2021
Bà vợ của Thánh Phêrô
Bà vợ của Thánh Phêrô
(Mt 8,14-15 và 1 Cr 9,5) Kinh Thánh thậm chí không nói cho chúng ta biết tên bà. Chúng ta chỉ biết bà qua ông chồng và bà mẹ của bà. Hình thể, tính cách, trò tiêu khiển, sở thích, tác giả thấy không cần nói cho chúng ta biết. Vì thế, phụ nữ ngày nay dường như ít quan tâm đến bà. Tuy nhiên, khi nghiên cứu sâu hơn những gì có thể biết được về bà, ta thấy có nhiều điểm chung mà có thể rút ra được những bài học cho cuộc sống của chúng ta.
Đức Giêsu chữa lành bà mẹ vợ Thánh Phêrô
Tranh John Bridges, 1839, Bảo tàng Birmingham Museum of Art
Bà sống ở Capharnaum, một thành phổ cảng nhỏ miền tây bắc biển Galilê. Như hầu hết đàn ông trong vùng, ông chồng Phêrô của bà hành nghề ngư phủ. Ngày nay, người ta vẫn còn có thể thưởng thức một món ăn gồm một con cá lớn trên đĩa được gọi là món “cá Phêrô” (poisson de Pierre).
Capharnaum được gọi là “Thành phố của Đức Giêsu”. Thật vậy, phần lớn cuộc đời trần thế, Ngài đã làm việc tại đây. Từ đây, Ngài cũng đã đến với các thành lân cận. Một vài nhà chú giải cho rằng Ngài sống cùng nhà với Phêrô và bà vợ ông. Mặc dù thiếu những bằng chứng Kinh Thánh chính thức, song điều này cũng có thể xảy ra vì chúng ta biết rằng Đức Giêsu chẳng sở hữu tài sản gì ở dưới thế gian này. Dù sao Ngài cũng đã vào trong căn nhà này lúc bà nhạc của Phêrô bị bệnh và chữa lành bà cách lạ lùng.
Có ba điều mà chúng ta dễ dàng đồng hóa với bà vợ của Phêrô: sự bất an, sự cô đơn và sự thông cảm với chồng mình. Khi Phêrô quyết định theo Đức Giêsu cùng với anh mình là Anrê (ông này cũng sống cùng nhà với họ) thì không còn ai kiếm cơm trong nhà này nữa. Người ta không nói rằng hai người đánh cá này – cũng như hai anh em khác là Giacôbê và Gioan – đã giao công việc lại cho người thứ ba. Trong tình cảnh này, ai sẽ nấu nướng phục vụ gia đình? Trong gia đình của Phêrô, ai sẽ tính toán chi tiêu? Ai sẽ sửa chữa những hư hỏng vụn vặt?
Ở thời đại chúng ta, như ngày xưa, chính bà chủ nhà làm những công việc này. Thường thì những công việc này làm phát sinh tranh cãi và phải có thần kinh vững mới làm chủ được tình hình.
Và rồi sự cô đơn. Nó chợt đến mỗi cuộc hành trình của Phêrô đồng hành với Đức Giêsu và các môn đệ đi Giêrusalem. Người ta không nói rằng bà vợ này đi theo chồng mình như bà vợ của Dêbêđê.
Lối sống này cho Phêrô một kinh nghiệm khác thường. Ngày qua ngày cùng với Đức Giêsu, nghe lời Ngài, đi theo Ngài cùng với các môn đệ khác, gặp gỡ đám đông người, tất cả những điều này không tẻ nhạt. Trọn ngày đầy ắp những công việc.
Nhưng đối với bà vợ mình, đó là sự cô đơn. Tình cảnh mà các bà vợ của những viên chức cao cấp, nhà kinh doanh, các thủy thủ hay binh lính đều biết rõ.
