2022
Giáo hội Công giáo Malta trước ngưỡng cửa cuộc viếng thăm của Đức Thánh Cha
GIÁO HỘI CÔNG GIÁO MALTA TRƯỚC NGƯỠNG CỬA
CUỘC VIẾNG THĂM CỦA ĐỨC THÁNH CHA
Hồng Thủy – Vatican News
Chuyến viếng thăm Malta của Đức Thánh Cha đã được lên kế hoạch từ 2 năm trước, vào cuối tháng 5/2020, nhưng do đại dịch Covid-19 bùng phát nên đến bây giờ Đức Thánh Cha mới có thể thực hiện chuyến viếng thăm.
Khẩu hiệu và logo của chuyến viếng thăm
Khẩu hiệu của chuyến viếng thăm là câu Kinh Thánh trích từ sách Công vụ Tông đồ: “Họ đối xử với chúng tôi một cách nhân đạo hiếm có” (Cv 28,29).
Logo có hình những bàn tay chắp lại hướng về Thánh giá, trên một con tàu trôi nổi giữa các ngọn sóng. Những bàn tay diễn tả sự đón tiếp của Kitô hữu dành cho tha nhân và sự trợ giúp đối với những người gặp khốn khó, bị bỏ rơi cho số phận. Con tàu nhắc lại sự kiện đắm tàu của Thánh Phaolô trên đảo Malta (Cv 27,27-44) và sự đón tiếp của người dân Malta dành cho Thánh Tông đồ và những người bị đắm tàu (Cv 28,1-10).
Đức Thánh Cha Phanxicô sẽ là vị Giáo hoàng thứ ba thăm Malta trong 30 năm nay. Thánh Gioan Phaolô II đã thăm Malta hai lần vào các năm 1990 và 2001, chặng cuối cùng trong “Cuộc hành hương Năm Thánh theo bước Thánh Tông đồ Phaolô”, và ngài đã tuyên phong Chân Phước cho cha Dun George Preca, sơ Adeodata Pisani và Chân Phước Nazju Falzon. Đức Biển Đức thăm Malta một lần vào tháng 4/2010, nhân kỷ niệm 1950 năm Thánh Phaolô đắm tàu ở Malta.
Nước Malta
Cộng hòa Malta là một quần đảo nằm ở miền Trung-Nam Địa Trung Hải, giữa bờ biển Sicilia của Ý và bờ biển Tunisia, gồm các đảo Malta, Gozo, Comino và các đảo nhỏ khác, có thủ đô là La Valletta. Malta có diện tích 316 km2 với 478.000 dân thuộc các nhóm sắc tộc chính như Malta (96%), người Anh (2%) và các sắc tộc khác (2%). Các ngôn ngữ chính thức của Malta là tiếng Malta và tiếng Anh. Số tín hữu Công giáo tại Malta chiếm 85%.
Mặc dù là một quốc gia có diện tích nhỏ bé nhưng Malta lại luôn có tầm quan trọng nổi bật, trên hết là vì vị trí chiến lược quan trọng của nó ở trung tâm Địa Trung Hải. Là thuộc địa của Anh từ năm 1800, đến ngày 21/9/1964 Malta trở thành quốc gia độc lập trong Khối thịnh vượng chung, và từ ngày 13/12/1974, nó trở thành một nước cộng hòa nghị viện. Kể từ khi độc lập, hai đảng chính đã luân phiên nắm quyền: Đảng Lao động (MPL) và Quốc dân Đảng (PN).
Malta gia nhập Liên minh Châu Âu vào năm 2004 sau một cuộc trưng cầu dân ý. Chủ tịch Nghị viện Châu Âu hiện nay là người Malta, bà Roberta Metsola. Là một quốc gia có truyền thống Công giáo lâu đời, Malta là quốc gia Châu Âu duy nhất không hợp pháp hóa việc phá thai, trong khi ly hôn đã được hợp pháp hóa vào năm 2011.
