2022
Kitô hữu và Tết
Kitô hữu và Tết
Tết đối với người tín hữu chúng ta luôn mang hai ý nghĩa, ý nghĩa phong tục và ý nghĩa tôn giáo. Vì là người Việt Nam, con Rồng cháu Tiên, nên chúng ta không thể thờ ơ với Tết, trái lại phần đông cảm thấy nôn nao, mong chờ Tết đến.
Thực vậy, “Tết là khoảng thời gian đặc biệt mà người Công giáo Việt Nam muốn dành cho Thiên Chúa, cho gia đình và cho tha nhân. Ngoài những phong tục truyền thống của ngày Tết như chúc Tết, xông đất, mừng tuổi hay mâm cỗ, người Công giáo không quên Thiên Chúa luôn là mùa xuân của mỗi người. Bởi đó, ta thấy những thánh lễ, buổi nguyện cầu thật thiêng liêng đầm ấm của người Công giáo nơi giáo đường, trong gia đình, và trong từng lời chúc” [1].
Thời gian trước và trong dịp Tết, xem ra ai cũng rất bận rộn, vì có khá nhiều việc phải làm. Như dọn dẹp nhà cửa, trang trí bàn thờ, đi mua sắm quần áo mới, đồ Tết vv. Những ai có điều kiện và thời gian thuận tiện thì đi chợ Tết, vui Xuân… Riêng những người ở xa thì lục đục kéo nhau về quê ăn Tết. Cách chung hầu như ai cũng mang tâm trạng nôn nao, háo hức hòa nhịp trong bầu không khí chào Xuân, đón Tết.
Riêng đối với Ki-tô hữu chúng ta thì việc đón Tết chào Xuân còn được thực hiện theo tinh thần “cái Tết của người có Đạo”. Do đó, trong những ngày Tết, người Công giáo chúng thường tới nhà thờ để tham dự Thánh lễ đặc biệt mừng Xuân. Và Hội đồng Giám mục Việt Nam cũng đã qui định: a- Tối giao thừa có thánh lễ Tạ Ơn; b- Ngày mồng một Tết thánh lễ cầu bình an cho năm mới; c- Ngày mồng hai Tết thánh lễ kính nhớ tổ tiên, ông bà, cha mẹ; d- Ngày mồng ba Tết thánh lễ thánh hóa công ăn việc làm.
Như vậy, cái Tết của người Ki-tô mang đầy đủ ý nghĩa của một nếp sinh hoạt thấm đượm niềm tin và tinh thần Tin Mừng Ki-tô giáo. Ta có thể liệt kê những sinh hoạt và việc làm của người Ki-tô hữu trong mấy ngày Tết, như sau:
* TẾT TẠ ƠN
Ngày cuối năm, chúng ta tham dự thánh lễ Tất niên. Và thời khắc giao thoa giữa năm cũ và mới, có thánh lễ đêm Giao thừa. Trong những giờ phụng vụ này, Hội thánh nhắc nhở chúng ta hướng về Thiên Chúa để tạ ơn. Vì thế, đối với Ki-tô hữu chúng ta, Tết trước tiên là Tết Tạ Ơn. Trong thời khắc chuyển giao từ năm cũ bước sang năm mới, chúng ta có dịp nhìn lại những ân huệ Chúa đã ban cho ta. Ân huệ phần xác cũng như phần hồn. Thực ra, không phải đợi đến dịp Tết chúng ta mới quan tâm tới việc tạ ơn Thiên Chúa, nhưng đây là mốc thời gian thuận tiện và thích hợp để chúng ta làm việc này. Như lời thánh vịnh thúc giục chúng ta: “Hãy tạ ơn Chúa vì Chúa nhân từ, / muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương” (Tv 136, 1); “Suốt cuộc đời, tôi xin hát mừng Chúa, / sống bao lâu, nguyện đàn ca kính Chúa Trời” (Tv 146, 2).
Chúng ta tạ ơn Chúa vì cuộc sống này là của Chúa ban, thời gian này là quà tặng của Người cho chúng ta. Thiên Chúa làm chủ thời gian. Người là Chúa Xuân. Trong dịp Tết này, chúng ta cảm tạ Chúa vì những ơn lành Chúa đã ban cho chúng ta trong suốt một năm sắp qua đi, đồng thời chúng ta phó thác những ngày tháng sắp tới cho bàn tay quan phòng và yêu thương của Người. Chúng ta cũng cám ơn tất cả những người, bằng cách này hay cách khác, đã nâng đỡ, ủi an và góp phần xây dựng cuộc đời chúng ta.
Dịp Tết, ngoài việc tạ ơn Chúa, chúng ta không quên nhớ đến công ơn ông bà tổ tiên và cha mẹ còn sống cũng như đã qua đời. Chính vì vậy Hội thánh chọn ngày mùng hai để cử hành thánh lễ kính nhớ tổ tiên và cầu cho cha mẹ. Bên cạnh đó, Ki-tô hữu chúng ta cũng thường có thói quen xin lễ cầu nguyện cho ông bà tổ tiên đã qua đời. Ngoài ra, nhiều Ki-tô hữu cũng có truyền thống viếng mộ thân nhân vào ngày Tết. Vì thế, vào những ngày trước Tết, các gia đình thường sửa sang lại phần mộ của những người đã khuất, người ta trưng bông, đặt những giỏ hoa tại phần mộ. Và ngày mồng hai Tết, các giáo xứ thường tổ chức ít là một thánh lễ ở nghĩa trang.
* TẾT MỪNG TUỔI
Một trong những cách cư xử đặc trưng nhất trong dịp Tết, đó là người ta mừng tuổi nhau. Ngày đầu năm, nhiều cộng đoàn cũng có thói quen mừng tuổi Chúa và mừng tuổi nhau. Mỗi năm mới người ta thêm tuổi, đời sống sẽ dài thêm và sẽ cơ hội đón nhận những điều mới lạ trong cuộc sống. Vì thế người chúc mừng nhau.
Dịp Tết, tại nhiều giáo xứ, cũng có tục lệ hái lộc Xuân. Một tác giả đã ghi lại như sau: “Trong đêm giao thừa và ngày đầu năm, sau khi đi lễ tại đình chùa, người Việt Nam có tục hái lộc đem về nhà. Người Công giáo, sau khi tham dự thánh lễ giao thừa, cũng hái lộc đầu Xuân. Không biết xuất phát từ đâu, mà trong khoảng thời gian hai ba chục năm nay, giáo xứ nào cũng tổ chức cây mùa Xuân để cho mọi người tới hái lộc. Lộc ở đây, không phải là một cành cây phải hái, phải bẻ, nhưng là một Lời Chúa được in rất đẹp trên giấy và được cuộn lại cũng rất đẹp. Lời Chúa được chọn theo chủ đề của mỗi năm, chẳng hạn như về gia đình, đức tin, truyền giáo vv. Mỗi gia đình nhận một Lời Chúa, như là ý lực sống cho suốt cả một năm. Tờ Lời Chúa, hay lộc đầu Xuân này, được mang về nhà và được để ở gần bàn thờ, để mọi người trong nhà cùng suy gẫm và thực hành” [2].
Đây là một việc làm đạo đức có nhiều ý nghĩa và mang lại hiệu quả sống đạo rất cao.
Bên cạnh việc mừng tuổi, người ta cũng không quên trao cho nhau những lời Chúc Xuân. Chúc Xuân qua tấm Thiệp Xuân. Chúc Xuân qua tin nhắn điện thoại hay email hay qua Facebook. Chúc Xuân trong gặp gỡ đầu năm. Chúng ta gửi đến nhau những lời cầu chúc tốt đẹp nhất. Một cách đơn giản là câu “Chúc Mừng Năm mới”, “Cung Chúc Tân Xuân” hay “Happy New Year”. Hoặc “Chúc Mừng Năm Mới Khang An Thịnh Vượng” vv. Tuy nhiên, thiết nghĩ, bên cạnh đó cũng có rất nhiều câu chúc chỉ là sáo ngữ, trống rỗng và không thích hợp với Ki-tô hữu chúng ta, cho nên tốt nhất chúng ta nên tránh dùng.
Thực vậy, “Nếu những ngày năm mới người người chúc cho nhau làm ăn phát đạt, thì người Công giáo dành cả một thánh lễ mồng ba Tết để cầu mùa. Trong thánh lễ này, họ tin Thiên Chúa là đấng làm chủ thiên nhiên, ban cho họ một năm mới với nhiều huê lợi, được mùa. Ai cũng xin Chúa ban ơn trợ giúp để công ăn việc làm trong năm mới được thuận buồm xuôi gió. Công việc ổn định và cuộc sống ấm no hạnh phúc luôn là ước vọng chính đáng của mỗi người. Chắc hẳn Thiên Chúa không quên những ước nguyện đầu năm đầy chân thành của mỗi người. Do đó, ai cũng hy vọng một năm mới với nhiều ơn lành của Chúa, từng dự định của mỗi người sẽ gặp nhiều thuận lợi, vận may. Thật ý nghĩa và dễ thương biết bao khi người Công giáo chúc cho nhau những điều tốt đẹp đến từ Thiên Chúa. Những ngày xuân tay bắt mặt mừng, họ cầu mong cho người thân, bạn bè nhận được nhiều ơn lành của Thiên Chúa. Trong từng câu chúc, họ tin vào bàn tay quan phòng và yêu thương của Thiên Chúa. Khi đó, niềm vui của ngày Xuân luôn lan tỏa đến từng người mà họ có dịp gặp gỡ, chuyện trò” (x. Jos Phạm Đình Ngọc SJ, bài đd).
* TẾT XUM VẦY
Tết luôn luôn là dịp để người ta họp mặt bạn bè và đoàn tụ gia đình. Tết mà không có xum vầy thì mất đi ý nghĩa của Tết. Xum vầy để họp mặt chúc Xuân, để chia vui sẻ buồn, để vui chơi, ăn uống. Việc ăn uống trong dịp Tết là điều đương nhiên, nhưng ta không nên biến nó thành việc ăn nhậu, say sưa tốn kém. Những tai nạn giao thông trong dịp Tết thường do ăn uống nhậu nhẹt mà ra, vì khi say người ta không làm chủ tốc độ, dẫn đến những thảm kịch chết chóc kinh hoàng. Ki-tô được khuyến khích “ăn Tết” một cách lành mạnh, giản dị, đúng theo truyền thống và nhất là nên tiết kiệm.
Những lời chúc đầu năm đều mang ý nghĩa đem lại ấm no hạnh phúc, mạnh khỏe và bình an. Nếu chúng ta biết kiềm chế để sắm sửa và tổ chức một cái Tết lành mạnh thì những buổi họp mặt gia đình sẽ đem lại một bầu không khí tươi vui, đầm ấm và đáng khích lệ.
* TẾT BÁC ÁI
Trong dịp tết, nhiều giáo xứ và nhiều cá nhân Ki-tô hữu tổ chức những đợt đi thăm viếng tặng quà cho các đối tượng người già neo đơn, bệnh tật, những gia đình khó khăn và những trẻ em cơ nhỡ, khuyết tật. Những việc làm này thật ý nghĩa, nhất là nó thể hiện tinh thần bác ái yêu thương của Chúa Ki-tô. Tết khi đó không còn là cho cá nhân mình, cho gia đình mình, cho xứ đạo mình mà còn cho xã hội, cho con người bất kể là lương hay giáo.
Nếu mỗi người Ki-tô hữu, mỗi gia đình Công giáo bớt đi những chi tiêu hoang phí cho ngày Tết để đóng góp một chút phần quà tham dự vào công cuộc “mừng Xuân không quên người nghèo” thì thiết nghĩ chúng ta sẽ có một cái Tết khá ý nghĩa, đẹp lòng Chúa và đem lại niềm vui cho tha nhân và cho chính chúng ta./.
Aug. Trần Cao Khải
– – – – – – – –
* THAM KHẢO:
[1]- Jos Phạm Đình Ngọc SJ, bài “Người Công Giáo Việt Nam làm gì trong những ngày Tết?”, nguồn dongten.net ngày 23-1-2017
[2]- Gã Siêu, bài “Tết Đạo”, nguồn conggiao.info 16-2-2015
2022
“Tiếng” nước tôi và “Lời” vĩnh cửu
“Tiếng” nước tôi và “Lời” vĩnh cửu
(Nhân kỷ niệm 90 năm qua đời (1932-2022) của thừa sai Albert Schlicklin (Cố Chính Linh), người đầu tiên dịch trọn bộ Thánh Kinh sang Quốc ngữ)
Dẫn nhập: Lời Chúa nhập thể vào mảnh đất Việt Nam
Nếu chọn thời điểm 1651, năm linh mục thừa sai Đắc Lộ xuất bản hai tác phẩm Quốc Ngữ đầu tiên tại Rôma: TỰ ĐIỂN VIỆT-BỒ-LA và PHÉP GIẢNG TÁM NGÀY, để xác nhận cột mốc khai sinh chữ Quốc ngữ, thì phải mất gần ba thế kỷ sau, người Việt nam mới có thể đọc trọn bộ Kinh Thánh bằng “tiếng mẹ đẻ”. Thật vậy, lần đầu tiên trọn bộ Kinh Thánh bằng Quốc ngữ cùng phần chú giải kĩ lưỡng đã được thừa sai Albert Schlicklin (Cố Chính Linh)[1] thuộc giáo phận Tông tòa Tây Đàng Ngoài chuyển dịch và được Hội Thừa Sai Paris xuất bản tại Hong Kong năm 1913-1914 (Cựu Ước) – 1916 (Tân Ước) với tiêu đề KINH THÁNH CỨ BẢN VULGATA trọn bộ bốn tập I, II, III, IV, in song ngữ với hai cột song song: bên trái tiếng Việt, bên phải tiếng La Tinh. Phải chăng đó chính là cột mốc, là cái “Giờ” để Lời Chúa chính thức “nhập thể” vào mảnh đất Việt Nam !
Thực ra, trước đó hai năm (1910), Cố Chính Linh đã hoàn thành bản dịch như chính ngài xác nhận được ghi trong phần Tựa của cuốn Kinh Thánh: “Tại nhà tràng Lý đoán Ninh Phú ( Kẻ Sở ), ngày lễ Đức Chúa Thánh Thần hiện xuống, là ngày 15 tháng Maiô năm 1910”[2]; có nghĩa là, sau chặng đường hơn “hai thế kỷ rưỡi”, tiếng Việt của thừa sai Alexandre de Rhodes (1651) và tiếng Việt của thừa sai Albert Schlicklin (1910) đã cách xa một trời một vực. Thật vậy, nếu cuốn Tự điển Việt Bồ La của Đắc Lộ chỉ với khoảng 9.000 mục từ, thì toàn bộ Kinh Thánh tiếng Việt của Cố Chính Linh không biết bao nhiêu từ tiếng Việt mà kể ! Có thể nói được, ngôn ngữ Việt hoàn toàn có đầy đủ mọi từ để chuyển tải Lời Chúa, để diễn tả các ý nghĩa và chiều kích thâm sâu của Mạc Khải. Cho nên, xét về mặt văn chương văn học, có thể nói đây là một tác phẩm Quốc Ngữ ghi dấu ấn quan trọng trong lịch sử văn học văn chương Công Giáo !
