2020
Một Người Có Thể Lãnh Nhận Bí Tích Xức Dầu Nếu Đã Chết Không?
Một Người Có Thể Lãnh Nhận Bí Tích Xức Dầu Nếu Đã Chết Không?
Các bí tích là để cho người sống (sacramenta sunt propter hominem); và do đó, không thể được ban cho người chết. Chúa Giêsu đã ban các bí tích cho Giáo Hội để chuyển thông ân sủng ở các giai đoạn khác nhau của cuộc đời. Bí tích Rửa Tội, bí tích Thánh Thể và Thêm Sức là các bí tích khai tâm của một khởi đầu mới. Bí tích Thánh Thể được khuyến khích lãnh nhận trong suốt cuộc đời làm lương thực cho linh hồn. Giống như bạn cần thức ăn vật chất để lớn lên, và mạnh khỏe, linh hồn cũng cần Mình và Máu, linh hồn và thiên tính của Chúa Giêsu để duy trì sức khỏe thiêng liêng.
Các bí tích chữa lành, Giải Tội và Xức Dầu Bệnh Nhân (gọi chung là các bí tích của lòng thương xót) cũng rất quan trọng trong các giai đoạn khác nhau của cuộc đời. Khi linh hồn lâm bệnh do tội lỗi, bí tích Giải Tội được ban cho để chữa lành nó. Khi đau yếu, thân xác được xức dầu để cầu nguyện cho cả sự chữa lành thể lý lẫn thiêng liêng.
Các bí tích của ơn gọi là Truyền Chức Thánh và Hôn Phối. Nơi bí tích hôn phối, họ bước đi tay trong tay bên nhau. Các đôi vợ chồng kết hôn hỗ trợ các linh mục bằng cách họ làm chứng cho Chúa Kitô trên trần gian qua lời thề trung thủy của mình. Các linh mục phân phát các mầu nhiệm của Thiên Chúa qua các bí tích để giúp các cặp vợ chồng nên thánh, sinh con cái và giáo dục chúng trong đức tin Công Giáo.
Không một bí tích nào có thể được ban cho một người đã chết; nhưng thế nào là chết? Phải chăng là khi tim ngừng đập? Hay khi sóng não không còn hoạt động nữa? Thánh Tô-ma A-qui-nô, nhà thần học vĩ đại thế kỷ mười ba, đã lập luận rằng người ta có thể chắc chắn một cách hợp lý rằng linh hồn vẫn còn trong cơ thể trong khi cơ thể vẫn còn ấm. Giáo huấn của Giáo Hội Công Giáo dạy rằng chết là sự tách rời linh hồn khỏi thân xác. Dấu hiệu cho thấy linh hồn đã rời khỏi thân xác là những cái xác co cứng (các khớp co cứng lại) và thối rữa (da thịt bị phân rã). Chừng nào các xác chết chưa như vậy, nghĩa là, cơ thể vẫn còn ấm và không có mùi thối rữa, thì bí tích Thống Hối và Xức Dầu có thể được ban cho một cách có điều kiện với những lời kèm theo, “Nếu con còn sống, cha tha tội cho con…” Mặt khác, nếu chạm vào cơ thể thấy lạnh, thì trong nghi thức xức dầu, những lời cầu nguyện đặc biệt dành cho người chết được đọc to lên, an ủi những người còn sống xung quanh người chết. Nhưng một khi cái chết đã xảy ra, xác chết chỉ có thể được làm phép và chuẩn bị cho việc chôn cất theo nghi thức Kitô giáo; Các bí tích, giống như xức dầu, chỉ có thể được ban trong khi linh hồn còn ở trong thân xác, nghĩa là, trong khi người đó vẫn còn sống. Ơn tha tội chỉ có thể xảy ra trong khi vẫn còn sự sống trong cơ thể. Vào lúc chết, việc phán xét riêng sẽ diễn ra và linh hồn trực tiếp lên thiên đàng, xuống hỏa ngục hoặc vào luyện ngục.
Vì các bí tích là để cho người sống, nên không ai đợi cho cái chết sắp xảy ra hoặc chết rồi mới gọi linh mục. Thay vào đó, linh mục nên được thông báo trong lúc người ta đau bệnh để có thể ban các bí tích và họ có thể được chuẩn bị tâm hồn để gặp Chúa khi họ được Chúa gọi về qua cái chết. Thật là một niềm an ủi lớn nếu người bệnh đã cảm nghiệm được Chúa trong suốt thời gian đau bệnh, để được Ngài gọi về phút cuối cuộc đời. Chết không đáng sợ cho lắm.
2020
Đặc sủng dòng Mến Thánh Giá
Đặc sủng dòng Mến Thánh Giá
“Đặc sủng của các Đấng sáng lập biểu lộ như là một kinh nghiệm về Thần Khí, được truyền lại cho các môn đệ của họ để sống, giữ gìn, đào sâu và không ngừng phát triển trong sự hài hòa với Thân Thể Chúa Kitô đang không ngừng lớn lên.” (MR 11)
ĐẶC SỦNG DÒNG MẾN THÁNH GIÁ[1]
- Đặc Sủng Của Các Dòng Tu
Đặc sủng được coi là ân huệ mà Thần Khí ban cho mỗi người hay mỗi Hội dòng vì lợi ích chung. Văn kiện của Bộ Các Hội Dòng Tận Hiến và các Tu Đoàn Tông Đồ và Bộ Giám mục đã nói về đặc sủng của đấng sáng lập như sau: “Đặc sủng của các Đấng sáng lập biểu lộ như là một kinh nghiệm về Thần Khí, được truyền lại cho các môn đệ của họ để sống, giữ gìn, đào sâu và không ngừng phát triển trong sự hài hòa với Thân Thể Chúa Kitô đang không ngừng lớn lên.” (MR 11) Đây là một cảm nghiệm đặc biệt về Thần Khí của Đấng sáng lập; qua đó, giúp vị này nhận thức một hướng đi mới trong đường nên thánh và hoạt động tông đồ.[2] Như thế, đoàn sủng của mỗi dòng tu bao gồm hai khía cạnh: linh đạo (con đường nên thánh riêng của Hội dòng) và sứ vụ.
Mỗi Hội dòng chỉ nhận được một đặc sủng, được ban qua Đấng sáng lập. Đấng sáng lập chia sẻ Đặc sủng (đoàn sủng)[3] này cho cả Hội dòng để mọi thành viện cùng sống đặc sủng ấy và làm phong phú thêm đặc sủng ấy qua dòng thời gian. Đặc sủng là yếu tố chính tạo nên sự khác biệt giữa hội dòng này với hội dòng khác. Đặc sủng chính là sức sống, là nguồn mạch của mọi hoạt động tông đồ của mỗi hội dòng. Một hội dòng mà không sống theo đặc sủng của đấng sáng lập sẽ đánh mất đi căn tính của nó, và như một hệ quả, mất đi phương hướng của nó. Chìa khóa cho sự phát triển của mỗi hội dòng là trung thành với đặc sủng của đấng sáng lập. Bởi đó, Đức Giáo hoàng Phaolô VI đã kêu gọi các cộng đoàn tu trì phải trung thành với tinh thần, với những ý hướng Phúc âm và gương thánh thiện của đấng sáng lập. Chính ở đây mà các hội dòng tìm thấy nguồn gốc của họ (x. ET 11-12).
Linh Đạo là con đường thiêng liêng, con đường nên thánh. Trong các dòng tu, mỗi hội dòng đều có một linh đạo riêng, một con đường nên thánh riêng do vị sáng lập đề ra qua ơn soi sáng của Chúa Thánh Thần. Các Vị sáng lập hoặc dựa vào Tin Mừng để hướng dẫn đời sống thiêng liêng, hoặc chọn một mẫu gương như Mẹ Maria, thánh Giuse, thánh Phaolô,… hoặc chọn sống một mầu nhiệm nào đó để nên thánh, như mầu nhiệm Nhập Thể, mầu nhiệm Truyền Tin, mầu nhiệm Thập giá, mầu nhiệm Thánh Thể,…
Mỗi dòng có sứ vụ/sứ mệnh riêng biệt. Đây chính là mục đích của vị sáng lập khi thành lập dòng. Mỗi dòng được thành lập để đáp ứng nhu cầu nào đó của Giáo hội hoặc xã hội: dòng Lasan: giáo dục; dòng Gioan Thiên Chúa: phục vụ bệnh nhân; Tu hội Xuân Bích: đào tạo linh mục; dòng Phaolô Thiện Bản: rao giảng Đức Kitô bằng sách báo và các phương tiện truyền thông,… Đặc sủng luôn gắn liền với sứ mệnh truyền giáo, mỗi hội dòng có một sứ mệnh truyền giáo riêng biệt, tùy theo đặc sủng của mình (x. VC 19, 72, 46; PC 10, 20; Can 673, 674, 676, 677).