Ở thời đại chúng ta, một cú điện thoại hay một bức thư chợt đến là có thể chấm dứt sự cô đơn. Nhưng đối với người bạn đời của Phêrô, chẳng bao giờ có chuyện đó; không có truyền thanh hay truyền hình để nắm bắt tin tức. Ấy vậy mà ta biết rằng sự vắng mặt lâu dài của người chồng thường đưa đến ly thân, thậm chí ly dị.
Trong bất kỳ tương quan nào giữa các cá nhân, điều thiết yếu là biết thích ứng với người khác. Thích ứng lại còn là điều quan trọng hơn nữa trong hôn nhân và là điều cần thiết ngay cả khi các đối ngẫu yêu nhau chân thành và mãnh liệt. Trong vở diễn cuộc sống này, bà vợ của Phêrô đã đóng trọn vai trò của mình cách xuất sắc.
Phêrô là người ngoại thường, hơn những đồng môn ở nhiều khía cạnh. Nhiệt tình, tràn trề năng lượng và can đảm, Phêrô không dừng lại trước bất kỳ vấn đề gì. Đối với ông, không có nửa vời. Không dễ sống với ông, điều này thì không!
Ngoài những tính chất đáng kể này, Phêrô cũng có những yếu đuối. Ông bốc đồng và khó đoán trước. Thậm chí dường như ông thiếu sự quan tâm và tình yêu đối với tha nhân. Đôi khi ông có khuynh hướng nhanh nhảu đoảng, điều làm ông khó được chấp nhận.
Một đàng, ông có một giác quan thiêng liêng sâu sắc khiến ông tuyên xưng: “Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống” (Mt 16,16); đàng khác, ông lại chối bỏ: “Tôi không biết người này!” (Mt 26,72). Về đức tin, Phêrô gợi lên sự thán phục và sự tôn kính, và đàng khác ông cũng đã được mời gọi sống theo ân sủng và sự thứ tha như bất kỳ ai trong chúng ta.
Rất thường là chúng ta muốn biết nhiều về nhân vật nào đó trong Kinh Thánh. Tuy nhiên Chúa Thánh Thần đã giấu nhiều dấu vết đi và hạn chế ở điều chính yếu. Về bà vợ ông Phêrô, chúng ta phải bằng lòng với rất ít chi tiết. Sự khó khăn của đời sống đã không khiến bà thối chí, cũng không khiến bà ngậm đắng nuốt cay. Đó là điều mà chúng ta có thể suy ra khi đọc 1 Cr 9,5: “Phải chăng tôi không có quyền … đem theo một người chị em tín hữu như các tông đồ khác, như các anh em của Chúa và như ông Kêpha?”. Trong đoạn văn này, Thánh Phaolô nói về bà như một người chị em, một người vợ tín hữu, một bạn đồng hành của Kêpha (Phêrô) trong những chuyến hành trình truyền giáo, khoảng 30 năm sau đó.
Phêrô lúc này là một người nói và hành động với thẩm quyền giữa lòng Giáo Hội Do Thái – Kitô giáo. Là nhân vật chính trong ngày lễ Ngũ Tuần khi Chúa Thánh Thần hiện xuống trên các tông đồ, ông còn là người đầu tiên mang Tin Mừng đến với người không Do Thái và ngoại giáo. Từ Thánh Phêrô toát ra một sức mạnh thiêng liêng đến nỗi người bệnh được chữa lành chỉ vì cái bóng của ông ngả xuống trên người họ (Cv 5,15). Trong trường hợp bà Tabitha (Cv 9,36-42), ông còn làm cho một phụ nữ sống lại.
Những thư mục vụ của Phêrô cho ta thấy đó là một người cân bằng và đầy lòng thương cảm. Sự biến đổi này là kết quả của cuộc sống bên cạnh Đức Giêsu, và hơn nữa, có Chúa Thánh Thần hành động ở trong ông. Khi sự biến đổi này xảy ra trong ông, bà vợ ông cũng chọn cách đi theo ông. Từ lâu, bà đã chăm chú quan sát Đức Giêsu. Chắc chắn khi ấy Ngài đã trở thành Đấng Cứu Thế của riêng bà. Những bài học được khi quan sát Đức Giêsu không phải lúc nào cũng dễ chấp nhận. Dù sao, bà cũng đã quyết định theo gương Ngài.
