Aenean nec eros. Vestibulum ante ipsum primis in faucibus orci luctus et ultrices posuere cubilia curae. Suspendisse sollicitudin velit sed leo.

Chuyên mục
  • Bài giảng
  • Các loại khác
  • Chia sẻ
  • Chưa phân loại
  • GH Hoàn Vũ
  • GH Việt Nam
  • Giáo dục
  • Hạnh các Thánh
  • HĐGM Việt Nam
  • Kinh Thánh
  • Phim giáo dục
  • Phụng vụ
  • Sách
  • Suy niệm Chúa nhật
  • Suy niệm hàng ngày
  • Tài liệu giáo dục
  • Tài liệu phụng vụ
  • Thần học
  • Thánh ca
  • Thánh lễ
  • Thánh lễ trực tuyến
  • Thư chung
  • Thư viện
  • Tin tức
  • Triết học
  • Tư liệu
  • UBGD Công giáo
  • Video
From Gallery
Stay Connected
UyBanGiaoDucHDGM.net
  • Trang chủ
  • Thư chung
    • HĐGM Việt Nam
    • UBGD Công giáo
  • Tin tức
    • GH Việt Nam
    • GH Hoàn Vũ
  • Phụng vụ
    • Thánh lễ
    • Thánh lễ trực tuyến
    • Suy niệm hàng ngày
    • Suy niệm Chúa nhật
    • Tài liệu phụng vụ
  • Giáo dục
    • Chia sẻ
    • Tài liệu giáo dục
  • Thư viện
    • Sách
      • Kinh Thánh
      • Triết học
      • Thần học
      • Các loại khác
    • Video
      • Bài giảng
      • Thánh ca
      • Phim giáo dục
      • Hạnh các Thánh
      • Tư liệu
  • Liên hệ
Give Online

Danh mục: Tin tức

Home / Tin tức
07Tháng Bảy
2021

Tìm thấy tượng Tổ Phụ Giuse trong Cựu Ước: Câu chuyện bị che đậy!

07/07/2021
Anmai
GH Hoàn Vũ, Tin tức
0

Tìm thấy tượng Tổ Phụ Giuse trong Cựu Ước: Câu chuyện bị che đậy!

 

Có bằng chứng khảo cổ học về tổ phụ Giuse trong Kinh thánh không?

Một phần của tảng đá vôi được tìm thấy.

Nếu bạn hiểu sai về cuộc Xuất hành trong Kinh thánh, tức là nếu bạn đặt Cuộc xuất hành vào một bối cảnh lịch sử mà nó không thuộc về, thì – theo định nghĩa – bạn sẽ không tìm thấy bất kỳ bằng chứng khảo cổ nào về Giuse, hoặc bất kỳ nhân vật nào khác trong Kinh thánh cho vấn đề đó. Và đây đúng là điều mà đa số các nhà khảo cổ học đã làm khi họ xác định niên đại của Cuộc Xuất hành. Đầu tiên, họ nói rằng Cuộc Xuất hành đó đã không xảy ra. Sau đó, một cách phi lý, họ xác định rằng những gì họ nói không xảy ra thì lại xảy ra vào thế kỷ 13 trước Công nguyên, đó là niên đại chính xác  – tức là năm 1270 trước Công nguyên.

Nhưng nếu bạn chọn ngày cho cuộc Xuất hành do chính Kinh thánh đề xuất, tức là 480 năm trước khi xây dựng Đền thờ Solomon (1 Các Vua 6: 1), thì bạn sẽ có một ngày vào khoảng năm 1.500 trước Công nguyên. Dựa trên khảo cổ học và phân tích văn bản, các giáo sư John Bimson và David Livingston quá cố đã đề xuất một niên đại tương tự .

Vì vậy, chúng ta hãy cùng tìm hiểu niên đại Kinh thánh và xem liệu nó có dẫn chúng ta đến bất kỳ cuộc khảo cổ học nào liên quan đến tổ phụ người Israel tên là Giuse, nổi tiếng với chiếc áo choàng dài tay “nhiều màu” không:

Theo Torah (Năm Quyển Sách của Môsê), người Israel ở Ai Cập 430 năm (Xuất hành 12:40). Theo Talmud, văn bản theo truyền thống Rabbi cổ, nó chỉ có 215 năm (Pirkei Rabbi Elieser, c.48). Dựa trên vòng đời của các thế hệ người Israel đến và rời khỏi Ai Cập, 215 năm càng có ý nghĩa. Nhưng một cách khác để xem xét điều đó là có hai nhóm rời Ai Cập trong cuộc Xuất hành theo Kinh thánh – một nhóm sau khi ở Ai Cập 430 năm, và nhóm còn lại sau khi ở đó 215 năm.

Lịch sử và khảo cổ học tranh luận “ủng hộ” hay “chống lại” ý tưởng rằng có hai nhóm người rời Ai Cập trong cuộc Xuất hành theo Kinh thánh? Không nghi ngờ gì nữa, họ tranh luận theo hướng ủng hộ. Vào khoảng năm 1.500 trước Công nguyên, một nhóm người Canaan mà các học giả gọi là “Hyksos” và người Ai Cập cổ đại gọi là “Amo” đã rời Ai Cập trong một cuộc di cư hàng loạt. Các học giả gọi đây là “Trục xuất Hyksos”. Đồng thời, Kinh Thánh cho chúng ta biết (trong nguyên bản tiếng Do Thái) rằng “Amo Israel” tức là dân Israel, đã theo Môsê đến Đất Hứa.

Trong đoạn trích Torah của tuần này, “Ki Tisa”, chúng ta có câu chuyện về “Am” đã tạo ra con bê vàng. Những người này dường như được gọi là “Hyksos”. Phe của họ là một thách thức trực tiếp đối với sự lãnh đạo của Môsê và đối với thân tộc Israel của ông (Xuất hành 30: 11- 34: 35). Cuộc phản cách mạng của người Hyksos chỉ bị dập tắt sau khi khoảng 3.000 người nổi dậy bị giết bởi Môsê và lực lượng dân quân gia đình Lêvi của ông (Xuất hành 32: 28). Dù trường hợp nào, câu chuyện trong Kinh thánh ngụ ý rõ ràng rằng có hai nhóm rời khỏi Ai Cập, tức là phe ủng hộ và phe chống Môsê. Đây là một điểm quan trọng vì bằng chứng cho cuộc Xuất hành trong Kinh thánh có thể đang ẩn dấu sau cuộc khảo cổ học về Hyksos.

