2020
Một nghiên cứu cho thấy người Ý gia tăng cầu nguyện và lòng sùng đạo trong thời gian đại dịch
Một nghiên cứu do Đại học Milan thực hiện để theo dõi ý kiến công chúng trong trường hợp khẩn cấp Covid-19 và tác động của nó đối với tinh thần tôn giáo của người dân Ý, được công bố hôm 22/05/2020, cho thấy sự gia tăng cầu nguyện và lòng sùng đạo ở Ý.
Nghiên cứu cho thấy khi lệnh phong tỏa buộc các nhà thờ phải đóng cửa, “tần suất cầu nguyện và tham gia các nghi lễ tôn giáo tăng lên, mặc dù những điều này chỉ có thể tham dự trực tuyến.”
Nghiên cứu dựa trên các cuộc phỏng vấn với 4.600 người trên khắp nước Ý từ ngày 20/04-15/05, cho thấy tỷ lệ cầu nguyện tăng cao nhất, trong đại dịch, là trong số những người Công giáo không đến nhà thờ ít nhất một lần một tuần; hơn 16% những người đi lễ ít nhất mỗi tháng một lần, nhưng không phải mỗi tuần, cho biết họ cầu nguyện mỗi ngày trong đại dịch. Về phản ứng đối với đại dịch, nghiên cứu cho thấy 11% số người gia tăng cầu nguyện hàng ngày nằm trong số những người “Công giáo không thực hành”, hiếm khi hoặc không bao giờ tham dự Thánh lễ.
Tuy nhiên, nghiên cứu nói thêm, “sự gia tăng thực hành tôn giáo được ảnh hưởng chủ yếu bởi giai đoạn cấp bách nhất của cuộc khủng hoảng. Trên thực tế, tần suất cầu nguyện giảm đi cùng với sự suy giảm số người bị nhiễm bệnh.” Những người có người thân trong gia đình bị nhiễm virus corona “gia tăng đáng kể sự tham gia của họ vào các cử hành tôn giáo và cầu nguyện.”
Theo nghiên cứu này, tỷ lệ tham dự Thánh lễ tại nhà thờ trước khi đại dịch bùng nổ và tham dự trực tuyến trong thời gian đại dịch không thay đổi nhiều đối với độ tuổi trên 45, nhưng tăng 17% ở độ tuổi dưới 45. (CNS 22/05/2020)
Hồng Thủy – Vatican News
2020
Tiến Sĩ Francis Collins nhận Giải Thưởng Templeton vì làm chứng cho niềm tin và khoa học
Một nhà khoa học đang ở trận tuyến phát triển vaccine cho Covid-19 ngày hôm nay đã được bầu chọn nhận Giải Thưởng Templeton cho năm nay, một giải thưởng nhìn nhận những đóng góp của ông cho sự hiểu biết về tôn giáo qua công việc của ông trong tư cách là một khoa học gia.
Tiến sĩ Francis Collins, giám đốc Viện Y Tế Quốc Gia (NIH) và là thành viên của Viện Giáo Hoàng về Khoa Học, đã cho CNA biết là làm việc để phát triển loại vaccine coronavirus là một trong những thách đố lớn nhất trong sự nghiệp của ông, và rằng những ngày này khi ông đang không làm việc, thì ông tìm thấy sự no thoả trong cầu nguyện và đọc các Thánh Vịnh.
“Giống như tất cả mọi cuộc khủng hoảng, giống như tất cả mọi dịp khổ đau, đây là một cơ hội để chúng ta có thể học tập và trưởng thành. Và tôi vui là tôi thờ phượng một Thiên Chúa là Đấng biết về nỗi khổ đau”, Tiến Sĩ Collins, một Kitô Hữu phái truyền giảng, đã cho CNA biết.
