2023
Lễ tấn phong Giám mục Giáo phận Nha Trang
Lễ tấn phong Giám mục Giáo phận Nha Trang
Sáng 27.6.2023, tại Ðại Chủng viện Sao Biển Nha Trang đã diễn ra thánh lễ tấn phong Giám mục cho Ðức cha Giuse Huỳnh Văn Sỹ. Thánh lễ tổ chức sau gần hai tháng, kể từ khi Tòa Thánh loan tin bổ nhiệm vào ngày 1.5.2023.
Sau hơn 11 tháng trống tòa, giáo phận Nha Trang đã chính thức có vị chủ chăn mới. Đức cha tân cử Giuse Huỳnh Văn Sỹ là vị Giám mục chánh tòa thứ 5 của giáo phận Nha Trang. Thánh lễ bắt đầu từ 5g sáng, khi trời còn tờ mờ nhưng có đông đảo tín hữu con dân giáo phận đã có mặt.
Thánh lễ có sự tham dự của gần như đầy đủ các Đức cha trong HĐGMVN đương nhiệm. Đức Tổng Giám mục Marek Zalewski, Đại diện Tòa Thánh không thường trú ở Việt Nam cũng đã hiện diện. Vị chủ phong là Đức Tổng Giám mục Huế Giuse Nguyễn Chí Linh. Hai vị phụ phong là Đức cha Matthêu Nguyễn Văn Khôi, Giám mục giáo phận Qui Nhơn và Đức cha Vinhsơn Nguyễn Văn Bản, Giám mục giáo phận Hải Phòng. Đức cha Matthêu Nguyễn Văn Khôi trong bài giảng lễ đã nhắc lại lịch sử hình thành giáo phận Nha Trang, giới thiệu về vị giám mục tân cử dù thuộc hàng giáo sĩ giáo phận Qui Nhơn, nhưng đã xuất thân từ Đại Chủng viện Sao Biển Nha Trang là nơi đào tạo linh mục cho ba giáo phận phận Nha Trang, Ban Mê Thuột và Qui Nhơn. Từ năm 2008, ngài từng là giáo sư giáo luật tại Đại chủng viện…, vì vậy, vị giám mục tân cử không xa lạ gì với giáo phận Nha Trang. Nhắc đến khẩu hiệu của Đức tân Giám mục Vâng lời Thầy, Con thả lưới – In Verbo Tuo, Laxabo Rete (Lc 5,5), Đức cha Khôi đã gợi lên mối quan tâm của vị tân giám mục về mục vụ truyền giáo nơi giáo phận Nha Trang nằm trên bờ biển miền Nam Trung Bộ, Đức cha mời gọi cộng đoàn giáo phận Nha Trang cùng cộng tác với vị tân chức : “… Nếu chức Giám mục là một đặc sủng Chúa ban cho Đức cha tân cử thì bản thân Đức cha cũng là một ân huệ mà Thiên Chúa ban cho giáo phận Nha Trang”.
Trước đó, ngày 26.6, tại Tòa Giám mục Nha Trang, Đức cha Giuse Huỳnh Văn Sỹ đã tuyên xưng đức tin và tuyên thệ trung thành với Giáo hội. Nghi thức này được cử hành trong giờ kinh chiều do Đức Tổng Giám mục Giuse Nguyễn Chí Linh chủ sự, trước sự chứng kiến của Đức Tổng Giám mục Marek Zaleski, một số Giám mục trong HĐGMVN và linh mục, tu sĩ cùng giáo dân giáo phận Nha Trang.
Hiện nay giáo phận Nha Trang có 10 giáo hạt, 116 giáo xứ, 4 dòng tu nam, cùng 1 đan viện và 2 tu hội nam, 15 dòng tu nữ cùng 1 đan viện và 3 tu hội nữ. Giáo phận có 260 linh mục triều, 75 linh mục dòng, và hơn 230.000 giáo dân.
Minh Hải
2023
Tính lai ghép – Một cách nhận thức và mô tả hội họa Việt Nam
Tính lai ghép – Một cách nhận thức và mô tả hội họa Việt Nam
TÍNH LAI GHÉP –
MỘT CÁCH NHẬN THỨC VÀ MÔ TẢ HỘI HỌA VIỆT NAM
Lm. Phạm Trung, S.J (Seattle University)
– Linh mục Phạm Hoàng Trung là một tu sĩ Dòng Tên (tỉnh dòng Miền Tây, California và Oregon, Hoa Kỳ), đồng thời là họa sĩ, thạc sĩ mỹ thuật (MFA) – giảng viên Khoa nghệ thuật Trường Đại học Seattle University, Tiểu bang Washington, Hoa Kỳ.
Bài viết “tính lai ghép – một cách nhận thức và mô tả hội họa Việt Nam” được linh mục Phạm Hoàng Trung soạn bằng tiếng Anh, nhân chuyến về thăm, triển lãm một số tranh- tượng, và gặp gỡ giới họa sĩ Công giáo Việt Nam tại hai cuộc triển lãm diễn ra trên địa bàn TGP. Tp.HCM: Triển lãm tranh “Loan báo Tin mừng yêu thương” tại Tu viện Đa Minh Mai Khôi (5-12.8.2014) và triển lãm chum chóe cổ & triển lãm mỹ thuật “lời ru” tại Nhà truyền thống TGP. Tp.HCM (từ ngày 16/8 đến 15.10.2014).
Bản tiếng Việt dưới đây do Thành Thi chuyển ngữ. (Ban biên tập Hiệp Thông)
| DẪN NHẬP
1. NGHỆ THUẬT HỘI HỌA VIỆT NAM 3. KHÁI NIỆM TÍNH LAI GHÉP, MỘT CÁCH NHẬN THỨC VÀ MÔ TẢ HỘI HỌA VIỆT NAM |
DẪN NHẬP
Mục đích của bài nghiên cứu này là giới thiệu mảng sáng tác về đề tài tôn giáo của các nghệ sĩ Việt Nam trong thế kỷ XX và từ những tác phẩm hội họa này, lý giải cách thức Kitô giáo đưa giáo huấn thần học đi vào và hội nhập văn hóa Việt Nam.
Bài viết này gồm ba phần, trình bày sự phong phú và những ý nghĩa thần học của nghệ thuật Việt Nam về đề tài Đức Mẹ. Phần thứ nhất, điểm qua một cách ngắn gọn tình hình lịch sử nghệ thuật Việt Nam đã được Nora Taylor mô tả về phương diện dân tộc học. Nỗ lực này nhằm khơi lên ý thức về nghệ thuật Việt Nam và đặt nó vào bản đồ mỹ học Đông Nam Á. Phần thứ hai cố gắng đưa ra câu trả lời vì sao phần lớn các tranh trong bộ sưu tập đều vẽ Đức Mẹ và Chúa Hài Nhi. Sự phát hiện này đặt người nghiên cứu phải tiếp cận tìm hiểu về đạo Mẫu trong tín ngưỡng dân gian. Phần thứ ba, từ bối cảnh đa dạng và phức tạp của văn hóa Việt Nam, thử đưa ra khái niệm lai ghép (hybridity) như một cách nhận thức và mô tả đối với hội họa Việt Nam.