Bà cũng đã có dịp quan sát thái độ của Đức Giêsu đối với Phêrô: tình yêu thương và lòng kiên nhẫn đối với ông. Bà cũng đã nhận thấy rằng Đức Giêsu đã nhìn thấy bên kia con người bất toàn của Phêrô là một con người mà Phêrô sắp trở thành. Thật dễ dàng khi mường tượng ra sự vui sướng của bà, sau này, khi bà đọc qua bờ vai chồng mình rằng ông đã thích thú như thế nào khi có được một người vợ tín hữu ở bên cạnh mình trong 1 Pr 3,1-6:
Chị em là những người vợ, chị em hãy phục tùng chồng, như vậy, dù có những người chồng không tin Lời Chúa, thì họ cũng sẽ được chinh phục nhờ cách ăn nết ở của chị em mà không cần chị em phải nói lời nào, vì họ thấy cách ăn nết ở trinh tiết và cung kính của chị em. Ước chi vẻ duyên dáng của chị em không hệ tại cái mã bên ngoài như kết tóc, đeo vòng vàng, hay ăn mặc xa hoa; nhưng là con người nội tâm thầm kín, với đồ trang sức không bao giờ hư hỏng là tính thuỳ mị, hiền hoà: đó chính là điều quý giá trước mặt Thiên Chúa. Xưa kia, các phụ nữ thánh thiện là những người trông cậy vào Thiên Chúa, cũng đã trang điểm như thế; họ đã phục tùng chồng. Như bà Xara, bà đã vâng phục ông Ápraham, và gọi ông là “ông chủ”. Chị em là con cái của bà, nếu chị em làm điều thiện và không sợ hãi trước bất cứ nỗi kinh hoàng nào.
Gương mẫu của bà vợ ông Phêrô luôn đáng giá. Dù có những vấn đề, những thất vọng, sự cô đơn và lo lắng, vẫn luôn có một niềm hy vọng và một tương lai. Nhưng đối với người vợ thời xưa này cũng như quý bà ngày nay, tất cả đều bắt đầu ở dưới chân Đấng Cứu Thế. Khi ấy, bà biết chấp nhận chồng mình như ông là, dưới ánh sáng của Đức Kitô. Đó là điều được gọi là thi hành Lời đã để lại cho chúng ta.
Gina Karssen
Dans l’ombre de leur Maitre: Femme méconnues de la Bible,
La Maison de la Bible, 2014, tr. 10-14
Lm. Phaolô Nguyễn Minh Chính chuyển ngữ
2021
Những lời cứng rắn của thánh Giêrônimô dành cho các linh mục lo tìm kiếm tiền tài và danh vọng
Những lời cứng rắn của thánh Giêrônimô dành cho các linh mục lo tìm kiếm tiền tài và danh vọng
Thánh Giêrônimô “nổi danh nóng nảy” đã không ngại nặng lời khi viết về bổn phận của các linh mục và về sự cám dỗ của giàu sang.
Thánh Giêrônimô là người rất thẳng thắn khi cần phải ra nói sự thật. Ngài không sợ bất cứ ai nghĩ gì về mình, vì vậy mà những lời lẽ của ngài thường đem lại sự tức giận cho các tu sĩ khác.
Chúng ta có thể thấy rõ điều này trong một lá thư ngài viết cho cha Nepoziano, là người đã từ bỏ việc phục vụ cho quân đội để dâng mình cho ơn gọi làm linh mục. Thánh Giêrônimô đã viết rất nhiều về các bổn phận của một linh mục, và lá thứ ấy chứa đựng những lời lẽ cứng rắn dành cho những ai tìm kiếm tiền tài và danh vọng.