Đức Gioan Phaolô II cũng yêu cầu các hội dòng chú tâm vào việc đào tạo theo đoàn sủng riêng biệt của họ, để họ có thể thực hiện sứ mệnh loan báo Tin mừng tùy theo đoàn sủng của mình (x. VC 68, 72). Các hội dòng chỉ có thể trung thành với đặc sủng nguồn gốc khi họ biết thế nào để đọc được những dấu chỉ của thời đại và biết thế nào để đáp ứng lại những nhu cầu của Giáo hội và xã hội trong thời hiện tại. “Các Bề trên và các phần tử hãy trung thành duy trì sứ mệnh và các công tác riêng của dòng. Tuy nhiên, họ hãy biết thích ứng chúng cách khôn ngoan chiếu theo nhu cầu của thời thế và địa phương, kể cả bằng việc sử dụng các phương tiện mới mẻ và thích ứng.” (Can 677 §1). Dù nhu cầu mục vụ cấp bách thế nào đi nữa, chúng ta luôn phải nhớ rằng sự đóng góp tốt nhất mà một hội dòng có thể đem lại cho Giáo hội là sự trung thành với đoàn sủng của họ. Hội dòng càng hiện diện theo đoàn sủng của mình, càng đem lại nhiều hoa trái (x. FLC 61; MR 49- 50).
Trung thành mà không thích nghi vào bối cảnh mới, sẽ dẫn đến chỗ suy tàn; đổi mới mà không bám vào gốc của nó, sẽ dẫn đến chỗ lập nên một hội dòng mới. Sai lầm có thể xảy ra là khi chúng ta “hiện đại hóa” đặc sủng, thay mới hoàn toàn để cho nó hấp dẫn hơn, hoặc sử dụng đặc sủng của đấng sáng lập để phục vụ cho chính chúng ta, để biện minh cho những quyết định và hành động của chúng ta. Điều này có thể là tốt, nhưng nó không phải là mục đích của đấng sáng lập. Nó có thể phá đi những gì đã được dày công xây dựng và làm mất đi đặc tính và căn tính của hội dòng.[4] Mỗi hội dòng cũng có thể có thêm một số hoạt động khác với sứ vụ chuyên biệt của mình, nhưng không nên để cho những hoạt động này trở thành những hoạt động chính. Nên để cho một số phần tử nào đó phụ trách mà thôi. Trong bối cảnh xét lại các hình thức hoạt động tông đồ, văn kiện “Những yếu tố cốt yếu của đời tu” (số 27) đã đưa ra những khuyến cáo về ba cơn cám dỗ khi xây dựng kế hoạch hoạt động tông đồ: (i) muốn ôm đồm mọi hình thức hoạt động tông đồ, (ii) bỏ đi những hình thức hoạt động truyền thống theo đặc sủng của dòng, để chạy theo những hoạt động đáp ứng nhu cầu xã hội tức thời, nhưng lại không hợp với đặc sủng của dòng, (iii) phân tán nhân lực dòng vào những hoạt động ngắn hạn, chỉ liên hệ đến đặc sủng một cách mơ hồ; do đó, với thời gian, tính cách đồng nhất trong việc thực hiện đặc sủng của dòng sẽ bị tổn thương.[5] Muốn có đổi mới, chúng ta cần biết chúng ta là ai. Mỗi hội dòng phải ra sức giữ lấy căn tính của mình để khỏi rơi vào tình trạng mập mờ, không xác định được vị trí và nhiệm vụ của mình trong đời sống Giáo hội (x. FLC 46).
Theo tông huấn về Đời sống thánh hiến, căn tính của đời sống thánh hiến là thánh hiến (mục đích của thánh hiến là nên thánh qua việc bắt chước Đức Kitô sống trinh sạch, khó nghèo và vâng lời) và sứ sụ (x. VC 32- 35, 76). Mỗi dòng tu cũng có căn tính riêng, được định hình bởi Đặc sủng của Đấng sáng lập: Linh đạo (con đường nên thánh) và sứ vụ. Như vậy, các tu sỹ đều có chung một con đường nên thánh: bắt chước Đức Kitô, trở nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô qua việc sống 3 Lời Khuyên Phúc Âm. Mỗi dòng tu lại có một con đường nên thánh riêng (linh đạo).
- Đặc Sủng Dòng Mến Thánh Giá
- Linh đạo:
Đức cha Lambert de la Motte lập một Hội dòng mang tên Mến Thánh Giá. Đây cũng chính là linh đạo của dòng. Để sống linh đạo này, các nữ tu Mến Thánh Giá phải hướng trọn lòng trí và cuộc sống vào Đức Giêsu-Kitô Chịu- Đóng- Đinh là đối tượng duy nhất.
Lúc mới lên 9 tuổi, khi suy niệm sách Gương Phước, giải thích về câu Tin Mừng: “Ai muốn theo Ta, hãy từ bỏ chính mình, vác thập giá hằng ngày mà theo Ta” (Lc 9, 23), Đức cha Lambert đã được ơn Chúa thúc đẩy để chọn con đường nên thánh bằng con đường khổ giá. Đây chính là một cảm nghiệm/ kinh nghiệm về Thần Khí của Đức cha Lambert. Từ đó, Đức Giêsu-Kitô Chịu- Đóng- Đinh đã dần dần lôi cuốn, chiếm đoạt tâm trí, lối sống, hoạt động tông đồ của ngài và thôi thúc ngài lập nên một Hội dòng quy tụ những người yêu mến Thánh Giá Chúa Giêsu.[6]
Đức cha Lambert quyết tâm noi theo Đức Giêsu-Kitô: bị bắt bớ, sỉ nhục, chế giễu, đánh đòn, vác thập giá ….nhưng vẫn không kêu ca, không hề thốt ra một lời, như con chiên hiền lành bị đem đi giết (x. Is 53,7-8). Đức cha Lambert quả quyết: “Mọi ân sủng và thánh đức nơi hết thảy mọi người đã qua đời trong các thế kỷ trước đây, hoặc đang sống trong hiện tại, hoặc sẽ sinh ra cho đến tận thế, là hoa quả của Thánh Giá Đức Giêsu-Kitô mà thôi.”[7] Đức Cha Lambert còn nhấn mạnh đây là con đường nên thánh đúng nhất mà tại sao “nhiều người đi tìm ở đâu đâu những phương thế dẫn tới sự công chính, chứ không tìm nơi thánh giá.”[8]
Trong cuộc hành trình truyền giáo ở Viễn đông, lúc dừng chân ở thủ đô Thái Lan, ngài đã tĩnh tâm 40 đêm ngày và đã trải qua một kinh nghiệm thiêng liêng rất đặc biệt: ngài muốn chứng tỏ một tình yêu phi thường đối với Chúa Giêsu, thông dự vào cuộc thương khó của Chúa bằng việc đánh tội hằng ngày, “để long trọng suy tôn hy lễ Thánh Giá cao cả của Chúa và cũng để hoàn tất điều duy nhất còn thiếu nơi hy lễ bàn thờ, đó là phải có sự đau khổ. Đây là bí quyết mới mẻ làm hài lòng Đức Giêsu-Kitô.” Ngài sống khiêm nhường; luôn cầu nguyện, chiêm niệm về con đường khổ giá; thường xuyên đánh tội, chế ngự thân xác, ăn chay, kiêng thịt và rượu để đền tội và đồng lao cộng khổ với Chúa trong công cuộc cứu độ. Ngài không ngừng tạ ơn Chúa khi gặp đau khổ và hăm hở bước theo Chúa trên con đường khổ giá để làm sáng danh Chúa. Ngài hy sinh cầu nguyện cho lương dân được ơn trở lại với Chúa.[9]
Đức cha Lambert không chỉ vui vẻ đón nhận những đau khổ Chúa gửi đến, mà ngài còn làm thay cho Chúa, tạo ra những đau khổ bằng cách cho Chúa mượn thân xác để Chúa tiếp tục bị sỉ nhục, chế giễu, vác thập giá[10]:
– Khi còn làm nghề luật sư, ngài bị ngã ngựa trên đường đi ăn tiệc cưới, dù mũ đội đầu bị bay mất và trang phục bị vấy bẩn, ngài vẫn để vậy và bước vào phòng tiệc cưới dưới cái nhìn khinh bỉ của mọi người.
– Có lần ngài cải trang thành người nghèo để đi ăn xin trong suốt một ngày với bao khinh bỉ và sỉ nhục của những người qua lại.
