2022
Tiến trình phong thánh được tiến hành như thế nào đối với ĐHY Nguyễn Văn Thuận và Cha Trương Bửu Diệp
Tiến trình phong thánh được tiến hành như thế nào đối với ĐHY Nguyễn Văn Thuận và Cha Trương Bửu Diệp
Từ ngữ: tuyên thánh đúng hơn là phong thánh: Từ phong thánh quen dùng trong tiếng Việt, nguyên ngữ từ tiếng Hy Lạp “Kanon” có nghĩa là thước đo hay tiêu chuẩn hay được nhìn nhận là có giá trị. Ý nghĩa nầy được tìm thấy trong động từ canonizare của tiếng La tinh, rồi canoniser trong tiếng Pháp và Canonize trong tiếng Anh.
Những tín hữu trong thế kỷ đầu đã phong thánh cho các Tông Đồ khi gọi các Ngài là Thánh. Những vị tử đạo cũng được gọi là thánh. Rồi những thế kỷ kế tiếp, những giáo dân có đời sống thánh thiện, nêu gương sáng và thành mực thước cho người đời cũng được tuyên bố “đang ở trên thiên đàng” tức là thánh.
Như vậy theo từ Kanon và theo truyền thống, Giáo Hội không hề phong thánh hay không hề làm cho ai thành thánh cả. Giáo Hội, qua thời gian cầu nguyện lâu dài và qua những phép lạ được thực hiện nhờ lời chuyển cầu của những giáo dân đã chết và đã từng có đời sống thánh thiện, đã tuyên bố là những vị nầy đang ở trên trời với Chúa, tức họ là Thánh.
Vai trò của Giáo Hội là tuyên thánh, tức chính thức tuyên bố rằng: Ông A, bà B, hay Đức Cha C, hay linh mục D hay tu sĩ G . . . đã có đời sống thánh thiện khi còn sống và đang ở trên trời với Chúa. Từ nay họ được kanon, tức thành mẫu mực đáng cho chúng ta kính trọng, bắt chước và được cho vào danh sách phụng vụ chư thánh.
Tiến trình tuyên thánh
Bài viết dựa theo:
1. Những thông tin được Văn Phòng báo chí Vatican phổ biến ngày 12.9.1997 nhằm cắt nghĩa những điều lệ liên quan đến vấn đề tuyên thánh được qui định trong Tông huấn Divinus Perfectionis Magister, do Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II ban hành ngày 25.1.1983.
2. “Special Problems in Canon Law III – Canonizations, do linh mục Roland Jacques, omi. tức Cha Dương Hữu Nhân, Cha Giáo Sư và Khoa Trưởng Giáo Luật Đại Học St. Paul ở Ottawa soạn và dạy trong niên khoá 2007-2008.
3. Cha Giáo Dương Hữu Nhân đã có công rất lớn trong việc vận động tuyên phong Chân Phước cho Thầy Giảng Anrê Phú Yên, sinh năm 1625, mà Cha Nhân gọi là người Anh cả trong hàng các Thánh Tử Đại Việt Nam, chết ngày 26.7.1644. Đức Thánh cha Gioan Phaolô II đã tuyên phong chân phước cho Anrê Phú Yên ngày 5.3.2000 tại quảng trường Thánh Phêrô, Rôma.
Giai đoạn sơ khởi và những yếu tố căn bản cần biết.
1. Ứng viên tuyên thánh phải là một người Công Giáo hay dự tòng đã chết, tức đang ở trên thiên đàng. Không có vấn đề tuyên thánh cho ai còn đang sống.
2. Dư luận thuận lợi, kéo dài, công khai và mạnh mẽ về đời sống thánh thiện hay gương anh hùng tử đạo của ứng viên. Nếu có trở ngại và chống đối không thể vượt qua được, xin sớm huỷ bỏ tiến hành án tuyên thánh. Chỉ nên bắt đầu sau khi ứng viên đã chết đủ năm năm.
Mẹ Chân Phước Têrêsa thành Calcutta chết ngày 5.9.1997 và được Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II tuyên phong chân phước ngày 19.10.2003, tức sau sáu năm 1 tháng và 14 ngày.
Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II chết ngày 2.4.2005 và sẽ được tuyên phong chân phước ngày 1.5.2011, tức sau sáu năm một tháng.
3. Phải có thỉnh nguyện viên yêu cầu lập án tuyên thánh. Thỉnh nguyên viên có thể là: cá nhân một giáo dân, một nhóm giáo dân, một tổ chức có tư cách pháp nhân như giáo xứ, địa phận, Hội Đồng Giám Mục địa phương hay một bộ ở Giáo triều Rôma được thiết lập bởi Giáo Luật hay bởi Giáo quyền có thẩm quyền.
4. Giám Mục địa phận ex officio tức Giám Mục địa phương đương quyền. Tuy nhiên, ngài nên tránh khởi án tuyên thánh vì Ngài sẽ phải là chánh án trong toà án địa phận.
5. Cáo thỉnh viên (postulator) thường là một linh mục, được yêu cầu và được uỷ thác để chuẩn bị và trình bày thỉnh nguyện tuyên thánh: Phải được thỉnh nguyện viên yêu cầu và Giám Mục thẩm quyền chấp thuận; Phải thu tập tất cả những gì có liên quan đến ứng viên tuyên thánh: tiểu sử, văn từ, nhân chứng, chứng từ, hình ảnh…. Phải chịu trách nhiệm tài chánh để chi trả cho tiến trình tuyên thánh. Khi án tuyên thánh tiến sang giai đoạn ở Roma, cần một tân cáo thỉnh viên thường trú ở Roma để ứng phó với mọi tình huống liên quan đến vụ án.