Khi Torah ghi lại rằng những người Israel ban đầu đã đến đồng bằng Ai Cập vì nạn đói, có vẻ như đã có một số dân người gốc Canaan, tức là người Hyksos, ở đó. Trong Sáng thế ký 41:44 , Giuse, con trai của Giacóp, trở thành giống như Pharaoh, tức là người đứng thứ hai sau Pharaoh của Ai Cập. Nếu ước tính của người Israel về sự hiện diện của họ ở Ai Cập là chính xác, thì việc Giuse lên nắm quyền diễn ra vào khoảng năm 1.700 trước Công nguyên. Nếu Giuse thực sự là một nhân vật nắm quyền giống như Pharaoh, vốn cai trị cả dân Israel và Hyksos, thì người ta nghĩ rằng phải có một số loại di tích khảo cổ chứng thực cho triều đại của ông. Và đã có.

Avaris; Nó có được đặt tên theo Giuse trong thánh kinh không?

Giáo sư Manfred Bietak đã đào bới tại Tell el-Dab’a ở Ai Cập trong hơn 40 năm. Ông đã xác định nó là “Avaris”, thủ đô Hyksos cổ đại. Avaris ở giữa khu vực mà Kinh thánh gọi là “Goshen” tức là khu vực mà dân Israel sinh sống trước cuộc Xuất hành. Từ “Avaris” không có nghĩa gì trong tiếng Ai Cập cả. Tuy nhiên, trong Torah, Giuse nhiều lần được gọi là “tên Hípri”; tức là “Ivri” trong tiếng Do Thái. Ông cũng được gọi nhiều lần và một cách kỳ lạ là “Ha Ish”; “Người đàn ông đó”. Nói cách khác, từ “Avaris” rất có thể liên quan đến Giuse, “Ish Ivri”, hoặc “Người đàn ông Hípri” (Sáng thế ký 39:14). Tất cả những điều này bị mất đi trong bản dịch khi Giuse được gọi đơn giản là “một tên Hípri”. Nói cách khác, cái gọi là thủ đô Hyksos dường như được đặt theo tên của Giuse, “Ish Ivri” tức là Avar-Ish.

Bên trái là hình ảnh dựng lại của Vị cai trị
Ai Cập vốn không phải gốc Ai Cập.

Trong khoảng thời gian từ 1986 đến 1988, Giáo sư Bietak đã tìm thấy phần còn lại của một bức tượng lớn dường như thuộc về một vị vua Avaris không phải gốc gác Ai Cập. Mặc dù chỉ còn lại những mảnh vỡ, các nhà khảo cổ học ước tính kích thước ban đầu của tượng người đang ngồi cao 2 mét và bệ đỡ 1,5 mét, tức là khoảng một lần rưỡi kích thước đời thực. Qua vai phải của bức tượng, bạn vẫn có thể nhìn thấy “cây trượng” của ông, tức là biểu tượng cho sự cai trị của ông. Ở mặt sau – đáng chú ý là với Giuse trong Kinh thánh – bạn vẫn có thể thấy bằng chứng cho thấy vị cai trị này mặc một bộ quần áo sọc, được tạo thành từ ít nhất ba màu: đen, đỏ và trắng. Ông được tìm thấy trong một ngôi mộ. Ngôi mộ trống rỗng. Đây có thể là kết quả của việc cướp bóc, nhưng người ta không thể không nhớ lại rằng câu chuyện trong Kinh thánh cho chúng ta biết rõ ràng rằng khi dân Israel rời khỏi Ai Cập thực hiện cuộc Xuất hành, họ đã mang theo xương của Giuse (Xuất hành 13:19). Nói cách khác, để phù hợp với tường thuật trong Kinh thánh, bất kỳ ngôi mộ nào của Giuse ở Ai Cập sẽ phải trống rỗng.

Họ gọi bức tượng là “Asiatic” tức là ông không phải là người Ai Cập, đúng hơn ông là một người đến từ vùng Canaan / Israel. Họ cũng có thể gọi ông là “Ish Ivri”. Không có nhiều điều về khuôn mặt của ông được để lại vì sau thời gian cai trị của ông, giống như với Giuse trong Kinh thánh, dân tộc của ông dường như đã trải qua một sự suy thoái. Nói cách khác, một người nào đó trong thời cổ đại đã lấy một cái búa đập vào mặt bức tượng. Nhưng kiểu tóc của ông vẫn còn nguyên vẹn. Họ gọi nó là kiểu tóc “nấm” và nó đặc biệt liên quan đến những người không thuộc nguồn gốc Ai Cập, nhưng đến từ khu vực Canaan / Israel cổ đại. Điều thú vị là nó khá “hợp thời – đúng mốt”, và Talmud đã cố gắng nói với chúng ta rằng Giuse là một tín đồ thời trang (Genesis Rabbah, 87: 3 ). Trên thực tế, Rabbinic Midrash Tanhuma Vayyesheb 8 đặc biệt nói về việc Giuse uốn tóc.

Bức tượng được tìm thấy trong một tầng địa chất tương ứng với năm 1.700 trước Công nguyên. Nói cách khác, nếu chúng ta lấy năm 1.500 trước Công nguyên làm niên đại của cuộc Xuất hành, và nếu người Israel lưu lại Ai Cập khoảng 200 năm, thì bức tượng của người cai trị này hoàn toàn phù hợp với câu chuyện về tổ phụ Giuse, người trị vì khoảng 215 năm trước cuộc Xuất hành.

Tất nhiên đó là phỏng đoán, nhưng dựa trên bằng chứng, tôi nghĩ chúng ta có thể nói rằng bức tượng của Giuse rất có thể đã được tìm thấy ở Ai Cập. Tại sao không ai để ý? Bởi vì các nhà sử học – một cách có ý thức hoặc vô thức – che giấu lịch sử của Israel / Do Thái đằng sau các thuật ngữ như “Hyksos”, “Asiatics” và “Amo”. Điều thú vị là các nhà chức trách Ai Cập dường như tin rằng bức tượng thực sự có liên quan đến Kinh thánh của  người Do Thái giáo. Vài năm trước, khi tôi ở Ai Cập để quay bộ phim “The Exodus: Decoded – Cuộc Xuất Hành: Giải mã”, tôi đã yêu cầu được quay cảnh phát hiện của Giáo sư Bietak. Các nhà chức trách Ai Cập vốn không thích thứ khảo cổ học nào mà lại xác nhận Kinh thánh của người Do Thái, vì vậy họ nói với tôi rằng bức tượng đã bị “đặt nhầm chỗ”. Nhưng vì hiện vật có trọng lượng khá lớn nên đây không phải là thứ mà bạn có thể dễ dàng “đặt nhầm chỗ”.