Riêng đối với những người Kitô hữu Việt Nam, Công Giáo hay Tin Lành hoặc các hệ phái Kitô giáo khác, vừa rất tự hào về công trình của các bậc tiền nhân vừa trân trọng biết ơn các ngài; bởi nhờ các ngài mà chúng ta dễ dàng tiếp cận Lời Chúa bằng tiếng mẹ đẻ, dễ dàng đọc, học, công bố, gẫm suy, truyền giảng… bằng chính ngôn ngữ Việt Nam của mình.
Và rồi, kể từ Bộ Kinh Thánh cứ bản Vulgata chuẩn mực nầy, cho tới hôm nay đã lần lượt xuất hiện nhiều phiên bản dịch Kinh Thánh khác nhau, hoặc trọn bộ hoặc từng phần hay một số tác phẩm…, của Giáo Hội Công Giáo cũng như Hội Thánh Tin Lành. Riêng phía Công Giáo, chúng ta có các bản dịch Kinh Thánh trọn bộ lần lượt được thực hiện như[3]:
– Bản dịch của Linh mục Gérard Gagnon do Thánh Tâm Biệt Thự Đà Lạt xuất bản năm 1963.
– Bản dịch của linh mục Trần Đức Huân do nhà xuất bản Ra Khơi Sài Gòn, xuất bản năm 1970.
– Bản dịch Kinh Thánh để dùng trong Phụng vụ của Ủy Ban Phụng Vụ năm 1973[4].
– Bản dịch của linh mục Nguyễn Thế Thuấn do Dòng Chúa Cứu Thế xuất bản năm 1976.
– Bản dịch của Đức Hồng Y G.M. Trịnh Văn Căn do Tòa Giám Mục Hà Nội xuất bản năm 1985.
– Bản dịch của Nhóm Phụng Vụ Giờ Kinh do Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh xuất bản năm 1998. (x. PHƯỚC NGUYÊN)[5].
Nhân dịp kỷ niệm 90 năm qua đời của vị dịch giả thời danh, Albert Schlicklin – Cố chính Linh (1932-2022), một thừa sai, một trí thức, một thần học gia và triết gia, và 109 năm bản dịch Kinh Thánh cứ bản Vulgata của ngài (1913-2022), xin được khái quát đôi điều về cuốn Kinh Thánh tiếng Việt đầu tiên như một nén hương kính dâng về ngài; và như một “gợi ý” để các thế hệ cháu con hôm nay trân trọng di sản quý hiếm của cha ông cũng như biết tìm về học hỏi, rút ra từ đó những giá trị tuyệt hảo mang tính “thừa thượng tiếp hạ” hay “ăn quả nhớ kẻ trồng cây” !
- LỜI CHÚA VÀ CHIẾC “XIÊM Y DIỄM LỆ”
- Nhận xét tổng quát:
Linh mục Alberto Trần Phúc Nhân đã có một nhận xét tổng quan về bản dịch trọn bộ Kinh Thánh nầy như sau:
Kinh Thánh cứ bản Vulgata. Cố Chính Linh (Albertus Schlicklin) địa phận Tây Đàng ngoài dịch ra tiếng Annam và thích nghĩa. Bộ này gồm 4 cuốn khổ 18 x 24 cm, với 768, 736, 652 và 894 trang. Sách có chuẩn ấn của Đức Cha P.M. Gendreau (Đức Cha Đông) ký tại Hà Nội ngày 19- 03-1913, và in năm 1913-1916 tại Hồng Kông ở nhà in Nazareth của Hội Truyền Giáo Paris. Vậy tính đến nay là chẵn 90 năm.
Chính bản văn Kinh Thánh chia làm hai cột: bản Vulgata La-tinh và bản dịch tiếng Việt. Bên dưới mỗi trang, thường có các chú thích, dài ngắn tuỳ chỗ ; các chú thích về “Sấm truyền mới” (Tân Ước) khá dài. Ngoài ra còn có những “Lời mở đàng” chung cho mỗi loại sách và riêng cho từng cuốn sách.
Nói chung, đối với chúng ta, lối văn đã quá xưa, nhất là trong cách xưng hô. Ngay trang đầu có dẫn Ga 5,39: “Hãy lục xét Sách thánh… Sách thánh làm chứng về tao.” Hay câu Đức Giê-su “lả lời” cho bà vợ ông Dê-bê-đê và hai con: “Đức Chúa Jêsu bảo các chúng rằng: thật chén tao thì bay sẽ uống ; còn sự ngồi bên tả bên hữu tao, chẳng phải tự tao ban cho bay, bèn là những kẻ Cha tao sắm để cho nó” (Mt 20,23). Dầu sao chúng ta phải khâm phục công trình của một vị thừa sai ngoại quốc đã mở đường cho việc dịch thuật và giải thích Kinh Thánh”[6].
- “Chiếc xiêm y” diễm lệ:
2.1. Hình thức trang trọng:
Xưa nay, cuốn sách nào mang tính giá trị cao (Kinh điển, Tự điển bách khoa, Lịch sử, Kỷ yếu…) thường được thiết kế in ấn với khổ giấy lớn, bìa cứng; nếu nhiều trang thì phân thành nhiều tập. Đối với các tín đồ các tôn giáo, sách Kinh Thánh là cuốn sách quan trọng và đáng tôn kính nhất. Chắc chắn, trong cái nhìn “trân trọng” đối với Lời Chúa đó, Cố Chính Linh, khi cho xuất bản cuốn Kinh Thánh trọn bộ đầu tiên bằng Quốc Ngữ đã mặc cho tác phẩm đặc biệt nầy một hình thức “trang trọng” với khổ in 18 x 24, một hình thức mà liên tiếp về sau, cả Công Giáo, lẫn Tin Lành, không có cuốn Kinh Thánh Việt ngữ nào mang dáng vóc đặc biệt như thế. Tất cả chỉ dừng lại ở khổ giấy 14 x 20; và cũng chỉ cuốn Kinh Thánh nầy được phối trí thành bốn tập I, II, III, IV theo đúng trình tự của Quy điển bản Kinh Thánh chuẩn Vulgata. Hầu hết các cuốn Kinh Thánh sau nầy đều in chung thành một cuốn; hoặc giả chia thành hai: một Cựu Ước, một Tân ước.
2.2. Trình bày song ngữ hay vai trò của bản Vulgata:
Ngoài những phần phụ cơ bản như linh mục Trần Phúc Nhân nhận xét “Bên dưới mỗi trang, thường có các chú thích, dài ngắn tuỳ chỗ ; các chú thích về “Sấm truyền mới” (Tân Ước) khá dài. Ngoài ra còn có những “Lời mở đàng” chung cho mỗi loại sách và riêng cho từng cuốn sách…”[7], điều đáng lưu ý của cuốn Kinh Thánh nầy đó là “Kinh Thánh chia làm hai cột: bản Vulgata La-tinh và bản dịch tiếng Việt”[8], một hình thức mà cho tới hôm nay, cũng chưa thấy một cuốn Kinh Thánh tiếng Việt nào sử dụng.
Hình thức nầy có quan trọng không? Thưa rất quan trọng và cần thiết; nhất là đối với chủng viện, tu viện, hay những cộng đoàn, những cá nhân muốn tiếp cận với tác phẩm Vulgata bằng tiếng La tinh. Đừng quên, đây là một kỳ công của chính thánh tiến sĩ Giêrônimô (347-420) và là bản Kinh Thánh chuẩn mực của Giáo Hội Công Giáo tông truyền kể từ thế kỷ thứ năm như quyết định của Công Đồng Trento (1546): “Nếu có ai không tiếp nhận các sách đó nguyên vẹn cùng với tất cả các phần của chúng, như người ta đã quen đọc chúng trong Giáo Hội Công Giáo và theo bản cũ là Latin thông tục bản (vulgata), như là những Sách Thánh và đúng theo quy điển Kinh Thánh (canonique); nếu người đó, một cách ý thức và cố ý, khinh thường các truyền thống nói trên: người đó phải bị trục xuất” (DENZINGER 1504)[9]. (x. JOHN A. HARDON)[10].
Và cũng chính qua yếu tố “song ngữ Việt – La” nầy mới thấy độ tự tin của Cố Chính Linh khi chuyển dịch Lời Chúa qua ngôn ngữ Việt; phải chăng, đây cũng chính là điểm thuận lợi để các thế hệ tiếp nối khi thực hiện các bản dịch Kinh Thánh có bản văn gốc để quy chiếu hầu biết bản dịch của mình trung thực với Lời Chúa thế nào; hoặc để khỏi trệch xa khỏi nội dung căn bản của Kinh Thánh được Giáo Hội chuẩn nhận như Thánh Công Đồng Trento xác quyết: “Hơn nữa Thánh Công đồng nghĩ rằng một điều có thể là hữu ích không nhỏ cho Giáo Hội của Thiên Chúa là biết bản nào phải coi là trung thực trong các bản Latin đã được xuất bản về các Sách Thánh đang lưu hành, cho nên Công Đồng quyết định và tuyên bố rằng chính bản Latin cổ kính và thông tục (vulgata), vốn được tán thành trong Giáo Hội do được sử dụng lâu dài trong biết bao thế kỷ, phải được coi là trung thực trong các cuộc giảng giải, tranh luận, rao giảng và trình bày công khai; xin đừng có ai cả gan hoặc có ý định vứt bỏ bản đó với bất kỳ cớ nào”.[11]
2.3. Trình bày các tác phẩm và bản văn:
Cũng giống như cách trình bày chung các sách Kinh Thánh, trước mỗi tác phẩm (Sáng Thế, Xuất Hành, Tin Mừng Matthêô, Khải Huyền…) đều có một giới thiệu khái quát về tác giả và nội dung tác phẩm. Cuốn Kinh Thánh Quốc ngữ của Cố Chính Linh cũng không ngoại lệ. Tuy nhiên, điều đáng lưu ý là cách trình bày các bản văn.
Thật vậy, một trong những điểm đặc trưng của bản văn Kinh Thánh đó là luôn đi kèm với “dấu chỉ bằng số” xác nhận về “Đoạn” (hay “Chương”) và “Câu”. Chắc chắn nhờ phương cách đặc biệt nầy mà việc trích dẫn, tham chiếu, chứng minh và học thuộc trở nên dễ dàng. Nếu hầu hết các sách Kinh Thánh về sau thường để số chỉ “Đoạn” ở ngay đầu bản văn (Liền kề trước câu số “1”). Ví dụ: 1 1 Lúc khởi đầu, Thiên Chúa sáng tạo trời đất.2 Đất còn trống rỗng, chưa có hình dạng, bóng tối bao trùm vực thẳm, và thần khí Thiên Chúa bay lượn trên mặt nước (St 1,1-2), thì với “Kinh Thánh cứ bản Vulgata”, đoạn được đặt phía trên bản văn và ngay chính giữa với cở chữ lớn và dùng số La Mã cùng với một đoạn ghi chú nội dung khái quát bên dưới.
Những ai lần đầu tiên tiếp xúc với Kinh Thánh mà được đọc bản văn của “Kinh Thánh cứ bản Vulgata” của Cố Chính Linh chắc chắn sẽ hài lòng về cách trình bày rõ ràng, thứ tự, lớp lang như thế.
- Chú giải phong phú:
Phần đông các bộ Kinh Thánh đều có phần “Chú giải”. Đây có thể nói được là yếu tố xác định “nền tảng Thánh Kinh và thần học, văn chương và ngôn ngữ” của dịch giả Kinh Thánh. Vì chính trong phần “chú giải” nầy, người dịch rọi sáng thêm ý nghĩa phong phú, phức tạp, các mối liên quan… của từ ngữ Kinh Thánh cũng như những cách diễn đạt của ngôn ngữ địa phương.
Trong khía cạnh này, bản dịch của Cố chính Linh có thể “chiếm giải quán quân” về lượng chú giải; bởi có nhiều đoạn, phần chú giải nhiều hơn bản văn chính; và phần chú giải đồng hành với bản văn gần như suốt bộ Kinh Thánh. Qua chính phần chú giải nầy, chúng ta có cơ hội để biết sự phong phú và khả năng của tiếng Việt khi chuyển tải Lời Chúa.
- Uy tín: khỏi bàn cải
Đọc lại lịch sử Giáo Hội Việt Nam, quả thật chúng ta không nghi ngờ gì trước uy tín và cái đầu uyên bác của một số linh mục thừa sai ngoại quốc hoạt động truyền giáo tại Việt nam như “nhà Việt Nam học” Cristoforo Borri với tác phẩm “Xứ Đàng Trong”,[12] “nhà ngôn ngữ học” Alexandre De Rhodes với Tự điển “Việt Bồ La”[13]; hay sau này có “nhà văn hóa” lớn là linh mục Léopold Cadière với tác phẩm để đời “Văn hóa, tín ngưỡng và thực hành tôn giáo người Việt”[14]. Nhưng khi nói về lãnh vực Kinh Thánh, thần học và triết học thì có lẽ chúng ta phải dành cho linh mục thừa sai Albert Schlicklin – Cố chính Linh, là người đầu tiên chuyển dịch trọn bộ Kinh Thánh Vulgata sang tiếng Việt và soạn tác nhiều tác phẩm thần học, triết học bằng ngôn ngữ Việt. (x. Ghi chú 1 ở trên).
Và dĩ nhiên, ngoài việc được cọng tác và giúp đỡ của những người Công Giáo trí thức Việt Nam lúc bấy giờ, để chuyển tải Lời Chúa sang ngôn ngữ Việt Nam cách trung thực, chuẩn xác, truyền thống và hợp thời, Cố Chính Linh đã đọc, tham khảo nhiều tác giả, tác phẩm và tư liệu Kinh Thánh giá trị và uy tín đương thời, như chính ngài đã liệt kê nơi cuối phần Tựa cuốn Kinh Thánh cứ bản Vulgata:
- LỜI TUYỆT ĐỐI TRONG TIÊNG HỮU HẠN
Trong Bài Đọc II Giờ Kinh Sách của Chúa Nhật III Mùa Vọng vừa qua, Giáo Hội đã chọn trích đoạn Bài giảng của thánh Giám Mục Augustinô với tựa đề: Thánh Gioan là tiếng, Đức Kitô là Lời. Chúng ta có thể nghe lại một đoạn trong bài giảng thật thâm thúy sâu xa nầy: “Thánh Gio-an là tiếng, còn Chúa, ngay từ nguyên thuỷ, đã là Lời. Thánh Gio-an là tiếng trong thời gian, còn Đức Ki-tô, ngay từ lúc khởi đầu, đã là Lời vĩnh cửu. Bỏ lời đi, tiếng còn là gì? Ở đâu không có gì để hiểu, thì chỉ là tiếng vang trống rỗng. Không có lời, tiếng chỉ đập vào tai, chứ không cảm hoá được tâm hồn…”.