Trong một thời gian dài, kinh tế của Malta có thu nhập đáng kể từ sự hiện diện của căn cứ quân sự Anh. Sau khi căn cứ này bị đóng cửa hoàn toàn vào năm 1979, kinh tế của Malta chủ yếu dựa vào các hoạt động liên quan đến cảng của thủ đô Valletta, cũng như du lịch phát triển mạnh và các dịch vụ tài chính.
Với vị trí địa lý nằm giữa tuyến đường giữa Libya và Ý, trong những năm gần đây Malta đã phải đối mặt với áp lực di cư ngày càng lớn và họ đã xử lý tốt vấn đề dù gặp khó khăn, do lãnh thổ nhỏ.
Giáo hội Công giáo Malta
Giáo hội Công giáo Malta có nguồn gốc từ hoạt động loan báo Tin Mừng của Thánh Phaolô Tông đồ. Theo sách Công vụ Tông đồ (các chương 27-28), Thánh nhân đã bị đắm tàu ở Malta vào mùa Đông năm 60 khi trên đường đến Roma. Giám mục đầu tiên của Malta là Thánh Publio; ngài đã lãnh đạo Giáo hội Malta trong 3 thập niên cho đến khi chịu tử Đạo tại Athens vào năm 112.
Sự hiện diện của Kitô giáo tại Malta được ghi dấu qua khoa khảo cổ học và các tài liệu. Như các phần khác của đế quốc Roma cổ, Kitô giáo đã xuất hiện công khai sau chiếu chỉ Milano của hoàng đế Constantino vào năm 313. Vào nửa đầu thế kỷ VIII, các đảo của Malta cùng với các đảo Sicilia, Calabria và Illyricum của Ý được hợp nhất vào Giáo hội Byzantine. Trong khoảng một thế kỷ, các nhà thờ ở những đảo này thuộc Giáo hội Hy Lạp. Ảnh hưởng của Hy Lạp tiếp tục trong suốt thời gian Hồi giáo thống trị Malta.
Năm 1530 hoàng đế Carlo V đã nhượng lại quần đảo Malta cho các Hiệp sĩ của Dòng Thánh Gioan (được gọi là Hội Hiệp sĩ Malta). Các hiệp sĩ rời bỏ Malta vào năm 1798, khi Napoléon Bonaparte chiếm đóng quần đảo. Năm 1817, giáo phận Malta trở thành một phần của giáo tỉnh Palermo và vào năm 1844, nó được tuyên bố là thuộc quyền của Tòa Thánh. Malta được Đức Giáo hoàng Pio XII nâng lên hàng Tổng Giáo phận chính tòa vào năm 1944.
Ngày 15/12/1965, sau khi độc lập, Cộng hòa Malta thiết lập quan hệ ngoại giao với Tòa Thánh.
Một Giáo hội sống động
Hiện nay Giáo hội Malta có Tổng Giáo phận Malta và giáo phận Gozo, với 6 giám mục, 716 linh mục, gồm 411 linh mục triều và 305 linh mục dòng, 33 tu sĩ nam và 716 nữ tu. Giáo hội điều hành 74 trường học và 81 trung tâm bác ái và xã hội.
Tín hữu Công giáo Malta sống đạo sống động, phần lớn trong số 85% tín hữu tham dự Thánh lễ Chúa Nhật đều đặn. Đời sống giáo xứ rất tích cực và 85 giáo xứ hiện có đã hòa nhập hoàn toàn vào đời sống và kết cấu của thành phố. Về tổng thể, tình cảm tôn giáo vẫn còn mạnh mẽ và sự hiện diện của Giáo hội đã ăn sâu vào cơ cấu xã hội, ngay cả qua nhiều tổ chức của Giáo hội.
Hoạt động giáo dục
Về lĩnh vực giáo dục, Giáo hội Malta điều hành hơn 70 trường Công giáo. Theo Hiến pháp Malta, đạo Công giáo được giảng dạy trong các trường công lập. Một nguyên tắc được tái khẳng định trong thỏa thuận giữa Tòa Thánh và Malta ký ngày 16/11/1989, và trong “Các phương thức của quy định về giáo dục và giảng dạy đạo Công giáo trong các trường công lập”. Một thỏa thuận khác giữa Tòa Thánh và Malta, được ký vào ngày 28/11/1991, đảm bảo sự tồn tại của các trường học do Giáo hội điều hành trên đảo.