– Để chuẩn bị lãnh chức linh mục, ngài đã thực hiện một cuộc hành hương “khổ nhục” từ Caen đến Rennes, khoảng 120 km: ngài cải trang thành người quê mùa, ăn mặc rách rưới để được người ta khinh chê, sỉ nhục…
– Vì bác ái, ngài giúp một thiếu nữ nghèo đem giấy tờ cho thừa phát lại. Ông này hiểu lầm ngài là một tay trung gian ăn huê hồng. Ngài không cải chính, nhưng rất vui mừng vì bị hiểu lầm như thế.
Đức cha Lambert, trong cơn đau khủng khiếp lúc hấp hối, không ngớt lập lại lời nguyện: “Lạy Chúa, xin gia tăng sự đau đớn, xin ban thêm sức chịu đựng cho con”.[11] Ngài mong được chết một cách đau đớn vì Chúa Kitô.[12]
Đức cha Lambert đã lập nên Hội dòng những người yêu mến Thánh Giá để ‘chuyên chú tưởng nhớ và noi theo cuộc Thương Khó của Chúa Giêsu-Kitô mỗi ngày.”[13] Chính ngài đã sống linh đạo Mến Thánh Giá này và trở thành mẫu mực cho con cái của ngài.[14]
Tóm lại, để sống linh đạo Mến Thánh Giá: “Đức Giêsu-Kitô Chịu- Đóng- Đinh phải là đối tượng duy nhất của lòng trí tôi”
– Yêu mến Thánh Giá, hằng ngày suy niệm/chiêm niệm về con đường khổ giá mà Chúa đã đi từ lúc Chúa bị bắt đến lúc Chúa chịu chết trên thập giá (bị bắt như một tội nhân, bị phản bội, bị kết án bất công, bị khạc nhổ, sỉ nhục, đội mão gai, chế giễu, đánh đòn, vác thập giá lên núi Sọ, bị ngã nhiều lần, bị đóng đinh và chết trên thập giá).
– Noi theo/bắt chước Đức Giêsu-Kitô trên con đường khổ giá, làm thay cho Chúa, cho Chúa mượn thân xác để tiếp tục hy sinh bằng cách ăn chay hãm mình, chế ngự thân xác, vui vẻ chấp nhận những đau khổ về tinh thần (bị hiểu lầm, chống đối, sỉ nhục, chỉ trích, …) cũng như những đau khổ thể xác (phục vụ quên mình, bệnh tật, lao nhọc,….) để Chúa tiếp tục dùng con đường khổ giá cứu chuộc nhân loại.
Như vậy, càng bắt chước Đức Kitô, càng nên giống Đức Kitô, càng trở nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô qua con đường khổ giá để cứu chuộc nhân loại, càng thánh thiện.[15]
Như vậy, từ chiêm niệm trong lòng dẫn tới hành động bên ngoài và giống như Đức cha Lambert[16], các nữ tu Mến Thánh Giá có thể nói như thánh Phaolô: “Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Kitô sống và hoạt động trong tôi” (Gl 2, 20) và “hoàn tất nơi thân xác tôi những gì còn thiếu trong những đau khổ Chúa Giêsu phải chịu vì thân mình Người là Hội thánh” (Cl 1, 24).
Đối với dòng Mến Thánh Gia, chiêm niệm và truyền giáo luôn gắn chặt với nhau. Khi sống linh đạo Mến Thánh Giá (suy niệm/chiêm niệm và hy sinh hãm mình), các nữ tu Mến Thánh Giá luôn hướng đến việc cầu xin Thiên Chúa ban ơn ăn năn trở lại cho lương dân (sứ vụ số 1).
- Sứ vụ
Mục đích/sứ vụ lập dòng được Đức cha Lambert ghi vào trong Luật Tiên Khởi dòng nữ Mến Thánh Giá Chúa Giêsu-Kitô, chương 3:
- Tất cả những người đi theo nếp sống này phải liên lỉ kết hợp nước mắt, việc suy gẫm cầu nguyện và hãm mình đền tội với công nghiệp của Đức Kitô, để cầu xin Thiên Chúa ban ơn ăn năn trở lại cho lương dân trong ba miền truyền giáo thuộc quyền các vị đại diện Tông Tòa, cách riêng ở Đàng Ngoài.
- Dạy các thiếu nữ, giáo cũng như lương, những điều nữ giới cần biết. Nếu vì tình huống hiện nay xảy đến cho đạo Thánh không thể làm được, chị em hãy nhớ rằng khi hoàn cảnh cho phép, thì đó là một trong những nhiệm vụ chính của mình.
3. Săn sóc những phụ nữ, thiếu nữ đau ốm bệnh tật cả giáo lẫn lương. Nhờ cơ hội đó khuyên bảo họ lo phần rỗi và trở lại với Chúa.
- Cố gắng rửa tội cho những trẻ nhỏ lâm cơn nguy tử, kẻo chúng chết mà không được nhận ơn Thánh tẩy.
- Dùng mọi cách kêu gọi những người phụ nữ và thiếu nữ trụy lạc trở về nếp sống lương thiện.
Qua mục đích số 2, số 3 và số 5, Đức cha Lambert đã chọn đối tượng phục vụ của Hội dòng là phụ nữ và thiếu nữ lương cũng như giáo: dạy dỗ, săn sóc và cải hóa họ. Ngài nhấn mạnh đó là một trong những nhiệm vụ chính của Hội dòng (số 2). Đây chính là nét tạo nên căn tính của Hội dòng, tạo nên sự khác biệt với các dòng khác. Có thể nói đặc sủng/đoàn sủng của dòng Mến Thánh Giá là dạy dỗ, săn sóc và cải hóa các phụ nữ và thiếu nữ lương cũng như giáo. Nói các khác, dòng Mến Thánh Giá được lập nên là để phục vụ các phụ nữ và thiếu nữ lương cũng như giáo.
Đức cha Lambert còn hiểu rõ hoàn cảnh của xã hội Việt nam đang và sẽ bị cấm cách đạo, nên ngài nhắn nhủ “khi hoàn cảnh cho phép” thì phải chú tâm vào sứ vụ chính này. Đây cũng là điều mà công đồng Vatican II kêu gọi các dòng tu phải khám phá lại tinh thần và mục đích của Đấng sáng lập (x. PC 2b). Thư Đức Thánh Cha Nhân Dịp Năm Về Đời Sống Thánh Hiến 2015 kêu gọi những người sống đời thánh hiến “dấn thân canh tân đoàn sủng, kiểm điểm sự trung thành đối với sứ mạng đã được ủy thác, tiếp tục làm phong phú và thích nghi, nhưng không đánh mất đi căn tính của mình.
Chính Đức cha Lambert đã thi hành sứ vụ này:[17]
– Sau khi tốt nghiệp trung học, ngài đã tham gia Hiệp Hội Thánh Thể với một trong những mục đích của Hiệp Hội là “giúp hoàn lương những thiếu nữ trụy lạc.”
– Sau khi chịu chức linh mục năm 1655, ngài thành lập một “trung tâm tiếp đón những phụ nữ hư hỏng.”
Các nữ tu Mến Thánh Giá từ buổi đầu đã chú tâm vào phục vụ phụ nữ và thiếu nữ lương cũng như giáo. Theo bài viết “350 năm Dòng Mến Thánh Giá: Sứ mạng Dòng Mến Thánh Giá, 16/06/2020”:
– Một đóng góp hữu ích của các nữ tu Mến Thánh Giá là công việc dạy dỗ các thiếu nữ. Trong thư ngày 02/06/1830 gửi cho Hội Truyền Bá Đức tin, Đức Cha Taberd cho biết đang có 16 Nhà dòng Mến Thánh Giá, “tất cả các nhà này sẽ đón nhận các người cùng giới để dạy dỗ và đào tạo họ các công việc thích hợp”. Những người trẻ này, sau khi về lại nhà mình, sẽ trở thành những người mẹ tốt của gia đình, và qua gương sáng cũng như qua những lời dạy dỗ của họ, sẽ là gương mẫu và sự nâng đỡ cho bạn hữu.
– Trong những lúc đồng bào gặp cảnh đói khổ vì thiên tai, các nữ tu hy sinh một phần nhà của mình để đón tiếp các phụ nữ đau yếu và các trẻ mồ côi.
– Đức Cha Retord kể lại trong thư gửi cho cha Laurent ở Lyon vào tháng 01/1846: “Họ đi thăm viếng và an ủi những người đau yếu, giúp chúng tôi dạy dỗ các phụ nữ dự tòng.”
