2022
Đức Thánh Cha: Đức Mẹ dạy chúng ta không xấu hổ khi khóc
Đức Thánh Cha: Đức Mẹ dạy chúng ta không xấu hổ khi khóc
Trong buổi gặp gỡ 2.800 thành viên của Cộng đoàn Mục vụ Đức Mẹ Nước Mắt ở Treviglio, bắc Ý, thứ Bảy 23/4, Đức Thánh Cha nhấn mạnh rằng thế giới ngày nay không còn khả năng “khóc bằng con tim” như Đức Mẹ trước những thảm trạng. Ngài khích lệ các thành viên không xấu hổ khi khóc trước những đau khổ của nhân loại.
ĐTC tiếp Cộng đoàn Mục vụ Đức Mẹ Nước Mắt (Vatican Media)
Năm nay, Cộng đoàn Mục vụ Đức Mẹ Nước Mắt cử hành 500 năm (28/02/1522) Đức Trinh Nữ cứu thành phố khỏi quân Pháp qua phép lạ nước mắt chảy ra từ một bức ảnh Đức Mẹ với Hài Nhi, được tôn kính trong một tu viện dòng Augustinô. Khi đó, quân Pháp do tướng Lautrec, một người có lòng sùng kính Đức Mẹ dẫn đầu, đang chuẩn bị tấn công làng này, chứng kiến phép lạ cùng với binh lính đã bỏ vũ khí và nhờ đó thành phố đã được cứu.
Nói với các thành viên của Cộng đoàn đến Roma hành hương, Đức Thánh Cha nhấn mạnh tầm quan trọng nước mắt của Đức Mẹ đối với đức tin Kitô. Vì khi Mẹ khóc chính là nước mắt của Chúa Giêsu trước sự khốn cùng của chúng ta. Ngài giải thích rằng khi Đức Maria, môn đệ đầu tiên của Chúa Giêsu khóc, thì những giọt nước mắt đó là dấu chỉ lòng trắc ẩn của Chúa, Người đau đớn vì tội lỗi chúng ta, vì những sự dữ đang gây ra cho nhân loại, đặc biệt cho những người bé nhỏ, những người vô tội.
Đức Thánh Cha tiếp tục chỉ ra rằng những giọt nước mắt của Mẹ cũng là dấu hiệu tiếng kêu của Thiên Chúa dành cho các nạn nhân chiến tranh và không chỉ ở Ucraina. Ngài nói: “Chúng ta hãy phó thác khẩn cầu Trái tim Vô nhiễm Nguyên tội Mẹ, và chúng ta tin chắc Mẹ chúng ta, Nữ Vương Hoà Bình đã đón nhận lời cầu xin và đang khẩn xin bình an cho chúng ta”.
Nói về phép lạ Đức Mẹ khóc, Đức Thánh Cha mời gọi “Đức Maria dạy chúng ta không xấu hổ khi khóc. Vì khóc có nghĩa là mở lòng ra với Cha nhân lành và với anh chị em, làm chúng ta xúc động trước vết thương của những người chúng ta gặp gỡ trong hành trình cuộc sống, giúp chúng ta biết chia sẻ, chào đón, vui với người vui và khóc với người khóc”. Tuy nhiên, Đức Thánh Cha lưu ý “xã hội ngày nay đã mất khả năng khóc với con tim như Đức Maria đã khóc, hoặc như Thánh Phêrô khóc khi ăn năn”.
Ngài nói tiếp: “Đó là lý do tại sao chúng ta cầu xin Chúa ban cho chúng ta ơn biết khóc trước những gì chúng ta chứng kiến: không chỉ chiến tranh, nhưng cả với những người nghèo, người già, trẻ thơ chưa chào đời bị vứt bỏ. Những khốn cùng của thời nay phải làm cho chúng ta khóc và chúng ta cần phải khóc”.
Kết thúc bài nói chuyện với Cộng đoàn Mục vụ Đức Mẹ Nước Mắt, Đức Thánh Cha ca ngợi tinh thần của Cộng đoàn được tóm trong chính tên gọi. Điều này nói lên sự chăm sóc mục vụ dịu dàng, trắc ẩn và gần gũi theo mẫu gương Đức Mẹ.
Ngọc Yến
2022
Giáo Hội có chấp nhận hôn nhân đồng tính hay không?
