2022
Kính Nhớ Tổ Tiên Ngày Tết
Kính Nhớ Tổ Tiên Ngày Tết
Đối với dân tộc Việt Nam, mùa Xuân bắt đầu bằng những ngày Tết, là những ngày đoàn tụ gia đình. Những ngày giáp Tết, ông bà cha mẹ ở nhà trông ngóng con cháu đi xa trở về, còn con cháu ở nơi xa dù đã thành danh, công tác hay còn đi học… cũng trông mong được trở về sum vầy bên những người thân trong ba ngày Tết. Sự trở về của những con, cháu – dù sống trên quê hương hay phiêu bạt khắp năm châu – còn là dịp để thể hiện lòng thành kính, tri ân và nhớ về tổ tiên.
Không chỉ là ngày lễ của người sống, những người đã chết cũng thực sự tham dự vào cuộc sống của gia đình và con cháu trong ba ngày Tết. Trong truyền thống dân tộc, ngày 23 tháng Chạp, người ta tổ chức tiễn ông Táo về trời, và sau đó là mời tổ tiên về cùng “ăn” Tết với gia đình. Vào thời khắc giao thừa và sáng mùng Một tết, gia đình giàu sang hay nghèo khó đều cố gắng sắm sửa mâm cỗ thịnh soạn hoặc chí ít là mâm cơm đạm bạc để dâng lên ông bà, mong ông bà phù hộ cho một năm mới bình an, vạn sự như ý.
Tứ thời xuân tại thủ
Bách hạnh hiếu vi tiên.
(Xuân khởi đầu bốn mùa
Hiếu đứng trên trăm nết)
Còn trong đời sống người Kitô hữu, chữ Hiếu càng được quý trọng hơn vì đó là một trong 10 Điều Răn mà Thiên Chúa trao ban cho con người: Ngươi hãy thờ cha kính mẹ, để được sống lâu trên đất mà Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, ban cho ngươi (Xh 20,12).
Chúa Giêsu cũng nhắc lại lời ông Mô-sê: “Ngươi phải thờ cha kính mẹ, kẻ nào nguyền rủa cha mẹ thì phải bị xử tử” (Mc 7,10). Ngài phản đối việc hiếu kính “giả tạo” của con người, mặc dù đã được che đậy qua nhiều lễ nghi, phong tục, truyền thống. Ngài khiển trách những luật sĩ và biệt phái về việc áp dụng sai luật Chúa, vì đối với họ, đã dâng lễ vật cho Chúa rồi thì họ không còn bổn phận giúp cha mẹ nữa: “Quả thế, Thiên Chúa dạy: Ngươi hãy thờ cha kính mẹ; kẻ nào nguyền rủa cha mẹ, thì phải bị xử tử. Còn các ông, các ông lại bảo: “Ai nói với cha với mẹ rằng: những gì con có để giúp cha mẹ, đều là lễ phẩm dâng cho Chúa rồi, thì người ấy không phải thờ cha kính mẹ nữa”. Như thế, các ông dựa vào truyền thống của các ông mà huỷ bỏ lời Thiên Chúa”. (Mt 15,4-6)
Người Công giáo Việt Nam ngay từ lúc học giáo lý vỡ lòng đã được dạy dỗ: “Thảo kính cha mẹ là yêu mến, biết ơn, vâng lời và giúp đỡ cha mẹ khi còn sống và đã qua đời”. (sách giáo lý Tân Định)
Với các tín đồ Công giáo vùng Á Đông, huấn thị “Plane compertum est” của Đức Thánh Cha Piô XII ngày 08/12/1939 đã công nhận những nghi lễ thờ cúng ông bà tổ tiên và các bậc anh hùng liệt sĩ. Hội Đồng Giám Mục Việt Nam cũng đã có những quy định và những giáo huấn liên quan đến việc thờ phượng ông bà tổ tiên trong sứ mạng truyền giáo tại Việt Nam.
Từ đó nhiều phong tục đẹp mà cha ông đã lưu truyền từ đời này sang đời khác được đưa vào trong các nghi lễ Công giáo. Những ngày giáp tết, gia đình nào cũng sửa sang bàn thờ (trên là Thiên Chúa – dưới là gia tiên), ra nghĩa trang sửa sang, chăm sóc phần mộ ông bà. Và trong ngày đầu Xuân, nhiều gia đình đã đến nhà chờ Phục Sinh, hoặc ra nghĩa trang giáo xứ viếng mộ ông bà, cha mẹ hoặc những người thân yêu trong gia đình.
Cũng trong truyền thống đạo hiếu của dân tộc trong những ngày khởi đầu một năm mới, Giáo hội Công giáo Việt Nam dành ngày mồng Hai tết để kính nhớ tổ tiên, ông bà, cha mẹ, là những bậc có công thông truyền sự sống cho chúng ta. Ai cũng mong được đón nhận những giờ phút linh thiêng nhất của ngày đầu năm bên cha mẹ, ông bà dù còn sống hay đã qua đời.