1. NGHỆ THUẬT HỘI HỌA VIỆT NAM
Sự quan tâm đến hội họa Việt Nam trên thị trường tranh tại châu Á bắt đầu từ năm 1990 và hiện vẫn đang tăng lên. Sự bùng nổ này là kết quả của cuộc cải cách kinh tế vào năm 1986, được gọi là cuộc “đổi mới”, được dịch sang tiếng Anh là “new change”. Đảng Cộng sản, sau 15 năm nắm quyền lãnh đạo trên toàn lãnh thổ Việt Nam, đã chấp nhận nền kinh tế thị trường mở cửa, chào đón sự đầu tư của nước ngoài và thành lập các doanh nghiệp tư nhân, trái với tập thể hóa và sở hữu nhà nước trong các ngành công nghiệp và sản xuất hàng hóa[1]. Cuộc cải cách kinh tế đã thu hút ngành du lịch và đầu tư nước ngoài, nhờ đó, đã thúc đẩy tăng trưởng thị trường tranh Việt Nam. Quốc tế đã đầu tư ồ ạt vào nền nghệ thuật hội họa Việt Nam.
Sự bùng nổ của thị trường tranh Việt Nam cũng đã lôi cuốn giới học giả viết về mỹ thuật Việt Nam. Nora Taylor là người đi đầu trong công việc này, tuy nhiên, việc nghiên cứu cũng đã diễn ra hết sức khó khăn vì thiếu tài liệu, không nhận được sự quan tâm từ cộng đồng các nghệ sĩ Việt Nam cũng như giới học giả nước ngoài và không có ngân sách hỗ trợ. Với nỗ lực đưa nền nghệ thuật Việt Nam vượt khỏi phạm vi quốc gia, được biết đến và lưu tâm về phương diện học thuật, Taylor sử dụng cách tiếp cận theo phương pháp mô tả dân tộc học để theo đuổi việc nghiên cứu của mình, bằng cách trao đổi với các họa sĩ, xem tranh và chụp hình các họa phẩm tại xưởng vẽ của các họa sĩ, tại các viện bảo tàng và tại tư gia của các nhà sưu tập tranh. Nỗ lực của bà nhằm hai điều: đặt hội họa Việt Nam vào bản đồ Đông Nam Á, nhằm xóa bỏ tình trạng Việt Nam bị gạt ra ngoài lề lịch sử nghệ thuật châu Á; thứ hai, khắc phục tình trạng khái quát hóa chung chung về khung cảnh nghệ thuật, coi đây là vấn đề “toàn cầu hóa” hoặc “hậu dân tộc chủ nghĩa” và khuyến khích loại nghệ thuật hậu thuộc địa vốn xu thế chung không còn ủng hộ.
Nhằm mang lại sự chú ý đối với nghệ thuật tôn giáo Việt Nam trong bối cảnh hình thành nền nghệ thuật đương đại Việt Nam, tôi muốn tập trung vào mảng sáng tác chưa được phương Tây lưu tâm và đề cập. Việc sưu tập tranh này là một cố gắng của cha Trần Thái Hiệp, người đã có dự định sưu tập tranh tôn giáo cho Giáo Hội. Những tác phẩm hội họa này được sáng tác trong giai đoạn 1970-1990. Chúng gồm nhiều khổ khác nhau và được vẽ bằng màu nước thực hiện trên lụa, sơn mài, do các họa sĩ nổi tiếng, trong số đó có các họa sĩ bậc thầy như Nguyễn Gia Trí, Lê Văn Đệ… Hiện những họa phẩm này được lưu giữ tại Nhà Truyền thống TGP. TPHCM.
Điều đáng nói là những bức tranh này chủ yếu thể hiện đề tài về Mẹ và Con. Đồng thời phần nhiều gần như được bố cục để diễn tả mối tương tác giữa Mẹ và Con. Đặc điểm hội họa trong nghệ thuật thánh của Việt Nam là chọn Đức Mẹ Việt Nam làm chủ đề chính và ít vẽ về Chúa đã phản ánh sâu sắc một đặc điểm văn hóa tinh thần của người Việt Nam. Để hiểu đặc điểm này, cần phải tiếp cận nền tảng văn hóa, tôn giáo của người Việt Nam.
2. TÔN GIÁO TẠI VIỆT NAM
Tục thờ thần Nữ
Văn hóa Việt Nam là văn hóa đa tôn giáo. Ba tôn giáo chính là Phật, Nho, Lão, gọi là Tam Giáo. Phật giáo là tôn giáo chính thời Lý-Trần, nhưng chỉ kéo dài trong bốn trăm năm[2]. Dưới thời Lê, Nho giáo là quốc giáo. Thiên Chúa giáo cũng đã là một hiện tượng vào thế kỷ XVI với việc sáng tạo chữ quốc ngữ. Tóm lại, tại Việt Nam, tôn giáo có nhiều ảnh hưởng và các tôn giáo đều được du nhập từ nước ngoài như Trung Hoa, Ấn Độ và châu Âu. Vậy trong văn hóa Việt Nam, tôn giáo nào là tôn giáo bản địa?
Người Việt có truyền thống thờ thần Nữ. Sự thực hành tôn giáo này là kết quả của lối sống nông nghiệp, động cơ chính của các hoạt động kinh tế. Việc thờ 75 nữ thần cùng các tín ngưỡng dân gian và truyền thuyết về nguồn gốc dân tộc Việt Nam đã tạo ra một hệ thống tôn giáo được gọi là tục thờ thần Mẫu tại Việt Nam[3]. Tục thờ này bắt nguồn từ tín ngưỡng cổ xưa đặt niềm tin vào các thần linh[4]. Tín ngưỡng đa thần duy linh này thờ các thần như mặt trời, mặt trăng, các hiện tượng thiên nhiên và nhiều thần khác được tôn thờ vì được coi là nguồn sống của trái đất. Các nữ thần này lấy sức nóng của mình sưởi ấm mặt đất ẩm ướt, chiếu sáng và mang lại sự sống cho Trái Đất. Hoạt động sản xuất nông nghiệp khiến người Việt đến với tục thờ cúng đất, nước, núi non, lúa gạo vốn mang tính nữ. Người mẹ vốn có thuộc tính che chở, sinh sôi, sáng tạo[5].
Các nữ thần này có đền thờ ở nhiều nơi và được vua ban sắc phong làm thần hoàng của nhiều làng; ví dụ bà liễu Hạnh là thành hoàng làng Phố Cát, Thanh Hóa, Hai Bà Trưng ở Mê Linh, Bà Đanh ở Nghệ An, Bà Đá ở Hải Hưng, Linh Sơn Mị Nương ở Bắc Ninh…[6]. Các nữ thần cũng là những vị tổ của các hoạt động thuộc nghề nông cổ truyền như gieo hạt, trồng tỉa, làm bánh.