Trước năm 1975, các Hội dòng Mến Thánh Giá đã có nhiều cơ sở để phục vụ đối tượng này. Sau năm 1975, tất cả các phương tiện để thi hành sứ vụ của các dòng tu đã được quốc hữu hóa như: trường học, bệnh viện, nhà dưỡng lão, nhà cô nhi, trại phong, …Hoạt động tông đồ của các dòng tu bị hạn chế tối đa. Bên cạnh đó, đời sống kinh tế nói chung gặp rất nhiều khó khăn. Trong bối cảnh đó, các dòng tu chỉ cố gắng sao cho có thể sống còn. Không còn phương tiện để thi hành sứ vụ chính, các tu sĩ làm bất cứ công việc gì để có thể tồn tại. Đây thực sự là giai đoạn khủng hoảng về căn tính của các dòng tu. Trải qua một giai đoạn dài như thế, các dòng tu có thể dần dần mất ý thức về sứ vụ chính của mình, những tu sĩ trong giai đoạn này không thể sống, giữ gìn, đào sâu và không ngừng phát triển đoàn sủng của mình như định nghĩa về đặc sủng được nói đến ở trên. Và như vậy, họ không thể truyền lại cho thế hệ kế tiếp một cách chính xác và trung thành. Và nếu các dòng tu còn ý thức về sứ vụ, nhưng điều kiện không cho phép, các dòng tu cũng gặp rất nhiều khó khăn để thi hành sứ vụ riêng biệt của mình. Và hậu quả là nhiều dòng tu ngày nay thi hành những sứ vụ giống nhau. Nhiều hội dòng cố gắng thích nghi vào trong bối cảnh mới, nhưng cũng không dễ dàng. Điều quan trọng là thích nghi vào môi trường mới thế nào mà vẫn giữ được căn tính của Hội dòng. Đối với các Hội dòng Mến Thánh Giá, giai đoạn hiện nay là thời điểm mà Đức cha Lambert đã tiên đoán “khi hoàn cảnh cho phép”, giúp các nữ tu Mến Thánh Giá chú tâm vào sứ vụ chính của họ.
Đoàn sủng của dòng Mến Thánh Giá là một hồng ân lớn lao Chúa ban cho Giáo hội Việt Nam. Các nữ tu dòng MTG đã sinh ra và lớn lên trong lòng Giáo hội Việt Nam; cùng với Giáo hội Việt Nam trải qua những thăng trầm, với 350 năm hiện diện, “liên lỉ kết hợp nước mắt” như chính lời Đức cha Lambert đã viết trong Luật Tiên Khởi, có lúc phải mục nát đi để sản sinh những hoa trái như ngày hôm nay. Có thể nói rằng lịch sử Dòng MTG gắn liền với lịch sử của Giáo Hội Việt Nam. Ngày nay, có 30 hội dòng MTG với các nữ tu hiện diện khắp nơi trong nước và ngoài nước. Nhiều dòng tu phát xuất từ các dòng MTG hay lúc đầu được các nữ tu MTG giúp hình thành và đào tạo như dòng Con Đức Mẹ Nam Vang, Thừa Sai Đức Mẹ Trinh Vương, Con Đức Mẹ Đi Viếng, Con Đức Mẹ Mân Côi, Con Đức Mẹ Vô Nhiễm, Khiết Tâm Đức Mẹ Nha Trang, Nữ Vương Hòa Bình,…
Lm. JB. Trần Hữu Hạnh, csf
[1] Xin chia sẻ về Đặc sủng của dòng Mến Thánh Giá của một người nhìn từ bên ngoài. Người viết có cơ duyên giúp cho một số dòng Mến Thánh Giá, nên đọc được một số cuốn sách về dòng Mến Thánh Giá như: Dòng Mến Thánh Giá- Những Năm Đầu Đỗ Quang Chính, SJ; Đặc sủng Mến Thánh Giá (Lm. Đào Quang Toản) và nhất là cuốn Tiểu Sử- Bút Tích của Đức Cha Phêrô- Maria Lambert De La Motte của Nhóm Nghiên Cứu Linh Đạo Mến Thánh Giá, 1998. Đây là những tài liệu được sử dụng để viết bài này.
[2] X. Phan Tấn Thành. Giải Thích Giáo Luật Quyển 2- Dân Thiên Chúa, tập 4, Các Hội Dòng Tận Hiến và các Tu Đoàn Tông Đồ. Rôma, 1993, tr. 577- 578.
[3] Các đặc sủng được ban là để phục vụ lợi ích chung, phục vụ cộng đoàn, nên còn được gọi là Đoàn sủng.
[4] X. Antonio Romano, The Charism of the Founders: The person and Charism of Founders in Contemporary Theological Reflection. Ireland: St Pauls, 1994, tr. 171.
[5] Phan Tấn Thành, Giải Thích Giáo Luật Quyển 2- Dân Thiên Chúa, tập 4, Các Hội Dòng Tận Hiến và các Tu Đoàn Tông Đồ (Rôma, 1993), tr. 762- 763.
[6] X. Nhóm Nghiên Cứu Linh Đạo Mến Thánh Giá, Tiểu Sử- Bút Tích của Đức Cha Phêrô- Maria Lambert De La Motte”, 1998, tr. 8, 31, 35, 61, 104-105.
[7] Nhóm Nghiên Cứu Linh Đạo Mến Thánh Giá,Tiểu Sử- Bút Tích của Đức Cha Phêrô- Maria Lambert De La Motte, 1998, tr. 84, x. tr. 96-97, 117-118.
[8] Nhóm Nghiên Cứu Linh Đạo Mến Thánh Giá,Tiểu Sử- Bút Tích của Đức Cha Phêrô- Maria Lambert De La Motte, 1998, tr. 84.
[9] X. Nhóm Nghiên Cứu Linh Đạo Mến Thánh Giá,Tiểu Sử- Bút Tích của Đức Cha Phêrô- Maria Lambert De La Motte, 1998, tr. 17, 31- 32, 46, 53, 56, 58, 82, 93, 105, 106, 107, 117; x. Lm. Đào Quang Toản, Đặc Sủng Mến Thánh Giá, tr. 91, 93.
[10] X. Nhóm Nghiên Cứu Linh Đạo Mến Thánh Giá,Tiểu Sử- Bút Tích của Đức Cha Phêrô- Maria Lambert De La Motte, 1998, tr. 10- 11, 53, 54, 104-105, 127; x. Lm. Đào Quang Toản, Đặc Sủng Mến Thánh Giá, tr. 145- 147.
[11] Nhóm Nghiên Cứu Linh Đạo Mến Thánh Giá,Tiểu Sử- Bút Tích của Đức Cha Phêrô- Maria Lambert De La Motte, 1998, tr. 47.
[12] x. Lm. Đào Quang Toản, Đặc Sủng Mến Thánh Giá, tr. 160- 161.
[13] Luật Tiên Khởi dòng nữ Mến Thánh Giá Chúa Giêsu-Kitô, chương 2
[14] Nhóm Nghiên Cứu Linh Đạo Mến Thánh Giá,Tiểu Sử- Bút Tích của Đức Cha Phêrô- Maria Lambert De La Motte, 1998, tr. 63.
[15] Giống như con đường nên thánh của tất cả các tu sỹ: càng bắt chước Đức Kitô, càng nên giống Đức Kitô, càng trở nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô qua việc sống Ba Lời Khuyên Phúc Âm, càng thánh thiện.
[16] Nhóm Nghiên Cứu Linh Đạo Mến Thánh Giá,Tiểu Sử- Bút Tích của Đức Cha Phêrô- Maria Lambert De La Motte, 1998, tr. 56, 105.
[17] Nhóm Nghiên Cứu Linh Đạo Mến Thánh Giá, Tiểu Sử- Bút Tích của Đức Cha Phêrô- Maria Lambert De La Motte, 1998, tr. 9, 11.
2020
Các đề tài của Thông Điệp “Laudato Si”
Các đề tài của Thông Điệp “Laudato Si”
Các đề tài của Thông Điệp “Laudato Si”
LAUDATO SI, CHĂM SÓC NGÔI NHÀ CHUNG
của Đức Giáo hoàng Phanxicô
– Giáo sư Tiến sĩ Wallacher đánh giá Thông Điệp Laudato si như “chấn động thời đại”. Đức Phanxicô đã trình bày một kim chỉ nam đạo đức cho một chương trình phát triển bền vững.
Laudato si – Kim chỉ nam cho một chương trình phát triển sự thân thiện giữa con người và môi trường.