Giải Thưởng Templeton, được thiết lập vào năm 1972 bởi nhà đầu tư và nhà từ thiện toàn cầu Sir John Templeton, là một khoản thưởng tiền mặt hàng năm trị giá 1.1 triệu Bảng Anh (1.3 triệu USD) cho một người đang sống đã thực hiện “một đóng góp ngoại thường cho việc khẳng định chiều kích thiêng liêng của đời sống, bất luận là qua sự hiểu biết, sự khám phá hay các công việc thực tế”.
Thánh Teresa Calcutta đã là một vị nhận giải đầu tiên của giải này vào năm 1973.
Trước khi gia nhập NIH vào năm 2009, Tiến Sĩ Collins đã là một giáo sư về y học nội và gien người tại Đại Học Michigan, dẫn đầu cuộc nghiên cứu khám phá ra các loại gien chịu trách nhiệm cho các loại bệnh như bệnh xơ nang, u xơ thần kinh; bệnh Hungtinton; và hội chứng Hutchinson-Gilford, một loại hình thức già trước tuổi hiếm thấy.
Vào năm 1993, ông được bổ nhiệm làm giám đốc Trung Tâm Quốc Gia Nghiên Cứu Gien Người, giám sát Dự Á Gien Người, một sự cộng tác quốc tế mà vào năm 2003 đã thành công trong việc tạo ra được 3 tỷ “ký tự” DNA trong chuỗi gien người.
Giờ đây, tiến sĩ Collín đang giám sát sự cộng tác của NIH với vài hãng dược và các cơ quan chính phủ để phát triển một loại vaccine Covid-19. Ít nhất có một loại vaccine tiềm năng đã sẵn sàng cho việc thử nghiệm diện rộng vào tháng 7 với các loại khác sẽ sớm có sau đó, tiến sĩ Collins cho AP biết vào tuần trước.
“Tôi cầu xin ơn khôn ngoan, sự hướng dẫn, và tôi cầu xin sự tha thứ cho việc phạm những sai lỗi trên hành trình”, tiến sĩ Collins nói với CNA.
“Tôi đã tham gia vào quá nhiều các dự án khoa học qui mô lớn trong vòng hơn 30 năm qua, từ việc phát hiện ra gien chịu trách nhiệm bệnh u xơ nang, đến dự án gien, đến liệu pháp miễn nhiễm bệnh ung thư; và một cách nào đó gánh nặng trách nhiệm ở đây – chúng tôi không thể chịu nổi việc mất đi một ngày của tiến trình trong việc tìm ra các biện pháp điều trị và một loại vaccine và các cuộc thử nghiệm tốt hơn – chỉ ở đó trong mỗi phút giây”.
“Và tôi ở đây trong văn phòng tại nhà mình, nhưng hiếm khi nào ra ngoài, và rất có thể là làm việc 110 giờ mỗi tuần chỉ để nỗ lực làm mọi sự tôi có thể để tận dụng hết mọi nguồn lực và cầu nguyện với Thiên Chúa để chúng được sử dụng cách khôn ngoan để mang lại niềm hy vọng và sự chữa lành”, ông nói.
Trường hợp lý luận về sự hiện hữu của Thiên Chúa
Là một người bản xử Virginia, tiến sĩ Collins được dạy học tại nhà đến khi lên 10 và học hoá học tại trường cao đẳng và đã tốt nghiệp đại học, có được bằng cử nhân, Tiến Sĩ, và sau đó là Y Khoa, sau đó ông được bổ nhiệm vào Nhóm Nghiên Cứu Gien Người tại Trường Y Đại Học Yale.
Loay hoay giưa chủ thuyết bất khả tri và chủ thuyết vô thần đến tuổi 27, tiến sĩ Collins đã cho biết ông “rất vui với ý tưởng là Thiên Chúa không tồn tại và rằng Thiên Chúa không có hứng thú gì với tôi”.
“Đó là điểm tôi từng là – nếu có ai đó nỗ lực để nêu lên chủ đề về [tôn giáo], thì tôi sẽ nhanh chóng bác bỏ nó và muốn chuyển sang chủ đề khác, có lẽ đã có quá nhiều lập trường về cảm giá giống như là một mục tiêu cho ai đó đang nỗ lực bán cho tôi niềm tin của họ”, tiến sĩ Collins cho biết.