Một trong những gương mặt quan trọng nhất là Mẹ Âu Cơ. Theo truyền thuyết, Âu Cơ sinh ra dân tộc Việt Nam. Người Việt hãnh diện nhận mình là con Rồng cháu Tiên – hậu duệ của rồng và nữ thần/bà chúa. Họ tin mình được sinh ra từ bào thai trong lòng Âu Cơ. Dù chỉ là một truyền thuyết, nhưng Âu Cơ là trở thành biểu tượng vị Thần Mẫu linh thiêng trong tâm khảm người Việt. Trong truyền thuyết này, bà là một người mẹ tuyệt vời không chỉ thể hiện một tình yêu vô bờ đối với con cái, mà còn dạy họ biết khai phá đất đai, phát triển các nghề, may quần áo che thân[7]. Người Việt đã nói lên niềm tin của mình qua việc dựng ngôi đền đầu tiên thở Mẹ Âu Cơ gần Sông Thao, một thành phố nhỏ ở miền Bắc Việt Nam[8].
Kitô giáo
Kitô giáo đến Việt Nam vào đầu thế kỷ XVI. Việc du nhập muộn này đã gặp mảnh đất tâm linh đã thấm sâu triết lý của các tôn giáo truyền thống bao gồm Phật, Lão Khổng đã có hằng ngàn năm. Việt thiết lập Kitô giáo tại Việt Nam đồng nghĩa với Giáo Hội cần đưa giáo thuyết và tư tưởng thích nghi với những tập quán bản địa. Tiến trình dưa sứ điệp Kitô giáo vào văn hóa Việt Nam phải đối mặt với nhiều cuộc xung đột về tư tưởng với ba tôn giáo lớn cũng như tập quán văn hóa của việc thờ cúng tổ tiên. Thách đố chủ yếu là sự khác biệt trong việc nhận biết Thiên Chúa. Đối với người Việt Nam, quan niệm về Thiên Chúa (Ông Trời) khá mơ hồ, khó xác định[9]. Thiên Chúa Ba Ngôi của Kitô giáo thì cụ thể và rõ ràng. Thiên Chúa của Kitô giáo là Đấng toàn năng, toàn trí, toàn ái và toàn mỹ, còn Đức Kitô là bằng chứng cho một Thiên Chúa đầy lòng từ bi nhân hậu. Trái lại, Thiên Chúa (Ông Trời) trong tín ngưỡng truyền thống Việt Nam thì thánh thiêng và quyền năng nhưng lại không bao giờ xác định được. Thần thánh hiện diện trong cõi linh thiêng, vô hình. Ngoài ra, tập quán văn hóa thờ cúng tổ tiên có lẽ đã khiến người Việt Nam ngoảnh quay đi trước điều răn trong Giáo Hội là chỉ tôn thờ một Thiên Chúa duy nhất. Các vị thừa sai phải tìm cách giữ đúng giáo thuyết của Hội Thánh vốn chưa uyển chuyển với thực tế văn hóa. Giải quyết thách đố này, các vị thừa sai chọn phương pháp bán linh hoạt. Một ví dụ cụ thể là Cha Đắc Lộ, một tu sĩ Dòng Tên người Pháp, người đã được ghi nhận là người đầu tiên soạn ra chữ quốc ngữ. Đôi khi cha cũng đã thích nghi giáo thuyết Kitô giáo với tập quán văn hóa nhưng cũng đã từng từ chối những phong tục tùy theo những thực hành thuận hay nghịch lại giáo huấn của Giáo Hội. Mục đích của cha là nhằm giải thích rõ Kitô giáo, tôn giáo mới, trong bối cảnh có những tôn giáo khác. Cha không muốn pha trộn đức Tin Kitô giáo với niềm tin trong các tôn giáo khác.
Đến nay việc bàn thảo vẫn chỉ tập trung vào vấn đề đưa sứ điệp Kitô giáo đi vào văn hóa Việt Nam, trong khi đó, tiến trình Phúc âm hóa đòi hỏi hai khía cạnh: thích nghi và tiếp nhận. Người Công giáo Việt Nam lãnh nhận sứ điệp Kitô giáo với sự tự do như thế nào? Họ đã đáp lại như thế nào khi đã lãnh nhận đức Tin Kitô giáo? Trả lời những câu hỏi này sẽ góp phần làm rõ vì sao đa số họa phẩm được lưu trữ tại Nhà Truyền thống TGP.TPHCM lại vẽ về Đức Maria.
Đức Mẹ Việt Nam
Một trong những lý do có thể nêu lên liên quan đến nhãn quan triết lý văn hóa Việt Nam. Người Việt Nam thường tư duy theo lối nhị nguyên, đối lập giữa thiêng và phàm. Cái bên ngoài hoặc ở ngoài là cái thánh thiêng, còn cái bên trong hoặc bản địa thì phàm tục. Thanh khiết là sự đòi hỏi cần phải có đối với thánh thiêng. Thánh thiêng nghĩa là thanh khiết. Thiên Chúa vượt trên hết thảy. Để có một Thiên Chúa siêu việt, thánh thiện và toàn năng, thì Ngài cần phải ở ngoài bước vào, là người từ ngoài mà đến. Đối với người Việt Nam, những đường nét nơi khuôn mặt Thiên Chúa phải có dáng dấp nước ngoài, bởi đường nét Việt Nam sẽ làm giảm đi tính chất thánh thiêng[10]. Hơn nữa, về mặt lịch sử, Chúa Giêsu không phải là người Việt Nam. Mô tả một Thiên Chúa không có dáng dấp người bản địa là một cách giữ sự trung thành với truyền thống lịch sử vốn là một nét tính cách chủ yếu của người Công giáo Việt Nam.
Còn với Đức Mẹ lại là một chuyện khác. Mẹ là người có phúc vì được chọn để cưu mang Con Thiên Chúa. Việc Đức Maria được nâng lên làm Mẹ của Con Thiên Chúa cho thấy đó là ân phúc từ trời cao. Miêu tả Đức Mẹ mang tính cách Việt Nam sẽ không làm giảm quyền thế của Mẹ nhưng thêm sức cho con người vươn đến sự linh thánh. Khắc họa hình ảnh Đức Mẹ mang tính cách Việt Nam sẽ đưa hình ảnh của Người đến gần với dân chúng và khơi niềm ước ao nên thánh. Ánh mắt mang sắc thái dân tộc Việt Nam của Mẹ giúp con người thấy con đường nên thánh gần gũi dễ dàng hơn vì nhận ra Mẹ cũng mang bản tính nhân loại. Hơn nữa, cảm nhận Mẹ là Đấng thánh thiện cũng nằm trong mạch truyền thống thờ nữ thần của người Việt Nam. Tục thờ thần nữ dễ dàng tiếp nhận việc tôn sùng Đức Mẹ. Sở dĩ có hiện tượng sùng mộ Đức Mẹ La Vang, theo linh mục Phan Đình Cho, vì Mẹ là biểu tượng của lòng từ bi[11]. Thể hiện Đức Mẹ với những đường nét Việt Nam không những không gặp phải sự chống đối mà còn nhận được sự ủng hộ, tôn kính, tôn sùng.
Ngoài những ý nghĩa về phương diện tâm linh, có thể nghiên cứu đề tài Mẹ và Con nơi những bức tranh trong bộ sưu tập này dưới lăng kính xã hội và tâm lý học.