Ngày đó, các người thân trong gia đình cùng nhau đến nhà thờ với tâm trạng bồi hồi xúc động. Có những gia đình đông vui với những mái đầu xanh bên mái đầu bạc, có những gia đình quạnh quẽ vơi bóng người thân… Nhưng tất cả đều cùng nhau hiệp dâng Thánh lễ thật sốt sắng để tưởng nhớ tổ tiên, ông bà, cha mẹ và những người thân đã qua đời của mình.
Trong Chúa Giêsu Kitô phục sinh, họ tin rằng niềm vui tết của họ chỉ là tạm bợ và chỉ là hình bóng của niềm vui vĩnh cửu trên thiên đàng. Nơi mà tổ tiên, ông bà cha mẹ và những người thân đi trước đang hưởng một mùa xuân đích thực, bất tận và hạnh phúc viên mãn.
Khi cha mẹ còn sống nếu con cái chỉ tỏ lòng yêu mến và biết ơn thì chưa đủ, còn phải thực hiện bằng việc làm là giúp đỡ cha mẹ, nhất là khi các ngài đã về già. Tuổi già với những khó khăn, hạn chế về thể xác là kết quả của những tháng ngày dài vất vả nuôi dạy con cái, vì thế việc chăm sóc cha mẹ già không phải là dễ. Nhiều người đã coi cha mẹ già là một gánh nặng nên đùn đẩy trách nhiệm cho nhau, hoặc cung phụng cho cha mẹ tiền bạc rồi cho đó là thảo hiếu cha mẹ, nhưng không hề về thăm hỏi cha mẹ dù là ngày lễ, tết (vì bận đi du lịch, thư giãn…!).
Khi cha mẹ qua đời, con cái vẫn còn bổn phận giúp đỡ cha mẹ qua Thánh lễ và kinh nguyện hàng ngày vì các ngài chỉ an nghỉ về mặt thể xác nhưng phần hồn vẫn còn hiện diện và trông chờ con cháu cầu nguyện cho các ngài. Nhất là trong những ngày đầu năm mới, ngày linh thiêng của người Kitô hữu, ngày mà bất kỳ người con nào cũng không được phép quên cha mẹ đã qua đời của mình, dù tóc đã bạc, răng đã long. Mỗi người con phải để cao bổn phận làm con của mình cho thế hệ mai sau được biết, để thế hệ này qua đi, vẫn còn có thế hệ kế tiếp sẽ làm công việc đền ơn báo nghĩa trong những ngày đầu năm mới.
Thắp lên những nén hương thơm ngày tết, chúng ta dâng lời tạ ơn Thiên Chúa là cội nguồn sự sống đã tạo dựng nên muôn loài, tứ thời Xuân Hạ Thu Đông; tạ ơn Thiên Chúa đã cho ông bà cha mẹ sinh ra chúng ta làm người. Chúng ta tri ân các ngài vì công ơn sinh thành, dưỡng dục và không chỉ thông truyền sự sống làm người cho chúng ta mà còn thông truyền cả sự sống đức tin cho chúng ta.
Chúng ta có được như ngày hôm nay chính là nhờ công ơn của các ngài: những giọt mồ hôi, những vất vả, những lắng lo và hy sinh tột bực có khi phải đổ cả máu đào để nuôi dưỡng không chỉ phần xác mà còn cả phần hồn chúng ta. Các ngài như gốc mai đại thụ xù xì già cỗi để cho chúng ta là những cánh hoa vàng rực rỡ khoe sắc trong nắng xuân. Công ơn ấy cao ngất tựa Thái Sơn, bao la như biển Thái Bình mà những kẻ làm con không bao giờ đáp đền cho đủ.
Xin các ngài bầu cử cho chúng ta là con cháu, mỗi năm thêm một tuổi mới được sống xứng đáng hơn với kỳ vọng của các ngài. Biết dạy cho con cháu nhìn lại quá khứ để hãnh diện với công lao của tổ tiên và bảo tồn truyền thống “uống nước nhớ nguồn” cao đẹp. Góp phần làm rạng rỡ gia phong, cùng như góp phần xây dựng cộng đồng mỗi ngày một tốt đẹp hơn.
Chúng ta cũng không quên cầu nguyện cho những bậc sinh thành của chúng ta còn tại thế. Xin Chúa ban cho các ngài được hồn an xác mạnh, vui hưởng tuổi già bên “con đàn cháu đống”, mỗi ngày một thêm phúc đức, làm trụ cột cho con cháu noi theo.
Jos. Hoàng Mạnh Hùng
2022
Người Công giáo với Tết cổ truyền dân tộc
Người Công giáo với Tết cổ truyền dân tộc
Đạo Công giáo ra đời ở Trung Á nhưng lại phát triển mạnh ở châu Âu nên mang nhiều dấu ấn văn hóa của châu lục này. Một trong các dấu ấn đó chính là lịch Phụng vụ của giáo hội tính theo dương lịch.