Có vẻ như người Ai Cập cũng tin rằng những gì họ đang giấu trong lòng Bảo tàng Cairo là tượng đài duy nhất của tổ phụ Giuse từng được tìm thấy.

Thông tin về các tác giả: Simcha Jacobovici là nhà làm phim và nhà báo người Canada gốc Israel. Ông là người ba lần đoạt giải Emmy vì là “Nhà báo điều tra xuất sắc” và là tác giả bán chạy nhất của Thời báo New York. Ông cũng là trợ giảng tại Khoa Tôn giáo tại Đại học Huntington, Ontario.

Phạm Văn Trung chuyển ngữ, từ blogs.timesofisrael.com.

Read More
05Tháng Tư
2021

Sự Phục Sinh của Đức Giêsu, Đấng Chịu Chết và Chịu Đóng Đinh

05/04/2021
Anmai
GH Hoàn Vũ, Tin tức
0

Sự Phục Sinh của Đức Giêsu, Đấng Chịu Chết và Chịu Đóng Đinh

    Ảnh: Đức Kitô Phục Sinh, của Hendrik de Klerck (1560/1570–1630)

    SỰ PHỤC SINH CỦA ĐỨC GIÊSU, ĐẤNG CHỊU CHẾT VÀ CHỊU ĐÓNG ĐINH

    WGPQN (04.04.2021) – Sau cú sốc đóng đinh, các môn đệ của Đức Giêsu lại phải kinh nghiệm thêm một điều còn hoang mang hơn: sự phục sinh. Sự biến đổi của hữu thể là một thực tại siêu vượt, khó tả bằng lời và đôi khi bị những người tin hiểu nhầm, dù đây là nền tảng của đức tin Kitô giáo. Để làm sáng tỏ vấn đề này, Christiane Cloutier Dupuis vạch lại những dấu vết của niềm tin này trong Cựu Ước, lưu ý đến ý nghĩa của nó đối với người Do Thái thời Đức Giêsu và kết luận với một suy tư về ý nghĩa của nó đối với chúng ta hiện nay. (Người dịch)

    Chỉ cần đọc năm chương đầu tiên của sách Tông đồ công vụ đủ để nhận thấy tầm quan trọng của sự phục sinh Đức Giêsu đối với những cộng đoàn Kitô giáo tiên khởi. Chính ở đây ta tìm thấy Tin mừng tiên khởi (kérygme), nghĩa là sự tuyên xưng đức tin ở đầu nguồn Kitô giáo: “Đức Giêsu Nadarét, là người đã được Thiên Chúa phái đến với anh em […] anh em đã dùng bàn tay kẻ dữ đóng đinh Người vào thập giá mà giết đi […] Nhưng Thiên Chúa đã làm cho Người sống lại” (Cv 2, 22-24). Khẳng định này, đặc biệt nói về cuộc đóng đinh và sống lại của Đức Giêsu, cũng được tìm thấy trong Cv 2, 31-33; 3, 13-15; 4, 10-11; 5, 30-31. Như thế, đủ để thấy tầm quan trọng của nó.

    Nguồn gốc và tiến triển.

    Để hiểu rõ hơn về sự phục sinh, phải ngược dòng lên đến tận nguồn của niềm tin này trong Do Thái giáo, bởi vì Đức Giêsu, các môn đệ và tông đồ của Ngài, các thành viên của cộng đoàn Giêrusalem đầu tiên, họ đều là người Do Thái tự huyết thống, với tôn giáo và văn hóa của họ. Vì thế chúng ta phải đặt sự phục sinh trong bối cảnh này. Nếu các tông đồ cũng như các môn đệ đã tin thì chính là vì sự phục sinh những kẻ chết là một phần trong niềm tin tôn giáo của họ. Niềm tin vào sự phục sinh đã xuất hiện vào thế kỷ II trước Công nguyên, với sự bách hại của Antiochus IV Épiphane, người muốn Hy Lạp hóa dân tộc Do Thái, bắt buộc họ phải thay đổi tôn giáo và ngôn ngữ của mình. Lúc ấy, người Do Thái nổi loạn lên để giữ trung thành với Thiên Chúa và rồi sau đó là cuộc chiến đẫm máu. Biến cố này đã mở ra một suy tư thần học quan trọng: nếu Thiên Chúa là công bình và khi người ta chết vì lòng trung thành với Ngài, thì điều gì xảy ra với những người trẻ tuổi đã bị giết vì lòng tin của họ? Câu trả lời thần học cho câu hỏi này được diễn tả trong sách II Macabê 7, 9 : “Vua [Antiochus Épiphane] là một tên hung thần, vua khai trừ chúng tôi ra khỏi cuộc đời hiện tại, nhưng bởi lẽ chúng tôi chết vì Luật pháp của Vua vũ trụ, nên Người sẽ cho chúng tôi sống lại để hưởng sự sống đời đời” và trong sách Đanien 12, 2: “Trong số những kẻ an nghỉ trong bụi đất, nhiều người sẽ trỗi dậy: người thì để hưởng phúc trường sinh, kẻ thì để chịu ô nhục và bị ghê tởm muôn đời”.