Trong bối cảnh một đất nước chịu đau khổ vì chiến tranh và ách thống trị của ngoại bang, vai trò của người mẹ quan trọng hơn bao giờ hết. Các bà mẹ ở lại nhà và nuôi dạy con cái. Họ là chỗ dựa cho gia đình và thông truyền các giá trị văn hóa và lẽ khôn ngoan cho thế hệ sau khi đàn ông ra trận chiến đấu bảo vệ đất nước.
Bối cảnh xã hội và tôn giáo giải thích được vì sao Đức Mẹ Việt Nam đã trở thành đề tài được giới sáng tác nghệ thuật tôn giáo tại Việt Nam ưa thích. Nền hội họa này khác biệt ra sao về phương diện nghệ thuật với những nền hội họa khác ở phương Đông cũng như phương Tây?
3. KHÁI NIỆM TÍNH LAI GHÉP, MỘT CÁCH NHẬN THỨC VÀ MÔ TẢ HỘI HỌA VIỆT NAM
Người Việt Nam vốn luôn làm nghệ thuật nhưng nghệ thuật của họ đã từng bị coi chỉ là thứ nghề thủ công của người bản xứ. Nhờ nỗ lực của họa sĩ người Pháp Victor Tardieu, trường Mỹ thuật đầu tiên được thành lập tại Hà Nội vào năm 1925, dưới thời Pháp thuộc. Nhiệm vụ của trường Mỹ nghệ Đông Dương là “biến những người thợ thủ công bản xứ thành các nghệ sĩ chuyên nghiệp”[12]. Các nghệ sĩ Việt Nam bắt đầu được học và tin rằng nền hội họa Pháp cao cấp hơn hội họa Đông Dương. Học và làm chủ kỹ thuật hội họa phương Tây, trước hết là tranh sơn dầu, giúp họ đạt được trình độ học vấn cao và thấy mình bớt tự ti hơn. Việc thành lập trường đánh dấu một bước quan trọng đối với người họa sĩ trong việc phát triển phong cách sáng tác của mình. Thậm chí sự phát triển còn trở nên rõ rệt hơn khi chế độ thực dân Pháp kết thúc vào năm 1945. Ở miền Bắc, trường Mỹ nghệ Đông Dương trở thành trường Cao đẳng Mỹ thuật Việt Nam, và hiện nay là trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam. Ở miền Nam, trường Mỹ thuật Gia Định được thành lập. Trường phối hợp hội họa tranh lụa Trung Hoa và kỹ thuật vẽ chân dung và khái niệm về bố cục của phương Tây. Kết quả là tạo ra được vẻ mềm mại và trong trẻo của mực nước vẽ trên lụa. Sự độc đáo là đã kết hợp được hai phương pháp hội họa. Đó là sự độc đáo của pha trộn. Sự độc đáo của việc không cần viền mép và phát sinh một đường hướng và thể loại mới.
Bây giờ xin nói về sự cách tân và ý nghĩa đích thực của tính lai ghép. Tính lai ghép hay không gian thứ ba là sự hợp nhất giữa các yếu tố khác biệt và đối chọi nhau. Như vậy, không gian thứ ba khu trú ở một vị trí không dành cho những đối chọi mang tính cực đoan, không mưu tìm bất kỳ sự chắc chắn hoặc ổn định nào. Mô hình này khước từ việc trở thành môn đệ của yếu tính luận (essentialist) và chấp nhận sự tồn tại giữa các đối cực. Do đó cần phải có ngay một không gian mới, đó là một không gian “khác biệt trong tương đồng” (sự dị biệt của cái tương đồng)[13]. Người nào nhìn nhận tính mơ hồ của thực trạng, người ấy không tìm cách phủ định mà chọn sự thương thảo. Nhà thờ chính tòa Phát Diệm tiêu biểu cho một dự phóng về văn hóa. Nhà thờ chính tòa Phát Diệm là một không gian khác biệt trong tương đồng.
Sự tồn tại đồng thời của cả hai mặt đối lập trong Không gian thứ ba, giữa cái tương đồng và cái khác biệt, hoặc cái mới, cái không chịu đóng khung cách này cách khác, đang vận hành như một hành động đối lập với chính mình. Tiến trình thương thảo và sản phẩm của sự lai ghép (hybridity) đặt ra thách thức đối với những cố gắng mang tính thực dân nhằm chia cắt giữa “trung tâm” và “ngoại vi”, hoặc nỗ lực của chủ nghĩa bản địa nhằm xây dựng một quá khứ thuần túy bản địa. Sự pha trộn trong Không gian thứ ba gây thất vọng cho mọi thẩm quyền, cho kẻ bảo vệ tính chính thống và những người nồng nhiệt chạy theo chủ nghĩa bản địa. Không gian thứ ba phá vỡ kiểu thống trị tuyến tính thuần túy và kiểu dùng thủ đoạn, vì nó bẻ cho gãy loại chính trị đơn cực giả tạo mà nhà cầm quyền thực dân và nhà cầm quyền bản địa chủ nghĩa cố gắng duy trì[14]. Nói cách khác, sự thương thảo và sự pha trộn chính là những hạt mầm gieo sự hủy diệt đối với những diễn ngôn độc quyền của thực dân, bởi sản phẩm của sự pha trộn không phải là một bắt chước hoặc một bản sao mờ nhạt do “trung tâm” kiểm soát, mà sự bắt chước này “chẳng hề xa sự nhạo báng bao giờ”[15].
Hội họa Việt Nam, đặc biệt nghệ thuật tranh lụa và sơn mài, chưa bao giờ mang nhãn hiệu là nghệ thuật khởi thủy, nhưng đã được nhìn nhận là nguyên tuyền, thuần khiết, không bị hư hoại[16]. Hội họa Việt Nam là một nền nghệ thuật “chính danh”, không lai căng, tái chế, không phải là bản sao mệt mỏi của hội họa châu Âu và Mỹ[17]. Tính chính danh của nền hội họa mang lại cho các họa sĩ một chỗ đứng vinh dự để đổi mới phương pháp sáng tạo nghệ thuật. Sự phối hợp hai luồng ảnh hưởng sẽ tạo ra một vị thế mới và xóa đi cái gọi là trên và dưới, trong và ngoài, ngoại vi và trung tâm. Quả thật đó là một vị thế dám đưa ra thách thức.
KẾT LUẬN
Bài viết này giới thiệu mảng tranh được sưu tập và lưu trữ tại Nhà truyền thống TGP. TP.HCM vốn chưa được các nhà nghiên cứu đề cập và thảo luận. Bài viết cũng đã tìm hiểu căn nguyên và cảm hứng của những hình ảnh sáng tạo này cũng như khám phá cách giải thích mới về phong cách của những họa phẩm này. Đặt trong bối cảnh xã hội hậu thực dân, những họa phẩm này cho thấy một cái nhìn tươi mới về cách làm thế nào đánh giá và điều chỉnh câu chuyện về lịch sử hội họa, ít nhất tại vùng Đông Nam Á. Nghệ thuật là đời sống. Khám phá nghệ thuật sẽ luôn gợi ra con đường “hội nhập”.