Tóm tắt và sắp xếp Thông Điệp theo các đề tài sau:
Đề tài 1: Tiếp tục phát triển mang tính thời đại về học thuyết xã hội của Giáo Hội
Đức Giáo Hoàng Phanxicô coi các mối đe dọa đối với sinh kế, nghèo đói toàn cầu và bất bình đẳng xã hội là những thách thức trung tâm của thời đại chúng ta, và Người hướng tất cả mọi người thiện chí vào thời điểm, mà Người nhìn thấy cơ hội để hành động. Người cố tình đặt mình vào truyền thống của Pacem Terris mà Giáo Hoàng Gioan XXIII đã hướng đến không chỉ tín hữu mà còn những người thiện chí, sau biến cố xây bức tường Berlin và sau cuộc khủng hoảng Cuba, khi thế giới đứng trước vực thẳm của một cuộc chiến tranh hạt nhân (Số 3). Đức Thánh Cha chắc chắn cũng liên hệ cách ẩn tàng với Populorum Progressio – tông huấn xã hội đầu tiên, dành hoàn toàn cho các vấn đề về phát triển và đưa ra các hướng dẫn đột phá cho sự phát triển hòa bình của một thế giới mà ngày nay, là thời “One World” hay “Ngôi nhà chung của chúng ta” có một tương lai.
Populorum Progressio khởi đi từ sự hiểu biết toàn diện và khác biệt về phát triển: “Phát triển thực sự phải toàn diện, nó phải quan tâm đến mọi người và toàn thể con người” (PP 14). Phát triển đích thực phải “tìm kiếm một chủ nghĩa nhân văn mới” (PP 20), đưa đến sự phát triển loài người và toàn thể nhân loại về kinh tế, chính trị, xã hội và văn hóa. Bây giờ, Đức Phanxicô bổ sung một khía cạnh thiết yếu về sự bỏ mặc sinh thái của con người, với mối liên hệ, mà trong đó Người đã cho thấy rõ rằng: Con người làm suy thoái môi trường, không chỉ làm tổn hại nguồn tài nguyên căn bản của họ, mà chủ yếu là gây hại cho chính họ.
Về phương pháp luận, phần lớn Tông Huấn, tuân theo quy trình ba bước kinh điển của việc xem-xét-làm. Khởi đầu bằng một phân tích về các vấn đề sinh thái và xã hội thiết yếu trong chương đầu tiên, nêu ra trong chương thứ hai, truyền thống Do thái – Ki-tô phong phú với nhiệm vụ bảo vệ thụ tạo và của cải trần thế có trách nhiệm, hay nói cách khác, như quản gia trung tín. Theo nghĩa này, Thông Điệp không còn bàn luận chủ yếu từ góc độ luật tự nhiên, mà gần như theo cách thực hành, đó là phân tích các mối quan hệ (sinh thái môi trường / xã hội / kinh tế / văn hóa / con người) được tìm thấy trong thực tế đang ở phía trước, để tăng cường trách nhiệm của mọi người, các nhóm và các tổ chức, lấy cảm hứng từ các lý thuyết thần học về Sáng Tạo. Trong chương thứ ba, Đức Phanxicô nêu bật những nguyên nhân do con người trong cuộc khủng hoảng sinh thái, mà Người thấy ở sự tự quy chiếu về mình quá mức (con người coi nhẹ các mối quan hệ đa phương mà mình tham gia) và nền công nghệ một chiều. Sự gia tăng dân số, Người không đặt trong liên hệ như một vấn đề , mà là một nguyên nhân của biến đổi khí hậu, bởi vì nó được sử dụng như một nguyên cớ để “hợp pháp hóa mô hình phân phối hiện tại” (Số 50). Trong chương thứ tư, Đức Phanxicô đối chiếu điều này với nguyên tắc chỉ đạo sinh thái toàn thể. Sự đối thoại như là nguyên tắc chỉ đạo cho định hướng và hành động (Chương 5) cũng như giáo dục và giáo dục lương tâm đối với Đức Phanxicô là sự hoán cải cần thiết. Sự đóng góp đặc biệt của các tôn giáo bao gồm chiêm niệm, đưa ra một cái nhìn khác về thực tế như thị trường và công nghệ, và chuyển từ bên ngoài vào bên trong. Đức Thánh Cha minh họa điều này với nhiều vị thánh được giới thiệu như là những thầy dạy, trên hết là Thánh Phanxicô Assisi – như là người có thể đọc được Cuốn Sách Sáng Tạo cách xứng hợp.
Trong các lĩnh vực khác cũng vậy, Đức Phanxicô tiếp nhận học thuyết xã hội truyền thống của Giáo Hội về nội dung và phương pháp, và phát triển nó một cách nhất quán, như sẽ được minh họa trong đề tài thứ năm dưới đây. Cuối cùng, cách tiếp cận hướng nội và liên ngành là đáng chú ý. Đức Giáo Hoàng mời gọi chúng ta tham gia một cuộc đối thoại với các ngành khoa học và lưu ý những phát hiện mới nhất trong khoa học tự nhiên, môi trường và xã hội, rồi kết hợp chúng với quan điểm Thần Học Kinh Thánh và trách nhiệm luân lý. Xét cho cùng, đối thoại với chính trị, kinh tế, xã hội dân sự và trên hết là đối thoại với những nạn nhân là chìa khóa cho một giải pháp công bằng và hợp lý.
Đề tài 2: Kim chỉ nam cho chương trình phát triển sự thân thiện giữa con người và môi trường
Đức Giáo Hoàng nói rõ: Cộng đồng toàn cầu ngày nay phải đối mặt với nhiều vấn đề và thách thức toàn cầu khác nhau, mà chỉ có thể giải quyết với trách nhiệm và nỗ lực chung. Những thách thức này bao gồm mức độ nghèo đói không ngừng tăng cao và khoảng cách giàu nghèo ngày càng mở rộng nhiều nơi trên thế giới, sinh kế của chúng ta ngày càng bị phá hủy, trên hết là do biến đổi khí hậu, theo sau là mối đe dọa đối với nước, mất đa dạng sinh học và đánh bắt quá mức ở đại dương hoặc nạn phá rừng ở rừng mưa nhiệt đới.
Một mặt, nguyên nhân biến đổi khí hậu và các vấn đề môi trường rất khác nhau, và mặt khác là nghèo đói toàn cầu, các liên kết đa phương hiện ra rõ ràng. Người nghèo, khu vực hay quốc gia gây ra ít nhất cho biến đổi khí hậu lại bị ảnh hưởng nặng nề bởi những hậu quả tiêu cực của nó trong hiện tại và tương lai. Họ cũng có ít cơ hội để thích nghi với các điều kiện thay đổi. Biến đổi khí hậu đã gây nguy hiểm cho an ninh lương thực, cung cấp nước và sức khỏe con người ở một số khu vực, do đó làm suy yếu các nỗ lực quốc tế để chống đói nghèo. Thông Điệp cũng chỉ ra nguy cơ di cư gia tăng mà biến đổi khí hậu có thể gây ra. Đức Giáo Hoàng không coi sự gia tăng dân số là nguyên nhân của vấn đề khí hậu – không phải số lượng người là vấn đề, mà là sự phân phối các nguồn lực sẵn có để phát triển (Số 50).
Mối liên hệ không thể tách rời giữa khủng hoảng xã hội và sinh thái thấm vào toàn bộ Thông Điệp và được minh họa bằng nhiều ví dụ cụ thể: “Không có hai cuộc khủng hoảng bên cạnh nhau, một trong môi trường và một trong xã hội, mà là một cuộc khủng hoảng sinh thái xã hội đơn lẻ và phức tạp” (Số 139). Do đó, không phù hợp để giảm thiểu “Laudato Si” thành “Thông Điệp môi trường” hoặc “khí hậu”. Thay vào đó, Đức Thánh Cha trình bày một kim chỉ nam đáng chú ý và có cơ sở, cho một chương trình phát triển sự thân thiện giữa con người và môi trường.
Thời điểm xuất bản không phải là một sự trùng hợp ngẫu nhiên, bởi vì ngay sau hội nghị thượng đỉnh G7 ở Elmau, một vài tháng trước hội nghị khí hậu thế giới vào tháng 12 ở Paris và – có lẽ quan trọng hơn – trước hội nghị thượng đỉnh của các nguyên thủ quốc gia và chính phủ tại Liên Hợp Quốc ở New York, tháng 9 năm 2015, khi cộng đồng quốc tế đồng ý về các mục tiêu phát triển bền vững (Chương trình nghị sự 2015: vì sự phát triển bền vững), Đức Giáo Hoàng Phanxicô “muốn nói chuyện với mọi người về ngôi nhà chung của chúng ta theo cách đặc biệt” (Số 3).
Đề tài 3: Thông Điệp đã vạch ra những hoài nghi về khí hậu trong các biến thể khác nhau của nó như là một biểu hiện của quyền lực giấu mặt và lợi ích cá biệt.