    Vào thời Đức Giêsu

    Vào thế kỷ I của kỷ nguyên chúng ta, người ta đọc lại và giải thích những bản văn Cựu Ước dưới ánh sáng của văn chương cận Kinh Thánh (parabiblique), những bản văn Do Thái giáo và Kitô giáo được soạn thảo bên ngoài Kinh Thánh, nhưng không được xem như là được linh hứng. Chẳng hạn, người Pharisiêu tin rằng sự phục sinh sẽ xảy ra sau khi Đấng Cứu Thế (Messie) đến và đó sẽ là sự sống được biến đổi với Thiên Chúa như diễn tả của sách Đanien, sách Các dụ ngôn (phần thứ hai của sách Hênốc được soạn thảo vào khoảng năm 100 trước Công nguyên) và Các thánh vịnh Salômon (63-50 trước Công nguyên): “Những ai kính sợ Thiên Chúa sẽ được sống lại để sống đời đời và sự sống của họ trong ánh sáng của Đức Chúa sẽ không bao giờ ngừng” (33, 16). Trong Mc 12, 18-27, khi những người Sađucêô hỏi Đức Giêsu về vấn đề phục sinh, câu trả lời đã thể hiện quan niệm của Ngài: “Khi người ta từ cõi chết sống lại, thì chẳng còn lấy vợ lấy chồng, nhưng sẽ giống như các thiên thần trên trời” (12, 25). Đây là ảnh hưởng trực tiếp của sách Hênốc: “Tất cả những người công chính sẽ trở nên như thiên thần trên trời” (51, 4). Nhưng ví dụ quyết định để thấy sự khai triển này là sự đọc lại của ngôn sứ Hôsê 6, 2 (thế kỷ VIII trước Công nguyên): “Sau hai ngày, Người sẽ hoàn lại cho chúng ta sự sống; ngày thứ ba, sẽ cho chúng ta trỗi dậy, và chúng ta sẽ được sống trước nhan Người”. Vào thời Đức Giêsu, câu này được đọc lại trong sách Targum (bản dịch Sách Thánh từ tiếng Hípri sang tiếng Aram, ngôn ngữ của Đức Giêsu): “Ngài sẽ làm cho chúng ta sống lại vào ngày an ủi sẽ xảy đến; ngày mà Ngài sẽ cho những kẻ chết sống lại, Ngài sẽ cho chúng ta trỗi dậy và chúng ta sẽ sống trước sự hiện diện của Ngài”. Câu này chuyển từ một thời gian có tính niên đại (chronologique) sang thời gian có tính biểu tượng (symbolique); ngày thứ ba đồng nghĩa với ngày sống lại. Ta thấy cùng một giải thích như trên trong sách Midrash Rabbah về sách Sáng Thế Ký 22, 4[1]: “Ngày thứ ba, đó là ngày sống lại của những kẻ chết”.

    Ta lại thấy ý nghĩa này trong các trình thuật của Tân Ước. Tân Ước không gợi lên điều gì về sự hồi sinh một xác chết nhưng là sự đi vào một sự sống mới mà ta có thể hiệp thông trọn vẹn với Thiên Chúa trong một hiện hữu được biến bình, như diễn tả của văn chương Do Thái vào thời ấy. Chứng nhân tuyệt vời xác nhận cách hiểu này chính là tông đồ Phaolô, người đã viết các thư của mình trước cả các tin mừng. Đây là điều mà ngài giải thích cho các tín hữu Côrintô khi họ đặt vấn nạn về vấn đề này: “Nhưng có người sẽ nói: kẻ chết trỗi dậy thế nào? Họ lấy thân thể nào mà trở về? Đồ ngốc! […] Việc kẻ chết sống lại cũng vậy: gieo xuống thì hư nát, mà trỗi dậy thì bất diệt; gieo xuống thì hèn hạ, mà trỗi dậy thì vinh quang; gieo xuống thì yếu đuối, mà trỗi dậy thì mạnh mẽ, gieo xuống là thân thể có sinh khí, mà trỗi dậy là thân thể có thần khí” (1 Cr 15, 35-44). Đó là tình trạng được ở với Thiên Chúa, một hữu thể hoàn toàn thiêng liêng. Cũng nên lưu ý rằng từ soma trong tiếng Hy Lạp, thường được dịch là “thân xác”, tuy nhiên nó cũng có nghĩa là “ngôi vị” (personne) trong ngôn ngữ phổ thông của những người thuộc thế kỷ I của kỷ nguyên chúng ta. Như thế, đối với Thánh Phaolô, chính ngôi vị phục sinh. […]

    Hiểu các trình thuật phục sinh như thế nào?

    So sánh các trình thuật phục sinh ta thấy nhiều khác biệt và lệch nhau đến độ có thể mất đức tin! Chính vì thế nên thật quan trọng để nắm bắt điều chính yếu trong những trình thuật này mà thoạt nhìn xem ra có vẻ mâu thuẫn. Daniel Marguerat[2] giải thích rằng kinh nghiệm sống của một người không phải là bản sao của người khác, thế nên có sự rời rạc rõ ràng. Có tính chủ quan và tính cá biệt trong đó vì nó luôn là một kinh nghiệm cực kỳ cá nhân.

    Câu hỏi lớn được đặt ra vào thời đại ấy là: làm sao thuật lại một sự kiện tương tự nhau? Làm sao diễn tả một kinh nghiệm thiêng liêng liên quan đến điều khó nói và khó tả? Các nhân chứng của sự phục sinh đều là người Sêmít. Vì thế, họ diễn tả theo nền văn hóa của họ có khuynh hướng nại đến các hình ảnh trước hết. Họ có cảm hứng dồi dào từ ngôn ngữ của Cựu Ước mà theo đó thì nhìn thấy Thiên Chúa không có nghĩa là thấy được mặt Ngài nhưng nghe Lời Ngài. Đó là một thành ngữ Hípri, một lối nói Sêmít. Vì thế, khi các môn đệ và tông đồ muốn thuật lại rằng Đức Giêsu vẫn luôn luôn sống, họ đã kín mức từ trong nền văn hóa tôn giáo của mình. Các tác giả đã chọn những động từ phù hợp trong tiếng Hy Lạp: “thấy” với nghĩa là “nghe” hoặc “hiểu” và “làm cho thấy” có nghĩa là “tỏ mình”. Điều này giải thích tại sao trong các bản văn nói về sự hiện ra của Đức Giêsu phục sinh, người ta không mô tả nó mà chỉ nói rằng đã nhận ra Ngài nhờ lời và các cử chỉ của Ngài. Và khi người ta dịch rằng: “Ngài đã hiện ra”, thì phải đọc theo ý nghĩa Sêmít của động từ Hy Lạp: “Ngài đã tỏ mình”. Những thế hệ Kitô hữu đầu tiên đã hiểu rõ ý nghĩa của phục sinh. Có lẽ vì thế mà nó thật đáng tin dưới mắt họ và kém đi dưới mắt chúng ta.