Dương lịch, chính là lịch được công bố dưới triều Giáo hoàng Grigori XIII, năm 1582. Lịch này tính toán ngày tháng năm dựa trên cơ sở vòng quay của mặt trời khác với cách tính của các nước phương Đông ( trong đó có Việt Nam) dựa trên chu kỳ của mặt trăng. Khi đạo Công giáo du nhập vào nước ta cũng mang theo cách ghi ngày tháng theo dương lịch. Vì vậy, lịch Phụng vụ trong đạo cũng được ghi theo dương lịch. Nhưng người Công giáo Việt Nam vẫn phiên lịch Phụng vụ đó sang lịch ta tức âm lịch. Thể hiện rõ qua lịch lễ hội ở vùng Bùi Chu- Phát Diệm:
Tháng giêng ăn Tết ở nhà
Tháng hai ngắm đứng, tháng ba ra Mùa.
Tháng tư tập trống rước hoa,
Kết đèn làm Tạm, chầu giờ tháng Năm.
Tháng sáu, kiệu ảnh Lái Tim,
Tháng bảy chung tiền đi lễ Phú Nhai.
Tháng tám đọc ngắm Mân Côi
Trở về tháng chín xem nơi chồng mồ
Tháng mười mua giấy sao tua,
Quay qua một, chạp, sang mùa ăn chay (1).
Do đó, dù vẫn dùng dương lịch, vẫn có lễ tạ ơn cuối năm dương lịch và đón năm mới theo dương lịch trong Phụng vụ nhưng người Công giáo Việt Nam vẫn gắn bó với văn hóa dân tộc qua cách dùng lịch âm và đón Tết cổ truyền dân tộc.Họ cũng có cách nhắc lịch Tết qua câu tục ngữ: “Lễ Nến ( 2-2) Tết đến sau lưng”.
Người Việt vốn coi trọng Tết cổ truyền, coi đó là thời khắc thiêng liêng mở đầu một năm mới. Thành ra những công nợ phải lo thu xếp trả trong năm cũ, những bất hòa, mâu thuẫn với láng giềng phải được hòa giải trước giao thừa…Họ cũng có thói quen vẽ vôi xung quanh nhà để ngăn chặn yêu ma, dựng một cây nêu trước cửa nhà, trên có một cái giỏ đựng tiền vàng để cho cha mẹ, ông bà, tiên tổ dùng. Alexandre de Rhodes có ghi lại những tục lệ này khi đến Đàng Ngoài năm 1627:
“Còn những người khác có phận sự trong nhà như gia trưởng thì vào cuối năm họ có thói dựng gần cửa nhà một cột dài vượt quá mái nhà, trên ngọn treo một cái giỏ hay một cái túi đục thủng nhiều lỗ và đựng đầy những thứ tiền bằng giấy vàng, giấy bạc. Họ điên dại tưởng tượng là cha mẹ đã mất, vào cuối năm có thể bị túng thiếu và cần đến vàng hay bạc để trả nợ. Cũng còn có một tục lệ khác là không một ai, từ những người giàu sang tới kẻ nghèo khổ khất nợ quá hạn năm mà họ đã vay mượn,từ trường hợp không thể trả nổi mà thôi” (2).
Người Công giáo, theo giáo lý không được tin có chuyện ông bà tiên tổ về lấy tiền để tiêu sau khi qua đời nhưng theo tập tục cổ truyền, ngày Tết họ vẫn dựng cây nêu trước sân nhưng có mang biểu tượng của đạo. Cũng A. Rhodes mô tả ngày Tết cổ truyền ở kinh thành Thăng Long năm 1627 như sau:
“ Tới ngày đầu năm, theo tục lệ lương dân, thường có những cúng bái mê tín dị đoan trong ba ngày Tết. Chúng tôi truyền cho giáo dân làm những việc đạo đức trong ba ngày này. Để thay thế cái hộp treo ở đầu cây nêu cao dựng ngay ở cửa nhà, như chúng tôi đã nói ở trên, thì chúng tôi khuyên họ đặt cây Thánh giá. Họ làm theo. Thế là trong khắp phố phường trong kinh thành người ta xem thấy biểu hiệu đáng kính của việc cứu rỗi được dựng cao chót vót qua mái nhà làm cho ma qủi sợ hãi và các thiên thần vui mừng…Trong ba ngày đầu, chúng tôi đã cho huấn dụ và cho giữ như sau: Ngày mồng một Tết kính công việc tạo thành và gìn giữ muôn loài, kính dâng Thiên Chúa Cha. Ngày mồng hai, nhận biết ơn cứu chuộc, cao cả khôn sánh, kính dâng Con Thiên Chúa và ngày mồng ba, khiêm tốn cảm tạ Chúa Thánh Linh vì ơn được gọi vào đạo Kitô. Và không ai là không hăm hở làm các việc này, không ai là không vui mừng sung sướng” (3).
Vì tin vào sự linh thiêng của Thánh giá và nước phép nên người Công giáo thường vẽ hay treo Thánh giá trước cổng, trước cửa nhà và cũng sái nước phép quanh nhà tối 30 Tết để ngăn đuổi ma quỷ.
