấy, thay vào đó, nghệ thuật của anh chị em là một nghệ thuật cố gắng hành động như một lương tâm phê phán xã hội, phô bày những sự thật hiển nhiên. Anh chị em muốn làm cho mọi người phải suy nghĩ, phải tỉnh táo; anh chị em muốn phơi bày thực tế ngay cả trong những mâu thuẫn của nó, cũng như trong những điều mà việc che giấu sẽ thoải mái và thuận tiện hơn. Giống như các vị ngôn sứ trong Kinh thánh, đôi khi anh chị em đối diện với những điều không thoải mái; chỉ trích những huyền thoại sai lầm, và những thần tượng mới ngày nay, những lời nói sáo rỗng, những cạm bẫy của chủ nghĩa tiêu thụ, những âm mưu quyền lực. Đây là một khía cạnh thú vị trong tâm lý của các nghệ sĩ: khả năng tiến về phía trước và vượt lên trên, trong sự căng thẳng giữa thực tại và ước mơ.

Anh chị em thường làm điều này với sự châm biếm, châm biếm là một đức tính tuyệt vời. Khiếu hài hước và châm biếm là hai đức tính chúng ta cần trau dồi hơn nữa. Kinh thánh chứa đầy những câu chuyện châm biếm, giễu cợt về tính tự mãn, bất lương, bất công và độc ác ẩn dưới vỏ bọc của quyền lực và thậm chí cả sự thánh thiêng. Anh chị em cũng có thể giúp để phân định lòng đạo đức chân chính, thường bị thể hiện cách sáo rỗng và tầm thường hóa.

Là những người nhìn xa trông rộng, những người nam nữ có sự phân định, có lương tâm phê phán, tôi cảm thấy anh chị em là đồng minh trong rất nhiều điều mà tôi canh cánh trong lòng, chẳng hạn như bảo vệ sự sống con người, công bằng xã hội, quan tâm đến người nghèo, chăm sóc ngôi nhà chung của chúng ta, tình huynh đệ nhân loại phổ quát. Tôi quan tâm đến lòng nhân đạo của con người, chiều kích nhân văn của nhân loại. Vì đó cũng là đam mê cao cả của Thiên Chúa. Một trong những điều đưa nghệ thuật đến gần hơn với đức tin là việc cả hai đều có khuynh hướng gây ra sự xáo trộn. Cả nghệ thuật và đức tin đều không thể để mọi thứ đơn giản như chúng là: nghệ thuật và đức tin thay đổi, chuyển đổi, di chuyển, và biến đổi mọi thứ. Nghệ thuật không bao giờ có thể là liều thuốc gây mê; nghệ thuật mang lại bình an, nhưng không hề ru ngủ lương tâm, mà thức tỉnh lương tâm.

Là nghệ sĩ, anh chị em thường cố gắng khám phá chiều sâu của thân phận con người, những vực thẳm đen tối của phận người. Chúng tôi tất cả không phải là ánh sáng, và anh chị em nhắc nhở chúng tôi về điều này. Đồng thời, cần phải thắp lên ánh sáng hy vọng trong bóng tối của phận người, giữa sự ích kỷ và thờ ơ. Giúp chúng ta thoáng thấy ánh sáng, vẻ đẹp cứu độ.

Nghệ thuật luôn gắn liền với cảm nghiệm về cái đẹp. Như Simone Weil đã viết: “Cái đẹp quyến rũ xác thịt để vào được tâm hồn” (L’ombra e la grazia, Bologna, 193). Nghệ thuật chạm đến các giác quan để làm phấn chấn tinh thần, và nghệ thuật làm được điều đó thông qua cái đẹp, vốn phản ánh những điều tốt đẹp, công bằng và chân thực. Cái đẹp là dấu chỉ của sự hoàn hảo; Cái đẹp khiến chúng ta thốt lên một cách tự nhiên: “Ôi, đẹp biết bao!” Cái đẹp làm cho chúng ta cảm thấy cuộc sống hướng đến sự viên mãn, trọn vẹn. Vì vậy, trong cái đẹp đích thực, người ta bắt đầu trải nghiệm lòng khao khát Thiên Chúa. Nhiều người ngày nay hy vọng rằng nghệ thuật có thể ngày càng trở lại với việc trau dồi cái đẹp. Tất nhiên, như tôi đã nói, cũng có một loại vẻ đẹp phù phiếm, giả tạo, hời hợt, thậm chí không thực. Vẻ đẹp thẩm mỹ.