Kinh Thánh chính là Lời Chúa; mà Lời Chúa trong ngôn ngữ của Thánh sử Gioan đó chính Ngôi Hai Thiên Chúa, Đức Kitô – “Lời hóa thành nhục thể và ở cùng chúng ta” (Ga 1,14); cũng vậy, trong ngôn ngữ của Thư Do Thái, Đức Kitô chính là “Lời cuối cùng”, “Lời chóp đĩnh” trong tiến trình “phán dạy” hay “mạc khải” của Thiên Chúa: “Thuở xưa, nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đã phán dạy cha ông chúng ta qua các ngôn sứ; nhưng vào thời sau hết này, Thiên Chúa đã phán dạy chúng ta qua Thánh Tử” (Dt 1,1-2).
Nếu Thánh Gioan Tiền Hô đã tự nhận mình là “tiếng hô trong hoang mạc” (Ga 1,23) để dọn đường cho dân Do Thái đón nhận “Lời”; và ngài đã dùng ngôn ngữ của quê hương ngài để giới thiệu Đức Kitô, thì một cách nào đó, các thừa sai, các nhà truyền giáo, trong đó có linh mục Albert Schlicklin – Cố chính Linh, đã dùng ngôn ngữ Việt Nam, tiếng Việt Nam để chuyển tải Lời Chúa cho dân tộc Việt chúng ta, như cách cắt nghĩa của Thánh Giáo phụ Augustinô: “Như vậy, khi tìm cách làm thế nào để lời đã có trong tâm hồn tôi chuyển đến bạn và ở lại trong tâm hồn bạn, tôi dùng tiếng, và bằng tiếng ấy tôi nói với bạn: âm của tiếng chuyển tới bạn ý tưởng của lời; và khi âm của tiếng chuyển tới bạn ý tưởng của lời rồi, thì chính âm đó qua đi, nhưng lời do âm chuyển đến bạn thì vẫn ở lại trong tâm hồn bạn mà không rời bỏ tâm hồn tôi” (Bài Đọc II Giờ Kinh Sách CN III MV).
Và như thế, Kinh Thánh, Lời Chúa luôn là “Lời tuyệt đối, toàn năng, vĩnh cửu…”, còn tiếng hay ngôn ngữ của bất cứ dân tộc nào hay bất cứ thời đại nào cũng đều mang tính “hữu hạn”. Tiếng Việt cưu mang Lời, chuyển tải Lời cách đây hơn 100 năm cũng không thể vượt ra ngoài “sự thật” nền tảng đó.
- Ngôn ngữ Việt chuyển tải Lời cách đây hơn một thế kỷ:
Từ khi cuốn Tự Điển của linh mục thừa sai Đắc Lộ đặt nền móng tiếng Việt được Latinh hóa xuất hiện vào thế kỷ 17 (Việt – Bồ – La 1651), và tiếp sau đó, khi ngôn ngữ Việt đã được phát triển và hoàn chỉnh cơ bản với cuốn Tự Điển của Đức Giám Mục Jean Louis Tabert (Anamitico-Latinum 1838), tiếng Việt hoàn toàn có thể trở nên phương thế hữu hiệu để chuyển tải Lời Chúa; và điều đó đã được Cố chính Linh thực hiện với bản dịch Kinh Thánh đầu tiên: KINH THÁNH CỨ BẢN VULGATA chính thức ra đời năm 1913 và hoàn chỉnh trọn bộ năm 1916.
Dĩ nhiên, khi đọc bản văn Kinh Thánh qua tiếng Việt cách đây hơn 100 năm, chúng ta không thể so sánh với ngôn ngữ hiện tại để đánh giá hơn thua, thấp kém; hay chỉ căn cứ vào một số từ xưng hô như “Tao, mầy…” để phủ nhận mọi giá trị cao quý khác…!
Trong lãnh vực nầy, xin được nhường lời cho các bậc thức giả chuyên viên về Kinh Thánh hay chuyên môn ngôn ngữ học. Ở đây, chỉ xin đan cử một vài trích đoạn tiêu biểu của bộ KINH THÁNH CỨ BẢN VULGATA như những viên ngọc sáng chói của ngôn ngữ Việt đầu thế kỷ 20.
- 1. Lời Thánh Vịnh đơn sơ:
Ở phần đầu, chúng ta đã thấy hai bản văn Kinh Thánh bằng văn xuôi của bộ “Kinh Thánh cứ bản vulgata”. Ở đây, xin đơn cử một bản văn Thánh Vịnh (Tv 1,1-6) để chúng ta cùng cảm nhận cách chuyển ngữ Kinh Thánh đơn sơ, gãy gọn của Cố Chính Linh:
1.2. Ngôn ngữ Tin Mừng chuẩn xác:
Bài Tựa Tin Mừng Gioan được kể là Bản văn Kinh Thánh đậm chất triết học và thần học sâu xa. Ngay từ 1913 mà cha ông chúng ta đã dùng tiếng mẹ đẻ để diễn tả trích đoạn Kinh Thánh đặc biệt nầy thì phải nói là tâm phục khẩu phục. Và Cố Chính Linh đã làm được chuyện đó như một đan cử sau:
- Khi Lời “nhập thể” trong tiếng Việt
Trong cuộc “tòa đàm trực tuyến” về chuyên đề “Văn Học Công Giáo đương đại” trong năm vừa qua, tôi đã có bài tham luận và đoạn kết đã nhận xét rằng: “Chọn lựa cách “hội nhập văn hóa” để chuyển tải Tin Mừng, để loan truyền chân lý cứu độ sao cho hiệu quả và phong phú, cách làm của Cha Ông ta đó nào đâu có phải là chuyện mới mẻ gì đâu! Từ thuở xa xưa khi bộ tộc của Israel còn trong thời “ăn lông ở lỗ”, khi tổ phụ của dân tộc họ, cụ Ápraham còn lang thang trên các thảo nguyên sống đời du mục, Thiên Chúa đã áp dụng nguyên tắc “hội nhập văn hóa” mang tính “nhập thể” rồi. Có nghĩa là Lời Mạc Khải của Thiên Chúa khi đi vào thế giới đã chọn đi qua “một chiếc cửa nhân loại” là “lịch sử của dân tộc Israel” với tất cả những yếu tố nhân văn, địa lý, xã hội, chính trị, kinh tế, pháp luật, lịch sử… của dân tộc nầy. Toàn bộ tuyệt tác Thánh Kinh Cựu và Tân ước phải chăng là “Lời mạc khải nhập thể giữa lòng nhân loại qua lịch sử của dân tộc Israel”….
Cũng chính với nguyên tắc “hội nhập văn hóa” đó, mà chúng ta tìm thấy ngôn ngữ của Kinh Thánh Cựu ước cũng như Tân ước mang nhiều “dáng đứng” khác nhau, theo trào lưu lịch sử văn hóa xã hội của dân tộc Israel: Từ thể văn mang tính huyền thoại, cổ tích (Sáng Thế, Tin mừng thời thơ ấu), đến anh hùng ca lịch sử (Xuất Hành, Samuen, Macabêô…), pháp đình lề luật, phụng tự (Thứ luật, Lêvi…), khải huyền tiên tri (Đanien, Êgiêkien, Khải huyền của Thánh Gioan…), châm ngôn huấn đạo (Khôn ngoan, Châm Ngôn, Giảng Viên..), thi ca trữ tình (Diễm tình ca), truyện ngắn tình yêu (Hôsê…), ca kinh nguyện cầu (Thánh vịnh…)…”
Một khi Lời Chúa được trồng trên mảnh đất Việt Nam thân yêu, chắc chắn sẽ không đi ngoài “quy luật của muôn đời” đó. Vì thế, có gì lạ đâu, khi ngôn ngữ bên Tây rất nghèo về “đại từ nhân xưng” thì tiếng Việt chúng ta lại rất phong phú. Nếu có ai đó bị dị ứng với các từ “Tao, mầy” mà Cố chính Linh dùng thường xuyên trong “Kinh Thánh ứng bản vulgata” thì xin hiểu cho rằng: không phải lúc nào “mầy, tao, mi tớ” cũng là những từ của sự thô lỗ cục cằn, mà rất nhiều khi, đó lại là những từ của thân mật, gần gũi, như ca dao Việt Nam:
Cảm ơn cái cối cái chày,
Đêm khuya giã gạo có mầy có tao !
Cũng vậy, ông bà, cha mẹ rất thường dặn yêu con cháu: “Tết này mà tụi bay không về ăn tết với tao là bị ăn đòn á !”. Cũng đừng quên, xưng hô “tao mầy” là ngôn ngữ dành riêng cho đám bạn bè thân quen, nối khố…
Kết luận: Lời Chúa và “tác động Hiệp hành”
Cố nhạc sĩ tài danh Phạm Duy có bài hát thuộc diện “bất hủ”, bài “Tình Ca” hay quen gọi là “Tiếng nước tôi”; và ca khúc đã mở đầu với những dòng thơ mượt mà:
Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời người ơi!
Mẹ hiền ru những câu xa vời.
À à ơi! Tiếng ru muôn đời…
Và sau đó, bằng nhiều hình ảnh, cảm nhận lịch sử hay văn hóa dân tộc, ông đã thổi vào bài hát một cái hồn linh thiêng dịu vợi của tiếng Việt:
Tiếng nước tôi! Bốn ngàn năm ròng rã buồn vui .
Khóc cười theo mệnh nước nổi trôi, nước ơi!
Tiếng nước tôi! Tiếng mẹ sinh từ lúc nằm nôi.
Thoắt ngàn năm thành tiếng lòng tôi, nước ơi!…
Một yêu câu hát Truyện Kiều.
Lẳng lơ như tiếng sáo diều ư diều làng ta
Và yêu cô gái bên nhà.
Miệng xinh ăn nói mặn mà ừ mà có duyên…
Từ lúc mới còn “nằm nôi” khi Tin Mừng lần đầu tiên được gieo vãi với “Phép Giảng Tám ngày”, với “Tự Điển Việt Bồ La” của cha Đắc Lộ (1651) cho đến khi vững vàng với “Sấm Truyền Ca của Lữ Y Đoan” (1670), với “Tuồng Thương khó” của Nguyễn Bá Tòng (1912)…, và rồi hoàn mỹ với với “Sứ điệp tình thương của Nguyễn Xuân Văn” (2001)…, quả thật, “tiếng nước tôi” đã được muôn thế hệ Kitô hữu vận dụng, trau chuốt với nhiều thể loại để chuyển tải Lời Chúa. Và trong cái chuỗi dài vận dụng “tiếng nước tôi” để cưu mang Lời Chúa đó phải dành một vinh dự trân trọng cho linh mục thừa sai Albert Schlicklin – Cố chính Linh, người đầu tiên dịch toàn bộ Kinh Thánh bản Vulgata sang Việt Ngữ.
Dịp kỷ niệm 90 năm qua đời của ngài (2/3/1932) nằm trong thời gian Tổng Giáo Phận Hà Nội mở Công Nghị Giáo phận. Đây phải chăng là dịp thuận lợi để cộng đoàn Dân Chúa Hà Nội tưởng nhớ về ngài và công trình “Cuốn Kinh Thánh đầu tiên bằng Quốc ngữ”; đây cũng chính là điều mà trong thư mục vụ, Đức Tổng Giám Mục Giuse Vũ Văn Thiên đã nhắc đến:
“Công nghị Giáo phận sẽ nhấn mạnh tới chiều kích mục vụ bao gồm những mục đích sau:
* Nhìn lại quá khứ với tâm tình tạ ơn Thiên Chúa, tri ân các bậc tiền nhân về những hồng ân trọng đại đã nhận được từ xưa đến nay…”[15].
Nhưng có lẽ, điều đáng suy nghĩ khi tìm lại một “công trình Lời Chúa” trong kho tàng “văn hóa đức tin” của Giáo Hội Việt Nam đó chính là “Lời Chúa và tác động Hiệp hành”.
Thật vậy, trong kinh cầu nguyện cho Thượng Hội Hội Đồng Giám Mục thế giới thứ XVI với chủ đề: HƯỚNG TỚI MỘT HỘI THÁNH HIỆP HÀNH: HIỆP THÔNG, THAM GIA, SỨ VỤ, có những lời như sau: “xin dạy chúng con lối đường phải đi và cách bước đi trên lối đường đó… Đừng để chúng con u mê sa vào nẻo đường lầm cũng đừng để chúng con làm theo thiên kiến. Xin giúp chúng con tìm thấy nơi Chúa sự hiệp thông giữa chúng con…”[16].
Thế nhưng người Kitô hữu nào lại không biết “Lời Chúa là đường soi bước chân con” (Tv 119,105), là trường dạy và yếu tố hiệp thông tuyệt hảo nhất. Đã hơn 400 năm đón nhận Tin Mừng, nhưng Giáo Hội Việt Nam vẫn chưa có được một bộ Kinh Thánh mang tính “Hiệp hành”, “hiệp thông”; vừa ghi dấu ấn “thừa thượng tiếp hạ” công sức và giá trị của cha ông, vừa “nhật nhật tân” của văn minh đương đại.
Ước mong định hướng “Hiệp hành” của Giáo Hội hôm nay sẽ được Dân Chúa Việt Nam biến thành hiện thực; và hiện thực căn bản đầu tiên đó là KINH THÁNH, là LỜI CHÚA.
Trương Đình Hiền (Viết xong ngày 6/1/2022)
[1] Albert Schlicklin (1857-1932), còn được biết với tên gọi Cố Chính Linh (“cố” là cố đạo, “Chính Linh” là tên âm Việt của ông), là một linh mục Công giáo La Mã người Pháp. Ông là người có công dịch bộ Kinh Thánh từ tiếng Latinh sang ngôn ngữ Việt Nam. Bản dịch của ông cho tới ngày nay vẫn là cơ sở cho các bản dịch Kinh Thánh chính thức. Ông sinh ngày 12 tháng 11 năm 1857 tại Liebsdorf, vùng Alsace (Pháp). Được Hội Thừa sai Paris gửi đến Việt Nam năm 1885, với sự giúp đỡ của các học giả Công giáo người Việt, ông nghiên cứu ngôn ngữ Việt và tập trung cho việc chuyển ngữ bộ Kinh Thánh từ bản Kinh Thánh Latin Vulgate, là bản Kinh Thánh được Tòa Thánh Vatican chính thức công nhận. Khoảng năm 1913 – 1914, Hội Thừa Sai Paris tại Hongkong cho phát hành bản Kinh Thánh Cựu ước, được in song ngữ bản Latin Vulgate với bản dịch Việt ngữ của ông. Năm 1916, Kinh Thánh Tân ước cũng được phát hành và cũng in song ngữ, một bên chữ Việt một bên chữ Latin.