Giáo Hội có chấp nhận hôn nhân đồng tính hay không?
Hỏi : dư luận báo chí cho rằng Đức Thánh Cha Phanxicô sẽ công nhận hôn nhân đồng tính và bỏ luật độc thân cho các linh mục được kết hôn. Xin cha cho biết tin đồn đó có đúng không?
Là người Công giáo sống trong Giáo Hội, chúng ta không được nghe và tin những gì Giáo Hội không chính thức loan báo hay dạy bảo. Tin đồn bên ngoài Giáo Hội thì có nhiều nhưng đó chỉ là những tin đồn vô căn cứ ( groundless rumors) mà thôi.Trả lời :
Thật vậy, từ khi Đức Thánh Cha Phanxicô lên ngôi Giáo Hoàng cho đến nay, báo chí Tây phương đã phóng đại nhiều tin giật gân, cụ thể như nội dung câu hỏi trên đây, khiến gây hoang mang cho người tín hữu Công giáo.
Hội Nghị các Giám Mục ( synod of bishops) về Gia đình mới đây tại Rôma, tuy chưa kết thúc bằng một quyết định chung cuộc nào , nhưng chắc chắn đã không đề nghị lên Đức Thánh Cha một thay đổi nào về mục đích của hôn nhân vốn đã được thi hành từ bao thế kỷ nay. Nghĩa là các giám mục sẽ không đề nghị những gì trái ngược với giáo lý , tín lý của Hội Thánh về bí tích hôn phối ,mà chỉ đưa ra những đề nghị nhằm tái xác định lại hay làm sáng tỏ thêm giáo huấn của Giáo Hội về định chế hôn nhân giữa một người nam và một người nữ để Đức Thánh Cha duyệt xét hầu đi đến chung cuộc trong lần Hội Nghị kế tiếp vào tháng 10 năm 2015. Như thế, chúng ta chưa thể kết luận gì về Hội Nghị các Giám mục thế giới vừa qua về gia đình.
Tuy nhiên, chắc chắn Giáo Hội sẽ không thay đổi gì về mục đích của bí tích hôn phối đã được duy trì từ bao thế kỷ nay, dựa trên giáo lý căn bản của chính Chúa Giêsu như ta đọc thấy trong cácTin Mừng Thánh Matthêu và Mác Cô sau đây :
“ … Lúc khởi đầu công trình tạo dựng, Thiên Chúa đã làm nên con người có nam có nữ; vì thế người đàn ông sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình.Và cả hai sẽ thành một xương một thit. Vậy sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly.” (Mt 19: 4-6; Mc 10 : 6-8)
Giáo lý hiện hành của Giáo Hội cũng dạy rằng:
“ Giao ước Hôn nhân, nhờ đó một người nam và một người nữ làm thành một cộng đoàn cho cả cuộc đời, tự bản chất nó hướng tới lợi ích của những người phối ngẫu cũng như hướng tới việc sinh sản và giáo dục con cái. Giao ước này đã được Chúa Kitô nâng lên hàng bí tích giữa những người đã lãnh nhận phép rửa tội.” ( x. SGLGHCG số 1601)
Giáo luật của Giáo Hội cũng qui định rõ như sau :
“ Do giao ước hôn phối, người nam và người nữ tạo nên với nhau một cuộc thông hiệp trọn cả cuộc sống. Tự bản tính, giao ước hôn phối hướng về thiện ích của đôi bạn và việc sinh sản cùng giáo dục con cái. Chúa Kitô đã nâng giao ước hôn phối giữa người đã chịu phép rửa tội lên hàng Bí Tích.”( giáo luật số 1055& 1)
Như thế, tuyệt đối không có giáo lý hay giáo luật nào cho phép hôn nhân đồng tính ( same sex marriage) giữa hai người nam hay hai người nữ mà một số quốc gia –trong đó có Hoa Kỳ- đang cho phép loại hôn nhân này.Đâylà một sự suy thoái trầm trọng về luân lý và mục đích của hôn nhân, một định chế đã có từ lâu trong xã hội con người thuộc mọi nền văn hóa.Định chế đó chỉ nhìn nhận hôn nhân giữa một người nam và một người nữ mà thôi.