Tiến Sĩ Collins được cải đạo phần lớn nhờ tập sách cổ điển của C.S. Lewis Mere Christianity, vốn đưa ra một trường hợp mang tính lý luận về sự hiện hữu của Thiên Chúa.
Tiến Sĩ Collins cho biết một điều thu hút được sự chú ý của ông trong những chương mở đầu của cuốn sách là sự xem xét của Lewis về nền tảng của luân lý – nói cách khác, tại sao lại có điều như thế là tốt và xấu, và tại sao điều đó lại quan trọng?
“Đây là nơi mà tôi nghĩ những nhà vô thần nghiêm khắc nhất sẽ tìm thấy chính họ trong một tình cảnh khó thật sự”, tiến sĩ Collins lập luận.
“Vì nếu họ nỗ lực để lý luận rằng những ý tưởng của chúng ta về sự dữ và sự lành là thuần tuý bị cuốn hút bởi những áp lực mang tính cách mạng vốn sẽ giúp chúng ta tồn tại, thì kết quả tối hậu của điều đó là việc đó là những ý niệm mang tính văn chương – là tất cả chúng ta rồi sẽ rơi vào việc tưởng tượng ra có điều tốt và điều dữ như thế, và rằng chúng ta cần phải dừng chú ý đến điều đó và làm bất cứ điều gì chúng ta thấy hài lòng. Và thậm chí là cả một người vô thần nhiệt thành nhất cũng gặp vấn đề với kết luận ấy”.
“Hiểu về những công trình của Thiên Chúa trong tự nhiên”
Ngày nay, tiến sĩ Collín đã lên tiếng nói về niềm tin Kitô Giáo của mình. Ông đã viết một cuốn sách vào năm 2006 có tựa đề “Ngôn Ngữ Của Thiên Chúa: Một Nhà Khoa Học Trình Bày Về Bằng Chứng Cho Niềm Tin”, mà trong đó ông mô tả cách mà niềm tin tôn giáo có thể khích lệ và gợi hứng cho việc nghiên cứu khoa học nhiệt thành.
Ông và phu nhân của ông vào năm 2007 đã thành lập Quĩ BioLogos phi lợi nhuận, nhằm mục đích nuôi dưỡng sự thảo luận về sự hoà hợp giữa khoa học và niềm tin thánh kinh qua các bài viết, bài nói, và phương tiện truyền thông khác.
Tiến Sĩ Collins cũng là thành viên của Viện Giáo Hoàng về Khoa Học, đã được Đức Giáo Hoàng Benedict XVI bổ nhiệm vào năm 2009.
Mặc dù Tiến SĨ Collins nói ông chỉ có thể tham gia một cuộc họp của Viện tại Vatican kể từ khi ông được bổ nhiệm, nhưng ông đã mô tả cuộc họp là “một cuộc gặp gỡ tuyệt vời của các nhà khoa học đẳng cấp thế giới thật sự thuộc nhiều lãnh vực”.
“Tôi đã tìm thấy một niềm vui như thế trong khả năng qui tụ lại các cách tiếp cận thiêng liêng và khoa học mà tôi cảm thấy động lực cần chia sẻ này”, ông nói.
“Không biến cuộc họp thành một cuộc diễn thuyết quá khô khan về mặt trí tuệ và triết học, nhưng nói về niềm vui mà tôi đã kinh qua và bởi ân sủng của Thiên Chúa, trong khi có thể đọc lời Thiên Chúa trong Kinh Thánh và hiểu các hoạt động của Thiên Chúa trong tự nhiên”.
Niềm tin và đạo đức sinh học
Giữa cuộc chạy đua toàn cầu để phát triển Vaccine Covid-19, một số các nhà hoạt động phò sự sống và các nhà đạo đức học đã thể hiện sự quan ngại rằng trong một số trường hợp, các nhà khoa học có thể dùng phôi thai người được lấy từ các trẻ bị phá thai trong cuộc nghiên cứu của họ.