Hoạt động bác ái xã hội
Về hoạt động bác ái xã hội, Giáo hội có rất nhiều cơ sở trợ giúp dành cho người già, người khuyết tật về thể lý và tâm trí, trong đó lâu đời nhất là “Nhà Chúa Quan phòng”, được Đức ông Mikiel Azzopardi, linh hướng của phong trào Công giáo Tiến hành Malta, thành lập vào năm 1965. Giáo hội còn điều hành những trung tâm dành cho những người nghiện ma túy. Giáo hội là tổ chức đầu tiên mở một cơ sở cho những người có vấn đề về ma túy; và cuối cùng là các cơ sở trợ giúp những nhóm xã hội nghèo nhất.
Hoạt động truyền giáo
Cộng đồng Công giáo Malta cũng rất tích cực về truyền giáo, một công việc ngày nay không chỉ liên quan đến các linh mục, tu sĩ nam nữ, mà còn cả giáo dân và các gia đình.
Những thách đố
Sống đức tin trong bối cảnh đa nguyên
Nhưng Giáo hội Malta cũng phải đối mặt với những thách thức do sự phát triển của xã hội đặt ra: trước hết là vấn đề rao truyền đức tin trong bối cảnh đa nguyên. Một đức tin không chỉ là tôn giáo bên ngoài hoặc một thực tế xã hội học, nghĩa là, được thừa hưởng từ gia đình, như trong quá khứ, nhưng sống động, nhận thức và được đào tạo tốt, được chia sẻ và làm chứng trong mọi môi trường. Ví dụ, trong Thư Mùa Vọng năm 2012, Giáo hội Malta kêu gọi các tín hữu “đừng sợ thử thách của công cuộc tái truyền giảng Tin Mừng”, nhưng hãy “ứng phó với những khó khăn.”
Khủng hoảng đời sống hôn nhân gia đình
Một thách đố lớn khác là cuộc khủng hoảng gia đình hiện đã ảnh hưởng đến xã hội Malta; bằng chứng của điều này là chiến thắng trong cuộc trưng cầu dân ý về ly hôn, được tổ chức vào năm 2011. Thực tế, cho đến thời điểm đó, Malta là quốc gia Châu Âu duy nhất không cho phép tháo gỡ pháp lý về hôn nhân.
Cuộc thảo luận về thụ tinh trong ống nghiệm vào năm 2012 cũng rất sôi nổi, sau đó đã được Quốc hội thông qua. Trong nhiều tuyên bố khác nhau, các giám mục địa phương đã xác định thực hành này là “không thể chấp nhận được về mặt đạo đức”, và đưa ra lời kêu gọi bảo vệ sự sống và bảo vệ sự liên kết và tình yêu hôn nhân.
Năm 2017, Malta đã hợp pháp hóa các kết hợp đồng giới. Cũng trong trường hợp này, các giám mục đã bày tỏ sự tiếc nuối và nhắc lại rằng “hôn nhân sẽ luôn là sự kết hợp duy nhất giữa một người nam và một người nữ, và nhắm đến việc sinh sản con cái”. Tuy nhiên, tại Malta, phá thai vẫn là điều bất hợp pháp.
Về mặt tự do tôn giáo, cần lưu ý rằng: vào tháng 7 năm 2016, Luật 133 đã sửa đổi một đạo luật năm 1933 trừng phạt việc bôi nhọ tôn giáo Công giáo.