Ngoài công trình dịch Kinh Thánh ra, ông còn viết một số tác phẩm bằng Việt ngữ như:
“Sách dạy về gốc tích cội rễ sự đạo”, 1908
“Thần học tín lý”, 1908
“Thần học luân lý”, 1911
“Công giáo luân lý khoa”, 1919
“Triết học khoa”, 1917
“Phép mộ sự khôn ngoan”, 1917
Ông qua đời ngày 2 tháng 3 năm 1932 tại Hà Nội.
Nguồn: Wikipedia: https://vi.wikipedia.org/wiki/Albert_Schlicklin
[2] KINH THÁNH CỨ BẢN VULGATA I, Cố chính Linh địa phận Tây Đàng ngoài, dịch ra tiếng An Nam và thích nghĩa, Hong Kong 1913, Tựa, XVI Về chế độ lề lối ta cứ trong sách nầy, tr. 23.
[3] X. LINH MỤC ALBERTO TRẦN PHÚC NHÂN, Các bản dịch toàn bộ Kinh Thánh sang tiếng Việt, trích từ tác phẩm “Hướng đến 400 năm Văn học Công Giáo”, tr. 776-782.
[4] Không xuất bản thành một cuốn Kinh Thánh trọn bộ; chỉ có các bản văn trong các sách Phụng vụ; đặc biệt Sách Các Bài Đọc trong Thánh lễ.
[5] PHƯỚC NGUYÊN, Quá Trình Phiên Dịch Kinh Thánh Sang Tiếng Việt, trích từ Nguyệt San Linh Lực (1996), San Diego, California, website www.thuvientinlanh.org/qua-trinh-phien-dịch-kinh-thanh-sang-tiếng-việt/ đăng tháng 1/1996
[6] LINH MỤC ALBERTO TRẦN PHÚC NHÂN, sđd, tr. 777.
[7] Sđd.
[8] Sđd.
[9] HEINRICH DENZINGER, Các Tín biểu, Định tín và Tuyên bố của Giáo Hội Công Giáo trong lãnh vực đức tin và phong tục, chuyển ngữ: lm. Nguyễn Văn Hòa O.P., nxb Tôn Giáo 2019, khoản 1504, tr. 1546.
[10] JOHN A. HARDON), S.J., Tự điển Công Giáo phổ thông, chủ biên: lm. Đặng Xuân Thành, phiên dịch: Nhóm Chánh Hưng, nxb Phương Đông 2008, tr. 304-306.
[11] HEINRICH DENZINGER, sđd, khoản 1506, tr. 1546.
[12] CRISTOFORO BORRI, Relation de la nouvelle mission des pères de la Compagnie de Jésus au Royaume de la Cochinchine, Xứ Đàng Trong, Thanh Thư dịch, nxb tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh 2019, trang bìa trước: Cristofor Borri (1583-1632) sinh tại Milan năm 1583, vào Dòng Tên ngày 16 tháng 9 năm 1601 và khỏi hành đi Ấn Độ năm 1615. Dạy toán tại Coimbre và Lisbonne, được vua Philippe của Tây Ban Nha mời tới Madrid để giảng cho ngài về la bàn. Quan tâm đến những vấn đề liên quan tới hàng hải, nghiên cứu về thiên văn học, đã viết một cuốn chuyên luận về nghệ thuật hàng hải và một bản thảo dang dở về hải trình tới Ấn Độ… Ông là một trong những giáo sĩ dòng Tên đầu tiên đến Đàng Trong (Đại Việt), thời chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên, lưu trú ở đó 5 năm (1618-1622).
[13] ĐỖ QUANG CHÍNH, SJ, Dòng Tên trong xã hội Đại Việt 1615-1773, nxb Tôn giáo 2008, tr. 76, chú thích 81: Alexandre de Rhodes (1593-1660), sinh ngày 15-3-1593 tại Avignon là đất của Tòa thánh từ năm 1348-1791, nên Rhodes có quốc tịch Tòa thánh, mặc dù sống trong nền văn hóa Pháp; hoạt động truyền giáo ở ĐT qua hai thời kỳ: 1624-1626 và 1640-1645; là một trong hai người đầu tiên chính thức mở ra cuộc truyền giáo ở ĐN từ 1627-1630; Rhodes có nhiều sáng kiến, nhiệt tình, can đảm trong sứ vụ; Rhodes là thừa sai đi lại nhiều nơi nhất ở Việt Nm thời đó; cha có công rất lớn với văn học Việt nam, vì đã hoàn thành chữ Quốc ngữ và cho xuất bản sách Quốc ngữ đầu tiên năm 1651; bị trục xuất khỏi ĐT năm 1645, cha về Rôma, Pháp từ 1649-1654, vận động gửi Giám mục đi Việt Nam; bỏ Pháp cuối năm 1654, để đi Ispahan thủ đô Ba Tư (Iran) truyền giáo theo lệnh Bề trên cả DT; qua đời tại Ispahan 5-11-1660.
[14] Linh mục Léopold Cadière (1869-1955), sinh tại Aix-en-Provence Pháp năm 1869, thuộc Hội Thừa sai Paris. Đến và hoạt động tại Việt Nam từ 1892-1955, tác giả của nhiều công trình nghiên cứu văn hóa, tín ngưỡng, dân tộc học, khảo cổ… là sang lập viên và là linh hồn của tạp chí Bulletin des amis du Vieux Hue (Đô Thành Hiếu cổ)= Tạp chí của những người bạn Huế xưa…(Theo tác phẩm “Văn hóa, tín ngưỡng và thực hành tôn giáo người Việt”, nxb Thuận Hóa 2010, Lời Tựa, tr.9-14).
[15] GIUSE VŨ VĂN THIÊN, TỔNG GIÁM MỤC HÀ NỘI, Thư mục vụ v/v triệu tập Công nghị Tổng giáo phận kỷ niệm 110 năm Công đồng Kẻ sở, website https://www.tonggiaophanhanoi.org/thu-muc-vu-trieu-tap-cong-nghi-tong-giao-phan-ky-niem-110-nam-cong-dong-ke-so/
[16] CẨM NANG CHO THƯỢNG HỘI ĐỒNG VỀ TÍNH HIỆP HÀNH, Kinh cầu nguyện cho Thượng Hội Đồng, tr. 3.
2021
GP.MỸ THO: Thông báo (nhắc lại) v/v Facebook của Đức Cha Phêrô
GP.MỸ THO: Thông báo (nhắc lại) v/v Facebook của Đức Cha Phêrô

2021
Xây dựng Cộng đoàn Giáo hội tại Giáo xứ theo mô hình Giáo hội hiệp thông – tham gia – sứ vụ
HƯỚNG TỚI VIỆC XÂY DỰNG CỘNG ĐOÀN GIÁO HỘI TẠI GIÁO XỨ
THEO MÔ HÌNH GIÁO HỘI HIỆP THÔNG – THAM GIA – SỨ VỤ
Linh mục Giuse Nguyễn Văn Am, SDB
DẪN NHẬP
Với sự thúc đẩy của Đức Phanxicô, ngày 17 tháng 10, 2021, cộng đoàn dân Chúa tại mỗi giáo phận bắt đầu cùng nhau cử hành Thượng Hội đồng Giám mục 2023 trên cấp độ giáo phận.[1] Dù một ai đó có thể nghĩ đây là một việc làm không thể chối được từ Vatican, hoặc chỉ như một gánh nặng, thì sự thật không phải như thế. Chúng ta cần nhìn vào việc này với ánh mắt đức tin. Chẳng lạ gì tài liệu Cẩm nang Thượng hội đồng Giám mục 2023 khởi sự với lời nguyện xin Thánh Thần trong bất kỳ cuộc họp nào cho biến cố này.[2] Thánh Thần đang muốn canh tân toàn Giáo hội, sau và thậm chí giữa, biết bao những nỗi u buồn, tội lỗi, xấu hổ hay nhục nhã. Thánh Thần cuốn toàn Giáo hội vào cuộc hoán cải như dân Israel ngày xưa quay về với Thiên Chúa.[3] Có lẽ chúng ta cần đặt mình như những “số sót” để qua đó ân sủng, lòng thương xót và niềm vui thần linh lại tràn ngập địa cầu.[4] Đức tin cần được làm mới lại, bằng cách gắn bó hơn nữa với ý định của TC được đọc ra dưới các biến chuyển nhân sinh dưới mọi khía cạnh, vì chỉ thánh ý Chúa mới là lương thực của GH, địa phương và phổ quát.
Nếu thế, chúng ta không được phép coi Thượng Hội đồng Giám mục chỉ dành cho những ai tham dự ở Roma hoặc những buổi hội họp tương tự. Toàn GH, bắt đầu từ những cộng đoàn giáo hội nhỏ như gia đình và giáo xứ, cùng nhau cử hành BIẾN CỐ THƯỢNG HỘI ĐỒNG NÀY. Kết quả của Thượng hội đồng Giám mục này phải được thấy trong việc xây dựng cộng đoàn giáo xứ mang tính hiệp hành ngay ở đây và lúc này. Chỉ như thế, tiến trình hội họp tại Roma mới đạt được ý nghĩa đích thực. Bằng không, đó lại chỉ là “chất đống” thêm các văn kiện cho đầy các thư viện mà thôi.
Trong cơn lốc của Thần khí, Giáo hội cống hiến cho người tín hữu những hướng dẫn quan trọng và có giá trị. Và như thế tìm đọc và suy gẫm những chỉ dẫn đó phải là trọng trách cho các vị mục tử cách riêng; bằng không, chúng ta sẽ không thể dẫn dắt Dân Chúa. Những tài liệu đó là:
- Tài liệu từ Ủy ban Thần học Quốc tế:TÍNH HIỆP HÀNH TRONG ĐỜI SỐNG VÀ SỨ VỤ CỦA GIÁO HỘI(từ đây: Tính hiệp hành) Tài liệu được ban hành ngày 2 tháng Ba, 2018; Tài liệu có tính chất học thuật này cũng đề ra những hướng đi mục vụ hầu làm cho tính hiệp hành vốn đã từng nổi bật trong GH sơ khai, nhưng rồi bị lãng quên cách nào đó, phải được sống lại cách mới mẻ trong Giáo hội hậu Vatican II.
- Tài liệuHuấn thị: Cộng đoàn giáo xứ hoán cải mục vụ để phục vụ sứ mệnh loan báo Tin mừng của GH(từ đây: Huấn thị) được ban hành ngày 29 tháng Sáu, 2020. Dù với tính cách tổ chức và canh tân cơ cấu của giáo xứ, tài liệu không quên cho thấy những suy tư thần học và kinh thánh làm nền tảng cho những biến đổi ấy. Như thế, ta hiểu ngay mục vụ không phải chỉ là những hoạt động hay việc làm. Nó là một điều đến từ một trái tim mới, đầy tràn tình yêu mục tử của người môn đệ Đức Kitô.
- Trong tiến trình chuẩn bị cho Thượng Hội đồng Giám mục về GH hiệp hành, chúng ta thấy xuất hiệnTÀI LIỆU CHUẨN BỊ(từ đây: Tài liệu chuẩn bị) với tựa đề của Thượng hội đồng Giám mục 2023: Hướng tới một Hội Thánh hiệp hành: Hiệp thông – Tham gia – Sứ vụ;
- Và ý thức rõ tiến trình khá phức tạp và lâu dài để hướng tới Thượng Hội đồng Giám mục được cử hành tại Roma xuyên qua cấp giáo phận, hội đồng Giám mục, các Giáo hội Vùng, Miền, Toà Thánh phát hành tài liệuCẩm nang cho Thượng Hội đồng về tính hiệp hành(từ đây: Cẩm nang)
Tuy nhiên, để lãnh hội những văn kiện đó một cách sâu xa và vững chắc, chúng ta cần ghi nhớ Giáo hội học của Vatican II về Dân Thiên Chúa trong ánh sáng hiện thực của GH như sự hiệp thông mà Thượng Hội đồng Giám mục ngoại thường 1985 về Vatican II đã minh xác cùng với vai trò quan trọng độc đáo của Giáo hội tại địa phương như sự hiện thực hoá Tin mừng tại địa phương, hay như sự nhập thể mầu nhiệm GH vào văn hoá, đời sống con người tại địa phương đó.[5] Đó là một lối nhìn về phẩm trật như tập đoàn tính,[6] vốn là đóng góp quan trọng của Vatican II cho Giáo hội học chân chính. Các Giám mục được tuyển chọn vào một đoàn (college) để phục vụ dân Chúa trong tư cách Đức Kitô, in persona Christi;[7] các ngài cũng theo Đức Kitô, sequela Christi như các tín hữu, song lại gánh thêm trọng trách của vị Tông đồ.
Bài khảo cứu này trình bày bốn phần. Trước tiên, chúng ta cùng khẳng định việc tái cấu trúc giáo xứ/hội đồng giáo xứ không phải là một việc làm. Nó bộc lộ một sự hoán cải mục vụ (cả trong cơ cấu nữa). Trong phần này tôi cũng dựa vào những kinh nghiệm của chính Giáo hội tại Việt Nam. Thứ đến chúng ta nhìn xem Đức Giêsu đã huấn luyện các tông đồ và qua đó huấn luyện chúng ta ngày nay ra sao. Từ đó, chúng ta tìm cách hiểu dạng thức tiến hành và sống của một Giáo hội hiệp hành. Cuối cùng chúng ta nói đến một cam kết để làm hiển hiện một Giáo hội hiệp hành ngay trong giáo xứ chúng ta. Bài viết này mang nhiều tính cách suy tư thần học hơn là thực tiễn, khi hiểu những thao thức mục vụ, truyền giáo của Đức Phanxicô.
- TÁI CẤU TRÚC GIÁO XỨ / HỘI ĐỒNG GIÁO XỨ NHƯ MỘT DIỄN ĐẠT SỰ HOÁN CẢI MỤC VỤ
Trước kia, có những nhân vật nổi bật với một kiến thức bao quát mọi thứ. Thánh Toma Aquinô (1225– 1274) hay Duns Scotus (1265/66 –1308) là những người thuộc loại đó. Những Blaise Pascal (1623 – 1662), Réné Descartes (1596–1650) … như thể là những thiên tài một mình làm mọi sự. Tuy nhiên, thời đại ấy xem ra đã hết rồi. Thế giới hiện tại đang tìm lại tính “tập thể” trong tất cả mọi lãnh vực, từ khoa học, vi tính, y khoa…, đến các bộ bách khoa triết thần, đến kế hoạch mục vụ của toàn Giáo hội. Những châm ngôn như “cùng chung tay xây dựng”, “cùng chèo thuyền”, “chung lưng đấu cật”… biểu lộ định hướng và nét đẹp của tính xã hội mà trong đó con người đã được tạo dựng (x. St 1-2). Giáo hội đã nhận ra nét biến đổi này.[8] Và dấu chỉ đó thúc bách Vatican II rời bỏ chiếc áo hoàng vương để mặc lại chiếc áo NGƯỜI TÔI TỚ của mình. Là dân lữ hành, GH cùng chung tay thực thi sứ mệnh xây dựng Nước TC. Còn hơn thế nữa, GH thấy rõ mình còn phải đồng hành với thế giới nhân sinh trong tất cả tính phức tạp của nó, lẫn lộn tốt xấu, để chân nhận được thiện chí và vẻ đẹp nơi những anh chị em như thể không cùng đi với mình.[9] Được tinh thần đó khởi hứng, GH tại VN cũng muốn rũ bỏ chiếc áo độc thoại, tự vệ và pháo đài của mình.[10] GH tại VN cũng mong muốn trở thành một Giáo hội giữa lòng dân tộc, cùng đi với những người con dân VN, bất chấp họ ra sao, vì chính ở đây, TC đến gặp gỡ, kết hiệp và huấn luyện họ.[11] GH tại VN muốn xây dựng một GH cùng lên đường trong tình hiệp thông được tỏ lộ bằng sự tham gia, để chung tay xây dựng đền thờ Chúa Thánh Thần giữa những anh chị em chưa cùng đức tin.[12] Vì vậy, những tổ chức, hay cách hành động trước kia mà không tán trợ một sự cùng chung tay quả không còn thích đáng nữa.