Thành Thi chuyển ngữ
Trích Bản tin Hiệp Thông / HĐGMVN, Số 84 (Tháng 9 & 10 năm 2014)
[1] Nora A. Taylor, Painters in Hanoi : an ethnography of Vietnamese art, Honolulu: University of Hawaii Press, 2004, 109.
[2] Đặng Việt Bích, Tìm hiểu Văn hóa Dân tộc, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội 2006, 265.
[3] Đỗ Thị Hảo-Mai Thị Ngọc Chúc, Các nữ thần Việt Nam, Nxb Phụ nữ (Hà Nội, 1984).
[4] Nguyễn Minh San, Những thần nữ danh tiếng trong văn hóa tín ngưỡng Việt Nam, Nxb Phụ nữ, Hà Nội, 1996, 18.
[5] Đinh Gia Khánh, Tục thờ Mẫu và những truyền thống văn hóa dân gian ở Việt Nam, Tạp chí Văn học, số 5-1992.
[6] Ngô Đức Thịnh, Đạo Mẫu ở Việt Nam, Nxb Thông tin, Hà Nội 1996, 10.
[7] Nguyễn Minh San, Những thần nữ danh tiếng trong văn hóa tín ngưỡng Việt Nam, Nxb Phụ nữ, Hà Nội, 1996, 18.
[8] Nguyễn Minh San, Tiếp cận tín ngưỡng dân gian Việt Nam, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội 1994, 103.
[9] Đặng Việt Bích, Tìm hiểu Văn hóa Dân tộc, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội 2006, 284.
[10] Vấn đề này cần được nghiên cứu thêm dưới khía cạnh tâm lý học.
[11] Peter C. Phan, Vietnamese-American Catholics, New York: Paulist Press, 2005, 113.
[12] Nora A. Taylor, Painters in Hanoi : an ethnography of Vietnamese art, Honolulu: University of Hawaii Press, 2004, 13.
[13] Homi K. Bhabha, The Location of Culture, New York: Routledge, 1994, 32.
[14] Homi K. Bhabha, The Location of Culture, New York: Routledge, 1994, 56.
[15] Bill Ashcroft, Grareth Griffiths and Helen Tiffin, Post-Colonial Studies: The Key Concepts, New York: Routledge, 2004, 139-142.
[16] Nora A. Taylor, Painters in Hanoi : an ethnography of Vietnamese art, Honolulu: University of Hawaii Press, 2004, 7.
[17] Nora A. Taylor, Painters in Hanoi : an ethnography of Vietnamese art, Honolulu: University of Hawaii Press, 2004, 7.
2023
Tâm tình của Đức cha Cosma Hoàng Văn Đạt
Tâm tình của Đức cha Cosma Hoàng Văn Đạt
TÂM TÌNH CỦA ĐỨC CHA COSMA HOÀNG VĂN ĐẠT
Kính gửi: cộng đoàn dân Chúa trong đại gia đình giáo phận Bắc Ninh!
Hôm nay là ngày tôi đủ 75 tuổi, và được Đức Thánh Cha Phanxicô chấp thuận đơn từ nhiệm thi hành sứ vụ giám mục chính tòa giáo phận Bắc Ninh, qua đó tôi chính thức được nghỉ hưu theo Giáo Luật.
Với việc Đức giáo hoàng chấp thuận đơn từ nhiệm của tôi, Đức cha Giuse Đỗ Quang Khang chính thức trở thành giám mục chính tòa giáo phận Bắc Ninh. Xin chúc mừng Đức cha Giuse, kể từ hôm nay, Đức cha Giuse trở thành giám mục chính tòa thứ tư; và là vị mục tử thứ mười hai của giáo phận Bắc Ninh. Cùng với cộng đoàn dân Chúa, tôi xin hiệp thông với anh chị em cầu nguyện cho Đức cha Giuse để làm cho cả giáo phận ngày một thăng tiến.
Trong bầu khí linh thiêng của ngày dâng giáo phận cho Thánh Tâm Chúa Giêsu, tôi xin tạ ơn Chúa vì đã được sinh ra trên mảnh đất Kinh Bắc giầu tình Chúa và thắm đậm tình người. Giữa bối cảnh lịch sử năm 1954, tôi cùng gia đình rời xa quê hương khi mới 6 tuổi. Tôi đã lớn lên nơi mảnh đất phương Nam, đã được Chúa thương chọn gọi và đưa đi khắp đó đây. Để rồi đến lúc tuổi tròn 60, Chúa lại đưa tôi về miền Quan họ yêu thương trong cương vị giám mục để chăm sóc đoàn chiên của Chúa. Xin cộng đoàn chung lời tạ ơn Thiên Chúa với tôi sau hành trình mười lăm năm thi hành sứ vụ Giám mục chính tòa giáo phận Bắc Ninh: “Mười lăm năm ấy biết bao nhiêu tình.”
Cách riêng, tôi xin nói lên lời cảm ơn toàn thể dân Chúa, cảm ơn quý cha, quý nam nữ tu sĩ, quý chủng sinh, quý hội đồng giáo xứ và quý ban hành giáo, cảm ơn các đoàn hội và anh chị em giáo dân, từ các con thiếu nhi đến các vị bô lão, cảm ơn tất cả những người còn sống và cả những người đã qua đời, cảm ơn anh chị em giáo dân gốc Bắc Ninh ở trong nước cũng như hải ngoại, cám ơn từng cá nhân cũng như các tổ chức, những người thành tâm thiện chí. Nhờ lời cầu nguyện và cộng tác của anh chị em đã giúp tôi thực thi sứ vụ giám mục và trung thành với Chúa qua việc ủy thác của Đức Thánh Cha.
Tôi hết lòng cám ơn quý vị trong các cấp chính quyền từ trung ương tới địa phương. Cách đặc biệt, cám ơn chính quyền tỉnh Bắc Ninh, thành phố Bắc Ninh, phường Tiền An và Ninh Xá. Tôi cũng chân thành cảm ơn anh chị em lương dân, những người đã cùng sống, cùng chia vui sẻ buồn với tôi trên mảnh đất Bắc Ninh địa linh nhân kiệt.
Là con người sức yếu mỏng giòn, tôi biết mình còn nhiều thiếu sót trong quá trình thi hành sứ vụ giám mục chính tòa. Tôi xin lỗi anh chị em vì những dự định còn dở dang. Tôi thật lòng xin lỗi tất cả những ai vì vô tình hay hữu ý mà tôi đã lỗi phạm đến anh chị em.
Giờ đây tôi đã được nghỉ ngơi, vơi bớt đi những gánh nặng, lo toan nhưng hơn bao giờ hết vẫn rất cần đến lời cầu nguyện của anh chị em, nhất là cầu nguyện cho tôi được trung tín với Chúa cho đến hơi thở cuối cùng. Về phần tôi, tôi hứa vẫn luôn đồng hành với anh chị em và giáo phận qua lời cầu nguyện, đặc biệt là các thánh lễ, kể cả khi về với Chúa tôi vẫn luôn cầu nguyện cho giáo phận. Với tâm tình tạ ơn, chúng ta phó thác và dâng giáo phận cho Thánh Tâm Chúa Giêsu trong giai đoạn mới, và tiếp tục khiêm tốn nài xin: “Lạy Trái Tim nhân lành Chúa Giêsu, xin thương xót và che chở chúng con”.