    Ngày nay, làm sao hiểu về sự phục sinh?

    Các thành viên của thế hệ Kitô hữu đầu tiên đã kinh nghiệm về Đức Giêsu chịu chết vì đóng đinh, nhưng vẫn luôn luôn sống. Họ hoàn toàn bị xáo trộn về điều đó. Vì thế buộc họ phải đọc lại căn tính và hành động của Ngài: Ngài thật sự là ai và sứ mệnh Ngài là gì, một sứ mệnh rất quan trọng dưới mắt Thiên Chúa? Trong những chương đầu của sách Tông đồ công vụ, chính kinh nghiệm về sự phục sinh của Ngài đã mở tâm thức của họ về hai vấn đề này. Diễn từ của Thánh Phêrô trong Cv 2, 22-24 rất rõ ràng về vấn đề này: “Thưa đồng bào Ítraen, xin nghe những lời sau đây. Đức Giêsu Nadarét, là người đã được Thiên Chúa phái đến với anh em. Và để chứng thực sứ mệnh của Người, Thiên Chúa đã cho Người làm những phép mầu, điềm thiêng và dấu lạ giữa anh em. Chính anh em biết điều đó. Theo kế hoạch Thiên Chúa đã định và biết trước, Đức Giêsu ấy đã bị nộp, và anh em đã dùng bàn tay kẻ dữ đóng đinh Người vào thập giá mà giết đi. Nhưng Thiên Chúa đã làm cho Người sống lại, giải thoát Người khỏi những đau khổ của cái chết. Vì lẽ cái chết không tài nào khống chế được Người mãi”. Họ đã nhận ra Ngài đích thị là Đấng Cứu Thế và sứ mệnh của Ngài đến từ Thiên Chúa. Họ đã hiểu tầm quan trọng của sứ mệnh Ngài vì sự phục sinh là lời đáp trả của Thiên Chúa đối với sự trung thành của Đức Giêsu. Chính vào thời khắc này mà họ ý thức được mọi trọng trách của tình trạng làm môn đệ của mình. Nếu thực tế họ đã gặp gỡ Ngài, đã tin vào Ngài, đã đi theo Ngài và đã chấp nhận được Ngài chọn lựa, thì chính vì thế mà họ phải tiếp tục sứ mệnh của Ngài khi loan báo sứ điệp Ngài và làm lại những cử chỉ của Ngài.

    Chúng ta không thể hỏi các môn đệ đầu tiên về kinh nghiệm này và tại sao họ tin chắc như thế. Nhưng sự thay đổi thái độ của họ giữa cuộc khổ nạn và sau phục sinh là dấu hiệu rõ ràng nhất cho sự phục sinh. Trong trình thuật khổ nạn, Phêrô đã chối Ngài và tất cả họ đều trốn hết vì sợ. Trong Công vụ, họ đã trở nên cam đảm và kiên quyết; không gì có thể làm họ thinh lặng hay ngăn cản họ nói về Ngài. Chúng ta cũng phải nắm vững về sự phục sinh. Sự vững vàng của đức tin chúng ta dựa vào đó. Chúng ta cũng phải suy nghĩ lại về hiện trạng làm môn đệ của chúng ta như là các chứng nhân cho sự phục sinh đã làm. Đâu là sứ mệnh của chúng ta ở đây và bây giờ? Chúng ta có thể nói về Đức Kitô phục sinh một cách có hiểu biết và có ý nghĩa không? Chúng ta sống sứ điệp mà Ngài đã loan báo đến đâu và như thế nào? Đó là chất liệu để suy tư trong mùa Phục Sinh này!
    Tác giả: Christiane Cloutier Dupuis
    Chuyển ngữ: Lm. Phaolô Nguyễn Minh Chính
    Từ: Parabole, Mars 2021, Vol. XXXVII, No 1, tr. 7-9

    [1] Stk 22, 4: “Sang ngày thứ ba, ông Ápraham ngước mắt lên, thấy nơi đó ở đàng xa”.

    [2] Trong Résurrection, une histoire de vie, Poliez-le-Grand, Editions du Moulin, 2001, tr. 57-69.

    Read More
    05Tháng Tư
    2021

    Sơ Alicia Vacas Moro, người được trao giải “Người Phụ nữ can đảm” năm 2021

    05/04/2021
    Anmai
    GH Hoàn Vũ, Tin tức
    0

    Sơ Alicia Vacas Moro, người được trao giải “Người Phụ nữ can đảm” năm 2021

     

    Ngày 8/3/2021, trong một hội nghị trực tuyến, cùng với 13 phụ nữ khác, sơ Alicia Vacas Moro, 41 tuổi, người Tây Ban Nha, dòng Comboni, đã được Ngoại trưởng Hòa Kỳ Anthony Blinken trao giải quốc tế “Người Phụ nữ can đảm” năm 2021, vì cuộc đời cống hiến cho hòa bình và công lý của sơ Alicia, đặc biệt là vì những người dễ bị tổn thương nhất.

     

     

    Đại sứ quán Hoa Kỳ cạnh Tòa thánh ở Roma cũng đã tổ chức sự kiện trực tuyến nhân dịp trao giải “Phụ nữ can đảm” vào cùng Ngày Quốc tế Phụ nữ.

     

    Trước buổi lễ, ông Patrick Connell, xử lý thường vụ của đại sứ quán Hoa Kỳ, nói rằng cá nhân ông được truyền cảm hứng từ “cuộc đời cống hiến cho hòa bình và công lý của sơ Alicia, đặc biệt là vì những người dễ bị tổn thương nhất.” Ông cho biết, hơn 20 năm, sơ Alicia đã phục vụ tại những cộng đồng bị chiến tranh tàn phá ở Trung Đông, ủng hộ những người không thể lên tiếng nói ở những nơi bị chiến tranh và bất an bao vây. Ông nói: “Sơ Alicia đã làm việc với tư cách là một y tá chuyên nghiệp và một nhà vận động nhân quyền đấu tranh để trao quyền cho phụ nữ, giáo dục trẻ em và cung cấp dịch vụ chăm sóc y tế trong các cộng đồng chủ yếu là người Hồi giáo.”