Tài liệu về Giáo hội hiệp hành xác định rõ TC mong đợi GH của thiên niên kỷ thứ ba bước theo “con đường hiệp hành”.[13] Xác quyết này mang lấy tất cả sức mạnh và thách đố đầy đòi hỏi của nó. Nếu GH chỉ hiện hữu để thi hành ý TC, thì nay ý TC là đây: XÂY DỰNG MỘT GH HIỆP HÀNH. Không nỗ lực hiện thực điều này, GH có nguy cơ không lắng nghe ý Chúa, vốn là lương thực duy nhất của GH. Tại sao? Vì đây là chiều kích cốt yếu của Giáo hội: Giáo hội hiệp hành minh chứng “phẩm giá và sứ mệnh chung của tất cả những người được rửa tội trong việc thực thi những đặc sủng, ơn gọi và tác vụ khác nhau và phong phú một cách trật tự” là thật chứ không phải là từ hoa mỹ.[14] Thật vậy, GH hiệp thông – GH hiệp hành không phải là hạn từ đẹp đẽ xuông, nhưng là “modus vivendi et operandi”, dạng thức GH sống và hành động. Nói cách khác, GH được nhận biết bằng cách sống và làm việc trong sự hiệp hành. Không những thế, hiệp hành còn là dạng thức đào tạo (modus formandi) người môn đệ của Đức Kitô, người cùng đi với người khác. Đang khi đó Huấn thị về tổ chức giáo xứ nói rõ hướng đi biến giáo xứ thành cộng đoàn môn đệ truyền giáo “đương nhiên đưa tới việc phải cải tổ các cơ cấu, liên quan đến giáo xứ cách riêng”.[15] Lý do chính là xã hội và những biến động xã hội không còn như trước nữa. Xã hội đã biến đổi thật sâu kéo theo sự biến đổi thật sâu trong nghĩ suy[16] đến nỗi một giáo xứ chỉ theo tính đối địa mà thôi không còn phù hợp nữa, trước sứ mệnh loan báo Tin mừng ngày một thách đố hơn.[17] Một nguyên tắc thần học và thiêng liêng được Vatican II đưa ra và có thể tóm tắt trong điều này: “Xã hội biến đổi, thần học chuyển mình”, theo lối nói của Hans Joachim Hohn.[18] Nếu vậy, trình bày cho thế giới và mọi người một GH Dân TC-hiệp hành là chuyện CHÍNH CHÚA MUỐN, và không đảo ngược lại được nữa.
Rất có thể điều nói trên đưa đến một phản kháng nào đó tự bên trong, vì làm ta không yên. Không lạ gì, bởi lẽ mỗi hoán cải đều đi trước bởi một cuộc đấu tranh mạnh mẽ với cái tôi đã từng có, từng quen sống và hành động như thế. Tuy nhiên, nếu GH đúng là của mọi tín hữu được rửa tội trong Thánh Thần, nếu GH đúng là được diễn tả tột đỉnh trong Thánh Thể, nếu Phẩm trật GH phải mang tính tập đoàn (collegiality) trong ánh sáng của Dân TC, nếu cảm thức đức tin (sensus fidei) là thiết yếu, thì GH hiệp hành là một “điều kiện tiên quyết không thể thiếu cho năng lực truyền giáo mới vốn liên quan đến toàn Dân TC”.[19] Tại sao ta phải nhấn mạnh điều này đến thế? Kinh nghiệm cho thấy: suy nghĩ ra sao sẽ làm như vậy; suy nghĩ đúng sẽ làm đúng, dẫu vẫn còn đó những sai trệch. Nhưng suy nghĩ sai thì không thể làm đúng được. Theo ngôn ngữ Kinh thánh, điều thiết yếu trước tiên chính là HOÁN CẢI, được hiểu là thay đổi/canh tân “não trạng, thái độ, thực hành và cơ cấu, để trung thành hơn mãi với ơn gọi của GH”.[20] Mà tận căn của cuộc hoán cải do Đức Giêsu đem lại là như sau:
“Sự chuyển đổi do mầu nhiệm Vượt qua từ “cái Tôi” được hiểu theo cách tập trung vào bản thân sang “cái chúng tôi” nghĩa GH, ở đó, mọi “cái Tôi”, được mặc trong Đức Kitô (x. Gl 3:27), sống và hành trình với anh chị em mình như một tác nhân có trách nhiệm và tích cực trước một sứ mệnh của Dân TC.”[21]
Nói thế, không phải từ trước đến giờ chúng ta làm sai hết rồi. Không phải. Chúng ta đã thực hiện rất nhiều điều tốt, vì tận cơ bản, chúng ta đã trở lại, đã hoán cải, đã thuộc về Đức Giêsu rồi. Nếu không như thế đã chẳng có Giáo hội địa phương như hiện nay. Tuy nhiên, sự hoán cải mà TC đòi hỏi không phải là một lần là đủ. Chúa muốn một sự hoán liên tục, nghĩa là, liên lỷ “quay về với TC hằng sống.”[22]
Trong ánh sáng đó, một thoáng vội nhìn lại lịch sử của GH tại Việt Nam có thể làm ta trân trọng hơn ân sủng với những hoa quả đầu mùa Chúa ban chúng ta để mời gọi ta tiến hơn nữa. Quả vậy, GH tại VN tới một mức nào đó nổi bật với sự hòa điệu và chung tay xây dựng giữa những vị chủ chăn và những con cái GH ở mọi cấp. Ai đã mang Chúa Giêsu cho những anh chị em xa xôi nhất, nếu không phải là những anh chị em tín hữu nhiệt tình chung tay với các nhà truyền giáo thuở ban đầu trên quê hương này? Ai đã từng liều mình bị chết để bảo vệ các vị truyền giáo và các linh mục trong những ngày khó khăn của cấm cách? Những kinh nghiệm nào đã đúc kết lên châm ngôn của thư chung 1980 “sống Phúc âm giữa lòng dân tộc”, nếu không phải là kinh nghiệm của các tín hữu chan hòa với nhau, linh mục, giáo sĩ và giáo dân, cách riêng tại những vùng kinh tế mới hay trong trại học tập? Ngay trong giáo xứ hiện tại, những giáo lý viên nhiệt thành, các huynh trưởng sống động vẫn đang chung tay với các vị mục tử để xây dựng cộng đoàn. Nói tắt, những trang sử của muôn vàn chứng nhân xưa và nay (x. Hr 12-13; Kh 6:9-1), được viết bằng mồ hôi và cả máu nữa, đưa tới một kết luận rất thiết thực và hiện sinh cho Giáo hội tại VN chúng ta: Ở đâu các tín hữu cùng nhau tiến tới theo một mục đích chung là vinh quang TC và các linh hồn, thì GH được rực rỡ vinh quang TC. Đại hội Dân Chúa 2010 với chiều hướng của một sứ vụ toàn diện, duy nhất, hội nhập tình thương Đức Kitô vào trong văn hoá không phải là GH tại Việt Nam cùng nỗ lực tìm kiếm và tiến bước đó sao? Nếu đất nước VN chúng ta nổi tiếng với Hội nghị Diên Hồng, thì một cách nào đó, thì Đại hội Dân Chúa 2010 cũng tương tự như thế. Có khác là, đại hội Dân Chúa không phải do con người, song do chính TC quy tụ lại và dẫn tới hoàn thành, định hướng cho các tín hữu VN trong dòng xoáy xã hội, chính trị, giáo dục, văn hóa của VN thời hậu tân đại.[23] Trong đại hội ấy, chúng ta cùng mơ về một Giáo hội tham gia tại VN mà được chuyển dịch thành kế hoạch mục vụ ba năm sau đó. Những kinh nghiệm đức tin đó lại tầm thường sao? Không chút nào.
Như thế, ta thấy rõ không phải cùng nhau làm một vài việc hay hoạt động thì tức khắc biểu lộ một GH tham gia. Không. GH ấy chỉ xảy ra được khi toàn Giáo hội suy nghĩ về mầu nhiệm mà tất cả được kêu gọi tới, về sự hiệp thông mà toàn thể từ người rốt hết đến vị cao cả nhất thông chia một sự sống, về sứ vụ mà mọi phần tử Giáo hội đều nhận lãnh dù với những hình thức, phương cách khác nhau. Chỉ bằng cách hoàn toàn trung thành nắm giữ/chuyển giao kho tàng đức tin với một sự đồng cảm với Giáo hội, sentire cum Ecclesia, từ vị mục tử đến người tín hữu rốt hết, như cộng đoàn các môn đệ truyền giáo với sensus fidelium như bản năng đức tin thì sự hiệp thông, được biểu lộ qua sự hiệp hành như một dạng thức sống và tiến hành, mới thành duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền.[24] Một Giáo hội tham gia chỉ lộ hiện sau một tiến trình hoán cải cả về tư duy lẫn cơ cấu mục vụ trong đó mọi người đều trở lại với Chúa.[25] Thật vậy, “cõi lòng và tâm trí không hoán cải cũng như không có một sự huấn luyện có kỷ luật để chào đón và lắng nghe lẫn nhau, thì những khí cụ hiệp thông bên ngoài chẳng có ích gì.”[26]
Vậy, dù còn nhiều thiếu sót, GH tại VN đã cố gắng trình bày một GH hiệp thông tham gia, theo nghĩa là anh chị em giáo dân và mọi thành phần rất tích cực cộng tác với hàng giáo phẩm dưới diện “chỉ đâu đánh đó”, dưới diện “người thợ” nhiều hơn là dưới diện người vai chính như Vatican II mong đợi. (xem Synodity, 72-73). Biến tất cả các tín hữu nên những vai chính trong sứ vụ mới là chính ý muốn của TC.
Tất cả những điều trên nơi GH tại VN cho thấy một nỗ lực để tiếp thu hướng chiều thần học, mục vụ và thiêng liêng của Vatican II. Chương II trong LG trở thành đá góc cho những biến chuyển lớn lao trong GH. Các nghị phụ cho thấy chính cảm thức Dân TC đã “hoán cải” các ngài rất nhiều, vì tìm gặp lại được chính điều TC muốn và hiện thực suốt dòng lịch sử cứu độ. Trong GH ấy, phẩm giá chung của mọi tín hữu đến trước và ở trên tất cả mọi sự phân biệt. “Với anh chị em tôi là Kitô hữu; cho anh chị em tôi là Giám mục. Kitô hữu là một tước hiệu vinh dự, là phẩm giá, là giám mục là trọng trách.” (Augustinô) Trong dân đó, mọi người đều cùng nhau tiến bước trong mọi văn hoá, kinh tế, chính trị, xã hội, công bằng, thịnh vượng dân tộc, qua tất cả mọi người dân của mình, cả phẩm trật lẫn giáo dân.[27] Toàn Dân TC đón nhận cùng một sứ mệnh lưỡng diện: tuyên chiến với tội lỗi và để TC thánh thiện của Tin mừng được biết đến.[28] Một Kitô hữu chỉ lo phần rỗi của riêng mình giống như bức hý hoạ, bởi lẽ không thể có được. Được cứu rỗi có nghĩa là cùng được cứu rỗi. Không thể có một thứ cá nhân chủ nghĩa Kitô hữu.[29] Như thế Dân TC của Vatican II là một GH hiệp hành tự bản chất.[30] Tuy nhiên, sau đó, một số thần học gia nhấn mạnh đến mô hình mang dấu ấn như một nghị viện dân chủ với khái niệm Concilium, nên Giáo hội với Đức Gioan Phaolô II cũng như với Thượng hội đồng Giám mục ngoại thường 1985 đã nhấn mạnh đến GH-hiệp thông, Koinonia, đến “linh đạo hiệp thông” hơn là đến Dân TC.[31] Hơn nữa, thời gian qua mau. Thế hệ của các nghị phụ thời Vatican II không còn mấy; Vatican II xem ra hết sốt dẻo và khái niệm Dân TC như thể đã chìm vào hậu cảnh, nếu không muốn nói là bị lãng quên.[32] May thay, ngày nay trực giác giáo hội học ấy lại được Đức Phanxicô đưa ra ánh sáng với những sắc thái mới, hầu đáp ứng những thao thức cũng như những thách đố của những người hậu tân đại.
Những kinh nghiệm quý báu trên không cho phép chúng ta quên đi những thách đố rất lớn GH phải đối diện cách này cách khác, lâu mau tuỳ vào từng nơi chốn.
- Giáo hội như siêu thị. Số tín hữu tại VN đang gia tăng trước một cám dỗ mà tôi gọi là cám dỗ về một “GH siêu thị”. Đã có những tín hữu đi tới các thánh đường (church) mà chẳng cam kết vào một cộng đoàn, giáo hội (church) nào hết. Họ thấy cần phải tự chọn: đi nhà thờ nào cũng được, miễn sao chu toàn luật lễ buộc, hoặc dự một thánh lễ nhanh gọn, hay nghe một bài giảng của vị mình thích. Không ghi danh vào cộng đoàn nào, họ đến bất kỳ giáo xứ nào theo sở thích. Hệt như trong siêu thị, họ chọn hàng tùy thích. Cùng lắm, nếu có ghi danh, chính là để cho những công việc sau này: rửa tội con cái, hôn phối, chôn táng. Qua đó, ý nghĩa của gia nhập Giáo hội như một chi thể có trách vụ riêng trong một thân mình duy nhất bắt đầu tan loãng dần. Cảm thức về một GH cam kết nhạt nhoà dần.