Tôi tin rằng có một tiêu chí quan trọng để phân định sự khác biệt của vẻ đẹp, đó là sự hài hòa. Vẻ đẹp đích thực, thật ra là sự phản ánh của sự hài hòa. Các nhà thần học nói về tình phụ tử của Thiên Chúa, về tư cách làm con của Đức Kitô, nhưng khi mô tả Chúa Thánh Thần, họ nói về sự hài hòa: Ipse harmonia est. Thần Khí tạo nên sự hài hòa. Chiều kích nhân tính của tâm linh… Vẻ đẹp đích thực luôn là sự phản ánh của sự hài hòa. Nếu tôi có thể nói như vậy, hài hòa là đức tính hữu hiệu của cái đẹp, là tinh thần sâu xa nhất của cái đẹp, nơi Thần Khí Thiên Chúa, Đấng hài hòa vĩ đại của thế giới, đang hoạt động. Sự hài hòa tồn tại khi các yếu tố tuy khác biệt nhau nhưng vẫn hợp thành một thể thống nhất, khác với từng bộ phận và khác với tổng thể của các bộ phận. Điều này không hề dễ dàng; chỉ có Thần Khí mới có thể làm cho điều này trở nên khả thi: những khác biệt không trở thành xung đột, nhưng hòa nhập với nhau trong sự đa dạng, và sự hiệp nhất không phải là đồng nhất nhưng mở ra cho sự đa dạng. Như tại Lễ Ngũ Tuần, sự hài hòa đã làm nên những điều kỳ diệu này. Tôi thích nghĩ về Chúa Thánh Thần như là Đấng cho phép những sự xáo trộn lớn nhất xảy ra – hãy nghĩ về buổi sáng của ngày Lễ Ngũ Tuần – và sau đó tạo ra sự hài hòa. Một sự hài hòa nhưng không phải là sự cân bằng, bởi vì hài hòa được phát sinh trước hết từ sự mất cân bằng; hài hòa là một cái gì đó nhiều hơn là sự cân bằng. Sứ điệp này thật hợp thời biết bao! Chúng ta đang sống trong thời đại của các hình thức thực dân hóa ý thức hệ và xung đột gay gắt do phương tiện truyền thông điều khiển; một sự toàn cầu hóa tiêu chuẩn hóa mọi thứ cùng tồn tại với bất kỳ nhóm lợi ích cụ thể nào khép kín và thu mình lại.

Đây là nguy cơ của thời đại chúng ta. Thậm chí, Giáo hội có thể bị ảnh hưởng. Xung đột có thể diễn ra dưới sự giả vờ hiệp nhất, từ đó nảy sinh chia rẽ, bè phái và những hình thức tự kỷ ái mộ. Chúng ta càng cần phải làm cho nguyên tắc hài hòa hiện diện trong thế giới của chúng ta nhiều hơn và loại bỏ sự đồng nhất. Là nghệ sĩ, anh chị em có thể giúp chúng tôi nhường chỗ cho Thần Khí. Khi nhìn thấy công trình của Thần Khí, Đấng tạo ra sự hài hòa từ những khác biệt nhưng không phá hủy hoặc tiêu chuẩn hóa sự khác biệt mà đưa sự khác biệt vào sự hài hòa, chúng ta mới hiểu được cái đẹp thực sự là gì. Cái đẹp là tác phẩm của Thần Khí, Đấng tạo nên sự hài hòa. Anh chị em hãy để thiên tài nghệ thuật của mình theo đuổi tiến trình này!

Anh chị em thân mến, tôi rất vui khi có cuộc gặp gỡ hôm nay. Trước khi tạm biệt, tôi có một điều nữa muốn nói với anh chị em, vốn là một điều tôi rất tâm đắc. Tôi muốn xin anh chị em đừng quên những người nghèo, những người rất gần gũi với trái tim của Đức Kitô, những người bị ảnh hưởng bởi nhiều hình thức nghèo khó ngày nay. Người nghèo cũng cần nghệ thuật và cái đẹp. Một số người đang sống cuộc sống hết sức khó khăn, và do đó, họ thậm chí còn cần nghệ thuật và cái đẹp hơn nữa. Họ thường không có tiếng nói để làm cho mình được lắng nghe. Anh chị em có thể chọn trở thành thông dịch viên cho lời nài xin thầm lặng của họ.

Xin cảm ơn anh chị em, và một lần nữa, tôi khẳng định sự quý trọng của tôi dành cho anh chị em. Tôi hy vọng và cầu nguyện rằng các công trình của anh chị em đáng giá với những người nam, nữ trên trái đất này, đồng thời tôn vinh Thiên Chúa là Cha của tất cả mọi người, và là Đấng mà tất cả mọi người đều tìm kiếm, kể cả qua chứng tá của các tác phẩm nghệ thuật. Và cuối cùng, xin anh chị em hãy hiệp ý cầu nguyện cho tôi. Xin cảm ơn.

Nt. Anna Ngọc Diệp, OP
Dòng Đa Minh Thánh Tâm

Read More

Điều hướng bài viết

  • Previous page
  • Page 1
  • …
  • Page 83
  • Page 84
  • Page 85
  • …
  • Page 713
  • Next page
Bài viết mới nhất
HỌP MẶT TRUYỀN THÔNG GIÁO TỈNH SÀI GÒN LẦN THỨ NHẤT TẠI TRUNG TÂM MỤC VỤ GIÁO PHẬN ĐÀ LẠT
15/04/2026
[TÔNG DU ALGERIA] ĐỨC THÁNH CHA THĂM DI TÍCH THÀNH CỔ HIPPO, THEO BƯỚC THÁNH AUGUSTINÔ
15/04/2026
[TÔNG DU ALGERIA] ĐỨC THÁNH CHA THĂM NHÀ DƯỠNG LÃO CỦA DÒNG TIỂU MUỘI NGƯỜI NGHÈO
15/04/2026
Video nổi bật
https://www.youtube.com/watch?v=Td144YDsaGo
Sự kiện sắp tới

There are no upcoming events at this time.

Ủy ban Giáo dục Công giáo – Trực thuộc Hội Đồng Giám Mục Việt Nam.

Liên hệ

72/12 Trần Quốc Toản, Phường 8, Quận 3, TP.HCM Get Directions

Phone: +84 931 436 131

Email: [email protected]

Ban chuyên môn
  • Ban Tài liệu và Truyền thông
  • Ban Giáo chức
  • Ban Kỹ năng và Giá trị sống
  • Ban Khuyến học
  • Ban Học viện Thần học
  • Ban Hội Học sinh – Sinh viên
Chuyên mục
  • Tin tức
  • Thư chung
  • Giáo dục
  • Phụng vụ
  • Thư viện
Bản quyền © 2020 thuộc về Ủy Ban Giáo Dục HĐGM VN. Design by JT.