Vấn đề người nhập cư
Cuối cùng là thách đố chống lại tình trạng nghèo khổ cũ và mới và vấn đề nhập cư. Về vấn đề nhập cư, Giáo hội Malta dấn thân cả trong việc nâng cao nhận thức và thúc đẩy văn hóa chào đón và hội nhập, cũng như hỗ trợ vật chất cho người nhập cư và người tị nạn thông qua Ủy ban Di cư, và trong việc vận động để bảo vệ quyền của những người này. Các Giám mục Malta cũng mạnh mẽ dấn thân trong việc bảo vệ thụ tạo, đặc biệt là bảo vệ lãnh thổ khỏi các vụ lạm dụng xây dựng ven biển. Trong một số trường hợp, Ủy ban Môi trường liên giáo phận đã kêu gọi sự cần thiết phải đảm bảo sự phát triển bền vững và hệ sinh thái.
Tiếng nói của các Giám mục Malta
Các Giám mục Malta cũng đã lên tiếng về một số sự kiện chính trị ảnh hưởng đến đất nước trong những năm gần đây. Vào năm 2019, các ngài đã đưa ra lời kêu gọi mạnh mẽ cho sự đoàn kết dân tộc và không làm trầm trọng thêm sự chia rẽ sau những tiết lộ về vụ sát hại nhà báo Daphne Caruana Galicia, khiến các nhà lãnh đạo của chính phủ Muscat bị thẩm vấn. Trong một thông tư được công bố vào những ngày đó, các Giám mục đã mời tất cả các bên liên quan “làm việc vì lợi ích chung của xã hội Malta nói chung”, thúc đẩy “công lý, sự thật và trung thực”, tôn trọng lẫn nhau và “mạnh mẽ từ chối mọi hình thức bạo lực.”
Hội Hiệp sĩ Malta
Tại Malta có một tổ chức Giáo hội nhưng cũng có tính quốc tế, đó là Hội Hiệp sĩ Malta. Được thành lập vào năm 1113, Hội Hiệp sĩ Malta ngày nay hoạt động tại 120 quốc gia, với 13.500 thành viên nam nữ, chủ yếu trong lĩnh vực hỗ trợ y tế và nhân đạo với tư cách là cơ quan luật pháp quốc tế và một dòng tu giáo dân Công giáo.
Nguồn: vaticannews.va/vi/
2022
Thư mục vụ Gp. Long Xuyên tháng 4-2022: Người tín hữu giáo dân trong Hội thánh hiệp hành
THƯ MỤC VỤ GIÁO PHẬN LONG XUYÊN THÁNG 04/2022
NGƯỜI TÍN HỮU GIÁO DÂN GIÁO PHẬN LONG XUYÊN
TRONG MỘT GIÁO HỘI HIỆP HÀNH
Anh chị em thân mến!
Theo chương trình của Giáo Phận, ngày 24/04 sẽ kết thúc “Giai Đoạn Học Hỏi” về Thượng Hội Đồng lần thứ XVI để bước sang “Giai Đoạn Thỉnh Ý Hiệp Hành”. Thư mục vụ tháng 01 đề cập đến hàng giáo sĩ, thư mục vụ tháng 03 đề cập đến tu sĩ và thư mục vụ tháng 04 này sẽ đề cập đến giáo dân. Qua đó, mọi thành phần Dân Chúa trong Giáo Phận được mời gọi hiệp thông với Giáo Hội hoàn vũ hướng tới một Hội Thánh Hiệp Hành: hiệp thông, tham gia, sứ vụ.
Trước hết, chúng ta ý thức rằng, điểm khác biệt nổi bật của Thượng Hội Đồng lần thứ XVI này là mọi thành phần Dân Chúa, kể cả những người sống bên lề, những anh chị em khác niềm tin…, đều được mời gọi tham gia vào tiến trình tổ chức Thượng Hội Đồng. Theo cách thức tổ chức của Thượng Hội Đồng lần này, tiến trình Thượng Hội Đồng giai đoạn Giáo Phận là nền tảng cho các giai đoạn tiếp theo, trong đó toàn thể Dân Chúa được tạo điều kiện để có được kinh nghiệm hiệp hành trên hành trình hướng tới một Giáo Hội ngày càng có tính hiệp hành hơn. Đây là cơ hội để các mục tử và giáo dân gặp gỡ, lắng nghe và phân định. Gặp gỡ nhau và cùng nhau gặp gỡ Chúa. Gặp gỡ để lắng nghe; lắng nghe Chúa Thánh Thần và lắng nghe nhau; gặp gỡ, lắng nghe để đi đến phân định nhờ Lời Chúa. Lời Chúa giúp ta phân định thiêng liêng và soi sáng tiến trình phân định ấy. Như vậy, mỗi lần hội họp là một biến cố ân sủng trong tiến trình chữa lành và canh tân được Chúa Thánh Thần hướng dẫn cho cá nhân và cho cộng đoàn của ta.