Người Việt vẫn có thói quen: “ Mồng một tết cha, mồng hai tết chú, mồng ba tết thày”, có nghĩa là ngày tết phải nhớ đến các bậc sinh thành, bề trên, thày dạy dỗ của mình. Người Công giáo cũng giữ thói quen tốt lành đó nhưng còn thêm kính cha phần hồn nữa. Cho nên, cứ sáng mồng một, sau lễ đầu năm, giáo dân trong xứ lại vào chúc tuổi cha xứ rồi mới về chúc tuổi cha mẹ, ông bà. Trước tết, người Công giáo cũng lo dọn dẹp nhà cửa, lau chùi bàn thờ cho sạch sẽ, bày hoa mới, thêm câu đối trên bàn thờ. Họ cũng lo sửa mộ tiên tổ, dọn cỏ, quét vôi ve “ để ông bà có nhà mới đón Tết”. Bận mấy, họ cũng chuẩn bị sẵn nồi nước tắm có nấu lá mùi thơm để tắm rửa trước giao thừa. Còn về phần hồn, họ cũng lo xưng tội để dọn tâm hồn đón Chúa đến trong năm mới. Cứ sang giao thừa, người ta lại ra nhà thờ mừng tuổi Đức Mẹ bằng cách dâng hoa, đọc kinh và trước đây là đốt pháo. Sau đó xin “lộc” bằng cách rút một tờ giấy có in “ Lời Chúa” đưa về coi như là lời dạy về cách sống của mình trong năm mới. Thông thường hiện nay, sau thánh lễ đầu năm và chúc tuổi cha xứ, giáo dân lại qua nhà văn hóa xã dự lễ chào cờ đầu năm cùng nhân dân địa phương rồi đi viếng nghĩa trang liệt sĩ. Bây giờ lịch Phụng vụ Công giáo quy định: ngày mồng một Tết cầu bình an cho năm mới; Ngày mồng hai Tết: kính nhớ tổ tiên; Ngày mồng ba Tết: thánh hóa công ăn việc làm. Thành ra, các nghĩa trang của người Công giáo trong ngày mùng hai và mùng ba Tết rất đông người ra viếng, đọc kinh cầu nguyện cho tiên tổ. Vì lịch phụng vụ thứ tư lễ Tro mở đầu Mùa Chay thường rơi vào Tết. Ví dụ năm 2002, năm 2013, ngày thứ tư ăn chay kiêng thịt đúng vào ngày mùng 4 Tết nên các giáo phận thường cho lui ngày ăn chay kiêng thịt vào thứ sáu hoặc thứ tư tuần sau nữa để không làm ảnh hưởng đến không khí đón xuân của mọi người.
Ngày Tết, từ đời Giáo hoàng Gioan Phao lô 2, mỗi dịp Tết của người Á Đông trong đó có Việt Nam, Giáo hoàng vẫn có lời chúc Tết đến dân chúng Á Đông. Ở Việt Nam, các vị chủ chăn cũng thường có thông cáo hay thư chúc tết để nhắc nhở giáo dân sống tốt lành trong năm mới. Tết Giáp thân năm 2004, Giám mục Thái Bình FX. Nguyễn Văn Sang đã có thông cáo:
“2. Ngày Xuân nên đi lại thăm hỏi ông bà, cha mẹ, anh em, bạn bè nhưng nên tránh ăn uống chè chén say sưa, sinh nhiều bệnh tật và thói hư nết xấu. Vui chơi giải trí, song tránh cờ bạc, xì ke ma túy, tin dông, tin dài, bói toán kẻo tiền mất tật mang, nhiều khi sai phạm pháp luật xã hội.
Nên dùng thời giờ đi thăm viếng những người ốm đau bệnh tật, khó khăn thiếu thốn và tới nhà thờ dâng lễ, đọc kinh như đã khuyên cáo trong lịch Công giáo về ba ngày Tết nguyên đán” (4).
Hồng y JM Phạm Đình Tụng trong dịp Tết cổ truyền 2001( Tân Tỵ) sau khi chúc bình an cho năm mới đã viết:
“Bình an không phải là lời chúc suông, tự nhiên nó đến. Bình an cũng không phải là một mâm cỗ dọn sẵn, cứ việc ngồi mà hưởng thụ. Bình an là một hồng ân của Thiên chúa, vì trừ Chúa không ai có thể ban ơn cứu độ cho ta được. Bình an cũng là một công trình kéo dài cần phải xây dựng mỗi ngày, xây dựng bằng chừa cải tội lỗi, hãm dẹp nết xấu và tuyệt đối tin cậy vào tình yêu của Thiên chúa…
Đi đôi với việc chừa cải tội lỗi, chúng ta phải ra sức hãm dẹp các nết xấu: kiêu ngạo, hà tiện, dâm ô, mê ăn, nóng giận, ghen ghét, lười biếng. Đó là những nết xấu mà ta thường gọi là bảy mối tội đầu, là mầm mống nảy sinh tội lỗi và phá hoại sự bình an” (5).
Nhờ những giáo huấn như vậy, nên người Công giáo ít phạm tội hơn trong dịp Tết từ cờ bạc, rượu chè, bói toán đến các tội phạm hình sự khác. Các giáo xứ, dòng tu thường gói bánh chưng, chuẩn bị quà tết đi thăm các trại phong cùi, nhà trẻ mồ côi hay các bệnh nhân HIV/AIDS…Đấy cũng là nét đẹp mà đạo Công giáo đóng góp cho văn hóa dân tộc.