6. Thường có hai loại nhân chứng: Nhân chứng de visu tức chứng kiến tận mắt và nhân chứng de auditu, nhân chứng được nghe từ nhân chứng de visu. Không chấp nhận nhân chứng de auditu ab audientibu tức nhân chứng nghe lại từ nhân chứng de auditu. Không giới hạn số nhân chứng, tuy nhiên, có một số người không được làm nhân chứng được như: Cáo thỉnh viên hay phó cáo thỉnh viên vụ án, viên chức trong toà án tuyên thánh cấp địa phận, cha giải tội và cha linh hướng của ứng viên.
7. Cáo thỉnh viên chính thức đệ trình bằng văn bản với Giám Mục đương nhiệm những gì có liên quan đến ứng viên: tiểu sử, nhân đức trổi vượt hay chứng từ tử đạo, dư luận thuận lợi, văn từ đã xuất bản và chưa xuất bản, danh sách nhân chứng, những “sự lạ” nghĩ là đã được Chúa nhậm lời qua lời chuyển cầu của ứng viên và cả những bất lợi nếu có… và xin Ngài cho phép tiến hành án tuyên thánh.
Giai đoạn I:
thiết lập án tuyên thánh cấp địa phận
1.Giám Mục địa phận đương quyền nên hỏi ý kiến của các Giám Mục địa phận phụ cận, các Giám Mục trong Giáo tỉnh hay ngay cả Hội Đồng Giám Mục về việc thực hiện tiến trình tuyên thánh. Phổ biến công khai thỉnh nguyện tuyên thánh cho ứng viên. Sau đó, Ngài cho thiết lập uỷ ban giám sát (board of inquiry) gồm những linh mục có kiến thức thần học, giáo luật và lịch sử để bảo đảm cho tiến trình hợp luật.
2.Sau khi đã có nhận được những xét đoán khôn ngoan thuận lợi, Giám Mục địa phận cho triệu tập giáo dân, tuyên bố chính thức thực hiện tiến trình tuyên thánh cho ứng viên được thỉnh nguyện.
3.Những thần học gia được chỉ định để nghiên cứu những văn từ của ứng viên tuyên thánh liên hệ đến đức tin và luân lý. Những sử gia và văn khố viên có nhiệm vụ trình bày về sự xác thực, giá trị của những văn từ và cả nhân cách của ứng viên qua những văn từ nầy.
4.Giám Mục thẩm quyền để cử Công tố Viên (promotor iustitiae) để xem xét về kết quả những nghiên cứu trên những văn từ của ứng viên. Công tố Viên có thể nêu những thắc mắc với Uỷ Ban Giám Sát. Sau khi không thấy có gì trở ngại, Đức Giám Mục địa phận cho phép phổ biến hình ảnh cũng như tiểu sử của Ứng Viên tuyên thánh trong Giáo phận mình.
5.Giám Mục địa phận gửi tất cả những tài liệu, án từ đến Bộ Tuyên Thánh Roma (Congregation for the Causes of Saints). Tài liệu phải được uỷ viên thư ký địa phận ký tên và đóng dấu trên từng trang. Bộ Tuyên Thánh của Rôma sẽ liên hệ với Bộ Giáo Lý Đức Tin (Congregation for the Doctrine of the Faith) và những văn phòng ở Toà Thánh có liên quan. Sau khi không nhận được một phản kháng nào, bộ tuyên thánh sẽ ra văn thư gọi là Nihil obstat, tức không có gì trở ngại, gửi cho Đức Giám Mục địa phận và cho phép tiếp tục tiến hành vụ án tuyên thánh.
Giai đoạn II:
Danh hiệu “Đầy Tớ Chúa” và tiến hành
giám sát về nhân đức hay việc tử đạo.
1. Sau khi nhận được Nihil Obstat từ bộ Tuyên Thánh, Giám Mục đương quyền ra quyết định chính thức:
a) Nhìn nhận và tuyên bố ứng viên là Đấy Tớ Chúa.
b) Thiết lập toà án cấp địa phận gồm có: chánh án (được hiểu là Giám Mục địa phận, tuy nhiên Ngài nên bổ nhiệm một linh mục có khả năng thần học, giáo luật và lịch sử đảm trách thay thế ngài); Công tố viên và vài Lục sự.
c) Thẩm phán có nhiệm vụ thăm viếng mộ phần của Đầy tớ Chúa và không nên chấp nhận những sùng bái nếu có. Thẩm phán phải theo những nguyên tắc Giáo Luật qui định về việc phỏng vấn nhân chứng ở những điều khoản 1548, 1553, 1558 và 1559.
d) Công tố viên: Phải là một linh mục thông thạo thần học, giáo luật và lịch sử và được Đức Giám Mục địa phận bổ nhiệm, GL. 1435. Nhiệm vụ: hiện diện trong tất cả mọi phiên toà, tra xét mọi chứng từ, ký nhận và bảo đảm tiến hành hợp luật.
e) Lục sự: có thể là một giáo dân có tiếng tốt được chỉnh định bởi Giám Mục hay chưởng ấn địa phận. Nhiệm vụ: ghi chép đúng nguyên văn lời khai, hành động và chứng từ.
f) Thiết lập bản câu hỏi: Có chuyên viên thiết lập bản câu hỏi và thông qua với uỷ ban Giám Sát địa phận. Không được trao bản câu hỏi cho nhân chứng trước. Nên cho nhân chứng thấy tiến trình thời gian cuộc đời của Đầy Tớ Chúa để theo dõi và cung cấp chứng từ cụ thể.
2. Phiên họp mở màn (Không nên diễn ra long trọng tại nhà thờ chánh toà nhằm tránh mọi ngộ nhận rằng: Đầy tờ Chúa đã được tuyên thánh): Giám Mục địa phận xác định việc bổ nhiệm: Chánh án, công tố viên, lục sự và uỷ viên giám sát. Giám Mục nhận lời thế của các viên chức toà án. Chưởng ấn ký nhận. Giới thiệu nhân chứng. Xác định chỗ lấy chứng từ. Có thể mời gia đình của Đầy tớ Chúa tham dự phiên họp mở màn nầy.