Một lần nữa, tôi xin hết lòng cảm ơn và chào tạm biệt anh chị em trong tình yêu thương của Chúa Giêsu và Mẹ Maria.
Bắc Ninh, ngày 17 tháng 06 năm 2023
+ Giám mục Cosma Hoàng Văn Đạt S.J.
2023
Bài giảng của Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II trong lễ tuyên phong 117 vị Thánh Tử Đạo Việt Nam ngày 19-6-1988
Bài giảng của Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II trong lễ tuyên phong 117 vị Thánh Tử Đạo Việt Nam ngày 19-6-1988
BÀI GIẢNG CỦA THÁNH GIÁO HOÀNG GIOAN PHAOLÔ II
LỄ TUYÊN PHONG HIỂN THÁNH 117 CHÂN PHÚC TỬ ĐẠO VIỆT NAM
NGÀY 19.06.1988
- 1. “Chúng tôi rao giảng Đức Kitô chịu đóng đinh thập giá” (1 Cr 1,23).
Bằng những lời này của Thánh Phaolô Tông đồ, hôm nay Hội Thánh Rôma xin chào Hội Thánh tại Việt Nam, dù xa xôi về địa lý, vẫn rất gần gũi với trái tim chúng tôi; đồng thời, xin chào toàn thể dân tộc Việt Nam, và với tất cả lòng quý mến, xin cầu chúc quý quốc được mọi sự tốt lành.
Tâm tưởng đầu tiên, thân tình và quý mến của tôi, xin dành cho người anh em thân yêu, Đức hồng y Giuse Maria Trịnh Văn Căn, Tổng giám mục Hà Nội, cùng tất cả Giám mục đoàn của Hội Thánh Việt Nam mà trong lúc này, tôi cảm nhận các ngài đang quy tụ cách thiêng liêng chung quanh tôi. Cùng với các ngài, tôi chào các linh mục, tu sĩ nam nữ, giáo dân đang dấn thân trong hoạt động truyền giáo, tất cả các tín hữu Kitô tại Việt Nam, trong lúc này tôi cảm thấy gần gũi họ cách đặc biệt và sâu xa.
Tôi cũng muốn chào các anh em thân yêu trong hàng Giám mục đến cùng các nhóm tín hữu thuộc Tây Ban Nha, Pháp, Philippines, những xứ sở mà trong ba thế kỷ đã liên kết với việc truyền bá Tin Mừng tại Việt Nam. Họ đang ở đây để tưởng nhớ biết bao người anh em là những thừa sai xuất xứ từ quê hương mình.
Ngoài ra, tôi gửi lời chào đến các cha Đaminh thuộc tỉnh dòng Rất Thánh Mân Côi, được thành lập cách đây 400 năm, và đến Hội Thừa Sai Hải Ngoại Paris; trong số các giám mục và linh mục mà hôm nay chúng ta tôn kính như các vị tử đạo vì đức tin và rao giảng Tin Mừng, có nhiều người thuộc về hai gia đình tu trì trên.
- 2.Trong cộng đoàn lớn lao của Hội Thánh, cách đặc biệt tôi xin chào các anh chị em Việt Nam thân yêu đến từ khắp nơi trên thế giới, từ châu Mỹ và châu Á, từ châu Úc và tất cả các quốc gia thuộc châu Âu. Tôi biết anh chị em vui mừng phấn khởi vì ước mong tôn vinh các vị tử đạo đồng hương, nhưng còn vì khi quây quần để tưởng nhớ các vị tử đạo, anh chị em cảm nhận nhu cầu xây dựng lại tình huynh đệ, tình bằng hữu, tình thân ái đang tràn ngập trong tâm hồn do bởi tất cả anh chị em đều có chung một quê hương. Trong khi sống lại ký ức về các ngài, anh chị em hướng về quê hương mình bằng tình yêu, sự nhung nhớ, và ước mong được sống một khoảnh khắc hiệp thông chứa chan hi vọng, trong lúc còn sống trong cảnh xa quê. Cùng với anh chị em, chúng tôi loan báo Đức Kitô chịu đóng đinh thập giá, hôm nay chúng tôi muốn tạ ơn Thiên Chúa vì chứng từ đặc biệt mà các vị tử đạo trong Hội Thánh của anh chị em đã cống hiến, dù phần đông các ngài là con dân Việt Nam, hay là các vị thừa sai đến từ các quốc gia nơi đó niềm tin vào Đức Kitô đã được cắm rễ sâu.
Truyền thống của anh chị em nhắc chúng ta nhớ rằng lịch sử tử đạo của Hội Thánh Việt Nam từ khởi đầu đã rất phong phú và phức tạp. Từ năm 1533, nghĩa là từ lúc khởi đầu việc rao giảng Kitô giáo tại Đông Nam Á, trong suốt ba thế kỷ, Hội Thánh tại Việt Nam đã phải chịu những cuộc bách hại khác nhau, nối tiếp nhau, có đôi lúc ngưng nghỉ, như những gì đã xảy ra cho Hội Thánh phương Tây trong ba thế kỷ đầu tiên. Hàng ngàn Kitô hữu phải chịu chết vì Đạo, và rất đông là những người phải chết trên núi, trong rừng, nơi những miền đất độc hại họ bị lưu đày.
Làm sao kể lại cho hết? Cho dẫu chúng ta chỉ tự giới hạn trong số các vị được tuyên thánh hôm nay thôi, cũng không thể kể ra từng vị. Tất cả là 117 vị, trong đó có 8 giám mục, 50 linh mục, 59 giáo dân và trong số giáo dân, có một phụ nữ là Anê Lê Thị Thành, mẹ của sáu người con.
Chỉ cần nhắc đến một hoặc hai khuôn mặt là đủ, chẳng hạn cha Vinh Sơn Liêm, dòng Đaminh, chịu tử đạo năm 1773; ngài là vị tử đạo đầu tiên trong số 96 vị tử đạo người Việt Nam. Rồi tới một linh mục khác, cha Anrê Dũng Lạc, có cha mẹ là người ngoại đạo, rất nghèo; từ nhỏ đã được gửi cho một thầy giảng, trở thành linh mục năm 1823, là cha xứ và nhà truyền giáo ở nhiều nơi trong đất nước. Hơn một lần, ngài đã được thoát cảnh tù tội nhờ các tín hữu quảng đại đem tiền chuộc về, nhưng ngài ao ước được chết vì Đạo cách mãnh liệt. Ngài nói: “Ai chết vì đức tin sẽ được lên trời; ngược lại, chúng ta cứ phải trốn tránh liên tục, tiêu tốn tiền bạc để đút lót những kẻ bách hại! Sẽ tốt hơn nhiều nếu cứ để chúng tôi bị bắt và chết”. Được nâng đỡ nhờ lòng nhiệt thành lớn lao và nhờ ơn Chúa, ngài đã chịu trảm quyết tại Hà Nội ngày 21 tháng 12 năm 1839.