Phạm Huy Thông
Chú thích:
1- Mùa ngắm đứng chính là Mùa chay thường rơi vào cuối tháng 3 dương lịch. Tháng Hoa vào tháng 5. Tháng Trái tim là tháng 7. Lễ đầu dòng ở Phú Nhai vào 8-8. Tháng Văn Côi ( hay Mân Côi) vào tháng 10. Mua giấy làm sao để đón Giáng sinh vào 25-12.
2- 3- A. Rhodes: Lịch sử vương quốc Đàng Ngoài, Đại kết 1994, tr.66-67 và 129-130.
4-GM Nguyễn Văn Sang: Giáo huấn phục vụ: Nói với giáo dân, Lưu hành nội bộ 2001, tr.244-245
5- Hồng y JM Phạm Đình Tụng: Những chặng đường mục vụ tại Tổng giáo phận Hà Nội 1994-1999, Lưu hành nội bộ 2002, tr.229-230
2022
Kitô hữu và Tết
Kitô hữu và Tết
Tết đối với người tín hữu chúng ta luôn mang hai ý nghĩa, ý nghĩa phong tục và ý nghĩa tôn giáo. Vì là người Việt Nam, con Rồng cháu Tiên, nên chúng ta không thể thờ ơ với Tết, trái lại phần đông cảm thấy nôn nao, mong chờ Tết đến.
Thực vậy, “Tết là khoảng thời gian đặc biệt mà người Công giáo Việt Nam muốn dành cho Thiên Chúa, cho gia đình và cho tha nhân. Ngoài những phong tục truyền thống của ngày Tết như chúc Tết, xông đất, mừng tuổi hay mâm cỗ, người Công giáo không quên Thiên Chúa luôn là mùa xuân của mỗi người. Bởi đó, ta thấy những thánh lễ, buổi nguyện cầu thật thiêng liêng đầm ấm của người Công giáo nơi giáo đường, trong gia đình, và trong từng lời chúc” [1].
Thời gian trước và trong dịp Tết, xem ra ai cũng rất bận rộn, vì có khá nhiều việc phải làm. Như dọn dẹp nhà cửa, trang trí bàn thờ, đi mua sắm quần áo mới, đồ Tết vv. Những ai có điều kiện và thời gian thuận tiện thì đi chợ Tết, vui Xuân… Riêng những người ở xa thì lục đục kéo nhau về quê ăn Tết. Cách chung hầu như ai cũng mang tâm trạng nôn nao, háo hức hòa nhịp trong bầu không khí chào Xuân, đón Tết.
Riêng đối với Ki-tô hữu chúng ta thì việc đón Tết chào Xuân còn được thực hiện theo tinh thần “cái Tết của người có Đạo”. Do đó, trong những ngày Tết, người Công giáo chúng thường tới nhà thờ để tham dự Thánh lễ đặc biệt mừng Xuân. Và Hội đồng Giám mục Việt Nam cũng đã qui định: a- Tối giao thừa có thánh lễ Tạ Ơn; b- Ngày mồng một Tết thánh lễ cầu bình an cho năm mới; c- Ngày mồng hai Tết thánh lễ kính nhớ tổ tiên, ông bà, cha mẹ; d- Ngày mồng ba Tết thánh lễ thánh hóa công ăn việc làm.
Như vậy, cái Tết của người Ki-tô mang đầy đủ ý nghĩa của một nếp sinh hoạt thấm đượm niềm tin và tinh thần Tin Mừng Ki-tô giáo. Ta có thể liệt kê những sinh hoạt và việc làm của người Ki-tô hữu trong mấy ngày Tết, như sau:
* TẾT TẠ ƠN
Ngày cuối năm, chúng ta tham dự thánh lễ Tất niên. Và thời khắc giao thoa giữa năm cũ và mới, có thánh lễ đêm Giao thừa. Trong những giờ phụng vụ này, Hội thánh nhắc nhở chúng ta hướng về Thiên Chúa để tạ ơn. Vì thế, đối với Ki-tô hữu chúng ta, Tết trước tiên là Tết Tạ Ơn. Trong thời khắc chuyển giao từ năm cũ bước sang năm mới, chúng ta có dịp nhìn lại những ân huệ Chúa đã ban cho ta. Ân huệ phần xác cũng như phần hồn. Thực ra, không phải đợi đến dịp Tết chúng ta mới quan tâm tới việc tạ ơn Thiên Chúa, nhưng đây là mốc thời gian thuận tiện và thích hợp để chúng ta làm việc này. Như lời thánh vịnh thúc giục chúng ta: “Hãy tạ ơn Chúa vì Chúa nhân từ, / muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương” (Tv 136, 1); “Suốt cuộc đời, tôi xin hát mừng Chúa, / sống bao lâu, nguyện đàn ca kính Chúa Trời” (Tv 146, 2).