3. Thể thức sát hạch nhân chứng: Tất cả đều phải thề nói sự thật và chỉ sự thật. Chỉ có chánh án, công tố viên, lục sự và nhân chứng hiện diện. Giám Mục (nếu không là chánh án) và cáo thỉnh viên không được hiện diện. Giữ Giáo Luật các điều khoản 1539, 1547 và 1574 để có những chứng từ xác thực. Nhân chứng và công tố viên phải ký nhận trên từng trang chứng từ. Nếu có sửa chữa, công chứng viên và nhân chứng phải ký nhận. Sau cùng, lục sự đọc lại chứng từ và ký nhận.
4. Kết thúc giai đoạn giám sát nhân chứng cấp địa phận:
a) Gom góp tất cả những dữ kiện, chứng từ, sửa đổi, ghi chú, duyệt xét, đọc lại và tất cả thành viên toà án và nhân chứng thề rằng: đã cung cấp chứng từ thật.
b) Chánh án, công tố viên, lục sự đi viếng phần mộ cũng như những nơi được nhân chứng đề cập có liên quan đến Đầy tớ Chúa.
c) Hồ sơ, tài liệu được lập thành ba bản: Nguyên bản (archetypum) được niêm phong và lưu giữ ở văn khố Toà Giám Mục địa phận. Hai phó bản được lục sự đóng dấu, ký tên và gửi sang sang Roma. Một bản gọi là transumptum gởi đến bộ tuyên Thánh và giữ ở văn khố. Bản còn lại cũng gửi đến bộ tuyên thánh nhưng được trao cho cáo thỉnh viên hay những ai đang nghiên cứu về án tuyên thánh khảo sát.
d) Cáo thỉnh viên có nhiệm vụ mang sang Roma và trao cho bộ tuyên thánh: Lá thư gửi cho bộ trưởng bộ tuyên thánh. Hai phó bản do toà án địa phận thiết lập đã nói. Sách viết, thủ bản, văn thư, chứng từ của đầy tớ Chúa.. Tất cả được gọi là instrumentum được chứa trong một hộp, niêm phong gọi là clausurae. Án từ đã gửi đi, kết thúc giai đoạn tiến trình tuyên thánh cấp địa phận.
Giai đoạn III:
Tiến trình án tuyên thánh ở Roma
Không qua đường bưu điện, nhưng Cáo thỉnh viên phải mang hộp niêm phong tài liệu từ địa phận sang Roma. Yêu cầu Bộ tuyên thánh nhận và ra quyết định cho tiếp tục án tuyên thánh ở Roma.
Tân cáo thỉnh viên được thỉnh nguyện viên chỉ định và được bộ tuyên thánh nhìn nhận. Tân cáo thỉnh viên phải ở Roma.
Cáo thỉnh viên yêu cầu Bộ tuyên thánh ra quyết định nhìn nhận tiến trình đã thực hiện ở cấp địa phận là hợp luật và thành sự. Nếu tiến trình sơ khởi ở địa phận hợp luật và thành sự, tân cáo thỉnh viên yêu cầu bộ tuyên thánh cho nghiên cứu để xúc tiến việc tuyên thánh.
Sau khi đã ra quyết định nhìn nhận tiến trình sơ khởi của cấp địa phận, bộ tuyên thánh sẽ bổ nhiệm những viên chức như: Công tố viên, những nhà nghiên cứu sử học, báo cáo viên (Relator). Về phía thỉnh nguyện viên, được yêu cầu chọn một người cộng sự gọi là collaborator. Relator và Collaborator sẽ viết một positio, tức tiểu sử của đầy tớ Chúa, liên quan đến nhân đức trổi vượt hoặc việc tử đạo. Đại khái một positio như sau:
Thông tin về bốn điểm: lịch sử tiến trình sơ khởi – phương pháp thực hiện – tiểu sử đầy tớ Chúa và dư luận về đời sống nhân đức thánh thiện hay chứng từ tử đạo.
Trưng dẫn dữ kiện cụ thể, chứng từ và nhân chứng.
Tài liệu: Giấy rửa tội, chứng từ của gia đình, địa phận hay dòng tu.
Relato et Vota: Báo cáo và biểu quyết. Nếu đồng ý, bộ tuyên thánh sẽ để cử sáu nhà nghiên cứu sử học, mười tư vấn thần học để nghiên cứu trên positio. Nếu hai phần ba trong số nầy biểu quyết thuận, án tuyên thánh sẽ được báo cáo với bộ Giáo Lý Đức Tin. Nếu không, yêu cầu làm lại.
Giai đoạn hai ở Roma: Nâng Đấy tớ Chúa lên Venerable, Bậc đáng kính.
Các hồng Y và Giám Mục trong và ngoài Rôma được triệu tập và được cáo thỉnh viên yêu cầu chấp nhận án tuyên thánh. Một Ponens, tứ báo cáo viên được chọn từ các hồng y hay giám mục, thành viên của bộ tuyên thánh được bổ nhiệm để chấp nhận án tuyên thánh và báo cáo với Đức Giáo Hoàng. Một khi Đức Thánh Cha đã nhìn nhận những nhân đức siêu vượt hay cái chết anh hùng của dầy tớ Chúa là xác thực, Ngài ra quyết định cho nâng Đầy tớ Chúa lên Bậc đáng kính. Giờ đây, người ta được quyền làm Holy Card, tức thiệp thánh, có hình của Bậc Đáng Kính và kinh nguyện xin Chúa thực hiện dấu lạ qua sự chuyển cầu của Bậc đáng kính.
Đến đây, tiến trình tuyên thánh đã trãi qua hai giai đoạn rất khó khăn:
Thiết lập toà án cấp địa phận để thu thập tài liệu, chứng từ và sát hạch chứng nhân và đề xuất sang Rôma để nhận Nihil obstat và ứng viên được gọi là: Đầy tớ Chúa.