Một phương án đề xuất nghiên cứu, được nhà dịch tễ học Kim Hasenkrug dẫn dắt tại Viện Nghiên Cứu Núi Đá NIH tại Montana, có mục đích tìm ra các biện pháp điều trị Covid-19 bằng việc đặt vào các con chuột một tế bào phổi, tiêm vào chuột các chuỗi coronavirus tương tự như Covid-19, và thử các biện pháp điều trị thành công.
Bộ Dịch Vụ Y Tế và Con Người, cơ quan gốc của NIH, năm ngoái đã áp đặt một biên bản ghi nhớ về cuộc nghiên cứu tế bào gốc NIH được lấy từ các cuộc phá thai có chọn lọc, có nghĩa là cuộc nghiên cứu của Hasenkrug đã không thể tiến bước khi đối diện với những đổi thay từ những chỉ dẫn của NIH.
Chỉ dẫn mới, mà NIH đã công bố vào tháng 7/2019, đã loại bỏ nghiên cứu mới của NIH với tế bào gốc từ phá thai và giới hạn việc cấp quĩ cho nghiên cứu “bên ngoài” – hoặc các cuộc thử nghiệm được thực hiện bên ngoài NIH – về tế bào gốc phá thai. Những người ứng đơn lớn vào NIH phải cho biết lý do vì sao các mục tiêu nghiên cứu của họ “không thể hoàn tất khi sử dụng biện pháp thay thế cho tế bào gốc” và các phương pháp nào mà họ dùng để quyết định là không thể có phương pháp thay thế nào được dùng.
Về phần mình, tiến sĩ Collins cho biết ông xem xét vấn đề là liệu có đạo đức để dùng phôi thai người và các phôi thai bị phá cho nghiên cứu hay không là “một vấn đề quan trọng cần phải suy nghĩ hết sức cẩn trọng”.
“Tôi là người đầu tiên đã nói là chúng ta không nên tạo ra hay phá huỷ các phôi thai – phôi thai người – cho việc nghiên cứu, và chúng ta cần phải không được huỷ các thai kỳ để nghiên cứu”, ông Collins nói với CNA.
Tiến Sĩ Collins đã khác hẳn giáo huấn Công Giáo về nghiên cứu có liên quan đến các phôi đông lạnh.
“Nhưng nếu có các phôi đã bị bỏ sau biện pháp thụ tinh nhân tạo – và hàng trăm ngàn loại vốn chưa bao giờ được dùng cho bất cứ điều gì, thì chúng sẽ bị huỷ bỏ – tôi nghĩ thật đạo đức để suy xét các cách thế mà trong đó cuộc nghiên cứu có thể làm cho việc tận dụng thông tin đó để giúp ai đó trở thành khả thi”.
“Và cũng thế, nếu có hàng trăm ngàn loại phôi mà hoặc sẽ bị loại bỏ qua điều vốn là một tiến trình hợp pháp tại nước này, thì chúng ta cần phải nghĩ về liệu có đạo đức hơn để ném chúng đi không, hoặc trong một trường hợp hiếm là dùng chúng cho nghiên cứu có thể cứu mạng sống”.
Văn kiện năm 2008 của Vatican Dignitatis personnae nói rằng “việc lấy các tế bào gốc từ một phôi sống của người…không thể tránh khỏi việc tạo ra cái chết cho phôi và kết quả là sau đó bị bỏ đi cách nghiêm trọng”.
Văn kiện ấy cũng lên án cách mạnh mẽ về nghiên cứu tế bào gốc đã phá thai, nhưng có liên quan đến một vài loại vaccine phổ biến – chẳng hạn vaccine cho bệnh thuỷ đậu, bệnh sởi, quai bị và rubella (MMR) – vốn được lấy từ các tế bào của các bé bị phá thai, thì toà thánh Vatican nói những tế bào này có thể được các bậc cha mẹ dùng vì “những lý do nghiêm trọng” như là mối nguy cho sức khoẻ của con cái họ.