Chúng ta tạ ơn Chúa vì cuộc sống này là của Chúa ban, thời gian này là quà tặng của Người cho chúng ta. Thiên Chúa làm chủ thời gian. Người là Chúa Xuân. Trong dịp Tết này, chúng ta cảm tạ Chúa vì những ơn lành Chúa đã ban cho chúng ta trong suốt một năm sắp qua đi, đồng thời chúng ta phó thác những ngày tháng sắp tới cho bàn tay quan phòng và yêu thương của Người. Chúng ta cũng cám ơn tất cả những người, bằng cách này hay cách khác, đã nâng đỡ, ủi an và góp phần xây dựng cuộc đời chúng ta.
Dịp Tết, ngoài việc tạ ơn Chúa, chúng ta không quên nhớ đến công ơn ông bà tổ tiên và cha mẹ còn sống cũng như đã qua đời. Chính vì vậy Hội thánh chọn ngày mùng hai để cử hành thánh lễ kính nhớ tổ tiên và cầu cho cha mẹ. Bên cạnh đó, Ki-tô hữu chúng ta cũng thường có thói quen xin lễ cầu nguyện cho ông bà tổ tiên đã qua đời. Ngoài ra, nhiều Ki-tô hữu cũng có truyền thống viếng mộ thân nhân vào ngày Tết. Vì thế, vào những ngày trước Tết, các gia đình thường sửa sang lại phần mộ của những người đã khuất, người ta trưng bông, đặt những giỏ hoa tại phần mộ. Và ngày mồng hai Tết, các giáo xứ thường tổ chức ít là một thánh lễ ở nghĩa trang.
* TẾT MỪNG TUỔI
Một trong những cách cư xử đặc trưng nhất trong dịp Tết, đó là người ta mừng tuổi nhau. Ngày đầu năm, nhiều cộng đoàn cũng có thói quen mừng tuổi Chúa và mừng tuổi nhau. Mỗi năm mới người ta thêm tuổi, đời sống sẽ dài thêm và sẽ cơ hội đón nhận những điều mới lạ trong cuộc sống. Vì thế người chúc mừng nhau.
Dịp Tết, tại nhiều giáo xứ, cũng có tục lệ hái lộc Xuân. Một tác giả đã ghi lại như sau: “Trong đêm giao thừa và ngày đầu năm, sau khi đi lễ tại đình chùa, người Việt Nam có tục hái lộc đem về nhà. Người Công giáo, sau khi tham dự thánh lễ giao thừa, cũng hái lộc đầu Xuân. Không biết xuất phát từ đâu, mà trong khoảng thời gian hai ba chục năm nay, giáo xứ nào cũng tổ chức cây mùa Xuân để cho mọi người tới hái lộc. Lộc ở đây, không phải là một cành cây phải hái, phải bẻ, nhưng là một Lời Chúa được in rất đẹp trên giấy và được cuộn lại cũng rất đẹp. Lời Chúa được chọn theo chủ đề của mỗi năm, chẳng hạn như về gia đình, đức tin, truyền giáo vv. Mỗi gia đình nhận một Lời Chúa, như là ý lực sống cho suốt cả một năm. Tờ Lời Chúa, hay lộc đầu Xuân này, được mang về nhà và được để ở gần bàn thờ, để mọi người trong nhà cùng suy gẫm và thực hành” [2].
Đây là một việc làm đạo đức có nhiều ý nghĩa và mang lại hiệu quả sống đạo rất cao.
Bên cạnh việc mừng tuổi, người ta cũng không quên trao cho nhau những lời Chúc Xuân. Chúc Xuân qua tấm Thiệp Xuân. Chúc Xuân qua tin nhắn điện thoại hay email hay qua Facebook. Chúc Xuân trong gặp gỡ đầu năm. Chúng ta gửi đến nhau những lời cầu chúc tốt đẹp nhất. Một cách đơn giản là câu “Chúc Mừng Năm mới”, “Cung Chúc Tân Xuân” hay “Happy New Year”. Hoặc “Chúc Mừng Năm Mới Khang An Thịnh Vượng” vv. Tuy nhiên, thiết nghĩ, bên cạnh đó cũng có rất nhiều câu chúc chỉ là sáo ngữ, trống rỗng và không thích hợp với Ki-tô hữu chúng ta, cho nên tốt nhất chúng ta nên tránh dùng.
Thực vậy, “Nếu những ngày năm mới người người chúc cho nhau làm ăn phát đạt, thì người Công giáo dành cả một thánh lễ mồng ba Tết để cầu mùa. Trong thánh lễ này, họ tin Thiên Chúa là đấng làm chủ thiên nhiên, ban cho họ một năm mới với nhiều huê lợi, được mùa. Ai cũng xin Chúa ban ơn trợ giúp để công ăn việc làm trong năm mới được thuận buồm xuôi gió. Công việc ổn định và cuộc sống ấm no hạnh phúc luôn là ước vọng chính đáng của mỗi người. Chắc hẳn Thiên Chúa không quên những ước nguyện đầu năm đầy chân thành của mỗi người. Do đó, ai cũng hy vọng một năm mới với nhiều ơn lành của Chúa, từng dự định của mỗi người sẽ gặp nhiều thuận lợi, vận may. Thật ý nghĩa và dễ thương biết bao khi người Công giáo chúc cho nhau những điều tốt đẹp đến từ Thiên Chúa. Những ngày xuân tay bắt mặt mừng, họ cầu mong cho người thân, bạn bè nhận được nhiều ơn lành của Thiên Chúa. Trong từng câu chúc, họ tin vào bàn tay quan phòng và yêu thương của Thiên Chúa. Khi đó, niềm vui của ngày Xuân luôn lan tỏa đến từng người mà họ có dịp gặp gỡ, chuyện trò” (x. Jos Phạm Đình Ngọc SJ, bài đd).