Mang án tuyên thánh sang Roma và chịu sự làm việc rất tỉ mỉ và tốn kém của bộ tuyên thánh để đầy tớ Chúa được nhìn nhận là bậc đáng kính.
Giai đoạn IV:
Phép lạ và tuyên phong chân phước
Phép lạ: Được coi như sự chuẩn nhận của Chúa trên ứng viên tuyên thánh đang ở trên Trời. Ngay từ thế kỷ thứ 13, dưới thời Đức Giáo Hoàng Innocent III, Giáo Hội đòi buộc phải có phép lạ thực hiện nhờ lời chuyển cầu của những Bậc Đáng Kính, những ứng viên tuyên thánh về đời sống đạo đức. Tuy nhiên, phép lạ được miễn trừ nơi những ứng viên tuyên thánh tử đạo.
Phép lạ phải là phép lạ thể lý, chứ không phải luân lý, tức kết quả những việc lạ phải được cảm nhận, được nhìn thấy, được minh chứng và giảo nghiệm y khoa. Và phải đã xảy ra một năm rồi.
Khi có việc lạ xảy ra, cáo thỉnh viên phải viết đơn xin Giám Mục thẩm quyền thiết lập ban giám sát. Sau khi xét đoán khôn ngoan có thể là phép lạ, Giám Mục địa phận để cử hai bác sĩ xét nghiệm, chuyên viên thu thập tài liệu, chứng từ và yêu cầu toà án địa phận thiết lập việc sát hạch nhân chứng.
Hồ sơ kết quả thẩm định, có thể là phép lạ, sẽ lập thành ba bản. Bản gốc giữ ở Toà Giám Mục địa phương. Hai bản còn lại gửi sang bộ tuyên Thánh Rôma để duyện xét và thẩm định.
Bộ tuyên thánh duyệt xét phép lạ trên ba tiêu chuẩn:
Y khoa: Đây là một chửa trị xác thực và lạ lùng mà y khoa bình thường không làm được.
Thần học: Nhân chứng đã khẩn cầu với Bậc Đáng Kính và nhận được phép lạ.
Lòng đạo: Hồng Y và các Giám Mục quyết định là rất hữu ích cho lòng sốt sắng của Giáo Hội hoàn vũ nếu ứng viên được tôn phong chân phước.
Tất cả được đệ trình lên Đức Thánh cha và để Ngài có quyết định sau cùng là có tiến tới tuyên thánh hay không. Nếu có, cũng chính Đức Thánh Cha sẽ công bố ngày giờ, nơi chốn cử hành việc tuyên phong Chân Phước.
Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn văn Thuận
| • Kinh xin ơn với Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận |
Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn văn Thuận từ trần ngày 16.9.2002. Rất may mắn, Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI cho phép Hội Đồng Công Lý và Hoà Bình của Ngài khởi án tuyên thánh ngày 16.9.2007. Ngài đã có Holy Card và Kinh Xin Ơn được Đức Giám Mục Giampietro Crepaldi, tổng thư ký Hội Đồng Công Lý và Hoà Bình lúc ấy chuẩn nhận và cho phép phổ biến ngày 16.9.2007.
Theo tiến trình tuyên thánh của Giáo hội Công giáo Rôma, Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận đang ở bậc Tôi tớ Chúa (một trong bốn bậc phong thánh: Tôi tớ Chúa, Đấng Đáng kính, Chân phước và Thánh). Ngày 16 tháng 1 năm 2009, Hồng Y Agostino Valini, Giám Quản Toà Rôma ban Án lệnh chính thức vận động thu thập những chứng cứ, tài liệu, tác phẩm của/về Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận để phục vụ cho án phong chân phước. Ngày 22 tháng 10 năm 2010, án phong chân phước cho Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận đã được chính thức khởi sự.
Ngày 15 tháng 11 năm 2010, VietCatholic đưa tin về một chủng sinh người Việt Nam sinh ra ở Mỹ bị hôn mê 32 ngày và hai lần Bác sĩ đã tuyên bố là chết. Nhưng ba mẹ chủng sinh nầy và chính Thầy Giuse đã kêu cầu Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn văn Thuận. Thầy Giuse đã thấy Đức Hồng Y trong thị kiến hai lần đến tận giường bệnh thăm viếng Thầy. Hiện tại thầy đã bình phục hẵn. Văn phòng cáo thỉnh ở Rôma đang đòi những chứng từ minh chứng cho phép lạ chữa bệnh nầy. Nếu Thầy Giuse có đủ bằng chứng về sự bình phục lạ lùng của Thầy. Chắc chắn Đức Hồng Y sẽ được tuyên phong chân phước sớm.
Cha Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp
Cha Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp sinh ngày 01-01-1897, được Cha Giuse Sớm rửa tội ngày 2-2-1897 tại họ đạo Cồn Phước, làng Tấn Ðức, nay thuộc ấp Mỹ Lợi, xã Mỹ Luông, quận Chợ Mới, Tỉnh An-Giang. Ngày 12-3-1946, ngài bị bắt cùng với trên 70 người giáo dân tại họ Tắc Sậy, bị lùa đi và nhốt chung với bổn đạo tại lẫm lúa của ông giáo Sự ở Cây Dừa. Do sự tranh chấp giữa các giáo phái, vì bênh vực quyền lợi của giáo dân, ngài đã chết thay thế cho những người bị bắt chung.
Ở Việt Nam và hải ngoại, cả lương giáo, không ai không biết Cha Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp. Vô số những phép lạ được truyền khẩu và được ghi chép thành văn bản. Việc lập án tuyên thánh cho Cha Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp có nhiều thuận lợi: Ngài bị giết chết trong khi thi hành nhiệm vụ mục tử, Ngài chết vì đạo. Chúa đã thực hiện nhiều phép lạ qua sự chuyển cầu của Ngài. Nhiều và rất nhiều nhân chứng “de visu”, là người thọ ơn Cha. Những người đã từng tiếp xúc với Cha thời sinh tiền vẫn còn sống như Đức Hồng Y Gioan Baotixita Phạm minh Mẫn.