Văn kiện tiếp tục nói rằng “mọi người có nghĩa vụ phải làm cho sự bất đồng của họ được biết đến và yêu cầu là hệ thống y tế của họ cần thực hiện các loại vaccine sẵn có khác”.
Một uỷ ban gồm 4 vị giám mục Công Giáo đã viết một lá thư cho bộ máy ông Trump vào tháng 4 yêu cầu họ “giúp đảm bảo rằng người Mỹ được dùng các loại vaccine tách ra khỏi bất cứ một sự kết nối đến phá thai nào”.
Ông Collins cho biết ông đã phát hiện thật tuyệt vời khi quan sát thấy quá nhiều các lãnh vực đạo đức sinh học hiện đại tuỳ thuộc vào nền tảng Kitô Giáo-Do Thái.
“Sự thật là chúng ta thật sự trân trọng những điều này là đáng kính trọng, không có tà ý – nghĩa là, không cố ý làm tổn thương bất cứ ai – như sự tự chủ, như tài sản, và công lý; tất cả những nguyên tắc đó xuất phát trực tiếp từ thánh kinh”, tiến sĩ Collins nói.
“Và vì thế, một nhà đạo dức thế tục là người gắn liền với những điều này – và họ sẽ – và pài không có cùng cảm thức mà tôi đang nói về nền tảng mà họ dựa vào, điều đối với tôi là do Thiên Chúa ban tặng”.
Chia sẻ niềm tin trong phòng thí nghiệm
Tiến Sĩ Collins nói khi Tổng Thống Obama lần đầu tiên bổ nhiệm ông làm giám đốc NIH, thì có một số tiếng nói trên truyền thông – đặc biệt là các nhà vô thần lên tiếng – những người bác bỏ ý tưởng về một người Kitô Hữu lại dẫn đầu một nỗ lực nghiên cứu y sinh học của nước này.
Mặc dù tiến sĩ Collins nói ông chắc chắn tin bất cứ ai làm việc trong các lãnh vực khoa học đều mong muốn chia sẻ niềm tin của mình với người khác sẽ có thể cảm thấy tự do để làm như thế, ông nhìn nhận rằng thật dễ dàng hơn đối với ông để chia sẻ niềm tin của ông cách công khai sau khi ông đã đạt tới địa vị của một giáo sư toàn phần và có những dự án nghiên cứu cao.
Ông cho biết ngay cả trong một hoàn cảnh như Viện Giáo Hoàng về Khoa Học, được tổ chức tại Vatican, thì ông cũng cảm thấy rằng một số trong số các nhà khoa học bạn của ông cũng ngần ngại nói cách công khai về niềm tin tôn giáo của họ – có lẽ vì họ quá thường cảm thấy họ không thể chia sẻ niềm tin tôn giáo của họ trong các phòng thí nghiệm nơi mà họ thường làm việc.
“Tôi thật sự nghĩ, đặc biệt với các bạn thực tập sinh, hoặc nhóm đã thạo ngành, thì có một chút lo lắng hơn về việc ‘tôi sẽ được nhìn như thế nào’ nếu tôi nói về niềm tin của tôi về Thiên Chúa. Điều vốn là một thảm kịch tồi tệ, vì như tôi đã nỗ lực nói trong cuốn sách Ngôn Ngữ của Thiên Chúa – những người này không nhất thiết bị coi là một sự mẫu thuẫn cách nào đó”, tiến sĩ Collins cho biết.
Tiến sĩ Collins cho biết ông có thể trở lại thời gian để nói về con người cũ của ông lúc vô thần ở tuổi 27, ông sẽ khích lệ rằng người trẻ cần phải bắt đầu suy tư các câu hỏi như: tại sao lại có gì đó thay vì là không có gì? Có một Thiên Chúa không, và làm sao tôi biết là có? Tình yêu là về điều gì? Vẻ đẹp là về điều gì? Và tại sao chúng ta ở đây?