- Chủ nghĩa Giáo hội trần tục (laicism). Tiếp đến trào lưu giáo dân trị, một thứ dân chủ sai lạc, cũng như thể đang lớn dần lên. Đang dần nổi lên một chủ nghĩa “dân chủ” giáo hội học, trong đó như thể tiếng của đa số là tiếng của TC. Vẫn còn đó sự ồn ào của khuynh hướng hay phong trào “nhân dân”, như thể những gì của Đức Giêsu chỉ là bởi vì thời đại đó mà thôi. “Nếu ngài đã ở đây hôm nay, chắc sẽ không có luật này, luật nọ trong GH”…. Song song với điều đó, chúng ta vẫn thấy còn đó “khuynh hướng giáo sĩ hóa giáo dân và giáo dân hóa hàng giáo sĩ.”[33]Đúng là một sự cào bằng để “đổi ngôi” trong GH, và điều đó chẳng còn gì là một thân mình Đức Kitô trong đó mỗi chi thể một chức phận, không thay thế được, song lại hoàn toàn bổ trợ cho nhau: không thể có cái này mà không có cái kia.
- Chủ nghĩa giáo sĩ.Nhưng cám dỗ thịnh hành vẫn là giáo sĩ trị. Trong ánh sáng của Vatican II và được nhận diện do Đức Phanxicô, nó còn hơn một cám dỗ; nó là một căn bệnh mà ở nơi đó sự lạm dụng quyền lực, lương tâm, tiền bạc và cả tình dục nữa, đang làm rữa nát Giáo hội. “Hệ tư duy/não trạng giáo sĩ”có nguy cơ đặt các tín hữu ở bên lề giáo hội.”[34] Nó che đậy một lòng yêu mến Giáo hội giả hiệu.
Đó chính là sự tìm kiếm cá nhân, muốn chiếm cứ, tập trung và đặt định các khoảng không gian bằng việc giảm thiểu và hủy bỏ dầu xức của Dân Thiên Chúa. Thói giáo sĩ trị, khi sống tiếng gọi theo một kiểu cách quí phái, lẫn lộn việc được chọn với đặc quyền, sự phục vụ với chủ trương phục dịch, hiệp nhất với đồng bộ, sự khác biệt với sự chống đối, sự đào luyện với nhồi sọ. Thói giáo sĩ trị là một sự lệch lạc khiến phát triển những ràng buộc theo chức năng, cha chú, chiếm hữu và ngay cả thao túng những ơn gọi khác còn lại trong Giáo Hội.[35]
Giáo sĩ trị “ngăn cản người giáo dân ra khỏi tiến trình lấy quyết định” (104) khi xây dựng Dân TC như môn đệ truyền giáo.
- Giáo hội không có khả năng đi ra.Đức Phanxicô cho thấy GH xa cách với con người sẽ vướng mắc trong những chuyện tỏn mọn của riêng mình, chẳng còn ích gì cả. Chính vì thế,
Đây là điều không những là một phần nội tại của hành động mục vụ mà còn là tiêu chuẩn đánh giá tính xác thực của Hội Thánh Chúa Kitô. Thời nay đặc biệt, có khi có nhiều người bị loại ra bên lề xã hội và cô đơn, cộng đoàn giáo xứ được mời gọi trở nên dấu chỉ sống động của sự gần gũi của Chúa Kitô qua các mối dây liên kết huynh đệ, hằng quan tâm đến những hình thức nghèo khổ mới.[36]
Chiều theo những thách đố này sẽ làm cùn đi khả năng đào tạo liên tục bằng cách lắng nghe và đáp lại tiếng Chúa gọi giữa tiếng kêu khóc của những người quanh ta. Nó biểu lộ một GH không còn khả năng khóc nữa. Thật thê thảm: một Giáo hội không có khả năng của một người mẹ, một người mẹ biết khóc. Bởi lẽ, GH tự coi mình có mọi câu trả lời cho mọi vấn đề nhân loại, chẳng cần phải mảy may tìm kiếm cùng với những người khác.[37]
Thật ra, giáo xứ theo địa dư vẫn luôn trân trọng cao; nó dễ dàng tổ chức sinh hoạt đoàn thể, giáo lý. Tôi nói đến tổ chức sinh hoạt, chứ không phải là mục vụ. Không bỏ qua. Thế nhưng, những bùng vỡ của công nghệ thông tin đã mang đến một thay đổi giáo xứ: giáo xứ địa dư trở thành “lỗi thời” rồi. Nay giáo xứ ngày càng phải mang tính chất “địa dư hiện sinh”. “Ở đó những thách đố GH đang đối diện giữa cộng đoàn được diễn ra. Vậy, bất kỳ hành động mục vụ nào bị giới hạn vào lãnh địa giáo xứ thì lỗi thời,[38] dù những quy định của Giáo luật vẫn có giá trị. Điều này thấy rõ lắm nơi giới trẻ: họ có sân chơi riêng mà rất nhiều người chúng ta không vào chơi được, vì chúng không chấp nhận chúng ta và chúng ta không làm cho mình được chúng tiếp nhận. Số giới trẻ ở xa chúng ta thì mênh mông hơn con số người trẻ vây quanh chúng ta. Đức Phanxicô và cùng với ngài, GH tại VN chúng ta muốn xây dựng một giáo hội của người trẻ; nếu thế, ta không thể không thấy rằng giới trẻ hiện nay lại không ràng buộc mấy với địa dư. Chúng ta hãy can đảm (parrheia) nhìn vào hiện trạng với một con mắt được đổi mới: Người trẻ chiếm rất ít chỗ cũng như tiếng nói trong mục vụ giáo xứ chúng ta. Đừng quá sợ hãi rằng họ ít kinh nghiệm, họ có nhiều sai sót. Đúng. Nhưng có một điều giới trẻ hoàn toàn hơn chúng ta: họ biết cách làm thế nào để đến gần, làm bạn, và đồng hành với những người cùng trang lứa. Chính vì vậy, thật cần biết bao để bớt nghĩ suy và nhìn thực tại từ trên cao, nhưng nhiều hơn từ phía ngoại biên.[39] Cần biết bao những ưu tư, đau khổ, tiếng khóc của dân chúng chạm đến những mục tử như người cha người mẹ thiêng liêng. Rosmini nhận xét thật đúng: “Chỉ những người vĩ đại/thánh nhân mới có thể tạo nên những người lớn lao/thánh nhân.” Đó không phải là điều Vatican II và huấn quyền hậu Vatican II muốn làm nơi chúng ta, các mục tử hôm nay, sao? Chúng ta đã để cho những lời sau vang dội thật sự trong phong cách sống Giáo hội của chúng ta không:
Nếu một điều gì đó phải làm chúng ta xáo trộn và làm lương tâm chúng ta băn khoăn, thì chính là sự kiện có quá nhiều anh chị em chúng ta sống không sức mạnh, ánh sáng và an ủi được sinh ra từ tình bạn với Đức Giêu, không có một công đoàn đức tin nâng đỡ họ, không có ý nghĩa và mục đích trong đời sống. Tôi hy vọng rằng chúng ta, hơn là sợ đi lạc, sẽ được chuyển động bởi nỗi sợ là vẫn đóng kín mình trong những cấu trúc vốn mang lại cho ta một cảm thức an toàn giả tạo, trong những luật lệ khiến chúng ta phán xét cay nghiệt, trong những thói quen làm ta cả thấy an toàn, đang khi ngay cửa nhà chúng ta dân chúng đang chết đói và Đức Giêsu không mệt nói cho ta rằng: “Anh em hãy cho họ ăn đi.” (Mc 6:37).[40]
Chúng ta cần trở lại tư cách/thái độ của một người mẹ biết khóc hơn là của một công chức, công nhân viên làm việc hết giờ hành chánh. Đó mới chính là ý nghĩa và lẽ sống của người linh mục chúng ta. Những gì Đức Phanxicô nói có làm tôi rúng động thật sự hay ta chỉ thấy những lời đó thật hay nhưng xa lạ! Trái tim mục tử trả lời trong ta, và ta không thể nói dối nó.
- TRỞ VỀNGUỒN: NHÌN XEM VÀ HỌC NƠI CHÚA GIÊSU
- Để hiện thực một Giáo hội hiệp hành, toàn GH buộc phải về nguồn và nhìn vào cách Đức Giêsu hành động. Ngài luôn tạo ra “khung cảnh cộng đồng” trong loan báo Tin mừng.[41]Ngài không bao giờ loại trừ ai.[42] Thậm chí với những người bị ‘mọi người’ ruồng bỏ, coi khinh, Ngài vẫn có chỗ cho họ, dẫn họ vào vườn nho của ngài (x. số 18). Và những kẻ được Ngài chọn lựa thì rõ ràng “các tông đồ không phải là đặc ân phong ban một chức quyền với lãnh địa riêng có tính phân tán mà là ân sủng của một thừa tác vụ ban phúc lành và tình huynh đệ có tính quy tụ.” (số 19). Luôn có ba thành phần đi liền với nhau cách hỗ tương đến độ không thể chia tách mà không huỷ đi chính mình: “Chúa Giêsu, đám đông đủ mọi hạng người, các tông đồ” (số 20).
- Khảo sát thêm nữa, ta thấy, bằng cả một tuyệt đỉnh văn chương, với lối văn miêu tả hơn là định nghĩa, sách Công vụ cho chúng ta bốn yếu tố then chốt quyện chặt vào nhau trong cộng đoàn tín hữu ban đầu: Hiệp thông – Phụng vụ – Làm chứng – Phục vụ.[43]Cộng đoàn đó chung tay với nhau để phụng sự TC hằng sống, để cứu giúp những kẻ đói nghèo, khi vâng phục TC trong lời giáo huấn Tông đồ, với sức mạnh của vị Chứng Nhân Trung thành trong quyền lực của Thần khí làm chứng. Chính điều này làm cho cộng đoàn môn đệ của ông Giêsu trở nên khác biệt với bất kỳ cộng đoàn Do thái giáo nào. Dẫu vẫn sử dụng mọi thứ cốt yếu trong Do thái giáo như Lời Chúa, hội đường, lễ Vượt qua, thì cộng đoàn Kitô hữu tỏ lộ sự khác biệt: do Đức Giêsu Kitô và Thánh Thần Ngài, mọi người không kể những gì mình có làm của riêng, nhưng để chung mọi sự, và các tông đồ phân phát cho mọi người tùy theo nhu cầu. (x. Cv 2:42tt) Hoặc “cộng đoàn đồng tâm nhất trí…” (x. Cv 4:32). Chính đây là điểm son mà chẳng mấy chốc, họ được đặt tên là cộng đoàn Kitô hữu (x. Cv 11:26); rõ ràng, yếu tố cùng đi một Con Đường, “không còn Do thái hay Hy lạp, nô lệ hay tự do, nam hay nữ, nhưng tất cả trong Chúa,” trở thành nét riêng biệt. Cộng đoàn GH sơ khai đúng là cùng tiến bước. Không lạ gì mà công đồng Giêrusalem đầu tiên trồi hiện như một sự hiệp hành, mộtsynodos: Thánh Thần và chúng tôi cùng quyết định. Đã quá rõ, tính hiệp hành, synodality, đã có mặt cách sống động trong cộng đoàn GH ngay từ ban đầu.
- Điều cộng đoàn sơ khai bộc lộ không phải do sáng kiến của các tín hữu. Chính Đức Giêsu đã in điều này vào cộng đoàn môn đệ của ngài. Các Tin mừng đều làm chứng rằng Chúa Giêsu mất rất nhiều thời gian và kiên nhẫn để huấn luyện các môn đệ/tông đồ một lối hiện hữu/sinh hoạt/tiến hành khác dựa trên “gương duy nhất là chính ngài như người tôi tớ”. Dẫu họ thất bại nhiều hơn là thành công, Đức Giêsu vẫn không bỏ cuộc. Điều ấy còn lộ rõ: Tin mừng Matthêu cho thấy rõ Đức Giêsu chẳng bao giờ chờ đợi các tông đồ phải hoàn hảo rồi mới sai đi rao giảng Tin mừng. Ngay lúc họ vẫn còn hồ nghi Đức Giêsu đã sống lại, Ngài vẫn sai họ đi rao giảng (x. Mt 28:16-20; Mc 16:9-20) vì sự sống đời đời là nhận biết Cha là TC hằng sống và chân thật, và Đức Giêsu, Đấng Ngài sai (x. Ga 17:3). Ngài đón nhận những quyết định của Giakêu chia sẻ những gì ông có hầu Nước Chúa ngự đến trong công bình và nhân ái. (x. Lc 19:1-10) Ngài không xem nhẹ nhưng hân hoan biết bao khi chị phụ nữ Samari tìm cách lôi kéo dân làng đến với ngài, và rồi âm thầm rút lui ra đằng sau để cho Đức Giêsu được lớn lên (x. Ga 4:39-42). Ngài trân trọng tuyệt vời đồng xu bé nhỏ của bà góa lại góp phần lớn lao xây dựng Nước TC, vì đã bỏ hết con người mình (x. Mc 12: 41-44; Lc 21:1-4). Các tông đồ dần dần hiểu rõ những bài học này nên mỗi người mỗi cách hiện thực con đường này. Các cộng sự viên của các ngài là một đội ngũ lớn lao được Đức Gioan Phaolô II khẳng định: những người lãnh nhận Tin mừng ngay lập tức trở thành người loan báo Tin mừng.
- Đức Giêsu kiên nhẫn huấn luyện và làm cho các môn đệ thay đổi cái não trạng loại trừ, vốn là căn rễ của mọi kỳ thị. Khi thấy có những người “thành công” trong việc trừ quỷ, song lại không ở trong nhóm mình, các ngài đã phản kháng. Nhưng Đức Giêsu dạy rằng ai không chống họ là ủng hộ họ; không thể vừa làm phép lạ nhân danh ngài lại nói xấu ngài (x. Mc 9:38-40; Lc 9:49-50). Đức Giêsu làm cho các ông rộng mở: chính những người xem ra là “kình chống” lại đang “chung vai sát cánh” với họ xây dựng Nước TC, theo một cách thức không giống như các ngài. Thế thôi. Bài học này vẫn mãi chưa thuộc đối với những môn đệ của Chúa, kể cả ngày hôm nay, vì lẽ vẫn còn đó khuynh hướng giáo sĩ hay giáo dân.Ta quá quen với não trạng “hoặc… hoặc” hơn là “và… và”. Cv 9:26-31 đã cho thấy những phản ứng của GH sơ khai với Phaolô. Và chỉ khi nhận ra được ơn lành Chúa ban cho Phaolô vì phần ích của toàn thể, GH mới có thể tăng trưởng phong phú (x. Cv 9: 1-19; 26). GH luôn học để trân trọng những đặc sủng Chúa ban cho từng chi thể cho phần ích của toàn thân mình (x. 1 Cr 13). Nếu cộng đoàn Kitô hữu sơ khai cứ tiếp tục tẩy chay Phaolô viện cớ ông đã từng bách hại các Kitô hữu thì liệu GH có thể như ngày hôm nay không. Hoa trái của một Giáo hội hiệp nhất từ sự hiệp nhất của Ba Ngôi chỉ có thể minh chứng bằng sự hiệp hành mà thôi. Không một thời nào mà GH lại không phải trở lại với Chúa dưới góc cạnh hiệp hành này.