Tiến trình trên được thực hiện với ý thức về sự bình đẳng trong phẩm giá của mọi người đã được lãnh nhận Bí Tích Rửa Tội. Thật vậy, theo giáo huấn, Dân Thiên Chúa bao gồm các tín hữu vốn là những người, nhờ Bí Tích Rửa Tội, được hiệp thông với Đức Kitô, và do đó, tham dự theo cách thế riêng, vào chức vụ tư tế, ngôn sứ và vương giả của Người. Cũng do sự thiết lập của Thiên Chúa, giữa các tín hữu trong Giáo Hội, có các thừa tác viên có chức thánh, được gọi là giáo sĩ. Giáo sĩ và giáo dân đều là thành viên của Dân Thiên Chúa với ơn gọi chung là nên thánh. Ơn gọi riêng của giáo dân là nên thánh bằng cách tìm kiếm Nước Thiên Chúa, làm thấm nhập và kiện toàn trật tự trần thế với tinh thần Tin Mừng, làm cho mọi người trên khắp thế giới biết đến và đón nhận sứ điệp cứu rỗi của Thiên Chúa. Tất cả cần được thực hiện trong sự bình đẳng và tôn trọng ơn gọi riêng của mỗi người. Bình đẳng vì cùng “được tái sinh trong Đức Kitô”. Ơn gọi riêng vì được Thiên Chúa đặt để trong những hoàn cảnh, điều kiện sống riêng, nhờ đó khắp nơi trên thế giới đều được nghe Tin Mừng cứu rỗi, và mọi người mọi nơi đều có thể lên tiếng ca ngợi tôn vinh Thiên Chúa là Đấng tạo dựng và cứu chuộc.
Từ những ý tưởng trên, chúng ta cùng suy niệm dụ ngôn về những người làm vườn nho trong Tin Mừng (Mt 20, 1-16). Theo dụ ngôn, “Cả các anh nữa cũng hãy đi làm vườn nho cho tôi, tôi sẽ trả cho các anh hợp lẽ công bằng”, là lời mời gọi dành cho tín hữu giáo dân, cùng với hàng giáo sĩ, tham gia vào sứ vụ của Chúa Kitô trong lịch sử nhân loại. Đây là ơn gọi phát xuất từ tình thương và lòng tín nhiệm của Thiên Chúa. Với ơn gọi này, người tín hữu giáo dân được tạo điều kiện sống phẩm giá của mình và thi hành vai trò của mình trong cộng đoàn của Chúa Kitô. Đây cũng là ơn gọi mà người tín hữu giáo dân hy vọng sẽ được đón nhận công xá từ lòng quảng đại của Thiên Chúa trong cộng đoàn Dân Thiên Chúa.
Cụ thể hơn, tính hiệp hành của Giáo Hội cần được thể hiện trong sinh hoạt và tổ chức của cộng đoàn tín hữu, điển hình là của giáo xứ, giáo họ trong Giáo Phận, theo mô hình Giáo Hội hiệp thông, tham gia, đồng trách nhiệm vì sứ vụ. Theo đó:
– Với Bí tích rửa tội, giáo sĩ cũng như giáo dân là thành viên trong gia đình của Thiên Chúa, mọi người và từng người được tôn trọng. Mặc dù có nhiều khác biệt, nhưng mọi người cùng nhau bước trên Con Đường Đức Giêsu, ở đó, mọi người gặp gỡ, lắng nghe, khám phá ra ý Chúa, và cùng nhau thực hiện ý Chúa.