Thời gian chuẩn bị đã lâu, nhiều người đang nức lòng và sẵn sàng làm chứng cũng như rộng rãi ủng hộ chương trình tuyên thánh cho Cha Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp. Chương trình vinh danh Cha Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp, vị mục tử dũng cảm đã dám chết vì đàn chiên, giống như Chúa Kitô, thầy chí Thánh, vị mục tử nhân hậu, tốt lành và mẫu mực đã đến lúc chín mùi. Xin trao vào tay Chúa nguyện ước thánh thiện nầy. Vì không điều gì là không có thể với Thiên Chúa! Xin cầu nguyện và ủng hộ!
(LM Phêrô Trần thế Tuyên, Kiến thức Công Giáo, 2/2011, Liên Tu sĩ Canada)
2022
Tiến trình mở hồ sơ xin phong Thánh cho Đức Cha Lambert de La Motte và Đức Cha François Pallu
Tiến trình mở hồ sơ xin phong Thánh cho Đức Cha Lambert de La Motte và Đức Cha François Pallu
Tóm tắt tiến trình mở hồ sơ xin phong Chân phước và phong Thánh cho hai tôi tớ Chúa là Đức Cha Lambert de La Motte và Đức Cha François Pallu
Tóm tắt tiến trình mở hồ sơ
xin phong Chân phước và phong Thánh
cho hai tôi tớ Chúa
là Đức Cha Lambert de La Motte và Đức Cha François Pallu
Lịch sử truyền giáo tại Việt Nam ghi đậm dấu ấn của các vị Thừa sai thuộc nhiều dòng tu: Dòng Tên, Dòng Phanxicô, Dòng Đaminh, Dòng Augustinô. Các Đấng đã hy sinh lên đường đến Việt Nam, với thao thức mang Tin mừng Cứu độ đến cho dân tộc chúng ta. Trong số các vị thừa sai, đặc biệt phải kể đến hai vị Giám mục thuộc Hội Thừa Sai Hải ngoại Paris (MEP) là Đức cha Lambert de La Motte và Đức cha François Pallu. Hai vị được coi như đồng sáng lập của Hội, và cũng là hai vị Đại diện Tông toà đầu tiên của Giáo hội Công giáo Việt Nam.
Ngày 9.9.1959, qua Tông sắc Super Cathedram[1], Đức Thánh cha Alexandre VII quyết định thành lập hai Giáo phận Tông toà đầu tiên tại Việt Nam là Đàng Ngoài và Đàng Trong. Đức cha Pierre Lambert de La Motte được bổ nhiệm làm Giám mục Đại diện Tông tòa Đàng Trong và Đức cha François Pallu, Đại diện Tông toà Đàng Ngoài.
Ngày 11.6.1660, cha Pierre Lambert được Đức Tổng giám mục Bouthillier, Tổng Giám mục Giáo phận Tours tấn phong Giám mục tại nguyện đường Dòng Đức Mẹ Thăm Viếng ở Paris[2], với hiệu toà Bérythe. Sau một tuần tĩnh tâm, ngài rời Paris ngày 18.6.1660 lên đường trong sự vâng phục Tòa thánh và chứng tỏ đã thấu triệt tinh thần các Huấn thị Rôma, mà ngài sẽ còn nhiều tháng đi đường để suy gẫm thêm[3]. Ngày 22.08.1662 Đức cha Lambert đến Ayutthaya, kinh đô Thái Lan.
Ngày 17.11.1658, cha Pallu được Đức Hồng y Antonio Barberini, tổng trưởng Thánh bộ Truyền bá Đức tin tấn phong Giám mục tại Rôma với hiệu toà Héliopolis (nay thuộc Liban). Ngày 2.01.1662, ngài lên tàu tại cảng Marseille để đi Việt Nam, nhưng đã chẳng bao giờ đến được nhiệm sở của mình. Ngày 27.01.1664, ngài tới được Ayutthaya, kinh đô Thái Lan.
Cả hai vị Giám mục đã có công đặt nền móng cho sự phát triển của Giáo hội Công giáo tại Việt Nam. Đức cha François Pallu được Toà thánh đặt làm Đại diện Tông toà Đàng Ngoài, nhưng chưa một lần đặt chân đến miền Bắc. Ngài uỷ quyền cho Đức cha Lambert de La Motte điều hành công việc truyền giáo và mục vụ. Nếu Đức cha Lambert de La Motte chuyên cần hoạt động để tổ chức Công đồng Phố Hiến, thành lập Dòng Mến Thánh Giá, truyền chức cho linh mục bản xứ, thì Đức cha François Pallu, với các chuyến đi từ châu Á sang châu Âu, đã xin Toà Thánh chuẩn y và công nhận những thành quả tông đồ của Đức cha Lambert de La Motte. Mỗi người mỗi cách, cả hai vị đều nhiệt thành cho công cuộc loan báo Tin mừng tại Việt Nam trong sự vâng phục Tòa thánh.
Từ năm 2009, Hội đồng Giám mục Việt Nam đã chính thức trình lên Toà thánh Thỉnh Nguyện Thư, để xin phong Chân phước và phong Thánh cho hai vị Giám mục. Thỉnh Nguyện Thư mang chữ ký của Đức cha Phêrô Nguyễn Văn Nhơn, lúc đó là Giám mục Đà Lạt – Chủ tịch Hội đồng Giám mục Việt Nam, và chữ ký của cha Jean-Baptiste Etcharren, lúc đó là Bề trên Tổng quyền của Hội Thừa sai Paris. Hai vị Giám mục là Đức cha Giuse Võ Đức Minh và Đức cha Giuse Nguyễn Chí Linh được Hội đồng Giám mục uỷ nhiệm để xúc tiến thủ tục này.