- Chính Phêrô và GH tại Giêrusalem cũng phải kinh qua một cuộc hoán cải trong biến cố Corneliô và những người trở lại để tỏ lộ một Giáo hội hiệp hành. Tài liệu chuẩn bị nói đến một sự hoán cải lưỡng diện.[44]Đấu tranh của Phêrô là đây: ông có thể “từ khước chính điều Chúa muốn vì điều đó phá bỏ những điều luật của Torah.”[45]Nhưng, từng bước ông ngộ ra rằng “không có người nào là bất xứng dưới mắt TC và sự khác biệt do dược tuyển chọn không hàm ý một sự ưu tiên mang tính loại trừ, nhưng là việc phục vụ và trở nên chứng tá ở tầm mức toàn thế giới”.[46] Và khi đó họ kéo theo cả một cộng đoàn hoán cải, nghĩa là, thật sự lắng nghe và vâng phục tác động của Thánh Thần.[47]
- Đang khi đó, các cộng đoàn của Phaolô thiết lập cũng trải qua thách đố về một Giáo hội hiệp hành, song dưới khía cạnh khác. Khi các tín hữu Corintô tục hoá “bữa tiệc của Chúa”, tính hiệp hành trong GH ấy cũng bị đặt thành vấn đề: chia rẽ, bè phái, luân lý, tôn sùng những đặc sủng “lạ thường”… bởi lẽsynaxis, cộng đoàn, Thánh Thể là nguồn mạch và tột đỉnh của mầu nhiệm và sứ mệnh GH”.[48]Tính đồng nghị của GH đặt nền trên “một đức tin, một phép rửa, một niềm hy vọng, một TC là Cha của mọi người và ở trong mọi người.” Sự thánh thiện của GH luôn mang tính công giáo, duy nhất, tông truyền.[49]
- Trở về nguồn, Vatican II khẳng định không thể sai lầm: GH/cộng đoàn môn đệ Đức Kitô khai sinh từ sự hiệp nhất của Cha, Con và Thánh Thần và cũng chính từ sự hiệp nhất đó, GH thi hành sứ vụ một cách can đảm và kiên trì.
III. GH HIỆP HÀNH NGÀY NAY: MODUS VIVENDI VÀ MODUS OPERANDI
- Duyệt lại lịch sử công đồng Vatican II, chúng ta không thể không thấy bàn tay Thánh Thần dẫn dắt. Thuở ban đầu, hạn từ Giáo hội (Ekklesia) vàSynodoslà đồng nghĩa. Cũng vậy, hạn từ Công đồng (Concilium) trong GH sơ khai cũng tương đồng với hạn từ Synodos/cùng một hành trình/cùng một ĐƯỜNG LÀ CHÍNH ĐỨC GIÊSU; tất cả đều muốn nhấn mạnh cho chúng ta sự bình đẳng và đồng trách nhiệm với những đặc tính cốt yếu của một tín hữu như Dân Thiên Chúa phải đi trước những khác biệt, những đa dạng vốn thuộc về phần cách thức thực thi chức năng nhiều hơn mà thôi.[50] Lãng quên góc cạnh này, GH sẽ bị trình bày như một thực tại cứng nhắc và đóng kín. Chỉ cần nhìn qua công thức đi đến quyết định của GH sơ khai: “Thánh Thần và chúng tôi quyết định (x. Cv 15:28) là đủ cho chúng ta thấy tính cách “hiệp nhất, một lòng một trí của GH sơ khai” (x. Cv 2:42tt; 4: 32tt). Nhưng rồi lúc nào đó, công thức đó đã biến mất trong lịch sử để thay vào những công thức mang nhiều tính chất độc quyền hơn, phản ánh một GH như thể chia tách giáo sĩ và giáo dân. Những yếu tố chung và quan trọng nhất giữa toàn thể môn đệ đã bị quên lãng. Vatican 2 đã làm sống lại điều này trong công thức phê chuẩn các văn kiện: “Từng điều và tất cả những điều được đặt ra trong Hiến chế tín lý này đã được các Nghị phụ Đáng kính phê chúng. Và Chúng tôi, với quyền năng tông truyền được ban cho chúng tôi bởi Đức Kitô, cùng với các Nghị Phu Đáng kính trong Thánh Thần, phê chuẩn, tuyên bố và thiết lập nó và truyền rằng điều đã được quyết định trong Công đồng phải được công bố vì vinh quang Thiên Chúa.” Ban hành ở Roma tại Đền Thánh Phêrô ngày 21 tháng Mười Một năm 1964. Rất gần với công thức trong công vụ Tông đồ 15:28; Vatican II mời gọi dựng xây một Giáo hội “cùng nhau làm việc/sống/phụng thờ” TC, mặc dù từ ngữ hiệp hành chưa có lúc đó. Tuy nhiên, ta phải ghi nhớ thật kỹ rằng: Vatican II khởi sự bằng cuộc lắng nghe lưỡng diện: lắng nghe TC và lắng nghe con người. Mà đây chính là khởi điểm không thể thiếu được của một GH hiệp hành, như các văn kiện nền tảng cho thấy.
- Vatican II canh tân lại nơi chúng ta một sự thật này: Đồng cảm với GH,sentire cum Ecclesia, khai sinh ra tính hiệp hành. Công đồng thúc đẩy từ vị mục tử đến các tín hữu rốt hết đều phải nhạy cảm trước gia sản đức tin, căn tính cao cả của mình. “Tin GH thánh thiện, công giáo, duy nhất và tông truyền thì không thể tách biệt với đức tin vào TC, Cha, Con và Thánh Thần.”[51]Từ ban đầu, Giáo hội là “cùng nhau bước đi” (synodos), là Dân lữ hành. Giáo hội chỉ làm chính mình khi trở lại với cội nguồn Qahal Giavê của mình ở núi Sinai, trở lại với mình tại phòng Tiệc Ly ngày lễ Ngũ Tuần. Nơi đó rõ ràng bộc lộ tính hiệp hành, trong mọi khía cạnh: phụng vụ, làm chứng, phục vụ và hiệp thông. Chính vì thế, sự tham gia của mọi phần tử trong Giáo hội là sự tham gia của từng chi thể vào trong sự thiện hảo của toàn thân mình; điều ấy bộc lộ sự đa dạng nhưng lại trong hiệp nhất, vốn là đích điểm và là lẽ sống của tính đa dạng.
- Công thức “hiệp nhất trong đa dạng” đâu phải là một kiểu nói văn chương bay bướm. Nó gói trọn cả một hành trình hoán cải của các nghị phụ dưới nhãn quan Giáo hội học. Các ngài xác tín những gì cốt lõi của cộng đoàn môn đệ Đức Kitô. Các nghị phụ đều làm chứng về một cuộc thay đổi não trạng/hoán cải về Giáo hội. Chính lịch sử tạo thành tám chương của LG đã cho thấy Dân TC đóng vai trò như thế nào trong sự canh tân Giáo hội. Từ đó nhìn về phẩm trật dưới diện bí tích và tập thể (nhóm) hơn là quyền bính. Nhưng toàn GH lại đến với THẾ GIỚI, không phải như một ông hoàng của thời Đế chế Kitô giáo, cho bằng như một tôi tớ trong GS. Thật là cuộc chuyển mình vĩ đại: chuyển từ tính cách GH tự đủ/xã hội hoàn hảo sang tính cách GH phục vụ Vương Quốc gồm những con người nghèo khổ của Thiên Chúa.[52]Toàn GH muốn cởi bỏ chiếc áo hoàng vương mình đã mặc từ thời Constantin để mặc trở lại chiếc áo chân thật của mình[53]: người tôi tớ rửa chân cho mọi người.[54]Thật sự, Vatican II hiểu sâu xa về Đức Giêsu: “Đức Giêsu là đường từ TC đến con người và từ con người đến TC”.[55] “Con người là con đường mà GH phải đi để gặp Đức Giêsu”.[56] Chính vì thế, “những nỗi buồn, âu lo, xao xuyến của dân chúng” quyết định nghị sự làm việc của GH chứ không phải một nghị sự làm sẵn. Công đồng dám khiêm tốn nhận rằng không phải lúc nào cũng có những câu trả lời sẵn.[57] Thật vậy, “tính hiệp hành là hình thức lịch sử của GH đang hành trình trong hiệp thông hướng về chốn yên nghỉ chung cục.”[58] Hành trình tìm gặp GH hiệp hành dẫu còn xa, song đã được bắt đầu, đang bắt đầu chinh phục. GH ấy mới cho phép những chiều kích “ba ngôi, nhân học, Kitô học, thần khí học và Thánh Thể” được lộ rõ.[59]
- GH học hậu công đồng đong đưa liên tục giữa một Giáo hội được nhấn mạnh đến tính chất bình đẳng theo nghĩa dân chủ sang một tính chất bình đẳng theo Ý Thiên Chúa. Đức Bênêđictô XVI trongDeus Caritas Estđã khẳng định một Giáo hội không đi vào chính trị đảng phái, dù không thể đánh mất hay nhường quyền phụng sự những người nghèo khổ luôn dẫy tràn trong thế giới. Nhiều hạn từ như ‘Giáo hội hiệp thông’, ‘GH cộng đoàn của những cộng đoàn’, ‘sự hiệp thông của các cộng đoàn’, diễn đạt cùng một ý nghĩa: “cùng nắm tay nhau mà đi tới đích”. Nghĩa là, tâm điểm của GH là ở bên ngoài kia, như Đức Phanxicô quả quyết trong Evangelii Gaudium. Tâm điểm của Giáo hội ở bên ngoài, đó không phải là một lối nói văn vẻ vang to như tiếng thanh la não bạt. Diễn ngữ đó đi liền với một nỗ lực phân định trong hoán cải tiếng TC xuyên qua những biến động trong lịch sử, giữa những con người. Thế giới, hay nói đúng hơn, những nhu cầu của những dân chúng thiết thực trở thành LỜI của Thiên Chúa mà GH không thể thất bại để nhận ra khi được bổ sức bởi Lời và Mình Máu Đức Kitô. Quả là không dễ chút nào, khi mà TC không bao giờ hiện ra để chỉ cho biết đâu là đường phải đi, nhưng lại dẫn lối Giáo hội theo những dấu chỉ thời đại, vốn làm mồi cho muôn vàn lối phân định, giải thích. Từng bước Giáo hội tìm gặp lại được một Giáo hội của người nghèo, từ người nghèo, với người nghèo và cho người nghèo. Một cách nào đó, người nghèo và những thực tại của họ là thứ thông diễn học của GH; một cách nào đó, người nghèo cứu GH vậy.[60]
- Vì từ đó, GH tìm gặp lại một lối đường truyền giáo mạnh mẽ không chỉ được hiểu theo nghĩa địa lý, nhưng cả theo nghĩa văn hóa, tôn giáo và thiêng liêng. Chắc chắn sứ mệnhAd Gentesvẫn còn đầy đủ tính chất hiện thực, song phải được bổ sung bởi sứ mệnh Inter Gentes, giữa muôn dân. Từ đó, đào tạo trong GH hiệp hành không thể chỉ là đào tạo đến với muôn dân mà chính yếu đào tạo giữa muôn dân. Chính giữa dân chúng, thậm chí giữa thế giới đang thù nghịch, Đức Giêsu đã huấn luyện đào tạo các tông đồ và môn đệ của mình. Chính những ngày ở trong đó, họ đã cảm nhận được niềm vui về TC chinh phục con người để rồi Đức Giêsu hân hoan tạ ơn Cha của Ngài cho họ, cùng với họ, và ở giữa họ. Như Đức Phanxicô chỉ dạy, GH từng bước xây dựng những cây cầu hơn là những rào cản, bức tường biên giới; điều ấy mới giúp GH tìm gặp lại sự đa dạng trong sứ mệnh theo những đặc sủng mà Thánh Thần ban tặng cho từng chi thể vì thiện ích của toàn thân mình. GH tìm gặp lại truyền giáo dưới diện hội nhập văn hóa, hội nhập tình thương tha thứ, với khuôn mẫu nhập thể, phục sinh và thánh thần.[61]
- Trước nhu cầu đa dạng của con người, những con người nghèo khổ vì “vắng bóng” TC, vì “khử loại” Ngài, vì “dửng dưng với Ngài, vì lối vô thần thực tiễn, Giáo hội, nếu trung thành với Vương quốc TC vốn rộng mở cho mọi người[62]chẳng thể tiến bước một mình theo diện chủ nghĩa giáo sĩ hay chủ nghĩa trần tục (giáo dân, laicism). Cả hai đều sai lạc diện mạo chân thật của Giáo hội.
- Canh tân cảm thức đức tin cho Giáo hội thấy rõ sứ mệnh của mình, bắt nguồn và quy chiếu tới Đức Giêsu, thì duy nhất và toàn diện. Sứ mệnh này không được trao cho một thành phần nào và càng hơn nữa không cho một người nào. Nó đòi buộc phải liên đới cộng tác. Ai tự hào đáp ứng đầy đủ các nhu cầu của con người?
- GH cùng tiến bước về Thành đô Thiên Chúa. GH mang tính cánh chung. Nói gọn gàng hơn GH có một mục đích. Chân lý này hàm ý cách thức tiến bước (modus procendi) và cách thức sống (modus vivendi). Trong triết học, cái mục đích,telos, dù chưa được hiện thực tròn đầy, song lại là điều hướng dẫn toàn bộ bước đi, toàn bộ quyết định. Mỗi bước đặt chân phải được đặt để hướng về đích tới đó. Bằng không, đổ nát sẽ tới vì chiếc xe trệch đường rầy!!! Các chương trình, các định hướng của các cộng đoàn giáo hội, dù là giáo xứ, hiệp hội, gia đình…, nếu muốn trung thành là GH của Đức Kitô, buộc phải đặt đích điểm tối hậu ấy, Nước TC, thành rõ ràng, mỗi ngày một hơn. “Tính hiệp nhất của cộng đoàn ấy thì không thật sự mà không có cáitelos (đích tới) bên trong này vốn hướng dẫn nó suốt lối đường thời gian hướng tới mục đích cánh chung của nó.”[63] GH không phải là cộng đoàn đập phá rồi lại xây dựng từ đầu. Không. GH là cộng đoàn của những người môn đệ Đức Kitô cùng nhau hiện thực những lời hứa của TC cho nhân loại. Nếu TC luôn trung thành trong dự định, kế hoạch, lời hứa của Ngài cho con người vì chính Ngài, thì GH như ân sủng được lãnh nhận buộc phải cam kết để làm cho những dự định, kế hoạch đầy yêu thương và nhân hậu đó, thành rõ nét ngày một hơn, trong từng quyết định của mình. Như vậy, tính hiệp hành không chỉ là dạng thức tiến hành, modus procendi và dạng thức sống, modus vivendi, song cũng là dạng thức đào tạo, modus formandi.[64] Đó là cách thức huấn luyện, đào tạo những môn đệ Đức Kitô. Nếu chúng ta muốn có những người môn đệ Đức Kitô cho thế hệ đang tới, chúng ta phải đi vào con đường này mà thôi. Chẳng lạ gì Giáo hội đòi buộc phải có sự hiện diện của anh chị em giáo dân trong việc huấn luyện chủng sinh.