– Với ơn gọi riêng của mình, người tín hữu giáo dân có một vai trò rất quan trọng và cần thiết cho sứ vụ của Giáo Hội ngay từ thời Giáo Hội sơ khai và trong suốt chiều dài lịch sử của Giáo Hội. Như vậy, một giám mục cùng với linh mục đoàn không thể hướng dẫn Giáo Phận một cách hiệu quả nếu không có sự góp phần của người tín hữu giáo dân. Cũng vậy, các linh mục phụ trách giáo xứ, giáo họ cũng không thể hướng dẫn cộng đoàn tốt nếu không có sự tham gia của người tín hữu giáo dân, cụ thể là trong hội đồng mục vụ và các đoàn thể.
– Huấn quyền Giáo Hội nói đến một sự tham gia vào tiến trình cùng hoạch định, cùng lấy những quyết định và rồi cùng nhau thực hiện, mỗi người mỗi vẻ, theo vai trò và trách nhiệm của mình. Vai trò lãnh đạo, phối kiểm, lấy quyết định sau cùng vẫn dành cho vị chủ chăn của cộng đoàn. Như vậy, trong giáo xứ, giáo họ, kế hoạch mục vụ của giáo xứ, giáo họ được cùng nhau phác thảo và đồng thuận trong bầu khí cầu nguyện. Điều đó được diễn tả qua việc cùng nhau phân định tiếng gọi của Thiên Chúa, và chắc chắn, với vai trò và trách nhiệm, người mục tử luôn có tiếng nói cuối cùng.
– Giáo xứ, giáo họ hiện diện là để loan báo Tin Mừng (truyền giáo). Tác vụ rao giảng, cử hành bí tích, phục vụ bác ái và các sinh hoạt tổ chức của giáo xứ, giáo họ đều thấm nhuần tinh thần loan báo Tin Mừng. Mọi thành viên, kể cả thiếu nhi cũng như những người già cả và đau yếu, đều là tác nhân loan báo Tin Mừng, trong sự hiệp thông, tham gia và đồng trách nhiệm.
Áp dụng cho người tín hữu giáo dân trong Giáo Phận Long Xuyên, xin được đưa ra những sinh hoạt cụ thể:
- Hãy thể hiện và học hỏi tính hiệp hành của người tín hữu giáo dân trong cộng đoàn ngay trong việc cử hành Thánh Lễ. Bởi, Thánh Lễ là cuộc gặp gỡ nhau và cùng nhau gặp gỡ Chúa; Thánh Lễ là lắng nghe, lắng nghe nhau và cùng nhau lắng nghe tiếng Chúa; Thánh lễ là sự kiếm tìm ý Chúa cho ta và cho cộng đoàn. Kết thúc Thánh Lễ là lời hiệu triệu để người tín hữu giáo dân ra đi vào thế giới, trở thành muối, thành men của Tin Mừng trong các mối tương quan gia đình và xã hội.
- Người tín hữu giáo dân được khích lệ tham gia tích cực vào các tổ chức và sinh hoạt của giáo xứ, giáo họ, cụ thể là sinh hoạt giáo lý, sinh hoạt phượng tự và sinh hoạt bác ái. Đây là cơ hội để người tín hữu giáo dân sống lý tưởng của người con trong gia đình của Thiên Chúa trong kinh Lạy Cha, là làm cho Danh Cha cả sáng, Nước Cha trị đến, Ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời.
- Người tín hữu giáo dân được khích lệ tổ chức và tham dự các cuộc hội họp của các đoàn hội trong giáo xứ, giáo họ trong tinh thần hiệp hành. Bởi vì, mỗi cuộc hội họp định kỳ hay ngoại lệ là một cuộc gặp gỡ, lắng nghe và phân định trong bầu khí cầu nguyện, huynh đệ và đồng trách nhiệm, với ý thức Chúa Thánh Thần đang hoạt động giữa cộng đoàn.