Nhưng nay vì đạo đức suy đồi , hậu quả của trào lưu tục hóa ( vulgarism) đang bành trướng ở khắp nơi, mà người ta muốn định nghĩa lại hôn nhân để công nhận “ hôn nhân giữa hai người đồng tính” ( homosexual, lesbian), một đổ vỡ to lớn về mục đích của hôn nhân mà Thiên Chúa đã thiết lập từ đầu khi tạo dựng nên con người có nam có nữ và truyền cho họ “ phải sinh sôi nảy nở cho thật nhiều và thống trị mặt đất,” ( St 1: 28)
Trung thành với giáo lý của Chúa, chắc chắn Giáo Hội sẽ không bao giờ thay đổi định chế hôn nhân để bảo vệ mục đích của gia đình, một giáo hội tại gia ( domestic church) và cũng là hình ảnh của Gia Đình trên Trời nơi Chúa là Cha Chung của mọi con cái đã được cứu độ và đoàn tụ quanh Người trong niềm vui và hạnh phúc vĩnh cửu.
Liên quan đến những người “ đồng tính” Giáo Hội không kỳ thị và loại bỏ họ trong mục đích hiệp thông tôn thờ Thiên Chúa và tuyên xưng đức tin vào Chúa Cứu Thế Giêsu. Nhưng chắc chắn Giáo Hội cũng sẽ không bao giờ cho phép hay công nhận hôn nhân đồng tính giữa hai người nam hoặc hai người nữ như một số quốc gia đang làm vì áp lực chính trị để chiều theo thị hiếu của những người đồng tính muốn hợp thức hóa hôn nhân của họ.Làm như thế, họ đang phá đổ mục đich của hôn nhân và tước bỏ quyền có cha , mẹ , có ông bà nội ngoại của con cháu. Lại nữa, họ cũng tạo gương xấu ( scandal) cho giới trẻ khi thấy hai người nam hoặc hai người nữ công khai sống chung với nhau như vợ chồng.
Về mặt tinh thần, những người đồng tính có thể đến nhà thờ cầu nguyện chung với mọi tín hữu, nhưng không thể lãnh nhận các bí tích Thánh Thể và hòa giải được vì lối sồng của họ ( sống chung như vợ chồng) không được Giáo Hội nhìn nhận như những cặp vợ chồng đã thành hôn qua bí tích hôn phối. Và ngay cả những cặp vợ chồng đã kết hôn hợp pháp trong Giáo Hội, nhưng nay đã ly dị ngoài tòa dân sự mà chưa được tòa án hôn phối của giáo phận tháo gỡ hôn phối cũ mà lại sống chung với người khác như vợ chồng, thì cũng tạm thời không được lãnh nhận hai bí tích trên.
Tóm lại, dù Giáo Hội chưa chính thức lên tiếng về vấn đề hôn nhân của người đồng tính , nhưng chắc chắn Giáo Hội sẽ không bao giờ định nghĩa lại hôn nhân giữa một người nam và một người nữ, vì đây là một định chế thiêng liêng ( sacred institution) mà Thiên Chúa đã thiết lập từ khi có con người trên mặt đất và đã được Chúa Kitô nâng lên hàng bí tích như đã nói ở trên.
2- về câu hỏi liên thứ hai quan đến vấn đề độc thân của hàng giáo sĩ và tu sĩ Công giáo, xin được trả lời như sau:
Kỷ luật độc thân ( celibacy) của hàng giáo sĩ và tu sĩ trong Giáo Hội Công Giáo La mã không phải là vần đề tín lý hay giáo lý, mà chỉ là luật của Giáo hội đặt ra vì mục đích thánh hóa và hy sinh của hàng giáo sĩ ( Giám mục, linh mục) và tu sĩ mà thôi. Kỷ luật này mới có từ thế kỷ thứ 11 cho đến nay vì mục đích hy sinh , “sống khiết tịnh ( chaste) vì Nước Trời” như Chúa Giêsu đã phán dạy ( Mt 19: 11-12)
Do đó, chắc chắn Giáo Hội cũng sẽ không thay đổi hay bỏ luật này như có một số người đã vội suy đoán sai lầm.