Đức Giáo Hoàng kêu gọi áp dụng những kết quả tốt nhất của nghiên cứu khoa học ngày nay, đã làm chúng ta cảm động sâu sắc và đưa ra con đường đạo đức và tinh thần, theo nền tảng của sự cụ thể hóa (Số 15). Đức Thánh Cha không nghi ngờ gì về tính hợp lệ của các phát hiện khoa học, giả định với mức độ chắc chắn rất cao: Biến đổi khí hậu là do con người tạo ra và phần lớn là do sự gia tăng mạnh mẽ và hầu như không hạn chế phát tán khí thải do hiệu ứng nhà kính, kể từ khi công nghiệp hóa. Tuy nhiên, không chỉ có lập trường rõ ràng chống lại những người phủ nhận nguyên nhân gây ra biến đổi khí hậu, mà còn chống lại cái gọi là thế hệ thứ hai những người hoài nghi về khí hậu, ví dụ như đại diện rất nổi bật bởi một nhóm các nhà kinh tế có ảnh hưởng xung quanh Bjørn Lomborg, người Đan Mạch. Trong cái gọi là sự đồng thuận của Copenhagen, nhóm này đã phát triển một danh sách ưu tiên các giải pháp được đề xuất cho các thách thức toàn cầu quan trọng nhất, trên cơ sở các phân tích lợi ích – chi phí cổ điển. Cuộc chiến chống biến đổi khí hậu bằng cách giảm nhanh khí thải kết thúc sau đó. Thay vào đó, các quốc gia riêng lẻ và cộng đồng quốc tế nên sử dụng nguồn vốn sẵn có của họ chủ yếu trong các dự án để chống suy dinh dưỡng và bệnh tật, để đầu tư thúc đẩy giáo dục và tăng cường nâng đỡ nữ giới, vì điều này sẽ có lợi ích cao hơn nhiều nhưng với chi phí tương đối thấp so với việc giảm khí thải. Biến đổi khí hậu có thể giải quyết tốt hơn trong tương lai, vì hiện nay việc giảm khí thải quá đắt đỏ.
Đức Thánh Cha nói rõ: Người không chấp nhận sự tách biệt các vấn đề môi trường và phát triển, vì sự thay đổi khí hậu không kiểm soát là không thể đảo ngược và trên hết, ảnh hưởng đến người nghèo. Đức Phanxicô nhìn thấy sự phủ nhận biến đổi khí hậu hoặc sự tách biệt nghèo đói khỏi vấn đề khí hậu vì lợi ích của những người sở hữu nhiều tài nguyên, có quyền lực về kinh tế hoặc chính trị [và] [dường như] tập trung hơn tất cả, để che giấu các vấn đề hoặc các triệu chứng (Số 28) – che giấu, bởi vì ở đây sự thật khoa học không được cổ xuý, nhưng lợi ích cá biệt được thực thi chống lại lợi ích chung.
Đề tài 4: Sinh thái toàn thể: Bảo vệ môi trường và xóa nghèo không đối chọi nhau!
Nội dung của hai đề tài đầu tiên kết hợp với nhau để tạo thành một cơ sở quan trọng để có thể chống lại bất kỳ phản đối nào đối với thông điệp như tách gió ra khỏi cánh buồm. Ví dụ, nếu chúng ta xem xét cuộc tranh luận diễn ra trong thời kỳ sắp công bố Tông Huấn, đặc biệt là ở Hoa Kỳ, có một số tiếng nói lớn ở đó, một số trong Giáo Hội Công Giáo, có thể đã cố gắng tách rời cuộc tranh luận giữa nghèo đói và môi trường để làm sắc nét việc trung lập hóa Tông Huấn. Một cáo buộc khác có thể được liên kết chặt chẽ với điều này, đã được nghe từ cuộc tranh luận trước: Đức Giáo Hoàng đã mò mẫm trong sự thất bại của những người theo chủ nghĩa Malthus với Thông Điệp của mình. Những người nhân danh bảo vệ khí hậu từ bỏ sự tăng trưởng, làm giảm cơ hội cho người nghèo phát triển. Các nhà phê bình suy luận rằng phải có một ưu tiên: Đầu tiên là giải pháp cho vấn đề nghèo đói, sau đó là giải pháp cho vấn đề khí hậu. Do đó, Thông Điệp có thể bị chỉ trích vì nhấn mạnh các vấn đề môi trường, mà không coi trọng vấn đề xã hội, nhưng Đức Thánh Cha đã khẳng định: ”Lựa chọn người nghèo”.
Rõ ràng là Đức Giáo Hoàng không chấp nhận tình trạng khó xử này. Đây cũng là lý do tại sao điều quan trọng không chỉ đơn giản là hiểu “Laudato Si ‘” là Thông Điệp “môi trường” hay “khí hậu”, mà là một kim chỉ nam phát triển toàn thể. Đức Phanxicô nhấn mạnh sự cần thiết phải có một cái nhìn tổng thể về nghèo đói và vấn đề khí hậu. Cốt lõi của điều này và mô hình công lý mới đối với Đức Phanxicô là “các yếu tố khác nhau của một hệ sinh thái toàn thể mà Người đã phát triển trong chương thứ tư, bao gồm khía cạnh con người và xã hội thật rõ ràng (Số 137). Theo Đức Thánh Cha, nếu chúng ta muốn chống lại nghèo đói và bảo vệ môi trường cùng một lúc, chúng ta phải thiết lập tương quan giữa môi trường, sự nghèo đói và thế hệ tương lai. “Đặt mối quan hệ và lưu lại” là cốt lõi của một hệ sinh thái toàn thể, như là nguyên tắc hướng dẫn trung tâm của Tông Huấn.
Đề tài 5: Lợi ích chung toàn cầu và của cải trần thế theo nguyên tắc xác định chung.
Đối với Đức Phanxicô, hệ sinh thái toàn thể gắn bó chặt chẽ với nguyên tắc lợi ích chung (Số 156), do sự phụ thuộc lẫn nhau và phụ thuộc toàn cầu, nguyên tắc này nhất thiết phải liên quan đến cộng đồng thế giới, và do sự bất bình đẳng xã hội hiện có, nó phải được phát triển như một lựa chọn người nghèo. Điều này đặc biệt quan trọng đối với nguyên tắc xác định chung với của cải trần thế, do đó cũng đề cập đến tất cả các tài nguyên thiên nhiên (Số 93-95). Đây là lần đầu tiên trong lịch sử giáo huấn xã hội của Giáo Hội đối với việc làm giảm bớt carbon dioxide toàn cầu cũng như bầu khí quyển trái đất (“Khí hậu là một lợi ích chung của tất cả mọi người”, Số 23). Điều này có nghĩa, không chỉ các nguyên liệu thô, mà cả các bể chứa toàn cầu như bầu khí quyển của trái đất hay đại dương đều là của cải phổ thông, việc sử dụng này được mở ra cho tất cả mọi người. Những của cải và việc sử dụng cách chín chắn phải được phân phối theo các nguyên tắc của công lý.
Không chỉ các quyền sử dụng nguyên liệu thô ngày càng khan hiếm hoặc nhiên liệu hóa thạch như than, dầu và khí đốt theo truyền thống học thuyết xã hội của Giáo Hội về nghĩa vụ xã hội của sở hữu tư, mà với việc áp dụng giáo huấn xã hội của Công Giáo đối với carbon dioxide là một đề tài mới. Điều này cho thấy, hành động của những người theo quyền của kẻ mạnh chắc chắn bất hợp pháp đối với một phần lớn hơn (Số 51). Những điều liên kết trong số 23-26 giải trình về những tương quan có thể không được đánh giá quá cao và phần lớn theo các phân tích mà nhà kinh tế khí hậu Ottmar Edenhofer đã theo đuổi trong một thời gian dài (Edenhofer, Ottmar và những người khác, Ai sở hữu bầu khí quyển?, Trong Voice of Time, số 2, tháng 2 năm 2011, 75 -88).
Nếu Đức Phanxicô kêu gọi giảm nhanh và vĩnh viễn lượng khí thải nhà kính để bảo vệ khí hậu, thì nguyên tắc: Khí quyển trái đất là một lợi ích chung cần được chấp nhận, những hậu quả sâu rộng của khí thải, đã được nêu trong bản văn. Chiết xuất nhiên liệu hóa thạch phải được hạn chế đáng kể nếu bầu khí quyển và đại dương không thể hấp thụ carbon, và nếu thay đổi khí hậu nguy hiểm với những hậu quả khó khăn để vượt qua, đặc biệt là đối với những người nghèo là phải tránh, Điều này chỉ có thể, nếu một phần đáng kể của trữ lượng than, dầu và khí vẫn còn trong đất, mặc dù về nguyên tắc, khai thác chúng là có lãi.