“Dưới ngọn cờ của Chúa Kitô, đừng tìm kiếm lợi lộc thế gian, vì e rằng có thật nhiều của cải lúc trở thành giáo sĩ, bạn sẽ không nghe lời người ta nói.”
Thánh Giêrônimô có một lòng yêu mến đối với người nghèo. Ngài tin rằng một linh mục phải sống khiêm nhường và không tìm kiếm sự giàu sang:
“Thật vinh dự cho một giám mục khi biết chăm lo cho nhu cầu của người nghèo, nhưng thật đáng xấu hổ cho tất cả các linh mục khi tích góp của cải cho riêng mình”.
Khi nói đến việc nhận các khoản đóng góp lớn cho các nhu cầu cá nhân, Thánh Giêrônimô đã thúc giục các linh mục từ chối chúng:
“Chúng ta đừng bao giờ tìm kiếm những tặng phẩm và hiếm khi mới nhận khi có ai đó hiến tặng chúng ta, bởi vì cho thì có phúc hơn là nhận… Nên tránh những thứ phô trương và cẩu thả, bởi vì một cái có hương vị của phù hoa, cái kia phảng phất lòng kiêu ngạo. Đi đây đi đó mà không có tấm khăn choàng cổ cũng không sao: điều đáng khen đó là không có tiền để mua nó. Thật xấu hổ và ngu ngốc khi khoe khoang rằng mình không có khăn ăn cũng không có khăn tay nhưng mà vẫn mang một túi đầy tiền.”
Hơn bao giờ hết, thánh Giêrônimô đã cố gắng nói trong thư của mình rằng, là một linh mục phải thực hành điều mình rao giảng, bằng cách sống như một người nghèo giữa người nghèo, và phục vụ họ chứ đừng tìm kiếm danh vọng trần gian.
Tác giả bài viết: G. Võ Tá Hoàng chuyển ngữ
2021
Giải thích lý do chúc lành cho phụ nữ sau khi sinh
Giải thích lý do chúc lành cho phụ nữ sau khi sinh
Chúc lành cho phụ nữ sau khi sinh, đây là lý do của lời khuyên này trong Kinh Thánh.
Kinh Thánh khuyên các phụ nữ, sau khi sinh, phải đợi một thời gian dài và sau đó là nghi thức thanh tẩy trước khi họ có thể tham gia vào việc thờ phượng. Một phong tục kéo dài cho đến thời gian gần đây và những người lớn tuổi trong chúng ta vẫn còn nhớ: đặc biệt là ở vùng nông thôn, các chị em phụ nữ phải nhận được một phép lành đặc biệt để họ trở lại nhà thờ. Những điều luật này phát sinh từ điều gì? Và tại sao ngày nay phong tục này không còn nữa?
Dưới đây là câu trả lời của cha Francesco Carensi, giảng sư Kinh Thánh:
Vào thời của ông bà chúng ta, các chị em phụ nữ sau khi sinh con phải “trở lại trong sự thánh thiện”, nếu không thì họ không được bước vào nhà thờ. Họ phải đến gặp linh mục để xin một phép lành đặc biệt.
Để hiểu được phong tục này, chúng ta phải tham khảo sách Lêvi 12,2, trong đó nói rằng: “Hãy nói với con cái Israel: Khi một người đàn bà có thai và sinh con trai, thì sẽ ra ô uế trong vòng bảy ngày, nó sẽ ra ô uế như những ngày bị khó ở vì kinh nguyệt”. Chúng ta tự hỏi: tại sao việc sinh con khiến người phụ nữ ra ô uế [temea], một thuật ngữ được dịch sang tiếng Ý là “impura” – không trong sạch – nhưng đa phần lại ám chỉ đến tình huống ngăn cản hoặc miễn tiếp xúc trực tiếp với những gì là thiêng liêng? Và nếu chúng ta tiếp tục đọc bản văn này, chúng ta sẽ thấy thời gian đó kéo dài gấp đôi, trong trường hợp trẻ sơ sinh là con gái.