Nhân chuyến đi Ad Limina của Hội đồng Giám mục Việt Nam, vào tháng 3 năm 2018, trong một cuộc họp tại Foyer Phát Diệm (Rôma), Hội đồng Giám mục đã chính thức trao công việc này cho hai Giám mục: Đức cha Giuse Vũ Văn Thiên (lúc đó là Giám mục Hải Phòng) và Đức cha Giuse Đỗ Mạnh Hùng (lúc đó là Giám quản Tông toà Tổng Giáo phận Sài Gòn). Sau một thời gian làm việc, hai vị Giám mục, với sự cộng tác của một số linh mục và nữ tu Dòng Mến Thánh Giá, đã sưu tầm một số tài liệu có liên quan đến hai vị Đại diện Tông toà đầu tiên của Việt Nam.
Vì Đức cha Lambert de La Motte qua đời ngày 15.6.1679 tại Ayutthaya (Thái Lan)[4] và Đức cha François Pallu qua đời ngày 29.10.1684 tại Phúc Kiến (Trung Quốc)[5], nên theo Giáo Luật, Hội đồng Giám mục Việt Nam phải xin uỷ quyền từ các vị Giám mục của hai Giáo phận này. Đức Hồng y François Xavier Kriengsak Kovithavanij, Tổng Giám mục Bangkok, trong Văn thư đề ngày 18.5.2020, chính thức uỷ quyền cho Đức cha Giuse Đỗ Mạnh Hùng đặc trách tiến hành thủ tục xin phong Chân phước và phong Thánh cho Đức cha Lambert de La Motte. Bộ Phong Thánh, qua Văn thư số 3542-1/20 do Đức Hồng y Tổng trưởng Marcellus Semeraro ký ngày 15.9.2021, đã chấp thuận cho Đức Tổng Giám mục Giuse Vũ Văn Thiên, là Giám mục có thẩm quyền, để tiến hành thủ tục xin phong Chân phước và phong Thánh cho Đức cha François Pallu.
Từ trước tới nay, những hồ sơ liên quan đến hai vị Đại diện Tông toà đều được tiến hành chung. Cũng vậy, một kinh cầu nguyện xin ơn đã được soạn thảo chung cho cả hai Đấng. Nay, theo ý kiến của những vị có chuyên môn, hồ sơ liên quan đến Đức cha François Pallu được trao cho Đức Tổng Giám mục Giuse Vũ Văn Thiên, vì Đức cha François Pallu là Đại diện Tông toà Đàng Ngoài. Hồ sơ liên quan đến Đức cha Lambert de La Motte được trao cho Đức cha Giuse Đỗ Mạnh Hùng, vì Đức cha Lambert là Đại diện Tông toà Đàng Trong. Các vị hữu trách đã soạn và phát hành hai kinh cầu nguyện riêng, với hy vọng những phép lạ sẽ nhận được góp phần tiến hành các thủ tục pháp lý thuận lợi hơn.
Tại Việt Nam, cho đến nay, rất ít người biết đến Đức cha Lambert de La Motte, ngoài các nữ tu Mến Thánh Giá và Hiệp hội Tín hữu Mến Thánh Giá. Đối với Đức cha François Pallu, thì hầu như không ai biết đến ngài. Nhiều người nghĩ rằng công lao của hai vị Đại diện Tông toà chỉ là các Hội dòng Mến Thánh Giá. Đó là một quan niệm phiến diện, thiếu công bằng đối với lịch sử. Công lao của các ngài không chỉ thành lập Dòng Mến Thánh Giá, mà theo chỉ thị của Tòa thánh Đức cha Pierre Lambert de La Motte đã tiến trình thành lập Hàng giáo sỹ bản xứ Việt Nam qua việc phong chức cho các linh mục Việt Nam là các thầy giảng: Giuse Trang, Luca Bền, Gioan Huệ, Bênêđictô Hiền (linh mục Giuse Trang, người Việt đầu tiên, được truyền chức ngày 31.3.1668)[6], tổ chức Công đồng tại Ayutthaya (năm 1664), lập Hiệp hội Tín hữu Mến Thánh Giá (năm 1669-1670), Công nghị Phố Hiến (năm 1670), lập Dòng Mến Thánh Giá Đàng Ngoài (năm 1670), Công nghị Hội An (năm 1672), lập Dòng Mến Thánh Giá Đàng Trong (năm 1671). Những điểm nhấn quan trọng này chứng minh các Ngài là Đại ân nhân của Giáo hội chúng ta.
Hiện tại, Ban làm việc vẫn đang tiến hành nghiên cứu các hồ sơ có liên quan đến hai vị Đại diện Tông toà, dựa trên những chỉ dẫn của Toà thánh qua Văn kiện SANCTORUM MATER của Bộ Phong thánh ban hành năm 2007. Ban làm việc cũng phiên dịch và phát hành những hồ sơ văn bản có liên quan đến các Đấng, với mục đích giúp các tín hữu Việt Nam biết về một giai đoạn lịch sử quan trọng của công cuộc loan báo Tin mừng tại quê hương chúng ta.
Việc xin phong Chân phước và phong Thánh cho hai vị Đại diện Tông toà là một lộ trình dài, cần kiên trì và cầu nguyện. Công việc này cũng thể hiện tâm tình yêu mến và tri ân của Giáo hội Công giáo Việt Nam đối với các bậc Tiền nhân. Kính xin quý Đức cha, quý cha, quý tu sĩ và anh chị em cầu nguyện cho nguyện ước của chúng ta được thành hiện thực.
Hà Nội, ngày 01 tháng 8 năm 2022
+Giuse Vũ Văn Thiên
Tổng Giám mục Hà Nội
Kinh xin ơn nhờ lời chuyển cầu của Đức cha Lambert
Kinh xin ơn nhờ lời chuyển cầu của Đức cha François Pallu
(hdgmvietnam.com 01.08.2022)
[1] A.M.E.P, vol. 247, p 45. Adrien Launay, Histoire de la Mission de Cochinchine, Tome I, bản la ngữ, p. 9.