- Điều trên đưa tới một yêu cầu không thể thiếu: phải biến đổi cơ cấu, điều bó buộc nảy sinh từ sự hoán cải về giáo hội.[65]Ta không thể cứ mãi tiếp tục đi theo luận lý “chúng tôi đã từng làm như thế mà,” khi xã hội không ngừng biến đổi. Giáo hội không phục vụ một cơ cấu, một tập tục; chúng ta phục vụ những con người trong thời gian hiện sinh và lịch sử của họ. Chúng ta phục vụ những con người đang khao khát về bên Chúa mãi mãi và chỉ yên nghỉ khi gặp được TC mà thôi. Chúng ta hãy thanh thản để cho sự kiện này chất vấn chúng ta: làm sao chúng ta nói được là một giáo xứ trẻ trung mà không hề thấy có những người trẻ tham gia, cũng như họ không hề trải nghiệm thực sự rằng họ đóng vai chính trong việc xây dựng giáo xứ đó.
- CÙNG NHAU BIẾN GIÁO HỘI HIỆP HÀNH THÀNH HIỆN THỰC NGAY TRONG GIÁO XỨ HÔM NAY
- UBTHQT cho rằng GH hiệp hành khẳng định việc đối mới giáo xứ hàm ẩn một khoa linh đạo GH được gọi là “hoán cải liên tục”. Hoán cải đó mang tính “mục vụ và truyền giáo” song lại phải liên hệ đến canh tân não trạng thái độ, thực hành và cơ cấu”.[66]Linh đạo đó tôn trọng chỗ đứng của từng thành phần; nó “không giáo sĩ hoá giáo dân cũng chẳng giáo dân hoá giáo sĩ.”[67]Trái lại, trong khác biệt, chúng ta cùng hiệp nhất tiến trên Con Đường Đức Giêsu.
- Như vậy giáo xứ không chỉ làm việc truyền giáo, song là truyền giáo tận cơ bản.[68]Có thể nói bút thử của giáo xứ chân chính là đây: GH loan báo tin mừng, GH cử hành các bí tích, GH thực thi việc bác ái trong thực tại nhân sinh cụ thể và biệt loại, tất cả đều phải nhuần thấm tính truyền giáo. Chủ thể truyền giáo chính là toàn thể giáo hội/giáo xứ, Dân TC. Ngay cả trẻ em cũng là tác nhân chính của truyền giáo.[69]
- Huấn luyện và hoán cải. Chúng ta ghi nhận điều này: anh chị em tín hữu rất thiết tha được huấn luyện để sống đức tin, cậy, mến cách tích cực giữa thế giới: “không hoán cải lòng trí, không có huấn luyện có kỷ luật để đón chào và lắng nghe lẫn nhau, những dụng cụ hiệp thông bề ngoài không hữu ích gì. Trái lại, chúng có thể chỉ biến thành những mặt nạ không hồn, không diện mạo.”[70]
- Chỗ đứng của hội đồng mục vụ giáo xứ: Không phải muốn có hay không có cũng được. Đức Phanxicô nói: “Hội đồng mục vụ cần biết bao! Một Giám mục không thể hướng dẫn địa phận mà không có các hội đồng mục vụ. Một cha xứ không thể hướng dẫn mà không có hội đồng mục vụ.”[71]Chỗ khác, “ý nghĩa/tầm quan trọng thần học hội đồng mục vụ được khắc sâu vào thực tại cấu thành nên Giáo hội, nghĩa là vào chính việc GH là Thân mình Đức Kitô”, vốn sinh ra một “linh đạo hiệp thông”.[72] Vì thế, “không chút chỉ là một cơ quan bàn giấy, hội đồng mục vụ nêu bật và hiện thực vai trò trung tâm của Dân Thiên Chúa như là chủ thể và người vai chính tích cực của sứ mệnh loan báo Tin mừng.”[73] Nếu vậy, cơ cấu hội đồng mục vụ cần một sự hoán cải: mục đích của hội đồng ấy “không phải là một tổ chức mang tính giáo sĩ nhưng đúng hơn là một sự khởi hứng truyền giáo lan truyền đến mọi người.”[74] “Nhất thiết hội đồng mục vụ biểu thị hiệu quả cộng đoàn mà nó là một diễn đạt trong những thành phần của nó (linh mục, phó tế, tu sĩ, giáo dân).[75]
- Trước tiên, ta phải xác định, một GH hiệp thông/tham gia vượt xa sự kiện làm một việc nào đó. Việc quét nhà, tưới cây…. nhà xứ, nhà thờ không bày tỏ một GH tham gia đâu. Có một cái gì hơn nữa ở đây. Huấn quyền Giáo hội nói đến một sự tham gia vào tiến trình cùng hoạch định, cùng lấy những quyết định và rồi cùng nhau thực hiện, mỗi người mỗi vẻ, theo chỗ đứng của mình. Chắc chắn GH hiệp hành chẳng hề cổ xuý kiểu tập thể lãnh đạo và cào bằng mọi người. Đồng trách nhiệm hay chia sẻ trách nhiệm không phải là một tiến trình làm cho cộng đoàn thành vô trật tự, không có đầu. Kiểu lãnh đạo “cá đối bằng đầu” không bao giờ là đúng. Vai trò lãnh đạo, phối kiểm, lấy quyết định sau cùng vẫn dành cho vị chủ chăn của cộng đoàn. Tuy nhiên, chẳng thể bộc lộ được một Giáo hội/giáo xứ tham gia mà không có phương cách để mọi người tham dự vào tiến trình phân định, lắng nghe, lập kế hoạch và quyết định. Như ta đã nói trên kia, hiệp hành cũng là cách thức tiến hành, chứ không chỉ cách sống trong Giáo hội. Như vậy, bước đầu tiên đòi buộc phải làm sao để cảm thức về sự tham gia, về chia sẻ trách nhiệm về đồng trách nhiệm được lớn lên.
- Các công ty phát triển khi mọi người cùng chung hiện thực một kế hoạch. Chính ở đó sự tham gia đồng trách nhiệm của mọi người thành khả giác và khả tín. Cũng vậy trong giáo xứ. Kế hoạch mục vụ của hội đồng mục vụ giáo xứ được cùng nhau phác thảo và đồng thuận. Nó diễn tả việc cùng nhau phân định tiếng gọi của Thiên Chúa, và chắc chắn người mục tử luôn nói tiếng cuối cùng. Như vậy, cùng nhau tiến bước không thể là một sự kéo lê. Tất cả mọi người đều đồng tâm nhất trí hướng về nơi TC đang chờ đợi mình.
- Giáo xứ là “nhà của các nhà”, đáp lại “một nhu cầu mục vụ xác đáng, tức là nhu cầu mang Tin mừng cho Dân qua việc công bố đức tin và cử hành các bí tích.”[76]“Giáo xứ khích lệ và huấn luyện các phần tử của mình thành những người loan báo Tin mừng.” Từ phía chúng ta, những nhà lãnh đạo, nó đòi hỏi một phong thái lãnh đạo mới theo như Đức Kitô mong muốn: phong thái lãnh đạo-người tôi tớ. Chúng ta phục vụ để nối kết mọi người cho Nước TC. Không hề có một thứ “tập thể lãnh đạo”. Hội đồng mục vụ có đặc tính tham khảo (consultative), chứ không phải tuỳ thích của cha xứ.
KẾT LUẬN
Tất cả chúng ta, giáo sĩ và giáo dân, đều yêu mến Giáo hội. Chúng ta đều quan tâm đến công việc của Thiên Chúa. Đó là lẽ sống của chúng ta. Chúng ta có được mẫu số chung quan trọng nhất.
Giờ đây, chúng ta cùng làm cho nó thành hiện thực. “Nhất thiết phải tìm ra những hình thức đồng hành và gần gũi mới. Trách vụ loại này không được coi là một gánh nặng, nhưng đúng hơn là một thách đố ta phải nhiệt tâm ôm ấp.”[77] Bằng cách đó, Chúa giải phóng chúng ta khỏi sự ỳ trệ thiêng liêng và mục vụ vốn tìm kiếm sự ổn định, sự thoải mái của riêng mình. Không. Chúng ta không được dựng lên và được chọn cho điều đó. TC chọn để chúng ta bộc lộ hình ảnh Con Ngài: hiến thân và chết cho Giáo hội.
Như vậy, cần lắm một khóe nhìn chân thật về Giáo hội như bí tích xuất phát từ TC, tức là, khí cụ và phương thế của Nước Thiên Chúa để nảy sinh ra không phải một vài hành động hay việc làm, nhưng là cả một định hướng sống và hành động. Thật cần để nghĩ suy và sống Giáo hội đúng là Dân Thiên Chúa ở đó mọi sự khác biệt và bổ sung đều đến từ căn tính chung của các Kitô hữu, những môn đệ của Đức Kitô. Căn tính đó đến từ cảm thức cùng thuộc về một Thân mình Đức Kitô mà ở nơi đó sự khác biệt trong chức năng là thiết yếu trong sự duy nhất của Thân mình. Hơn nữa, nó cũng đến từ một cảm thức mạnh mẽ về sứ mệnh TC ký thác cho Giáo hội. Sứ mệnh đó thật đa diện để phục vụ nhân vị toàn diện trong một thế giới liên tục đổi thay đến chóng mặt dưới khía cạnh khoa học, kỹ thuật, văn hóa, kinh tế, v.v. Vẻ đẹp không cưỡng lại được của Tin mừng được sống trong Giáo hội hiệp hành là đây.
Nguồn: tgpsaigon.net (15.12.2021)
(Xem: Tư liệu về Thượng Hội đồng Giám mục 16)
[1] x. Tài liệu chuẩn bị, 1.
[2] x. Cẩm nang cho Thượng hội đồng giám mục về tính hiệp hành (từ đây: Cẩm nang), Lời nguyện Adsumus Sancte Spiritus.
[3] x. Cẩm nang, 1.2
[4] x. Lễ Thánh Thần Hiện xuống.
[5] x. FABC/TAC, Những Luận đề về GH địa phương: một suy tư thần học trong bối cảnh Á châu, FABC Papers 60
[6] Đông phương gọi là sobornost.
[7] x. LG 22; CD 4, 6.
[8] x. GS 5-10.
[9] x. GS 19-21; cũng x. Đức Phanxicô, EG 24, 48.
[10] x. Thư chung các Giám mục Đông Dương 1951; Thư chung các Giám mục VN 1952; Thư chung của các Giám mục miền Nam 1963.
[11] x. Thư chung 1980.
[12] x. Thư gởi Đại hội Dân Chúa 2010.
[13] số 1; x. Tài liệu làm việc 1; Cẩm nang 1.2.
[14] số 5-6.
[15] Huấn thị số 6; cũng x. EG 15, 28.
[16] x. GS 5; EG 43, 52.
[17] x. Huấn thị 8-15.
[18] Nguyên văn bài viết mang tựa đề: Gesellschaft im Ubergang – Theologie im Wandel. Theologische Positionen im Streit um die Moderne, đăng trong tạp chí Theologie der Gegenwart 32(1989) 83-94. Dịch giả: Vũ Kim Chính. Truy cập từ https://sjjs.edu.vn/xa-hoi-bien-doi-than-hoc-chuyen-minh-nhung-lap-truong-than-hoc-trong-cuoc-tranh-chap-ve-hien-dai/
[19] UBTHQT, Tính hiệp hành, số 9.
[20] UBTHQT, Tính hiệp hành, số 104; cũng x. EG 25, 27, 30, 33.
[21] UBTHQT, Tính hiệp hành, số 107 (Nhấn mạnh là do tôi); cũng x. GS 32.
[22] x. EG 43, 262. 264.
[23] x. Đại hội Dân Chúa.
[24] x. UBTHQT, Tính hiệp hành, chương 2: 42-70.
[25] X. EG 25,43, 50-100.
[26] UBTHQT, Tính hiệp hành, số 107.
[27] x. LG 13; GS 57-58; GS 72, 76, 88, 89.
[28] x. GS 36-37.
[29] x. GS 25-29.
[30] x. Tài liệu chuẩn bị, phần II.
[31] x. Gioan Phaolô II, RM 26; CL 9, 18-20; Synod 1985; Ratzinger, “The Ecclesiology Of The Constitution On The Church, Vatican II, ‘Lumen Gentium’, L’Osservatore Romano, 19 September 2001, page 5; Bộ Giáo lý Đức tin, Lá thư gởi các Giám mục về GH như Sự hiệp thông.
[32] x. UBTHQT, chương 2.
[33] UBTHQT, số 104.
[34] UBTHQT, số 73
[35] Đức Phanxicô: Diễn từ cho các Salêdiêng trong Tổng Tu Nghị 28.
[36] Huấn thị số 19.
[37] x. GS 33.
[38] x. Huấn thị 16.
[39] X. EG 197-201.
[40] EG 49.
[41] Tài liệu chuẩn bị 10.
[42] x. Tài liệu chuẩn bị số 17; 18.
[43] X. Đức Bênêđictô XVI, DCE 25, 21-24.
[44] (x. số 22).
[45] (số 22)
[46] (số 23)
[47] (x. số 2).
[48] (số 6).
[49] x. UBTHQT số 11-23; Gioan Phaolô II, Ecclesia de Eucharistia.
[50] x. Tài liệu chuẩn bị 10; UBTHQT, Tính hiệp hành.
[51] UBTHQT số 44.
[52] x. LG 8.
[53] x. Gioan XXIII, Diễn từ khai mạc công đồng
[54] x. Bênêđictô XVI, bài giảng lễ Thứ Năm Tuần Thánh, 20 tháng Ba 2008
[55] UBTHQT số 49.
[56] RH 14.
[57] x. GS 39.
[58] UBTHQT số 50.
[59] UBTHQT số 48.
[60] x. EG 197-215.
[61] x. FABC papers 66.
[62] X. Lời nguyện cho muôn dân vào thứ sáu Tuần Thánh.
[63] UBTHQT số 109.e.
[64] x. Tài liệu chuẩn bị 9, 14.
[65] x. số 35; Tài liệu chuẩn bị, phần IV.
[66] UBTHQT số 104.
[67] UBTHQT số 104.
[68] x. Đức Phanxicô, EG 26, 27, 28, 40, 119; Tài liệu chuẩn bị 3.1; UBTHQT 83-84; Thư gởi hậu Đại hội Dân Chúa 2011.
[69] x. AA 12; thiếu nhi được đề cập đến ở đây, trong một đoạn rất ngắn, nhưng lại không được nói đến trong sắc lệnh về truyền giáo, Ad Gentes.
[70] UBTHQT số 107.
[71] UBTHQT số 108.
[72] UBTHQT số 109.
[73] UBTHQT số 110.
[74] UBTHQT số 110.
[75] UBTHQT số 112
[76] (số 7).
[77] Huấn thị số 14.