Do đó, một thỏa thuận liên chính phủ nhằm hạn chế sự nóng lên toàn cầu ở mức hai độ C sẽ là cơ sở cho việc “tước quyền sở hữu” quốc tế của chủ sở hữu nhiên liệu hóa thạch, có nghĩa là của cải chung toàn cầu phải được bảo vệ theo luật pháp quốc tế. Trong báo cáo đánh giá lần thứ năm của IPCC (The Intergovernmental Panel on Climate Change (IPCC) is the United Nations body for assessing the science related to climate change) : Các quốc gia ký kết công ước khung về bảo vệ khí hậu đã sợ công nhận ý nghĩa pháp lý quốc tế về việc công nhận bầu khí quyển là tài sản chung toàn cầu và chỉ đề cập ý tưởng này trong phần chú thích. Mặt khác, với Tông Huấn, Đức Giáo Hoàng can đảm biến địa vị của bầu khí quyển thành tài sản chung toàn cầu, thành nguyên tắc chỉ đạo chuẩn mực của chính sách khí hậu.
Đề tài 6: Đối thoại và minh bạch như là quá trình quyết định có tham gia
Đối với Đức Thánh Cha, phân tích về cơ bản bao gồm cả “điểm yếu của phản ứng” (Số 53-59). Do đó, Người coi điều quan trọng là phải có chỉ đạo trong các biện pháp đối phó cần thiết và hành động chính trị. Trình bày ít chương trình hành động chính trị hơn các hướng dẫn cho định hướng hành động, tức là trên tất cả các khía cạnh thủ tục. Đối với Đức Phanxicô, đối thoại là quyết định đối với những mức độ hành động theo sau phân tích. Nó là công cụ trung tâm để ra khỏi vòng xoáy tự hủy diệt mà chúng ta bị đắm chìm (Số 163), có một giá trị nội tại, bởi vì con người chỉ có thể thực sự tương quan thông qua đối thoại, và làm theo ý tưởng cơ bản về sinh thái toàn thể.
Trong chương 5, không thực hiện một cách có hệ thống như nó được gọi, Đức Thánh Cha cố gắng đưa ra khái niệm về kiểm soát chính trị, có tính đến những thay đổi cấu trúc trong chính trị quốc tế (chính phủ toàn cầu). Các cấp độ khác nhau của hành động chính trị xác định, phải tuân theo nguyên tắc bổ trợ. Các quốc gia là trung tâm, vì chủ yếu, họ có khả năng giải quyết khủng hoảng tùy thuộc vào vấn đề hoặc đặt nền móng để đối phó với khủng hoảng. Các quốc gia phát triển có trách nhiệm đặc biệt đối với nghèo đói và môi trường, và do đó họ phải từ bỏ (từ bỏ tài chính, chuyển giao công nghệ mới, chuyển đổi năng lượng, tổ chức lại thị trường với giảm phát tạm thời). Các nước nghèo có trách nhiệm loại bỏ tham nhũng và giảm bất bình đẳng (Số 172).
Tuy nhiên, Đức Thánh Cha cũng không nghi ngờ rằng các vấn đề toàn cầu đòi hỏi các thể chế quốc tế và các hiệp định quốc tế có hiệu lực liên chính phủ và cũng cần có biện pháp trừng phạt, ví dụ như quốc nội hóa (không quốc tế hóa!) chi phí môi trường. Để trở lại với Thông Điệp trước đó, thuật ngữ sai lầm nhất của “chính quyền chính trị thế giới” (Số 175) không may được sử dụng lại mà không đặt nó rõ ràng trong mối quan hệ với Liên Hợp Quốc. Nguyên tắc chia sẻ nhưng trách nhiệm khác nhau cho hợp tác quốc tế được đề cập cách hợp lý (Số 170). Đức Giáo Hoàng đặt hy vọng lớn vào mức độ hành động của địa phương và khu vực, trong các hình thức tổ chức khác nhau (ví dụ: những tổ chức hợp tác) đảm nhận trách nhiệm của họ, thông qua ý thức cộng đồng mạnh mẽ hơn và tìm giải pháp sáng tạo. Kinh nghiệm này được phát hiện bởi kiến thức khoa học của người chiến thắng giải thưởng Nobel về kinh tế đã tạ thế, Elinor Ostrom.
Một đặc điểm thứ hai là cấu trúc chính phủ đa phương. Vị trí ưu tiên là địa vị luật pháp quốc tế và tính hợp pháp dân chủ. Điều này bao gồm hợp tác chính trị với các chủ thể phi nhà nước, có thể từ kinh tế tư nhân hoặc xã hội dân sự, trong cái gọi là các sáng kiến nhiều bên liên kết, như dấn thân thực thi nhân quyền. Sự đa phương của các sáng kiến cũng có nhược điểm rõ ràng của nó. Chúng chủ yếu là không ràng buộc, phối hợp không tốt và thậm chí thường xung đột với nhau. Nghiêm trọng hơn, trong thực tế có nhiều yếu tố kiểm soát, phản ánh mối quan hệ quyền lực bất bình đẳng của chính trị quốc tế.
Chỉ riêng hành động chính trị là không đủ đối với Đức Phanxicô, Người nhấn mạnh đến các hình thức quản trị chính trị mới, phát sinh ở các cấp độ khác nhau, với một đặc điểm rất khác biệt và rất coi trọng xã hội dân sự, đặc biệt là để xây dựng áp lực cần thiết đối với chính trị. Ở đây cũng vậy, đối thoại là rất quan trọng đối với Đức Phanxicô. Bây giờ chúng tôi đang nói chuyện với mọi người về tình trạng của thế giới trong thực tế (chủ đề mới bao gồm chính trị, số lượng lớn chủ thể). Đối thoại được yêu cầu trên một nền tảng bình đẳng (trung thực, minh bạch) – ở đây, Đức Phanxicô xây dựng một khía cạnh tố tụng quan trọng của công lý trên cơ sở các quá trình quyết định trung thực, minh bạch và có sự tham gia. Đối thoại có sự tham gia và trung thực là điều kiện cần thiết để tạo áp lực cho các thể chế ổn định, và sự khác biệt địa phương phải được tính đến.
Sáng tạo là một yếu tố thiết yếu cho các giải pháp mới và phát sinh từ mối quan hệ với các thụ tạo và cộng đồng, nó có thể tạo ra các giải pháp mới, trái ngược với suy nghĩ khả thi về mặt kỹ thuật. Để thay đổi, chúng ta phải kích hoạt các quy trình, thay vì chiếm không gian quyền lực. Điều này có thể tạo ra một định nghĩa mới về sự tiến bộ – vượt qua các mô hình phổ thông và thúc đẩy những cách sống và mô hình mới.
Đề tài 7: Thị trường và công nghệ phục vụ sinh thái toàn thể.
Chương ba đặt tính hai mặt của công nghệ hiện đại vào vị trí khởi đầu các bàn luận. Một mặt, công nghệ có thể giúp cải thiện chất lượng cuộc sống, mặt khác, nó cũng có thể chống lại mối quan hệ giữa tất cả thụ tạo, bằng cách biến mọi thứ thành đối tượng. Điều nổi bật trong bản văn là mối liên hệ giữa mặt tiêu cực của công nghệ và khái niệm quyền lực, theo đó, Thông Điệp ngụ ý phê phán rất sâu rộng về niềm tin vào công nghệ. Cuối cùng, mô hình công nghệ không thể tạo điều kiện cho một “cái nhìn toàn bộ” (Số 110), đó là lý do tại sao nó bị chỉ trích từ góc độ đạo đức. Ở đây, một lần nữa, chứng cứ cốt lõi: Chủ nghĩa nhân học ở dạng cực đoan đã quên rằng mọi thứ đều liên quan. Chủ nghĩa nhân học sai lầm này được phân tích theo ba cách: thuyết tương đối văn hóa, công việc bảo vệ và đổi mới sinh học dựa trên nghiên cứu.
Bất chấp những chỉ trích rõ ràng về sự tập trung duy nhất vào thị trường và công nghệ, Thông Điệp không thù địch với tăng trưởng hay công nghệ. Về vấn đề này, Thông Điệp có khác biệt hơn nhiều so với phần lớn các phong trào giảm thiểu tăng trưởng. Ở nhiều nơi khác nhau, Đức Phanxicô nhấn mạnh rằng công nghệ hiện đại mở rộng khả năng thống trị của con người, ví dụ như để cải thiện chất lượng cuộc sống, nhưng cũng có trách nhiệm (Số 187). Để làm được điều này, công nghệ phải được hướng dẫn bởi sự tự do của con người, để “phục vụ một loại tiến bộ khác lành mạnh hơn, nhân văn hơn, xã hội hơn và toàn thể hơn” (Số 112). Nếu không, có một rủi ro: Mọi người sẽ từ chối các khả năng thống trị mở rộng này và đó cũng là trách nhiệm của nó. Sự từ chối trách nhiệm ngầm này có nghĩa là công nghệ không được xây dựng, mà chỉ được thực hiện với quy chiếu tăng trưởng kinh tế và lợi nhuận. Đức Phanxicô cảnh báo về sự hiểu biết theo thuyết quyết định luận công nghệ, dẫn đến sự thiếu trách nhiệm có tổ chức.