- Giáo Phận cổ vũ mọi thành phần Dân Chúa trong Giáo Phận thực hiện các cuộc thăm viếng. Cụ thể, các đoàn hội trong giáo xứ, giáo họ, hãy thực hiện các cuộc thăm viếng, kể cả các gia đình Công Giáo cũng như các tôn giáo bạn đang hiện diện trong phần đất của giáo xứ, giáo họ. Ở đây, Giáo Phận tri ân và tiếp tục cổ vũ sinh hoạt thăm viếng của hội Legio Mariae. Thăm viếng trong tinh thần hiệp hành là cơ hội để gặp gỡ, lắng nghe và phân định. Khi đó, chúng ta đang là dụng cụ của Chúa Thánh Thần thực hiện công trình của Ngài.
Anh chị em thân mến!
Tháng 04 năm nay là trung tâm điểm sinh hoạt phụng vụ của Giáo Hội, vì là cử hành Mầu Nhiệm Vượt Qua của Đức Kitô. Cầu chúc mọi thành phần Dân Chúa, giáo sĩ, tu sĩ và giáo dân tham dự việc cử hành Mầu Nhiệm Vượt Qua của Đức Kitô trong tinh thần hiệp hành với niềm tin Chúa đã phục sinh và với niềm hy vọng chúng ta cũng sẽ được phục sinh với Người. Và, trong niềm tin và niềm hy vọng Phục Sinh, Giáo Phận tích cực bước vào “Giai Đoạn Thỉnh Ý Hiệp Hành”, bắt đầu từ Chúa Nhật II Phục Sinh, ngày 24/04/2022.
2022
Hướng tới 50 năm hành trình Đại kết của các Giáo hội Kitô
Tại cuộc họp thường niên diễn ra trong hai ngày 24 và 25/3 vừa qua, Hội đồng Tòa Thánh Đối thoại Liên tôn và Hội đồng các Giáo hội Kitô Thế giới (WCC) đã bàn về các kế hoạch cho việc cử hành 50 năm hành trình Đại kết của các Giáo hội Kitô trên thế giới.
Đối thoại liên tôn là một chiều kích cụ thể của đối thoại với cơ quan có trụ sở tại Genève, nơi Đức Thánh Cha đã đến thăm vào năm 2018, nhân dịp kỷ niệm 70 năm thành lập. Hội đồng Tòa Thánh về Cổ võ Hiệp nhất các Kitô hữu là cơ quan duy trì các mối quan hệ, nhưng chính Hội đồng Tòa Thánh Đối thoại Liên tôn mới là cơ quan làm việc với Hội đồng về các vấn đề đối thoại với các tôn giáo khác.
Mỗi năm, Hội đồng Tòa Thánh Đối thoại Liên tôn và Hội đồng các Giáo hội Kitô Thế giới đều gặp nhau. Và năm nay cuộc họp diễn ra tại Roma vào ngày 24 và 25/3, đánh dấu 45 năm cùng nhau làm việc của hai cơ quan.
Như đã đề cập, đối thoại giữa Hội đồng Tòa Thánh Đối thoại Liên tôn và Hội đồng các Giáo hội Kitô Thế giới (WCC) bắt đầu từ năm 1977, và đã có nhiều dự án chung, với các tài liệu về “Cầu nguyện liên tôn” (1994), “Suy tư về hôn nhân liên tôn” (1997), “Chứng tá Kitô trong một thế giới đa tôn giáo: Các khuyến nghị về ứng xử” (2011), “Giáo dục vì hòa bình trong một thế giới đa tôn giáo: quan điểm Kitô giáo” (2019), “Phục vụ một thế giới bị tổn thương trong tình liên đới liên tôn: một lời kêu gọi Kitô suy tư và hành động trong thời Covid-19” (2020).