[2] Jean Guennou, Les missions étrangères, Paris, 1963, p. 69 ; François Fauconnet-Buzelin, Aux sources des Missions étrangères, Pierre Lambert de la Motte, Édition Perrin 2006, p. 72.
[3] X. J. DE BOURGES, Relation du voyage de Mgr l’Évêque de Bérythe, Vicaire apostolique du Royaume de la Cochinchine, Paris, Bechet, 1666, tr. 34-35 (Bản dịch tiếng Việt kèm chú thích của Lm Giuse ĐÀO QUANG TOẢN, do Lm Antôn NGUYỄN NGỌC SƠN hiệu đính: Ký Sự Cuộc Hành Trình Của Đức Cha Bérythe, lưu hành nội bộ, 1996, tr. 34-35).
[4] X. HĐGMVN, Tiểu sử Đức cha François Pallu và Đức cha Pierre Lambert de la Motte, Nxb. Tôn giáo, 2020, tr. 96-99.
[5] X. HĐGMVN, Tiểu sử Đức cha François Pallu và Đức cha Pierre Lambert de la Motte, Nxb. Tôn giáo, 2020, tr 52.
[6] Lm. Bùi Đức Sinh O.P., M.A., Giáo Hội Công Giáo ở Việt Nam, p. 258.
2022
Sơ Virgula Maria Schmith phục vụ người phong cùi ở Indonesia
Sơ Virgula Maria Schmith phục vụ người phong cùi ở Indonesia
Vào ngày 27/6/2022, sơ Virgula Maria Schmith, thuộc Dòng Thừa sai Chúa Thánh Thần đã qua đời ở Steyl, Hà Lan, hưởng thọ 93 tuổi. Sự ra đi của sơ Virgula không chỉ làm cho các chị em trong dòng thương tiếc, nhưng đối với Giáo hội Công giáo ở Indonesia đó là một sự mất mát lớn. Các tín hữu luôn nhớ đến sơ là một người đã dành cả cuộc đời phục vụ người phong cùi ở quốc gia châu Á.
Các Nữ tu Thừa sai Chúa Thánh Thần là một Hội dòng truyền giáo do Thánh Arnold Janssen thành lập năm 1889 tại Steyl. Hiện Hội dòng có hơn 3.000 thành viên hiện diện trên 46 quốc gia.
Sơ Virgula, sinh ngày 3/9/1929 tại Grunebach của Đức. Sơ được biết đến nhiều ở Indonesia vì đã thực hiện một cuộc cách mạng bênh vực bệnh nhân phong trong nước, sau khi mở hai trung tâm chuyên chăm sóc bệnh này.
Bề trên giám tỉnh của các Nữ tu Thừa sai Chúa Thánh Thần ở Indonesia, sơ Yohana Momas, cho biết các nữ tu đã mở các Trung tâm Phục hồi Người bệnh Phong San Damián và San Rafael, đặt tại Cancar và Binongko, trên đảo Flores, ở Indonesia.
Theo giải thích của Bề trên Giám tỉnh, sơ Virgula đến truyền giáo ở Indonesia vào năm 1965 và sống nhiều năm tại khu vực Manggarai, phía đông đảo Flores, nơi đây sơ phục vụ người nghèo và người bệnh. Ở Indonesia sơ Virgula được biết đến là người đầu tiên khởi xướng các hoạt động nhân đạo, đặc biệt các hoạt động dành cho người khuyết tật, các bệnh nhân phong, và nạn nhân của bạo lực tình dục. Sơ từng nói: “Tôi được kêu gọi để giải thoát những người bị xiềng xích bởi những căn bệnh khác nhau, vì họ là con Chúa”.
Sơ kể một lần kia một linh mục dòng Phanxicô đã tìm thấy một người phong cùi bị gia đình bỏ rơi trong sa mạc, và đưa người bệnh này đến bệnh viện San Rafael nơi sơ làm việc. Khi nhìn thấy người bệnh phong này sơ đã xúc động mạnh mẽ. Sơ bày tỏ: “Tôi vô cùng kinh ngạc và choáng váng khi vị linh mục đưa người bệnh đến với tôi. Thân thể anh đầy vết thương và tóc anh xơ xác và dài ra. Tôi không biết phải làm gì. Tuy nhiên, tôi đã đón nhận bệnh nhân và dành cho anh sự chăm sóc tốt nhất. Sau đó, tôi đã nhờ người thân của tôi ở Đức giúp đỡ để tôi có thể chăm sóc các bệnh nhân tốt hơn”.
Kể từ đó, vào năm 1966, vị tông đồ bệnh phong được tách ra khỏi Phòng khám Đa khoa San Rafael. Trong thời gian làm việc, sơ Virgula đã chứng kiến sự chữa lành của nhiều người có nguy cơ tử vong cao. Trong số đó nổi bật là Yance, đứa trẻ mồ côi đầu tiên sơ chăm sóc, một đứa trẻ sinh non sống sót dù sinh ra chỉ nặng 600 gram.
Nữ tu người Đức từng khiêm tốn bày tỏ rằng công việc này “giống như một phép lạ”, không thể thực hiện được nếu chỉ nhờ vào nỗ lực của sơ nhưng phải nhờ đến bàn tay Thiên Chúa. Sơ Virgula nói: “Đó không phải là tất do công sức của tôi. Tôi không phải là một cá nhân tuyệt vời hay trí tuệ. Tôi tuân theo ý muốn của Chúa”.
Hơn nữa, cầu nguyện là một trong những trụ cột trong sứ vụ của sơ. Sơ nói: “Tôi cầu nguyện mỗi sáng: Lạy Chúa, xin chỉ cho con những gì Chúa muốn con làm hôm nay và ban cho con khả năng làm điều đó. Nếu Chúa muốn điều gì đó, chúng ta không thể kháng cự Người. Tôi không cảm thấy lo lắng hay sợ hãi, bởi vì tôi tin Chúa ở cùng tôi”.