     

    Người nữ tu vì người nghèo

     

    Là một nữ tu dòng truyền giáo thánh Comboni, sơ Alicia đã phục vụ người nghèo ở Ai Cập 8 năm; sơ điều hành một phòng khám y tế phục vụ 150 bệnh nhân có thu nhập thấp mỗi ngày. Sau đó sơ được gửi đến Betania, ở Bờ Tây; tại đây sơ đã thành lập các trường mẫu giáo và các chương trình đào tạo cho phụ nữ trong các trại Bedouin nghèo khó. Hiện tại sơ là điều phối viên khu vực của các nữ tu dòng Comboni ở Trung Đông, với 40 nữ tu trợ giúp các nạn nhân của bạn buôn người, người tị nạn và người xin tị nạn trong khu vực.

     

    Năm 2020, sơ Alicia đã đến Ý để giúp đỡ các nữ tu cùng dòng sau khi đại dịch Covid-19 bùng phát tại tu viện của họ ở miền bắc nước Ý. Tại một hội nghị chuyên đề được các đại sứ quán Hoa Kỳ và Anh cạnh Tòa thánh tổ chức trực tuyến vào tháng 6 năm 2020, sơ đã chia sẻ kinh nghiệm của mình trong thời kỳ đại dịch: “Thật không may, một trong những cộng đoàn của chúng tôi ở Bergamo đã bị nhiễm virus corona ngay từ khi đại dịch bùng phát, và chúng tôi bắt đầu nhận được tin tức rất xấu từ cộng đoàn. Một số nữ tu trẻ, một số y tá chúng tôi tình nguyện và giúp đỡ họ.”

     

    Chia sẻ cuộc sống và đau khổ với người dân là một đặc ân

     

    Khi sơ Alicia đến Bergamo, ở miền Lombardia, tâm điểm của đợt bùng phát virus corona ở Ý, sơ thấy rằng nhà mẹ của dòng Comboni “thực sự hỗn loạn” bởi vì “mọi người đều bị bịnh.” Sơ ước tính có 45 nữ tu trong số 55 người sống ở Bergamo bị bệnh. 10 nữ tu trong cộng đoàn đã qua đời trong thời gian dịch bệnh bùng phát. Sơ Alicia nói: “Sống bên trong nỗi đau của người dân ở Bergamo thật là một trải nghiệm rất mạnh mẽ”, một trải nghiệm về cuộc Thương khó của Chúa Kitô. Theo sơ, “là một nữ tu dòng Comboni, chia sẻ cuộc sống, đau khổ với người dân là một đặc ân, một quà tặng Thiên Chúa trao ban cho hội dòng.”

     

    Giải thưởng quốc tế “Người Phụ nữ dũng cảm”

     

    Giải thưởng quốc tế “Người Phụ nữ dũng cảm” được tổ chức từ 15 năm nay. Nó nhìn nhận “những phụ nữ trên toàn cầu đã thể hiện lòng dũng cảm và khả năng lãnh đạo phi thường trong việc ủng hộ hòa bình, công lý, nhân quyền, bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ, thường phải chịu rủi ro và hy sinh cá nhân lớn”.

     

    Những nữ tu đã được trao giải

     

    Sơ Alicia không phải là nữ tu đầu tiên được Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ trao giải “Người Phụ nữ can đảm”. Năm 2019, sơ Orla Treacy, một nữ tu người Ai-len, dòng Đức Mẹ Loreto đã được nhận được giải thưởng vì công việc giáo dục các thiếu nữ ở Nam Sudan. Năm 2018, một nữ tu người Ý, sơ  Maria Elena Berini, đã được vinh danh trong danh sách “Người Phụ nữ can đảm” vì công việc phục vụ những người phải di tản trong nước từ các khu vực xung đột ở Cộng hòa Trung Phi. Trước đó, năm 2017, sơ Carolin Tahhan Fachakh, dòng Salêdiêng người Syria, người đã chăm sóc cho các phụ nữ và trẻ em ở Damascus trong cuộc nội chiến Syria, đã nhận được giải thưởng.

     

    Các nữ tu tại là những tia sáng hy vọng cuối cùng cho người khốn khổ

     

    Đại diện của Đại sứ quán Hoa Kỳ cạnh Tòa Thánh nói rằng sơ Alicia là một trong nhiều “nữ tu truyền cảm hứng cho người khác, những người làm việc không mệt mỏi để nâng cao phẩm giá và tự do của con người.” Ông lưu ý rằng các nữ tu  thường phục vụ ở các khu vực mà chính phủ đã thất bại và nơi mà các tổ chức nhân đạo cố gắng để hoạt động và gặp rủi ro rất cao. Theo ông, “các nữ tu là một trong những đối tác quan trọng và hiệu quả nhất mà chúng tôi có ở tiền tuyến trong các cộng đồng mong manh trên khắp thế giới. Họ thường là những tia sáng hy vọng cuối cùng cho hàng triệu người, những người mà nếu không có các nữ tu thì tiếng nói của họ không được lắng nghe.” (CNA 09/03/2021)

     

    Hồng Thủy

    (vaticannews.va 04.04.2021)

     

    Read More
    05Tháng Tư
    2021

    Đức Thượng Phụ và dòng Phanxicô tại Thánh Địa

    05/04/2021
    Anmai
    GH Hoàn Vũ, Tin tức
    0

    Đức Thượng Phụ và dòng Phanxicô tại Thánh Địa

    Trong những ngày Tuần Thánh và Phục Sinh này, tâm hồn của các tín hữu Kitô ở các nơi không thể không hướng về Thánh Địa, nơi Chúa Giêsu đã sinh ra, chịu chết và sống lại để cứu chuộc nhân loại. Nhân dịp này chúng tôi xin gửi đến quí vị vài nét về hai cột trụ chính của Giáo Hội địa phương, đó là Đức Thượng Phụ và cộng đoàn Dòng Phanxicô hiện diện từ hơn 800 năm nay tại đây.

    Đức Thượng Phu Pierbattista Pizzaballa trong ngày lễ Lá

    Đức Thượng Phụ

     Vị Chủ Chăn hiện nay của cộng đoàn Giáo Hội Công Giáo tại Thánh Địa là Đức Thượng Phụ Pierbattista Pizzaballa, người Ý, năm nay 56 tuổi, từ 31 năm nay sinh sống và hoạt động tại Thánh Địa. Ngài sinh tại giáo phận Bergamo, bắc Ý, gia nhập dòng Phanxicô và thụ phong linh mục năm 1990 khi được 25 tuổi, sau đó được bề trên gửi đến Thánh Địa, học thêm 3 năm về Kinh Thánh tại học viện của dòng ở Giêrusalem, rồi làm giáo sư dạy tiếng Do thái Kinh Thánh tại phân khoa của dòng cũng tại Giêrusalem.