Tuy nhiên, cũng phải nói thêm là chỉ có Giáo Hội Công Giáo La Mã mới có kỷ luật này , trong khi ở các Giáo hội Chính Thống Đông Phương ( Eastern Orthodox Churches) thì kỷ luật này chỉ áp dụng cho hàng Giám mục mà thôi; trong khi các linh mục có thể chọn lựa hoặc kết hôn hay không trước khi lãnh chức linh mục. Nếu đã chọn không kết hôn khi còn là phó tế, thì sẽ không được kết hôn sau khi là linh mục.
Iiên quan đến vấn đề này, cũng cần nói thêm là : các linh mục Anh Giáo ( Anglican
Communion) và mục sư Tin Lành đều kết hôn. Vì thế ,sau khi họ trở lại với Công Giáo và được thụ phong linh mục thì họ được quyền tiếp tục sống với vợ con như cũ.Nhưng nếu sau đó vợ chết, thì không được tái kết hôn nữa..
Ước mong những giải đáp trên thỏa mãn các câu hỏi đặt ra.
Lm. Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn
2022
Tại sao không được phép cử hành hôn nhân đồng tính?
Tại sao không được phép cử hành hôn nhân đồng tính?
Hỏi: Xin cha giải thích Giáo Hội có cho phép cử hành hôn nhân đồng tính không?
Trả lời:
Trước khi trả lời câu hỏi đặt ra trên đây, thiết nghĩ nên biết qua về mục đích của hôn nhân trong Giáo Hội Công Giáo.
Khi tạo dựng nên con người, Thiên Chúa đã tạo dựng người nam và người nữ đầu tiên và Ngài đã truyền cho họ: “Hãy sinh sôi nẩy nở thật nhiều cho đầy mặt đất và thống trị mặt đất.” (St 1:28)
Đây là nền tảng và mục đích của hôn nhân trong chương trình sáng tạo của Thiên Chúa. Như thế, con người được vinh hạnh cộng tác với Thiên Chúa trong chương trình sáng tạo của Ngài, nghĩa là tham gia vào công trình làm cho có thêm nhiều người “mang hình ảnh” của Thiên Chúa trong trần thế này cho đến cuối thời gian. Vì thế, hôn nhân từ thời Cựu đến Tân Ước, trước hết, đều có mục đích diễn tả cách bóng bẩy và cụ thể tình yêu sâu đậm của Thiên Chúa dành cho con người
Trong Cựu Ước, hôn nhân là giao ước tình yêu giữa Thiên Chúa và Israel, tức Dân riêng được tuyển chọn của Ngài:
“Vì ngươi sẽ được Đức Chúa đem lòng sủng ái,
Và Chúa lập hôn ước cùng xứ sở người;
Như trai tài sánh duyên cùng thục nữ,
Đấng tạo tác ngươi sẽ cưới ngươi về;
Như cô dâu là niềm vui cho chú rể,
Ngươi cũng là niềm vui cho Thiên Chúa ngươi thờ.” (Is 62: 4-5)
Thiên Chúa “ kết hôn” với dân của Ngài, trong ý nghĩa thâm sâu của tình yêu vô biên mà Ngài đã dành cho họ. Nhưng họ có bổn phận phải đáp trả bằng cách tuân giữ những thánh chỉ của Ngài để được chúc phúc và sống muôn đời. Trong Tân Ước, Chúa Giêsu cũng “kết duyên” với toàn thể nhân loại được cứu chuộc bằng giá máu của Người đã đổ ra trên thập giá để mang về cho Thiên Chúa một dân mới và chuẩn bị cho “hôn lễ và tiệc cưới của Con Chiên và Hiền Thê của Người”, tức là hôn ước giữa Chúa Kitô với nhân loại qui tụ trong Giáo Hội, được ví như người vợ yêu qúi hay là hiền thê của Người. (Kh 19:7-9)
Trong ý nghĩa rất thân tình và thâm sâu đó, hôn nhân quả thật là một ơn gọi (vocation) cao quí, qua đó, Thiên Chúa mời gọi hai người nam nữ kết hôn để “thiết lập giữa họ một giao uớc trọn đời nhằm mưu lợi ích cho người kết hôn, cho việc sinh sản con cái và giáo dục chúng. Giao ước này, thiết lập giữa những người đã lãnh nhận phép rửa tội, đã được Chúa Kitô nâng lên hàng bí tích. (x. SGLGHCG, số 1601).