“Đây không phải là những câu hỏi mà cách tiếp cận khoa học sẽ mang lại cho bạn nhiều câu trả lời”, tiến sĩ Collins nói, khi thêm rằng ông sẽ nói về con người cũ của ông: “Hãy nghĩ về điều gì đáng, trước khi bạn chết, hãy dành vài phút suy tư về điều đó, và hãy xem liệu có hướng nào khác mà từ đó các câu trả lời sẽ xuất hiện không, hơn là trong phòng thí nghiệm khoa học”.
Tiến sĩ Collins sẽ nhận Giải Templeton trong một nghi lễ ảo vào cuối năm nay.
Joseph C. Pham (CNA)
2020
Kinh Lạy Nữ Vương Thiên Đàng (24/5): Đừng sợ làm chứng tá
Lễ Thăng Thiên cho chúng ta biết rằng Chúa Giêsu, dù lên trời để ngự trong vinh quang Chúa Cha, vẫn luôn luôn ở giữa chúng ta: và từ nơi ấy phát sinh sức mạnh, niềm vui và sự kiên tâm của chúng ta. Đức Thánh Cha Phanxicô đã nhấn mạnh như thế trong bài huấn dụ trước khi đọc kinh Lạy Nữ Vương Thiên Đàng được truyền hình trực tiếp tại Thư Viện Dinh Tông Tòa.
Khởi đầu bài huấn dụ, Đức Thánh Cha nói:
Anh chị em thân mến, chào buổi sáng!
Hôm nay, chúng ta mừng trọng thể lễ Chúa Thăng Thiên. Đoạn Kinh thánh hôm nay (x. Mt 28,16-20) cho chúng ta thấy các Tông đồ tụ họp tại Galilê, “trên ngọn núi mà Chúa Giêsu đã chỉ cho họ” (c. 16). Tại đây, diễn ra cuộc gặp gỡ cuối cùng của Chúa Phục sinh với các môn đệ của Người.
Và Đức Thánh Cha chỉ ra những biến cố mà Thầy Giêsu đã thực hiện trên núi trong suốt hành trình dương thế của Người:
Trên núi, Chúa Giêsu đã công bố các mối phúc (x. Mt 5,1-12); trên núi, Chúa Giêsu đã nghỉ ngơi để cầu nguyện (x. Mt 14:23); và ở đó, Người đón tiếp đám đông dân chúng và chữa lành những người bệnh tật (x. Mt 15:29). Nhưng lần này, trên núi, không còn là Vị Tôn Sư dạy dỗ, hành động và chữa lành nữa, mà chính Người yêu cầu các môn đệ rao giảng và hành động. Người giao phó cho họ nhiệm vụ tiếp tục công việc của mình.
Ngài trao phó cho họ sứ mạng đến với muôn dân. Người nói: Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, rửa tội cho họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần, dạy họ tuân giữ tất cả những gì Thầy đã truyền cho anh em” (c. 19-20). Nội dung của sứ mạng được giao phó cho các Tông đồ là: loan truyền, rửa tội, chỉ dạy và bước đi trên con đường của Thầy Chí Thánh, nghĩa là Tin Mừng sự sống. Sứ điệp cứu độ này trước hết muốn nói đến việc làm chứng. Không làm chứng, người ta không thể loan báo được điều gì. Sứ điệp này cũng dành cho tất cả chúng ta, những môn đệ ngày nay, những người được kêu gọi giải thích về đức tin của chính mình. Đứng trước nhiệm vụ thách đố như thế, chúng ta nghĩ về những yếu đuối của chúng ta, chúng ta cảm thấy bất xứng, cũng giống như điều mà chắc chắn các Tông Đồ đã cảm thấy. Nhưng chúng ta không được nản lòng, chúng ta cần nhớ những lời thầy Giêsu nói với chúng ta trước khi Người lên trời: “Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế (c. 20).