Theo thông cáo Phòng Báo chí Tòa Thánh, cuộc họp thường niên tập trung vào 3 chủ đề: đánh giá hành trình Đại kết, bắt đầu cách đây 45 năm trong việc tăng cường đối thoại liên tôn qua các dự án chung và cộng tác, cũng như sự tiếp nhận và tác động của những điều này đối với các cộng đoàn địa phương; thu thập các ý tưởng để xây dựng một kế hoạch hoạt động trong các cộng đoàn địa phương; cầu nguyện cho hòa bình thế giới, đặc biệt cho Ucraina.
Nguồn: vaticannews.va/vi/
2022
Một nghiên cứu mới cho thấy lý do cần đi lễ ngày Chúa nhật?
Một nghiên cứu mới cho thấy lý do cần đi lễ ngày Chúa nhật?
Tại sao người Công Giáo cần phải đi lễ ngày Chúa nhật?
Chúng ta biết rằng là người Công Giáo phải có bổn phận “thánh hóa một ngày cho Chúa”, và luật buộc giữ ngày Chúa nhật là một trong những lý do tối hậu để chúng ta phải đến nhà thờ.
Thánh lễ không chỉ là một nghi lễ tôn giáo hay một bài học Kinh thánh, đó là một mầu nhiệm thánh. Nó có nghĩa là vén mở bức màn ngăn cách giữa chúng ta với Thiên Chúa.
Phụng vụ bao gồm thời gian và địa điểm trong đó Thiên Chúa đến với chúng ta. Đó là giây phút long trọng và siêu vời của việc giao hòa Trời và đất.
Hy tế thánh lễ cũng là một hành động tuyệt vời của sự hiệp thông giữa anh chị em của chúng ta trong Chúa Kitô, nó không chỉ hiệp thông với người ở hàng ghế sau chúng ta mà còn với tất cả các thánh và các thiên thần đang quy tụ quanh bàn thờ, họ hiện diện không hề ít nhưng vì chúng ta không thể nhìn thấy.
Tham dự thánh lễ là một đặc ân mà một số đông các tín hữu trong nhiều thế kỷ đã phải bỏ mạng sống của mình để có được nó. Chúng ta thật may mắn vì chúng ta đến với thánh lễ quá dễ dàng! Các vị tử đạo có thể chỉ hy vọng vào món quà mà chúng ta thường cho là điều hiển nhiên này.
Dường như những điều trên vẫn chưa đủ, điều đáng nói đó là đi lễ Chúa nhật thực sự giúp chúng ta hạnh phúc hơn và hài lòng hơn với cuộc sống của mình.
Một nghiên cứu mới đây cho thấy, việc tham dự vào các buổi lễ tôn giáo hàng tuần dẫn đến mức độ hài lòng cao hơn trong cuộc sống.
“Mức độ hài lòng trong cuộc sống rất khác nhau dựa trên ba đặc điểm nhân khẩu học – trình độ học vấn, thu nhập hàng năm của gia đình và việc tham gia các nghi lễ tôn giáo. Đa số người Mỹ tham dự các buổi lễ tôn giáo hàng tuần (67%) thấy hài lòng với cuộc sống của họ. Ngược lại, dưới một nửa phần còn lại cho thấy mức độ hài lòng cao nhất, cho dù đa số vẫn cho rằng họ rất hoặc khá hài lòng”.
Điều này không có gì đáng ngạc nhiên, vì chúng ta biết rằng Thiên Chúa đã ban cho chúng ta những quy tắc qua Giáo hội của Người để mang lại cho chúng ta niềm vui trong cuộc sống hiện tại và mai sau. Vì vậy việc đi lễ mỗi tuần đem đến sự hài lòng và hạnh phúc là điều hợp lý. Đi lễ thường xuyên, có thể là mỗi ngày, sẽ đem lại cho chúng ta bình an không thể nghi ngờ được?
Dù sao cũng thật tuyệt vời khi việc này được khẳng định từ nhiều nguồn khác nhau. Cho nên, tuần này chúng ta cùng nhau đi lễ với niềm vui trong tâm hồn, cùng dâng lời tạ ơn Chúa vì món quà thiêng liêng này.
Theresa Civantos Barber
- Võ Tá Hoàngchuyển ngữ