Ngày nay, đọc lại những điều đó khiến chúng ta thấy gai mắt. Nhưng chúng ta không thể đọc các bản văn Kinh Thánh chứa những qui định quá xa vời với tâm thức hiện đại của chúng ta, nếu chúng ta không cố gắng hiểu thông điệp đầy ẩn ý của nó.
Chúng ta đang ở trong một thế giới rộng lớn của những luật lệ về nghi lễ thuần khiết. Một trong những nguyên tắc nền tảng đó là Thiên Chúa hằng sống, Ngài là Chúa của sự sống chứ không phải của sự chết. Đây là lý do tại sao người Do Thái luôn bác bỏ việc thờ người chết, vốn tồn tại trong các nền văn hóa của thời đó tương tự như của người Ai Cập. Thế giới của người Do Thái luôn phản kháng chống lại các nền văn hóa lấy cái chết làm trung tâm. Một số Thánh vịnh nhắc cho chúng ta biết về điều này: “Không phải người đã chết, hay mọi kẻ bước vào cõi thinh lặng ngàn thu sẽ ca tụng ĐỨC CHÚA” (Tv 115,17). Luật pháp được ví như cây sự sống (châm ngôn 3,18). Theo đó sự thánh thiện ngụ ý rằng nó phải có một sự chú ý đặc biệt đến sự sống như một thực tại đến từ Thiên Chúa. Và đây là trường hợp điển hình về sự ô uế, nguyên do bởi tiếp xúc với tử thi, các loại chất uế tạp khác liên quan đến sự đào thải của cơ thể hay bệnh tật. Không thể đến gần Thiên Chúa với những hiện trạng như vậy, và vì thế bất cứ ai bị ô uế thì không thể đến gần đền thánh.
Cụ thể, một người mẹ sinh con, ngoài việc đối mặt với rủi ro lớn, còn phải trải qua sự phân tách với các thứ mà trước đây là một phần của cơ thể mình, trong khi bây giờ cô ấy trở thành một con người độc lập. Nếu điều này là quan trọng đối với trẻ em nam thì cần thiết đối với trẻ em nữ, là người có thể trở thành người mang một cuộc sống mới khi đến lượt mình.
Các qui luật về sự trong sạch cũng gợi lên một ý niệm sâu sắc hơn. Theo luật Halaqà, người đang thực hiện một điều luật, thì được miễn trừ khỏi các luật khác. Trong trường hợp bị ô uế do sinh nở, như thể Thiên Chúa đã nói với người mẹ rằng bà đã sinh con trai: trong 40 ngày đối với trường hợp là nam nhi, và sẽ là gấp đôi nếu là nữ nhi, ngươi được miễn đi trình diện trước mặt Ta trong đền thánh, bởi vì ngươi đang tham gia vào một trong những nhiệm vụ thiêng liêng nhất, đó là nuôi dưỡng và chăm sóc con trẻ của ngươi. Ngươi không cần đến đền thờ để hiệp thông với Thiên Chúa, vì ngươi đã trải nghiệm sự kết hợp trực tiếp này rồi. Trong một vài ngày nữa, ngươi sẽ trở lại trước mặt Ta để dâng các lễ vật của ngươi vì ngươi vừa trải qua một thời gian nguy hiểm, nhưng giờ này hãy chiêm ngưỡng điều kỳ diệu trong việc sinh ra đứa con của ngươi.
Vì vậy, để trả lời cho câu hỏi: việc sinh nở miễn trừ cho người mẹ khỏi việc thờ phượng trong đền thờ, bởi vì trải nghiệm của bà mẹ đó đủ để hoàn thành những nghĩa vụ liên quan đến đền thờ. Bằng cách này, người mẹ học biết được tình yêu sinh ra sự sống, học biết được ý nghĩa của việc được chạm vào hương vị của sự bất tử trong cuộc sống phàm trần của mình là gì.