Như thế, hôn nhân có mục đích và ý nghĩa cao cả trong chương trình sáng tạo và cứu chuộc nhân loại của Thiên Chúa mà con người có vinh phúc được mời gọi tham gia và cộng tác.
Nói khác đi, hôn nhân giữa hai người nam và nữ tượng trưng cho giao uớc tình yêu và bổn phận giữa con người với Thiên Chúa là Đấng đã vì yêu thương vô vị lợi, mà tạo dựng con người và “muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý” (1Tm 2). Nhưng con người cũng được mong đợi đáp trả tình yêu của Thiên Chúa, bằng cách chu toàn ơn gọi của mình và sống theo đường lối của Thiên Chúa để được vui hưởng hạnh phúc đời đời với Người trên Nước Trời mai sau.
Do đó, những ai được mời gọi kết hôn đều được mong đợi sống đúng với mục đích của ơn gọi này là cộng tác với Thiên Chúa trong chương trình sáng tạo nhân loại và làm chứng cho tình yêu vô biên của Chúa dành cho toàn thể con cái loài người. Nghĩa là phải chu toàn những trách nhiệm và mục đích của hôn nhân để nêu cao những giá trị của đời sống gia đình, sinh con cái và giáo dục chúng để giúp chúng nhận biết và yêu mến Thiên Chúa cũng như chân quí tình yêu phu phụ tương trưng cho tình yêu thắm thiết và bền vững giữa Thiên Chúa và loài người.
Thật vậy, khi kết hôn hợp pháp và thành sự ( licitly and validly), hai người phối ngẫu được lãnh nhận ân sủng riêng của bí tích để kiện toàn tình yêu của họ và để giúp họ “nên thánh trong cuộc sống vợ chồng, trong việc đón nhân và giáo dục con cái nên thánh.” (Lumen Gentium 11).
Mặt khác, qua việc kết hôn, hai người phối ngẫu bắt đâu xây dựng đời sống gia đình, từ đó phát sinh những công dân mới cho xã hội và tăng số con cái cho Giáo Hội nhờ phép rửa.
Vì thế, gia đình được ví như một ‘xã hội nhỏ, thu hẹp” một ‘Giáo Hội tại gia” (domestic church). Chính vì muôn nhấn mạnh và đề cao vai trò của gia đình mà Chúa Giêsu đã chọn sinh ra trong một gia đình có cha mẹ loài người là Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ thật của Chúa và Thánh Cả Giuse, nguời Cha nuôi của Chúa (Foster Father) trong Thánh Gia thất xưa.
Như vậy, hôn nhân phải là hành động nhân linh xẩy ra giữa một người nam và một người nữ đúng theo Ý định của Thiên Chúa khi tạo dựng Adam và Eva, là đôi hôn phối đầu tiên trong lịch sử nhân loại. Nghiã là từ đầu, hôn phối không hề dành cho hai người cùng phái tính (same sex) vì nó đi ngược lại hoàn toàn với mục đích và trách nhiệm của hôn nhân trong kế hoạch của Thiên Chúa. Do đó, ai cho phép việc kết hôn đồng tính (same sex marriage) thì đã hành động chống lại chính Thiên Chúa là Tác giả của luật hôn nhân và cũng phá hủy tận gốc rễ nền tảng và mục đích hôn nhân trong xã hội loài người. Chắc chắn như vậy.
Nói thế không có nghĩa là lên án những người có khuynh hướng đồng tính luyến ái (lesbian or homosexual tendencies).
Nhưng cần phân biệt giữa khuynh hướng tự nhiên về đồng tính và hành vi đồng tính.
Một người được sinh ra với khuynh hướng tự nhiên (natural tendency) hướng chiều về đồng tính (homosexuality) thì đây không phải là lỗi của họ, nghĩa là họ không có tội vì có khuynh hướng tự nhiên này.
Họ cần được giáo dục, giúp đỡ và thông cảm để vượt thắng khuynh hướng tâm sinh lý bất bình thường (abnormal) đó.
Chỉ những ai cố ý muốn thực hành những hành vi đồng phái tính (lesbian or homosexual acts) mới có tội mà thôi, vì những hành vi này là “những hành vi thác loạn tự bản chất (intrinsically disordered) nghich với luật tự nhiên vì chúng ngăn cản hành vi tính dục đưa đến đón nhận quà tặng sự sống.” (x.SGLGHCG, số 2357).