     Cha Pizzaballa chính thức phục vụ trong dòng Phanxicô tại Thánh Địa từ tháng 7 năm 1999; 2 năm sau, cha được bổ nhiệm làm Bề trên tu viện thánh Simeon và Anna tại Giêrusalem. Cha dấn thân trong việc mục vụ các tín hữu Công Giáo nói tiếng Do thái và được bổ nhiệm làm Đại diện Đức Thượng Phụ trong 3 năm, từ 2005 đến 2008. Tháng 5 năm 2004, Hội đồng Tổng cố vấn của dòng Phanxicô chọn cha Pizzaballa làm Bề trên Dòng Phanxicô tại Thánh Địa đồng thời làm Bề trên tu viện Núi Sion. Ngày 24/6/2016, sau khi mãn 2 nhiệm kỳ bề trên dòng, tổng cộng 12 năm, cha được Đức Thánh Cha Phanxicô bổ nhiệm làm Tổng Giám Mục Giám quản Tông Tòa tòa Thượng Phụ Công Giáo Latinh, thay thế Đức Thượng Phụ Fouad Twal, người Jordan, từ chức vì lý do tuổi tác.

     Giám quản Tông Tòa

     Trong nhiệm vụ mới, Đức Tổng Giám Mục Pizzaballa thay mặt Đức Thánh Cha cai quản Giáo phận Thượng Phụ Giêrusalem của Công Giáo Latinh, có 320 ngàn tín hữu – đa số nói tiếng Arập – thuộc 71 giáo xứ, chia làm 6 giáo hạt ở Israel, Palestine, Jordan và đảo Síp. Thêm vào đó có các cộng đoàn tín hữu thuộc các ngôn ngữ như Do thái và các tiếng khác, trong đó có đông đảo tín hữu Philippines nhập cư. Trong giáo phận của Đức Tổng Giám Mục Pizzaballa có 95 linh mục triều, 385 linh mục dòng, hơn 1 ngàn nữ tu, 572 tu huynh, và khoảng 40 cơ sở giáo dục Công Giáo.

     Thăng Thượng Phụ

     Sau 4 năm làm giám quản, ngày 24/10/2020, Đức Tổng Giám Mục Pizzaballa được Đức Thánh Cha bổ nhiệm làm Thượng Phụ Công Giáo Latinh Giêrusalem. Khác với Công giáo nghi lễ Đông phương, trong Công giáo Latinh, Thượng Phụ là một tước hiệu danh dự, và thực tế ngài trở thành Tổng Giám Mục chính tòa của giáo phận công giáo Latinh ở Thánh Địa. 4 ngày sau đó, nhân dịp ghé Roma, ngài đã được Đức Thánh Cha trao giây Pallium trong một nghi thức đơn sơ tại nguyện đường nhà trọ thánh Marta ở Vatican. Giây Pallium biểu tượng chức vụ chủ chăn tại Giáo Hội địa phương và sự hiệp thông với tòa Thánh Phêrô. Đức Thượng Phụ đã chính thức nhậm chức ngày 4/12 sau đó trong một buổi lễ trọng thể nhưng số người tham dự bị giới hạn, khoảng 50 người, vì đại dịch Covid-19.

     Hai vị tiền nhiệm của Đức Tổng Giám Mục Pizzaballa đều là người Arập bản xứ, vì thế sự kiện Đức tân Thượng Phụ là người Ý, không nói tiếng Arập, gây xì xèo nơi một số giáo sĩ và giáo dân địa phương người Arập.

     Vấn đề của Giáo Phận Thánh Địa

     Thật ra, khi Đức Thượng Phụ Fouad Twal từ chức, ngài để lại một giáo phận ở trong tình trạng khó khăn về hành chánh và tài chánh, do việc xây cất và khởi sự Đại học Hoa kỳ ở Madaba, được khánh thánh ngày 30/5/2013 trước sự hiện diện của quốc vương Giordani. Trong vụ này có nhiều sai lầm khiến tòa Thượng Phụ mắc nợ gần 100 triệu Mỹ kim.

     Trong 4 năm làm Giám quản, Đức Tổng Giám Mục Pizzaballa đã trang trải được 60% món nợ và cải tiến công việc quản trị kinh tế tài chánh, đồng thời đã thiết lập và công bố “Qui chế điều hành” đời sống nội bộ của Giáo Hội địa phương. Văn kiện được Đức Tổng Giám Mục Pizzaballa ký ngày 4/6/2020, nhắm mục đích hòa hợp các qui luật điều hành hoạt động của các tổ chức khác nhau thuộc Tòa Thượng Phụ, chiếu theo giáo luật và các qui định gần đây của Tòa Thánh. Với kết quả đó, việc bổ nhiệm Đức Tổng Giám Mục Pizzaballa làm Thượng Phụ đã được hàng giáo sĩ và các thành phần khác trong giáo phận chấp nhận dễ dàng.

     Hai cột trụ của Giáo Phận

     Trong cuộc phỏng vấn hôm 31/3/2021 dành cho báo La Stampa ở Ý, Đức Thượng Phụ Pizzaballa nói: “Dòng Phanxicô tại Thánh Địa và Tòa Thượng Phụ Công Giáo Latinh là hai cơ chế Công Giáo quan trọng tại Thánh Địa, đã làm nên lịch sử cổ kính và gần đây của Cộng đoàn Kitô và Công Giáo tại đây.