Lời hứa này đảm bảo với chúng ta sự hiện diện liên tục và đầy an ủi của thầy Giêsu giữa chúng ta. Nhưng chúng ta nhận ra sự hiện diện này như thế nào đây? Nhờ Thánh Thần của Người, Đấng dẫn dắt Giáo hội bước đi trong lịch sử như là người bạn đồng hành của tất cả mọi người. Thần khí ấy, được gửi bởi Chúa Kitô và Chúa Cha, hoạt động để xóa bỏ tội lỗi và thánh hóa tất cả những ai hối cải, mở lòng tin tưởng vào món quà của Người. Với lời hứa ở cùng chúng ta cho đến tận thế, Chúa Giêsu bắt đầu cách hiện diện trong cách thế như là Đấng Phục sinh: một sự hiện diện được tỏ lộ trong Lời, trong các Bí tích, trong những hành động liên lỉ và bề trong của Chúa Thánh Thần. Lễ Thăng Thiên cho chúng ta biết rằng Chúa Giêsu, dù lên trời để ngự trong vinh quang Chúa Cha, vẫn luôn luôn ở giữa chúng ta: và từ nơi ấy phát sinh sức mạnh, niềm vui và sự kiên tâm của chúng ta.
Xin Đức Trinh Nữ Maria che chở và đồng hành trên những bước đường của chúng ta. Từ nơi Mẹ, chúng ta học được sự ngọt ngào và can đảm để trở nên những nhân chứng của Chúa Kitô Phục Sinh giữa lòng thế giới.
Sau đây, kính mời quý vị cùng hiệp ý với Đức Thánh Cha trong lời kinh Lạy Nữ Vương Thiên Đàng.
Trần Đỉnh, SJ
2020
Đức Thánh Cha (24/5): Xin Đức Mẹ Phù Hộ hướng dẫn Trung Hoa
Sau khi đọc Kinh Lạy Nữ Vương Thiên Đàng, Đức Thánh Cha đã hướng về Trung Hoa và cầu nguyện cho các tín hữu tại đất nước này đang trong thời kỳ khó khăn. Trong lời chuyển cầu của Mẹ Phù Hộ các giáo hữu, Đức Thánh Cha cũng nhớ đến những ai đang ra sức bảo vệ người nghèo, bảo vệ hòa bình và ngôi nhà chung của chúng ta. Ngài cũng gửi lời chào thân ái đến các nam nữ tu sĩ dòng Salêgiêng.
Hướng về Trung Hoa, Đức Thánh Cha nói: Chúng ta cùng hiệp ý với các tín hữu tại Trung Hoa, hôm nay cử hành lễ kính đặc biệt Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ Phù Hộ các giáo hữu và là quan thầy bảo trợ của đất nước Trung Hoa, được tôn kính tại đền thánh Sheshan ở Thượng Hải. Chúng ta trao phó cho sự hướng dẫn và bảo trợ của Mẹ Thiên Đàng tất cả các mục tử, các tín hữu của Giáo Hội Trung Hoa trong đất nước rộng lớn ấy, để họ mạnh mẽ trong đức tin, vững vàng trong tình hiệp nhất huynh đệ, trở nên những chứng nhân đầy niềm vui và người cổ võ đức ái và huynh đệ, cũng như trở nên những công dân tốt.
Ngỏ lời với các tín hữu tại Trung Hoa, Đức Thánh Cha nói: Các anh chị em Công giáo Trung Hoa thân mến, tôi muốn đảm bảo với anh chị em rằng toàn thể Giáo hội hoàn vũ, mà anh chị em là một phần không thể thiếu, chia sẻ niềm hy vọng và nâng đỡ anh chị em trong những thử thách cuộc đời. Giáo Hội đồng hành với anh chị em trong lời nguyện xin Thánh Thần đổ tràn trên anh chị em để anh chị em có thể chiếu tỏa ánh sáng và vẻ đẹp Tin mừng, sức mạnh cứu độ của Thiên Chúa cho tất cả những ai tin. Và để bày tỏ một lần nữa lòng yêu mến chân thành và mãnh liệt của mình, tôi ban Phép Lành Đặc Biệt cho tất cả anh chị em, xin Đức Maria gìn giữ anh chị em luôn mãi.