Đáng chú ý là Thông Điệp nhấn mạnh, như ở nhiều nơi khác, cao điểm của sáng tạo. Sáng tạo như một đặc tính của thụ tạo nói chung và con người nói riêng, để đối mặt với các dấu chỉ của thời đại và phá vỡ các mô hình phổ thông và thúc đẩy các mô hình và cách sống mới.
Đề tài 8: Ý nghĩa trung tâm của nghiên cứu lương tâm, giáo dục toàn diện và mẫu hình tích cực
Kết luận của Thông Điệp được hình thành bởi những giải thích về giáo dục sinh thái và tâm linh (Chương 6). Đức Phanxicô không nghi ngờ, sự đảo ngược cần thiết chỉ có thể đạt được thông qua nghiên cứu và giáo dục lương tâm sâu rộng. Nếu mỗi cá nhân có trách nhiệm riêng của mình trong việc duy trì ngôi nhà chung, thì phải thừa nhận: Con người cần phải đối mặt với trách nhiệm này. Theo tôi, Đức Thánh Cha xem xét việc nghiên cứu và giáo dục lương tâm sâu rộng và định hướng hướng tới các mẫu hình tích cực là đúng đắn và trung tâm. Theo ý kiến tôi, đừng chê trách quá mạnh mẽ một định hướng đạo đức cá nhân, bởi vì những người khác với chính cá nhân họ, có thể khởi xướng những cải cách cần thiết thông qua thay đổi thái độ và hành vi khác nhau.
Ngoài sự thay đổi về thái độ và hành vi của các cá nhân ở cấp độ vi mô, Đức Phanxicô nhấn mạnh chức năng bản lề trung tâm của các mô hình là các thể chế phi hình thức ở cấp độ trung gian, trong đó cá nhân định hướng hành động cũng như chính trị đối với việc thiết lập các điều kiện khung ở cấp quốc gia và cấp quốc tế ( vĩ mô). Do đó, sự nhấn mạnh vào việc thay đổi các mô hình về chất lượng cuộc sống, sự hiểu biết về tiến bộ, vai trò của tăng trưởng hoặc sử dụng công nghệ là trọng tâm. Điều cần thiết, cần có một lượng tới hạn những người định hướng các mô hình đã thay đổi và do đó thay đổi các mô hình và sau đó là hành động chính trị.
Nghiên cứu về lương tâm và nhận thức về nhiều mối quan hệ mà qua đó cuộc sống của con người có thể thành công, cũng quan trọng đối với Đức Phanxicô, như giáo dục toàn diện vượt ra ngoài việc truyền đạt kiến thức hay “kỹ năng”. Ở đây, ít nhất có thể hiểu ngầm lý tưởng sư phạm Inhaxiô được tỏa sáng (“không có nhiều kiến thức làm no thoả linh hồn, mà là nếm thử mọi thứ từ bên trong”). Giáo dục toàn diện bao gồm thu nhận kiến thức, khả năng đưa ra quan điểm của riêng mình (nếu cần thiết, cũng có thể chống lại “chính thống”) và trên hết là hình thành trái tim (sự đồng cảm với người khác và môi trường để nhận ra cấu trúc quan hệ đa phương). Truyền thống tâm linh phong phú của các tôn giáo và học thuyết khôn ngoan có ý nghĩa lớn lao, được liên kết với những con người cụ thể như là mô hình “nhân cách hóa”. Do đó, cuối cùng, Đức Phanxicô đã để cho Thánh Phanxicô Assisi có tiếng nói của mình, mà Người trình bày một lần nữa như là một mô hình thực hành tốt nhất.
Munich, ngày 17 tháng 6 năm 2015
Tác giả bài viết: Prof. Dr. Dr. Johannes Wallacher, từ năm 2006 là giáo sư khoa học xã hội và đạo đức kinh tế tại Đại học Triết học, Munich, Khoa Triết học S.J. Từ ngày 01 tháng 9 năm 2011 là hiệu trưởng Đại học Triết học, Munich. Prof. Dr. Dr. Johannes Wallacher
Lm. Anrê Đoàn Văn Điểm chuyển ngữ từ hfph.de
2020
Phản ứng của Đức Tổng Giám Mục San Francisco về vụ giật sập tượng Thánh Junipero Serra
Sau vụ giật sập một bức tượng Thánh Junipero Serra ở San Francisco, Đức Tổng Giám Mục thành phố này nói hôm thứ Bảy rằng các cuộc biểu tình chỉ trích sự bất công chủng tộc đã bị cướp mất hết chính nghĩa.
“Điều gì đang xảy ra với xã hội của chúng ta? Một phong trào quốc gia đổi mới để chữa lành ký ức và sửa chữa những bất công của nạn phân biệt chủng tộc và sự tàn bạo của cảnh sát ở nước ta đã bị một số người cướp mất chính nghĩa và lùa vào một phong trào bạo lực, cướp bóc và phá hoại, ” Đức Tổng Giám Mục Salvatore Cordileone nói trong một tuyên bố ngày 20 tháng Sáu.
Tuyên bố của Đức Tổng Giám Mục đã được đưa ra sau khi một bức tượng Thánh Junipero Serra bị phá hủy ở Công viên Golden Gate ở San Francisco, vào tối Thứ Sáu, cùng với các bức tượng của Francis Scott Key và Ulysses Grant.
“Việc lật nhào và làm biến dạng các bức tượng trong Công viên Golden Gate, bao gồm cả tượng Thánh Junipero Serra, đã trở thành ví dụ mới nhất, về sự thay đổi đó trong phong trào phản kháng, ” Đức Tổng Giám Mục nói thêm.
“Việc tưởng niệm các nhân vật lịch sử xứng đáng với một cuộc thảo luận trung thực và công bằng về cách thức và danh dự như thế nên được trao cho ai. Nhưng ở đây, không có cuộc thảo luận hợp lý như vậy; đó chỉ là luật rừng, trong một hiện tượng bạo loạn dường như đang được lặp lại trên toàn quốc.”
Đức Tổng Giám Mục Cordileone nhấn mạnh tầm quan trọng của những lời kêu gọi công lý chủng tộc và chấm dứt sự tàn bạo của cảnh sát, bắt đầu sau cái chết ngày 25 tháng 5 của George Floyd, một người đàn ông da đen bị giết bởi một cảnh sát viên ở tiểu bang Minneapolis, là người đã quỳ trên cổ Floyd.
“Tất cả những người làm việc vì công lý và bình đẳng đều hiệp nhất trong sự phẫn nộ của những người đã và đang tiếp tục bị áp bức, ” Đức Tổng Giám Mục nói.
“Đặc biệt là những môn đệ Chúa Giêsu Kitô. Các Kitô hữu được kêu gọi làm việc không mệt mỏi vì phẩm giá của tất cả mọi người, ” ngài nói thêm và lưu ý rằng Thánh Phanxicô Assisi, mà thành phố San Francisco này mang tên ngài, là một trong những nhân vật lịch sử tiêu biểu nhất cho hòa bình và thiện chí.”
“Trong suốt 800 năm qua, các linh mục, tu sĩ nam nữ Dòng Anh Em Hèn Mọn đều lấy cảm hứng từ gương sáng phục vụ, khó nghèo, đồng hoá mình với người nghèo và tìm mọi cách mang đến cho mọi người phẩm giá chính đáng là con cái của Chúa. Thánh Junipero Serra cũng không ngoại lệ.”
Đức Tổng Giám Mục đã ca ngợi vị thánh có lòng truyền giáo nhiệt thành: “Thánh Junipero Serra đã mang đến cho người dân bản địa điều tốt nhất mà ngài thủ đắc: kiến thức và tình yêu Chúa Giêsu Kitô, mà ngài và các anh em Phan sinh đã làm thông qua giáo dục, chăm sóc sức khỏe và đào tạo về kỹ thuật nông nghiệp.”
“Cơn giận dữ chống lại sự bất công có thể là một phản ứng lành mạnh khi sự phẫn nộ chính đáng này có thể thúc đẩy xã hội tiến lên. Nhưng như chính Chúa Kitô dạy, và Thánh Phanxicô đã làm gương, tình yêu, chứ không phải cơn thịnh nộ, là câu trả lời duy nhất, ” Đức Tổng Giám Mục kết luận.
Đặng Tự Do