     “Dòng Phanxicô tại Thánh Địa, từ hơn 800 năm nay, đã được các vị Giáo Hoàng trao trách vụ quan trọng là gìn giữ các Nơi Cứu Chuộc, nghĩa là các Nơi Thánh, nhân danh toàn thể Giáo Hội. Nhưng trong thời gian dài, sau thời kỳ Đạo binh Thánh giá, tại Thánh Địa không thể đặt các Giám Mục cho đời sống bình thường của Giáo Hội, vì những giới hạn do nhà cầm quyền thời đó áp đặt. Vì thế, trong nhiều thế kỷ, các tu sĩ Dòng Phanxicô đảm trách bao nhiêu có thể công việc mục vụ được phép. Tình thế thay đổi từ năm 1847, khi Giáo Hội được phép tái lập Tòa Thượng Phụ Công Giáo Latinh, nghĩa là tái lập tại Thánh Địa một Giám Mục và các cơ chế Giáo Hội của một giáo phận bình thường. Từ đó, sự phân biệt giữa hai thực thể được duy trì, nghĩa là Dòng Phanxicô chăm sóc các nơi Thánh và Tòa Thượng Phụ đảm trách đời sống mục vụ. Nhưng có một số hoạt động mục vụ đã có trước năm 1847, như một số giáo xứ vẫn còn ở dưới sự chăm sóc của các tu sĩ Phanxicô và được Đức Thượng Phụ hướng dẫn về mục vụ. Đức Thượng Phụ là mục tử của Giáo Hội tại Thánh Địa, trong đó Dòng Phanxicô tại đây là một phần quan trọng, một phần cấu thành”.

     Nhìn lại lịch sử: Tỉnh dòng Thánh Địa

     Các tu sĩ Phanxicô đầu tiên đổ bộ lên Thánh Địa vào năm 1217, năm diễn ra Tổng tu nghị đầu tiên của dòng tại Santa Maria degli Angeli (Đức Mẹ các Thiên Thần), gần Assisi, dưới quyền chủ tọa của Thánh Phanxicô. Thánh nhân đã quyết định gửi các tu sĩ đi các nước trên thế giới và từ đó Dòng được chia thành các tỉnh. Trong số 11 tỉnh dòng đầu tiên có Tỉnh Dòng Phanxicô Thánh Địa. Tỉnh dòng này rất rộng lớn và được coi là tỉnh quan trọng nhất của Dòng, bao gồm cả Constantinople bên Thổ nhĩ kỳ, Hy Lạp và các đảo, Tiểu Á, Antiokia, Siria, Palestine, đảo Síp, Ai Cập và toàn Đông Phương. Năm 1219, chính thánh Phanxicô viếng thăm tỉnh dòng Thánh Địa.

     Thu hẹp Tỉnh Dòng

     Dưới thời thánh Bonaventura làm Bề trên Tổng quyền (1257-1974), Dòng Phanxicô quyết định thu hẹp Tỉnh Dòng Thánh Địa chỉ bao gồm đảo Síp, Siria, Li-băng, Palestine, và chia thành các Custodia (Phó tỉnh dòng), trong đó có “Custodia Thánh Địa” bao gồm 6 tu viện, trong đó có Giêrusalem. Sau khi người Hồi giáo chiếm Thánh Địa năm 1291, các tu sĩ Phanxicô bị trục xuất và phải di tản về đảo Síp. Và đến thế kỷ 14 mới dần dần trở lại Thánh Địa.

     Tỉnh dòng hiện nay

     Hiện nay Dòng Phanxicô tại Thánh Địa, vẫn được gọi bằng tên hiệu lịch sử chính thức là “Custodia di Terra Santa” (Phó Tỉnh Dòng Thánh địa), nhưng thực ra có cơ cấu giống như một tỉnh dòng, với nhiều đặc tính riêng, và có 56 tu viện tại 12 quốc gia là Israel, Palestine, Jordan, Li-băng, Siria, Ai Cập, Síp, Hy Lạp, Argentina, Ý, Tây Ban Nha và Hoa Kỳ, cùng với 66 “Commissariati” (nhà Ủy viên) và 31 phó ủy viên Thánh địa tại 51 quốc gia. Các tổ chức này có nhiệm vụ phổ biến các sinh hoạt của Dòng Phanxicô, quyên góp tài trợ cho các hoạt động của dòng tại Thánh Địa. Tỉnh dòng này có đặc tính quốc tế, hiện nay gồm khoảng 320 tu sĩ đến từ các tỉnh dòng khác.

     Bề trên dòng Phanxicô tại Thánh Địa hiện nay là Cha Francesco Patton, 58 tuổi, gốc tỉnh dòng Thánh Antôn ở Ý, tốt nghiệp cao học về truyền thông và từng làm Bề trên tỉnh dòng thánh Vigilio ở bắc Ý. Cha được Hội đồng Tổng cố vấn dòng chọn làm Bề trên của Dòng Phanxicô tại Thánh địa hồi năm 2016, và được Tòa Thánh phê chuẩn sau đó.

    Giuse Trần Đức Anh O.P

    (vaticannews.va 04.04.2021)

    Read More

    Điều hướng bài viết

    • Previous page
    • Page 1
    • …
    • Page 465
    • Page 466
    • Page 467
    • …
    • Page 717
    • Next page
    Bài viết mới nhất
    DƯ ÂM CHUYẾN TÔNG DU CỦA ĐỨC THÁNH CHA LÊÔ XIV TẠI CHÂU PHI
    30/04/2026
    ASSISI: THƯ CHUNG CỦA HỘI ĐỒNG CÁC BỀ TRÊN TỔNG QUYỀN PHAN SINH GỬI GIA ĐÌNH PHAN SINH NHÂN KỈ NIỆM 800 NĂM THÁNH PHANXICÔ VỀ TRỜI
    30/04/2026
    LINH ĐẠO CỦA CHÂN PHƯỚC PHANXICÔ XAVIÊ TRƯƠNG BỬU DIỆP
    30/04/2026
    Video nổi bật
    https://www.youtube.com/watch?v=Td144YDsaGo
    Sự kiện sắp tới

    There are no upcoming events at this time.

    Ủy ban Giáo dục Công giáo – Trực thuộc Hội Đồng Giám Mục Việt Nam.

    Liên hệ

    72/12 Trần Quốc Toản, Phường 8, Quận 3, TP.HCM Get Directions

    Phone: +84 931 436 131

    Email: [email protected]

    Ban chuyên môn
    • Ban Tài liệu và Truyền thông
    • Ban Giáo chức
    • Ban Kỹ năng và Giá trị sống
    • Ban Khuyến học
    • Ban Học viện Thần học
    • Ban Hội Học sinh – Sinh viên
    Chuyên mục
    • Tin tức
    • Thư chung
    • Giáo dục
    • Phụng vụ
    • Thư viện
    Bản quyền © 2020 thuộc về Ủy Ban Giáo Dục HĐGM VN. Design by JT.