Đức Thánh Cha cũng hướng tới những ai đang lao tác cho hòa bình, cho việc phục vụ người nghèo trong thời điểm khó khăn này. Ngài nói: chúng ta phó thác nơi lời chuyển cầu của Đức Mẹ Phù Hộ cho tất cả các môn đệ của Đức Kitô và tất cả những ai thành tâm thiện chí, những người đang làm việc với tất cả đam mê và dấn thân cho hòa mình, cho việc đối thoại giữa các quốc gia, cho việc phục vụ người nghèo, bảo vệ thiên nhiên, và chiến thắng mọi bệnh tật thể xác, con tim và linh hồn, tại mọi trên thế giới trong những thời khắc khó khăn này.
Hôm nay cũng là ngày thế giới dành riêng cho Truyền thông xã hội, và chủ đề của năm nay là kể chuyện. Ước gì sự kiện này khuyến khích chúng ta kể lại và chia sẻ những câu chuyện mang tính xây dựng, giúp chúng ta hiểu rằng tất cả chúng ta là một phần của một câu chuyện lớn lao hơn, và có thể nhìn về tương lai với niềm hy vọng, nếu chúng ta thực sự quan tâm đến nhau như anh chị em.
Trong ngày lễ Mẹ Phù Hộ các giáo hữu, Đức Thánh Cha cũng gửi lời chào đầy thân tình và yêu mến đến các tu sĩ nam nữ dòng Salegiêng. Ngài nhớ đến họ với lòng biết ơn vì những huấn luyện thiêng liêng mà Ngài đã nhận được từ những người con của thánh Don Bosco.
Đức Thánh Cha cũng nhắc tới chuyến viếng thăm mà ngài dự định thực hiện tại Acerra. Ngài nói: Hôm nay tôi rất muốn đến Acerra, để nâng đỡ đức tin của các tín hữu, cũng như cổ võ nỗ lực của những ai đang làm việc để chống lại thảm kịch ô nhiễm tại vùng đất được gọi là vùng đất lửa ấy. Chuyến thăm của tôi đã bị hoãn lại; Nhưng tôi muốn gửi lời chào, lời chúc phúc và khích lệ của tôi đến Đức Giám mục, các linh mục, các gia đình và toàn thể cộng đồng giáo phận.
Đức Thánh Cha cũng nhấn mạnh rằng: hôm nay chúng ta kỷ niệm 5 năm ngày Thông điệp Laudato Si’, như là lời nhắc nhở chúng ta chú ý đến việc bảo vệ và chăm sóc trái đất, ngôi nhà chung của chúng ta và quan tâm đến người nghèo. Ngài cám ơn sáng kiến của Bộ Phục vụ và Phát triển Con người toàn diện và công bố rằng: “tuần lễ Laudato Sì”, mà chúng ta vừa tổ chức, sẽ phát triển thành một năm đặc biệt để suy ngẫm về thông điệp Laudato Sì, từ ngày 24/05/2020-24/05/2021. Tôi mời gọi tất cả những ai thành tâm thiện chí tham gia vào việc chăm sóc ngôi nhà chung cũng như những anh chị em dễ tổn thương nhất của chúng ta.
Chúc mọi người một ngày Chúa nhật an lành. Xin đừng quên cầu nguyện cho tôi.
Sau khi kết thúc, các tín hữu ở quảng trường thánh Phêrô đã vỗ tay và mong đợi Đức Thánh Cha ban phép lành cho họ. Một lát sau, tại cửa sổ của Điện Tông Tòa, Đức Thánh Cha đã vẫy tay chào các tín hữu và ban phép lành cho mọi người hiện diện. Một hình ảnh mà từ rất lâu rồi người ta không được chứng kiến từ khi đại dịch xảy ra. Chúng ta tiếp tục cầu nguyện cho thế giới, nhất là những bệnh nhân, các y bác sĩ đang phải đối diện với cuộc chiến chống virus corona này.
Trần Đỉnh, SJ