* TẾT XUM VẦY
Tết luôn luôn là dịp để người ta họp mặt bạn bè và đoàn tụ gia đình. Tết mà không có xum vầy thì mất đi ý nghĩa của Tết. Xum vầy để họp mặt chúc Xuân, để chia vui sẻ buồn, để vui chơi, ăn uống. Việc ăn uống trong dịp Tết là điều đương nhiên, nhưng ta không nên biến nó thành việc ăn nhậu, say sưa tốn kém. Những tai nạn giao thông trong dịp Tết thường do ăn uống nhậu nhẹt mà ra, vì khi say người ta không làm chủ tốc độ, dẫn đến những thảm kịch chết chóc kinh hoàng. Ki-tô được khuyến khích “ăn Tết” một cách lành mạnh, giản dị, đúng theo truyền thống và nhất là nên tiết kiệm.
Những lời chúc đầu năm đều mang ý nghĩa đem lại ấm no hạnh phúc, mạnh khỏe và bình an. Nếu chúng ta biết kiềm chế để sắm sửa và tổ chức một cái Tết lành mạnh thì những buổi họp mặt gia đình sẽ đem lại một bầu không khí tươi vui, đầm ấm và đáng khích lệ.
* TẾT BÁC ÁI
Trong dịp tết, nhiều giáo xứ và nhiều cá nhân Ki-tô hữu tổ chức những đợt đi thăm viếng tặng quà cho các đối tượng người già neo đơn, bệnh tật, những gia đình khó khăn và những trẻ em cơ nhỡ, khuyết tật. Những việc làm này thật ý nghĩa, nhất là nó thể hiện tinh thần bác ái yêu thương của Chúa Ki-tô. Tết khi đó không còn là cho cá nhân mình, cho gia đình mình, cho xứ đạo mình mà còn cho xã hội, cho con người bất kể là lương hay giáo.
Nếu mỗi người Ki-tô hữu, mỗi gia đình Công giáo bớt đi những chi tiêu hoang phí cho ngày Tết để đóng góp một chút phần quà tham dự vào công cuộc “mừng Xuân không quên người nghèo” thì thiết nghĩ chúng ta sẽ có một cái Tết khá ý nghĩa, đẹp lòng Chúa và đem lại niềm vui cho tha nhân và cho chính chúng ta./.
Aug. Trần Cao Khải
– – – – – – – –
* THAM KHẢO:
[1]- Jos Phạm Đình Ngọc SJ, bài “Người Công Giáo Việt Nam làm gì trong những ngày Tết?”, nguồn dongten.net ngày 23-1-2017
[2]- Gã Siêu, bài “Tết Đạo”, nguồn conggiao.info 16-2-2015
2022
Đời sống truyền giáo của ông Carlo và bà Lillina
Đời sống truyền giáo của ông Carlo và bà Lillina
Chứng tá của bà Lillina và ông Carlo, một trong số những giáo dân sống vùng truyền giáo Amazon. Hai ông bà khẳng định: “Điều quan trọng là luôn mở rộng cánh cửa đón tiếp người khác”.
Gia đình truyền giáo
Năm nay, ông Carlo và bà Lillina đã ngoài 70 tuổi, nhưng từ khi mới hơn 20 tuổi, hai người đã tham gia một khoá đào tạo của các cha Salêdiêng dành cho giáo dân chuẩn bị ra đi truyền giáo. Hai người đều có ý hướng chọn điểm đến là phía đông của Ecuador biên giới với Peru, rừng nhiệt đới Amazon, để sống với nhóm người do đỏ Shuar. Đó là một trải nghiệm, kết quả của một sự đáp trả tiếng gọi, nhưng sẽ làm nảy sinh nhiều hoa trái cụ thể là có nhiều người đón nhận Tin Mừng.
Hai ông bà với một gia đình ở nơi truyền giáo
Hai ông bà cùng khởi hành với hai người khác. Bốn người được trao phó các nhiệm vụ khác nhau. Ông Carlo được khuyến khích thành lập một trường dạy nghề sửa môtô dành cho các bạn trẻ. Còn bà Lillina cùng với một nhà truyền giáo Salêdiêng và hai nữ tu đến một ngôi làng. Bà tin rằng Chúa sẽ cho bà thấy điều bà cần làm cho sứ vụ. Khi các nhà truyền giáo đến ngôi làng đầu tiên, lúc đó có một chuyện làm người dân tỏ ra lo lắng. Một bé gái bị rắn cắn sắp chết. Ngay lập tức bà đã lấy một viên đá mà các cha Dòng Trắng ở Bỉ đã cho bà để sử dụng như một phương thuốc trong những trường hợp như vậy. Em bé đã được cứu sống. Dân làng muốn bà ở lại với họ. Bà ở lại đó một mình trong gần 5 tháng, sau đó ông Carlo và một tình nguyện viên người Tây Ban Nha đến.