- 3.Tin Mừng hôm nay nhắc nhở chúng ta những lời Đức Kitô Giêsu đã loan báo cho các môn đệ Người về những cuộc bách hại họ sẽ phải chịu: “Hãy coi chừng người đời vì họ sẽ đưa anh em ra công đường và đánh đập anh em trong các hội đường của họ; anh em sẽ bị điệu ra trước vua chúa quan quyền vì Thầy, để làm chứng cho họ và cho dân ngoại biết” (Mt 10,17-18). Chúa Giêsu đã nói với các Tông đồ và môn đệ của Người ở mọi thời; Người đã nói rất thẳng thắn! Người không thu hút các ông bằng những lời hứa hẹn giả dối nhưng bằng chân lý trọn vẹn, vốn luôn là đặc trưng trong các lời của Người, Người đã chuẩn bị cho các ông trước những nguy hiểm: “Anh sẽ nộp em cho người ta giết, cha sẽ nộp con, con cái đứng lên tố cáo cha mẹ và làm cho cha mẹ phải chết. Vì danh Thầy, chúng con sẽ bị mọi người ghét bỏ, nhưng ai bền đỗ đến cùng sẽ được cứu độ” (Mt 10,21-22).
- 4.Tuy nhiên, Thầy chí thánh đã không bỏ rơi các môn đệ và các tín hữu của Người trong những cơn bách hại nặng nề: “Khi người ta nộp anh em, đừng lo phải nói gì; vì không phải anh em nói nhưng Thần Khí của Cha anh em sẽ nói cho anh em” (Mt 10,19-20).
Thánh Thần, Thần chân lý, Ngài sẽ là sức mạnh thay cho sự yếu đuối của anh em. Anh em sẽ làm chứng bằng sức mạnh của Ngài. Chính sự kiện anh em phải làm chứng cho Đức Kitô chịu đóng đinh thập giá, lại chẳng cần đến sự khôn ngoan và sức mạnh vượt trên sức mạnh loài người sao? Khi Thánh Tông đồ viết rằng thập giá “là sự ô nhục đối với người Do Thái và điên rồ đối với người Hi Lạp” (1Cr 1,23), lại chẳng phải là nói về Đức Kitô sao? Đã xảy ra như thế vào thời các Tông đồ. Cũng lặp lại như thế trong những thời kỳ khác nhau của lịch sử, ở những nơi chốn và thời điểm khác nhau. Cũng xảy ra như thế vào thời bách hại tôn giáo chống lại các Kitô hữu Việt Nam.
Do đó, cần phải có sức mạnh và sự khôn ngoan của Thiên Chúa để loan báo mầu nhiệm tình yêu này của Thiên Chúa, nghĩa là ơn cứu chuộc trần gian nhờ thập giá: mầu nhiệm vĩ đại nhất, đồng thời là điều không thể hiểu được về mặt nhân loại. “Bởi vì cái điên rồ nơi Thiên Chúa thì khôn ngoan hơn sự khôn ngoan của loài người, và cái yếu đuối nơi Thiên Chúa thì mạnh mẽ hơn sức mạnh loài người” (1Cr 1,25). Chính vì thế Thánh Tông đồ viết: “Chúng tôi rao giảng Đức Kitô chịu đóng đinh thập giá”: Đức Kitô mà cụ thể trong mầu nhiệm Vượt Qua của Người, chính là “sức mạnh và sự khôn ngoan của Thiên Chúa” (1Cr 1,23-24).
- Như thế, trước mặt chúng ta hôm nay là các vị tử đạo Việt Nam, những thợ gặt của Thiên Chúa mà Thánh vịnh nói tới: “Ai gieo trong lệ sầu, sẽ gặt trong hân hoan. Họ ra đi trong than khóc, mang theo mình hạt giống; trở về trong hân hoan, mang theo gánh lúa vàng” (Tv 126,5-6).
Trong ánh sáng của những lời huyền nhiệm này, chúng ta hiểu được ý nghĩa đích thực của những chứng tá lịch sử nơi các vị tử đạo của Hội Thánh Việt Nam. Với nước mắt của các ngài, bao hạt giống Tin Mừng và ân sủng đã được gieo, từ đó trổ sinh thật phong phú ân huệ đức tin: “Hạt giống gieo vào lòng đất mà không chết đi thì chỉ trơ trọi một mình, nhưng nếu nó chết đi, sẽ sinh nhiều bông hạt” (Ga 12,24).
Các vị tử đạo Việt Nam “đã gieo trong nước mắt”, trong thực tế các ngài đã khởi xướng một cuộc đối thoại sâu sắc và mang tính giải thoát với người dân và nền văn hóa của dân tộc họ, trước hết bằng cách loan báo chân lý và tính phổ quát của niềm tin vào Thiên Chúa, ngoài ra còn đề nghị một phẩm trật các giá trị và bổn phận phù hợp cách đặc biệt với nền văn hóa tôn giáo của tất cả thế giới Đông phương. Theo sự hướng dẫn của Sách Giáo lý đầu tiên bằng tiếng Việt, các ngài đã làm chứng cho sự kiện là phải tôn thờ một Thiên Chúa mà thôi, là Đấng Thiên Chúa duy nhất đã dựng nên trời đất. Đối diện với những thái độ áp bức của nhà cầm quyền về việc thực hành đức tin, các ngài khẳng định sự tự do riêng của đức tin, (đồng thời) bằng sự can đảm khiêm nhu, các ngài bảo vệ lập trường rằng Đạo Kitô là chính nghĩa duy nhất mà các ngài không thể bỏ, bởi lẽ không thể không vâng lời Chúa là Đấng Tối cao. Ngoài ra, các ngài mạnh mẽ nói lên ý chí tôn trọng quyền bính trong nước, không đi ngược lại những gì là công chính và lương thiện; các ngài dạy phải tôn trọng và thờ kính Tổ tiên, theo cách thế của mỗi vùng miền, trong ánh sáng của mầu nhiệm Phục sinh. Cùng với các vị tử đạo của mình và qua chứng tá riêng, Hội Thánh Việt Nam có thể loan báo sự dấn thân và ý muốn của mình là không chối từ truyền thống văn hóa và những định chế hợp pháp trong xứ sở; trái lại, Hội Thánh đã tuyên bố và chứng tỏ rằng Hội Thánh muốn nhập thể trong truyền thống này, trung thành góp phần vào sự phát triển đích thực của đất nước.
Thế rồi, những xung đột và căng thẳng chính trị đã xuất hiện trong mối tương quan giữa các kitô hữu với nhà cầm quyền, với những quyền lợi của các tôn giáo khác, những lý do kinh tế và xã hội, sự hiểu lầm về tính siêu việt và phổ quát của đức tin, tất cả đã tạo nên thứ hỏa ngục trần gian, ở đó sự thanh khiết và sức mạnh của những chứng tá phi thường này được hiến dâng.