Đạo Công giáo đã lấy lại những phong tục này, nhưng có lẽ nó đã mất đi khía cạnh ban đầu, bằng việc làm nổi bật chiều kích của sự trong sạch luân lý. Ở đây, Công đồng Vatican II đã loại bỏ hoàn toàn một số phong tục mà chúng có thể có ý nghĩa như ban đầu, nhưng không còn ý nghĩa đối với phụng vụ, nơi mà qua việc thờ phượng chúng ta được mời gọi để tôn thờ Thiên Chúa, Đấng không bị giam giữ trong một đền thờ do bàn tay con người làm ra, nhưng sự sống trở thành đền thờ cho sự hiện diện của Thiên Chúa.
- Võ Tá Hoàngchuyển ngữ
2021
Gặp gỡ giới trẻ “Magis” theo linh đạo I-nhã tại Lisbon 2023
Gặp gỡ giới trẻ “Magis” theo linh đạo I-nhã tại Lisbon 2023
Từ ngày 22 đến 31/7/2023, tại Lisbon, Bồ Đào Nha sẽ có một cuộc gặp gỡ tiền Đại hội Giới trẻ Thế giới. Đây là cuộc tụ họp của những người trẻ liên kết với linh đạo I-nhã và thuộc về “Magis”, “Phong trào và hoạt động của các tu sĩ Dòng Tên vì sự phát triển”.
Đại hội Giới trẻ Thế giới
Trong một thông cáo, ban tổ chức sự kiện cho biết: “Lễ hội I-nhã dành cho người trẻ sẽ kết thúc vào ngày mang tính biểu tượng, ngày 31/7, lễ thánh I-nhã. Sự kiện muốn trở thành một trải nghiệm suy tư, chia sẻ và cầu nguyện cho tất cả người trẻ trên thế giới từ 18 đến 30 tuổi, được liên kết với linh đạo thánh I-nhã”.
Khẩu hiệu cho lễ hội được gợi hứng từ định hướng tông đồ của Dòng Tên từ năm 2019-2029: “Tạo ra một tương lai đầy hy vọng”. Còn logo của sự kiện có hình lá cờ Bồ Đào Nha với màu đỏ và xanh lá cây, và năm chiếc khiên tạo nên chữ I của “Magis”, tượng trưng đất nước và ám chỉ những vết thương của Chúa Kitô. Ở dưới cùng là dòng chữ “Portugal-Bồ Đào Nha” màu xanh lam, màu biển Bồ Đào Nha và màu áo Đức Mẹ. Chữ A của “Portugal-Bồ Đào Nha” bao gồm biểu tượng của một con sóng, nhắc đến việc mở ra những vùng biển và chân trời mới, đối thoại giữa các nền văn hóa và truyền thống, khám phá gặp gỡ và niềm vui của cuộc sống chung.
Với logo và khẩu hiệu này, ban tổ chức nhấn mạnh: “Đã đến lúc nhìn về phía trước! Đã đến lúc tạo ra một tương lai đầy hy vọng! Đã đến lúc cho #bemagis!”.
Tiến hành lần đầu tiên tại Pháp vào năm 1997, “Magis” sau đó đã tổ chức cuộc họp chính thức đầu tiên, tại Đức, vào năm 2005. Sau đó, sự kiện được lặp lại vào mỗi dịp Đại hội Giới trẻ Thế giới, như Đại hội Giới trẻ Thế giới tại Madrid năm 2011, sự kiện đã quy tụ hàng ngàn người thuộc 50 quốc gia tham gia. Được thúc đẩy bởi mong muốn về “các xã hội công bằng hơn có thể cung cấp những khả thể bền vững và mang lại sự sống”, sự kiện này nhằm “đưa những người trẻ đến với giấc mơ của Thiên Chúa cho nhân loại”, trao cho họ “một động lực để tham gia vào đời sống phục vụ, dấn thân tạo ra một tương lai đầy hy vọng”.
Ngọc Yến