Cụ thể, hai người đồng tính không thể sinh sản con cái và xây dựng nếp sống gia đình cách đúng nghĩa được. Mọi hành vi luyến ái của họ đều sai trái nghiêm trọng về luân lý, trái tự nhiên, và không giúp chu toàn mục đích của đời sống hôn nhân. Do đó, ở đâu và ai cho phép việc này thì thực chất chỉ để chiều theo đòi hỏi của một thiểu số người bệnh hoạn về tâm sinh lý mà thôi.Cho họ kết hôn như vậy là làm đảo lộn mục đích hôn phối mà Thiên Chúa đã thiết lập từ đầu và Giáo Hội có trách nhiệm bảo vệ và nghiêm chỉnh thi hành.
Tóm lại, không khi nào Giáo Hội công nhận và cho phép sự thành hôn giữa hai người cùng phái tính. Đây là sự suy thoái đạo đức trầm trọng của một số xã hội Âu Mỹ, một lẫn lộn về trật tự và giá trị luân lý với tự do và sở thích cá nhân của thời đại trống vắng niềm tin này.
Người tín hữu Chúa Kitô phải có can đảm chống lại trào lưu suy thoái đạo đức và luân lý nghiêm trọng này để bảo vệ giá trị và mục đích của hôn nhân mà Thiên Chúa đã thiết lập từ khi tạo dựng con người có nam có nữ.
Sau hết chúng ta cũng không quên cầu nguyện cho những người có khuynh hướng trái tự nhiên về tâm sinh lý : xin Chúa giúp họ nhận ra và thắng vượt được khuynh hướng bất bình thường này.
- Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn
2022
Một linh mục và một nữ tu Pháp bị tấn công trong nhà thờ
Một linh mục và một nữ tu Pháp bị tấn công trong nhà thờ
Sáng Chúa nhật, 24/4, tại nhà thờ Saint-Pierre d’Arène của Giáo phận Nice, cha Krzysztof Rudzinski, gốc Ba Lan đã bị một người đàn ông tấn công bằng dao. Một nữ tu trong khi cố gắng can thiệp cũng đã bị thương nhẹ.
Ông Gérald Darmanin, Bộ trưởng Nội vụ cho biết vụ tấn công xảy ra khoảng 10 giờ sáng khi mọi người đang chuẩn bị Thánh lễ Chúa nhật kính Lòng Thương Xót Chúa. Một người đàn ông 31 tuổi bước vào nhà thờ Saint-Pierre-d’Arène và tấn công cha Rudzinski bằng nhiều vết đâm. Cha đã được đưa đến bệnh viện ngay sau đó. Một nữ tu trong khi cố gắng can thiệp cũng đã bị thương nhẹ.
Sau khi tấn công cha Krzysztof Rudzinski, người này cố gắng chạy trốn nhưng đã bị bắt ngay sau đó. Theo cảnh sát người này có quốc tịch Pháp và quê quán ở Fréjus miền nam nước Pháp. Cũng theo cảnh sát, kẻ tấn công có biểu hiện không ổn định về tinh thần, chưa có tiền án tiền sự, và đây không phải là một vụ tấn công khủng bố.
Trước đây, thành phố Nice của Pháp đã từng bị tổn thương bởi một số vụ tấn công khủng bố. Ngày 29/10/2020, Brahim Aouissaoui, công dân Tunisia, 21 tuổi xông vào nhà thờ Đức Mẹ Lên Trời tấn công bằng dao làm chết ba người và một số bị thương. Một vụ tấn công khủng bố đẫm máu vào ngày 14/7/2016 bởi một người Tunisia khác, Mohamed Lahouaiej-Bouhlel, một phần tử Hồi giáo cực đoan bí mật. Kẻ tấn công khủng bố là một tài xế xe tải, sinh năm 1985 ở Msaken, ngoại ô Sousse. Người này đã lái xe tải 19 tấn tông vào những người đang đi dạo làm cho 86 người thiệt mạng và nhiều người bị thương. Kẻ khủng bố đã bị cảnh sát bắn chết.
Ngọc Yến