Sơ Virgula khẳng định rằng sơ có thể cảm nhận được sự quan phòng của Chúa trong suốt sứ vụ. Sơ giải thích: “Chúa luôn giúp đỡ đúng lúc. Khi các nữ tu cần thuốc men, quần áo, thức ăn hay các dịch vụ khác thì luôn có sự giúp đỡ. Tôi tin và cảm nghiệm rằng Chúa không thể bỏ rơi chúng tôi”.
Nhờ sự dấn thân quên mình của sơ Virgula mà hiện nay ở Indonesia Giáo hội Công giáo điều hành 9 trung tâm phục vụ bệnh nhân phong.
Tại Indonesia và ở châu Phi, châu Á và châu Mỹ Latinh, mặc dù có thể điều trị nhưng bệnh phong vẫn là một vấn đề sức khỏe cộng đồng. Vì vậy, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã đưa bệnh phong nằm trong danh sách các Bệnh nhiệt đới bị lãng quên (NTM).
Vì thế, hàng năm vào Ngày Thế giới người bệnh phong cùi Giáo hội tiếp tục giúp mọi người ý thức rằng bệnh phong là một căn bệnh có thể điều trị được, nhưng đánh bại nó không chỉ là một cuộc chiến đơn giản trên bình diện y tế; cũng cần tìm cách xóa bỏ sự kỳ thị của xã hội đi kèm với căn bệnh nan y này và cuối cùng, giúp con người phục hồi chức năng một cách toàn diện.
Một khía cạnh quan trọng khác là sự thiếu hòa nhập xã hội có thể có tác động tiêu cực sâu sắc đến lòng tự trọng và cách nhìn của một người về cuộc sống, cuối cùng khiến họ dễ mắc bệnh tâm thần. Theo nghĩa này cộng đồng chăm sóc sức khỏe nói riêng và toàn xã hội, cung cấp một dịch vụ cho lợi ích chung khi họ giúp tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình hòa nhập cá nhân của những người bị bệnh phong và cho gia đình của họ. Không phải ai cũng có đủ kỹ năng hoặc kiến thức chuyên môn để chữa khỏi bệnh phong, nhưng mọi người đều có thể nuôi dưỡng văn hóa gặp gỡ, giúp chữa lành và mang lại hạnh phúc tinh thần cho những người bị ảnh hưởng bởi căn bệnh đau buồn này.
Ngọc Yến
2022
Một linh mục ở Sri Lanka bị bắt vì tham gia biểu tình chống chính phủ
Một linh mục ở Sri Lanka bị bắt vì tham gia biểu tình chống chính phủ
Vì tham gia các cuộc biểu tình ôn hoà chống chính phủ, ngày 27/7 cha Amila Jeewantha Peiris của Giáo hội Công giáo Sri Lanka đã bị cảnh sát xông vào nhà xứ và bắt đem đi.
Mặc dù các vụ bắt giữ và đe dọa bị lên án khắp nơi, nhưng các nhà hoạt động và nhà báo ở Sri Lanka vẫn tiếp tục phải đối mặt với sự trả thù. Vào ngày 27/7, cảnh sát đã xông vào nhà thờ Ratnapura, ở tỉnh Sabaragamuwa, miền trung-nam Sri Lanka để tìm bắt cha Amila Jeewantha Peiris, một trong những người đi đầu trong các cuộc biểu tình chống chính phủ ở đất nước bị ảnh hưởng bởi khủng hoảng.
Các quy luật trấn áp khẩn cấp cho phép cảnh sát có quyền bắt giữ một người lên đến 72 giờ là điều chưa từng có và vẫn đang được áp dụng ở Sri Lanka. Các nhà bảo vệ nhân quyền và các nhà lãnh đạo Giáo hội Sri Lanka lên án cuộc đột kích của cảnh sát ở Ratnapura. Cuộc đột kích xảy ra hai ngày sau khi một tòa án Sri Lanka cấm cha Peiris và 5 người khác rời khỏi đất nước vì bị cáo buộc tham gia “tụ tập bất hợp pháp và gây thiệt hại cho tài sản công” trong một cuộc biểu tình hồi tháng 6.
Nhà hoạt động nhân quyền nổi tiếng Ruki Fernando và nhiều người khác cho rằng các hành động của cảnh sát đối với cha Peiris là hoàn toàn không thể chấp nhận được, lưu ý rằng cha Peiris là một trong số ít các linh mục Công giáo người Sinhalese đã dành nhiều năm phục vụ các cộng đồng ở miền Bắc và Đông nơi người Tamil chiếm đa số, vốn đã bị tàn phá bởi nhiều thập kỷ nội chiến ở Sri Lanka bị chia cắt về sắc tộc. Cha Peiris luôn được giáo sĩ, tu sĩ và giáo dân Tamil yêu mến.
Những người tham gia các cuộc biểu tình làm chứng rằng, trong các cuộc biểu tình, cha Peiris không bao giờ rời bỏ mọi người đặc biệt trong những tình huống khó khăn như bạo lực và hơi cay do cảnh sát bắn. Khi mọi người dường như mất kiên nhẫn, cha đã bình tỉnh giúp mọi người bình tâm trở lại.
Cha từng tuyên bố không sợ hãi: “Không ai có thể đụng vào tôi trừ khi Chúa cho phép. Nếu Chúa cần mạng sống tôi để hoàn thành sứ vụ trong lúc này, tôi sẽ không lo lắng về cuộc sống của tôi”.
Mọi người hy vọng rằng với sự cương quyết đấu tranh cho nhân quyền, cha Peiris sẽ được các vị lãnh đạo Giáo hội và những người khác sẽ ủng hộ và bảo vệ. Đức cha Cletus Chandrasiri của Giáo phận Ratnapura nói ngài không ngừng cầu nguyện cho cha Peiris và sẽ nỗ lực để bảo vệ cha.
Ngọc Yến