- 6. Nhưng chính từ đoàn rước đông đảo các vị tử đạo, từ những đau khổ của các ngài, từ nước mắt của các ngài, mà chúng ta có được “mùa lúa vàng của Chúa”. Là những bậc thầy của chúng ta, các ngài cho tôi cơ hội lớn lao để giới thiệu với toàn thể Hội Thánh sinh lực và sự vĩ đại của Hội Thánh Việt Nam: sức mạnh, sự kiên nhẫn, khả năng đối diện với mọi thứ khó khăn và loan báo Đức Kitô. Chúng ta tạ ơn Chúa vì những điều mà Thánh Thần làm phát sinh cách dồi dào giữa chúng ta!
Một lần nữa, chúng ta có thể nói rằng: với anh chị em, các kitô hữu Việt Nam, máu các vị tử đạo là suối nguồn ân sủng để thăng tiến trong đức tin. Nơi anh chị em, đức tin của cha ông chúng ta vẫn tiếp tục thông truyền đến các thế hệ mới. Đức tin này vẫn là nền tảng của sự kiên trì nơi tất cả những ai coi mình thực sự là người Việt Nam, trung thành với quê hương, đồng thời mong muốn tiếp tục là những môn đệ đích thực của Đức Kitô. Tất cả các kitô hữu đều biết rằng Tin Mừng kêu gọi phải tuân phục các thể chế loài người vì tình yêu đối với Thiên Chúa, làm điều thiện, cư xử như những người tự do, tôn trọng mọi người, yêu thương anh em, kính sợ Thiên Chúa, tôn trọng nhà cầm quyền và các tổ chức công cộng (x. 1Pr 2,13-17). Do đó, việc tìm kiếm công ích của đất nước là một bổn phận chân thành đối với người công dân là kitô hữu, trong sự tự do loan báo chân lý của Thiên Chúa, trong sự hiệp thông với các mục tử và anh chị em trong đức tin, trong ước mong được sống hòa bình với những người khác để thành tâm xây dựng phúc lợi cho mọi người.
- “Máu các Thánh Tử đạo là hạt giống sinh các Kitô hữu”. “Hạt giống sinh các Kitô hữu”. Ngoài hằng ngàn các tín hữu trong những thế kỷ qua đã bước theo cuộc khổ nạn của Đức Kitô, ngày nay còn có những người đang làm việc, nhiều khi là trong khắc khoải và hi sinh từ bỏ, với tham vọng duy nhất là có thể kiên trì làm việc trong vườn nho của Chúa, như những tôi tớ trung thành hiểu được phúc lành của Nước Thiên Chúa.
“Hạt giống sinh các Kitô hữu” còn là tất cả những ai ngày nay đang sống giữa dân của mình và vì chính nghĩa của Thiên Chúa, cố gắng hiểu ý nghĩa của Tin Mừng Đức Kitô và thập giá của Người, cùng với bổn phận làm việc và cầu nguyện cho Nước Cha trị đến trong mọi tâm hồn, nhất là trong xứ sở mà Chúa đã kêu gọi họ sống ở đó. Bổn phận này, hoạt động nội tâm liên lỉ và mạnh mẽ này đòi hỏi sự kiên nhẫn và lòng hi vọng tín thác nơi những người biết rằng sự quan phòng của Thiên Chúa hoạt động cùng với họ, để làm cho những nỗ lực cũng như những đau khổ của họ sinh hoa kết quả.
- “Linh hồn người công chính ở trong tay Thiên Chúa” (Kn 3,1).
Sách Khôn Ngoan công bố chân lý huy hoàng này, tuôn đổ ngập tràn ánh sáng trên biến cố chúng ta cử hành hôm nay. Vâng, “Linh hồn người công chính ở trong tay Chúa và không hình khổ nào chạm tới được”. Xem ra những lời này không tương ứng với thực tế lịch sử: thật vậy, các vị tử đạo đã phải chịu cực hình, quá sức là đàng khác! Nhưng tác giả được linh ứng khai triển tư tưởng của mình rộng lớn hơn: “Những kẻ ngu muội nghĩ rằng các ngài đã chết rồi, coi sự ra đi của các ngài là điều vô phúc, việc các ngài rời bỏ chúng ta là sự tiêu diệt; thế nhưng các ngài ở trong bình an. Người đời cho rằng các ngài bị trừng phạt, nhưng niềm hi vọng nơi các ngài hướng đến sự bất tử” (Kn 3,2-4).
Các Thánh Tử đạo! Các Thánh Tử đạo Việt Nam! Các chứng nhân cho chiến thắng của Đức Kitô trên sự chết! Các chứng nhân cho ơn gọi con người hướng đến sự bất tử!
Sách Khôn Ngoan tiếp tục: “Hãy chịu khổ đôi chút; hãy đón nhận ân huệ lớn lao, vì Thiên Chúa đã thử thách các ngươi và thấy các ngươi xứng đáng với Ngài. Ngài thử thách các ngươi như thử vàng trong lò lửa, và đón nhận các ngươi như của lễ toàn thiêu” (x. Kn 3,5-6).
Vâng. Như của lễ toàn thiêu, kết hợp với hy tế thập giá của Đức Kitô. Thật vậy, cách riêng với các ngài, thưa Các Vị Tử đạo Việt Nam, các ngài đã loan báo đến cùng Đức Kitô chịu đóng đinh thập giá, là sự khôn ngoan và sức mạnh của Thiên Chúa. Chúng ta hướng về Đức Kitô, nhờ Người, chúng ta đạt đến ơn cứu độ của Thiên Chúa.
- “Những ai trông cậy vào Người – vào Đức Kitô chịu đóng đinh Thập giá và Phục sinh – sẽ hiểu biết chân lý; những ai trung thành sẽ ở gần Người trong tình yêu, vì ân sủng và lòng thương xót được dành cho những ai Người tuyển chọn” (x. Kn 3,9).
Thưa Các Ngài là những vị được tử đạo! Thưa Các Ngài là những người được tuyển chọn!
Xin hãy nghe đến cùng điều mà Sách Khôn Ngoan nói về các ngài: “Trong ngày phán xét, họ sẽ rực sáng như những tia lửa bén nhanh khắp rừng sậy” (Kn 3,7).
Như những tia lửa, như những ánh chớp của nguồn sáng chiếu soi rực rỡ… Xin hãy nghe đến cùng điều mà Sách Khôn Ngoan nói về các ngài: “Họ sẽ cai trị các dân tộc, hành quyền trên các dân và Chúa sẽ ngự trị trên họ đến muôn đời” (Kn 3,8).
Chúa Kitô chịu đóng đinh thập giá và phục sinh. Đấng đã đến trong thế gian, không phải để “xét xử thế gian, nhưng để nhờ Người mà thế gian được cứu độ” (Ga 3,17).
Đức Kitô ấy! Cũng như các ngài đã dự phần đau khổ và thập giá của Chúa, thì các ngài cũng dự phần vào ơn cứu độ thế giới mà Người đã thực hiện.
Nguyện cho mùa gặt của các ngài sẽ kéo dài trong hân hoan!
Quảng trường Thánh Phêrô, ngày 19-06-1988
Dịch từ nguyên bản tiếng Ý: Đức ông Vinhsơn Trần Ngọc Thụ
Hiệu đính: Văn phòng thư ký HĐGMVN