Hai ông bà tại nơi truyền giáo
Bà Lillina giải thích: “Ra đi thi hành sứ vụ có nghĩa là nhìn ra xung quanh và thấy mọi sự với sự sáng tạo nơi mà sự hiện diện của chúng ta là hữu ích. Vì thế, vấn đề không phải là phải chuẩn bị mọi thứ. Chúng tôi, trong sự bé nhỏ của mình cố gắng ở với nhóm người dân bản địa này để giúp họ ý thức bảo vệ văn hoá truyền thống của họ, và ở đâu có thể, chúng tôi làm cho Tin Mừng được đón nhận”.
Bà cho biết người dân bản địa có phong tục, vào mỗi tối những người chủ gia đình kể chuyện về những giấc mơ của họ. Và khi tới lượt các nhà truyền giáo, mỗi người cố gắng tận dụng thời điểm đó để giới thiệu Kitô giáo cho họ. Đa số họ rất thích thú lắng nghe.
Bà Lillina giải thích: “Người ta nghĩ rằng nhà truyền giáo sẽ mang đến nơi truyền giáo một thứ gì đó, nhưng thực tế chúng tôi đã nhận được nhiều hơn những gì chúng tôi đã cho. Trước hết, ý nghĩa của việc chia sẻ: với người da đỏ, chúng tôi chia sẻ mọi thứ. Nếu họ đi săn, dù là chim hay heo rừng, họ luôn chia sẻ. Tiếp theo, ý nghĩa về tình huynh đệ: vấn đề của một người là vấn đề của mọi người. Hiểu được điều này đã giúp chúng tôi rất nhiều. Trên tất cả, chúng tôi được trải nghiệm lòng hiếu khách, là điều quý và đẹp nhất mà chúng tôi có thể nhận được. Trong mỗi túp lều luôn có sẵn một chiếc giường được làm bằng tre, để bất cứ ai mắc mưa – mưa ở những vùng đó rất nguy hiểm – có một nơi dừng chân”.
Ông Carlo nói: “Tất nhiên, lúc đến đây chúng tôi còn rất trẻ, thiếu kinh nghiệm ở nhiều mặt, nhưng chúng tôi có sự nhiệt tình của Công đồng Vaticanô II, kêu gọi chúng tôi ra đi. Chúng tôi đã cố gắng đáp lại với hết khả năng của chúng tôi. Chúng tôi đã gặp những người khác chúng tôi và điều này cũng giúp tri thức mở ra khi gặp những điều mới lạ. Nó giúp ích rất nhiều và không chỉ với các Kitô hữu”. Nhà truyền giáo giải thích sự dấn thân của họ vào thời điểm đó là giúp người dân trong làng cải thiện thực phẩm của họ, nhờ một hợp tác xã nông nghiệp được giới thiệu cho các trang trại trong khu vực.
Đời sống truyền giáo của ông Carlo và bà Lillina
Ông Carlo bày tỏ: “Trong sứ điệp Ngày Thế giới Truyền giáo năm nay, Đức Thánh Cha khuyến khích tất cả chúng ta hãy can đảm, chính trực như các Kitô hữu của cộng đoàn tiên khởi, để làm chứng cho Chúa Kitô bằng lời nói và việc làm, trong mọi môi trường cuộc sống. Điều này có nghĩa là luôn để cho cách cửa rộng mở. Nếu có ai đó đến xin chúng ta giúp đỡ, chúng ta phải tìm mọi cách có thể để giúp đỡ người này. Chúng ta làm như vậy theo gương cộng đoàn Kitô hữu tiên khởi, luôn tìm cách giúp đỡ nhau”.
Bà Lillina thì chia sẻ như sau: “Hoạt động truyền giáo là của chính giáo dân. Điều này được thể hiện qua cầu nguyện, hành động và sự cộng tác. Đức Thánh Cha đã nhấn mạnh rất nhiều về điều này. Hãy sẵn sàng trao dâng cuộc sống để chúng ta có thể đưa ra những câu trả lời cụ thể”. Bà nhận xét: “Như thế, là những nhà truyền giáo có nghĩa là mang cơ hội đến cho mọi người. Đây là điều đẹp nhất, là đủ để đáp trả cách quảng đại trong mọi khía cạnh của cuộc sống, mà đôi khi tiền không phải là tất cả”.
Linh mục của dòng Salêdiêng, truyền giáo ở Guatemala
Bà Lillina và ông Carlo có hai người con. Hai con cùng với bố mẹ trở thành một Giáo hội tại gia, một gia đình truyền giáo, luôn mở ra với những người khác. Một trong hai người con đã trở thành linh mục của dòng Salêdiêng, hiện đang phục vụ ở Guatemala. Một gia đình truyền giáo theo đúng tinh thần của Giáo hội mời gọi: Truyền giáo là sứ vụ của tất cả những ai đã được rửa tội.
Ngọc Yến
